1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP

57 810 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lớp Tập Huấn Nông Dân Và Nhóm Nông Dân Trong Chương Trình Hỗ Trợ Ngành Nông Nghiệp
Tác giả Chính Phủ Việt Nam, Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, DANIDA
Trường học Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Báo Cáo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ khi thực hiện Đổi Mới năm 1986, trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng và năng xuất nông nghiệp tăng đáng kể. Sản xuất lương thực trên đầu người tăng 50% trong giai đoạn từ 1990 đến 2000 và an ninh lương thực đã đạt được tổng thể ở cấp quốc gia, chủ yếu là nhờ tăng sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Mêkông và Đồng bằng sông Hồng.

Trang 1

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH NÔNG

NGHIỆP (ASPS) TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Tháng 3, 2007

Trang 2

o

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AIDS Bệnh liệt kháng

ARD-SPS Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn

ASPS Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp

CIPM Quản lý dịch hại tổng hợp cộng đồng

DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

FAO Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc

FFS Lớp tập huấn nông dân trên đồng ruộng (IPM)

FLS Lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ

FSPS Lớp tập huấn nông dân sản xuất giống

FT Tập huấn viên nông dân

FU Hội Nông dân (cấp tỉnh)

HH Hộ gia đình

HIV Virút gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

- Virút gây bệnh AIDS IPM Quản lý dịch hại tổng hợp

KAP Kiến thức, Thái độ, Thực hành (hành vi)

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

MT Giảng viên chính

PC Uỷ ban Nhân dân

PHH Sử lý sau thu hoạch

PPP Quy trình lập kế hoạch có sự tham gia

PPD Cục bảo vệ thực vật

PPSD Chi cục bảo vệ thực vật (cấp tỉnh)

SC Tiểu hợp phần

SL Chăn nuôi gia súc nhỏ

SLC Hợp phần Chăn nuôi gia súc nhỏ

TA Hỗ trợ kỹ thuật

VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

VND Tiền Đồng Việt Nam

VNFU Hội Nông dân Việt Nam (cấp quốc gia)

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT I

TIỀN TƯƠNG ĐƯƠNG VII

2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐƯỢC ỨNG DỤNG CHO LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN

2.1.4 Hàm ý của các phương pháp tiếp cận khác nhau 15

2.2.2 Phương pháp tiếp cận khuyến nông linh hoạt 21

2.2.3 Kiến thức và kỹ năng thu được từ lớp tập huấn nông dân của các nhóm nông dân 22

2.4 TÁC ĐỘNG LAN TỎA CỦA LỚ P TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN C Ủ A

6.1.1 Tính bền vững của phương pháp tiếp cận IPM, Giống và Chăn nuôi gia súc nhỏ 42

6.1.2 Tính bền vững của phương pháp cận xử lý sau thu hoạch 43

Trang 4

6.1.3 Tính bền vững của phương pháp tiếp cận của Hội nông dân Việt Nam và Ban Quản lý quốc gia

43

7 SỰ PHÙ HỢP VỚI CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA CỦA NGÀNH 48

6.6 T HÁI ĐỘ ĐỐI VỚI KHUYẾN NÔNG CÓ SỰ THAM GIA 49

Phụ lục D Tài liệu tham khảo

Phụ lục E Báo cáo khởi đầu

Trang 5

TÓM TẮT

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được Chương trình ASPS hỗ trợ thông qua một loạt các

hoạt động Một trong những các hoạt động quan trọng nhất là phương pháp tiếp cận có sự tham

gia được ứng dụng trên diện rộng trong đó tổng cộng có 507.776 nông dân được tập huấn thông

qua các lớp tập huấn nông dân và 15.720 nông dân được tổ chức trong các nhóm nông dân Hoạt

động tập huấn nông dân của Chương trình ASPS thực sự là một quá trình học tập có sự tham gia

Quá trình này nhấn mạnh đến những quyết định và hành động trên cơ sở trao đổi cởi mở các ý

kiến Quá trình học tập có sự tham gia được nông dân tiếp thu tốt trong suốt quá trình thực hiện

Chương trình ASPS

Các mô hình khuyến nông khác nhau được các hợp phần ASPS ứng dụng càng chứng minh rằng

thành công của chương trình tập huấn nông dân không chỉ bó hẹp trong phương pháp tiếp cận có

sự tham gia Sự tham gia là quan trọng, nhưng tính phù hợp của chủ đề, chất lượng hướng dẫn, sự

tham gia thực hành của nông dân, sự sáng tạo của các công nghệ được giới thiệu và tiềm năng của

những cơ hội kinh doanh là những yếu tố quan trọng của chương trình tập huấn nông dân

Các lớp tập huấn nông dân - nhóm nông dân của Chương trình ASPS đã có những tác động rất

tích cực đối với sản xuất và năng xuất, ví dụ hợp phần IPM đã kết hợp giữa giảm chi phí đầu vào

và tăng năng xuất 8% kết quả là tăng thu nhập 16% Hơn nữa Chương trình ASPS đã nâng cao

nhận thức của nông dân về sự cộng tác, môi trường, HIV/AIDS và các khía cạnh xã hội khác

trong xã hội Chương trình ASPS đã tiếp cận với phụ nữ chiếm 39% tổng số người tham gia

(196.846 nữ nông dân), người nghèo: 22% tổng số người tham gia (112.918 nông dân nghèo) và

người dân tộc thiểu số: 11% tổng số người tham gia (53.373 nông dân các dân tộc thiểu số khác

ngoài dân tộc Kinh), nhưng với sự khác nhau lớn về mặt địa lý và giữa các hợp phần Với việc

lựa chọn địa điểm và chủ đề, ví dụ sau thu hoạch, chăn nuôi gia súc nhỏ, sản xuất lúa hoặc rau,

nhóm đối tượng đích về mặt giới và dân tộc cũng được lựa chọn do tính chất của chương trình

Với việc thực hiện thành công hơn 15,000 lớp tập huấn nông dân với sự tham gia của 500.000

người, Chương trình ASPS đã góp phần quan trọng vào sự đổi mới đang nổi lên của phương pháp

tiếp cận khuyến nông Chương trình ASPS đã chứng minh rằng có thể dần dần thay đổi phương

thức cũ của việc truyền đạt cùng thông điệp kỹ thuật tới tất cả những người nông dân sử dụng

cùng một phương pháp khuyến nông chuyển sang phương pháp tiếp cận tập trung vào khách hàng

hơn trong hệ thống khuyến nông Nhóm khách hàng của khuyến nông gồm những nông dân sản

xuất nhỏ tự cung tự cấp, nông dân sản xuất hàng hóa thương mại, thanh niên nông thôn, phụ nữ,

người nghèo ở nông thôn, các gia đình nông dân có người tàn tật và bị nhiễm HIV/AIDS, và tất

cả những người này đều có những nhu cầu khuyến nông riêng

IPM cho thấy lợi ích kinh tế rất cao Lý do là thu nhập của nông dân tăng lên đáng kể và đầu tư

cũng như chi phí khá ít Khi áp dụng tính toán chi phí lợi ích biên thì nó vẫn rất mạnh IPM đã

qua giai đoạn đầu tư và đang trở nên dễ dàng hơn và chi phí ít hơn cho việc nhân rộng Nó cũng

có các con số đầu vào ưu điểm hơn nhiều

Giống và xử lý sau thu hoạch đang kết thúc giai đoạn thí điểm và các giai đoạn đầu tư đã đạt

được khối lượng khá lớn và sự gia tăng nhanh với tỷ lệ chi phí và lợi ích nói chung là hợp lý và tỷ

lệ biên khá Ở một số nơi, ví dụ như Nghệ An, lớp tập huấn nông dân sản xuất giống rõ ràng đã

được coi là phương án hấp dẫn nhất vì nó nhanh chóng tạo ra sản phẩm hàng hóa với thu nhập

đáng kể cho những người tham gia

Trang 6

Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ có phần khác về mặt lợi ích kinh tế vì hiện nay nó vẫn đang ở

giai đoạn thí điểm Mặc dù chỉ mới có một vài quan sát của nghiên cứu đánh giá tác động nhưng

nó cho thấy tiềm năng và tỷ lệ chi phí và lợi nhuận hợp lý

Nông dân và những người hưởng lợi khác sẽ là chủ nhân của chương trình khi nó được ứng dụng

vào thực tế của họ Điều này có thể là, ví dụ như năng xuất cao hơn trên đồng ruộng hay thông

qua những cơ hội kinh doanh qua nhóm nông dân Đối với những người hưởng lợi từ Chương

trình ASPS, không còn nghi ngờ gì về việc đa số nông dân sẽ tiếp tục áp dụng những bài học mà

họ đã tiếp thu được

Chương trình ASPS đóng góp nhiều nhất vào việc tăng cường năng lực, quản lý, hoạch định

chính sách, lập kế hoạch, giám sát và thực hiện của các cơ quan đối tác với việc đào tạo gần

11.000 cán bộ và người cung cấp dịch vụ Chính phủ được trang bị để tiếp tục đáp ứng những nhu

cầu của các nhóm nông dân thông qua dịch vụ với chi phí thấp và theo yêu cầu

Có thể nói một cách hợp lý rằng các hoạt động của Chương trình ASPS, đặc biệt là các nhóm

nông dân và các phương pháp khuyến nông có sự tham gia được ứng dụng phù hợp với chính

sách quốc gia về khuyến nông Các phương thức sản xuất tốt hơn và sạch hơn đã được đẩy mạnh

song song với việc năng xuất tăng lên Hơn nữa, Chương trình ASPS đã tạo điều kiện và trao

quyền cho nông dân đi vào sản xuất hàng hóa thương mại nhiều hơn Chương trình ASPS cho

thấy rằng tập huấn có sự tham gia với quy mô lớn là có thể thực hiện được qua việc sử dụng tập

huấn viên nông dân Một trong những nhận xét thường thấy đối với phương pháp tiếp cận lớp tập

huấn nông dân là lớp học không hiệu quả vì chỉ có 30 người được tập huấn trong 16 tuần Nay nó

được chứng minh là chương trình tập huấn nông dân trên đồng ruộng với quy mô lớn có thể thực

hiện được và thậm chí đạt kết quả tuyệt vời

Các lớp tập huấn nông dân nhìn chung là chất xúc tác cho các hoạt động dựa vào cộng đồng, có

thể là chăn nuôi, sản xuất giống, xử lý sau thu hoạch hay bảo vệ thực vật Điều này được thấy rõ

khi những học viên của lớp tập huấn nông dân sau khi học xong đã thành lập nhóm nông dân

Việc thành lập những nhóm này cũng là một đóng góp quan trọng vào mục tiêu tổng thể của

Chương trình ASPS vì những nhóm này có thể đóng góp vào “tăng trưởng bền vững trong sản

xuất và thu nhập hộ gia đình nông dân từ việc cải thiện về chất lượng và số lượng trong sản xuất

nông nghiệp và tiếp thị” Các nhóm có khả năng làm được việc này bằng cách chịu trách nhiệm

phát triển địa phương và họ đã được đào tạo và trang bị kiến thức để làm việc đó trong thực tế

Một vài nhóm nông dân được thành lập trong Chương trình ASPS có khả năng tiếp tục hoạt động

sau giai đoạn I của Chương trình ASPS Tuy nhiên, nếu các nhóm không xác định được mục đích

sản xuất hàng hóa thương mại của nhóm mình, thì cuối cùng nhóm sẽ bị tan rã Một số câu lạc bộ

đã được thành lập và đang hoạt động như là các doanh nghiệp và có lẽ sẽ bền vững hoặc có khả

năng bền vững Vì vậy việc chú trọng đến sự phù hợp về mặt kinh tế và khả năng tồn tại được của

công nghệ đang được thúc đẩy là cấp thiết cho sự bền vững của các nỗ lực Một đặc điểm quan

trọng của Chương trình ASPS là sự phối hợp với các đoàn thể quần chúng và khu vực tư nhân,

đây là điều cần thiết cho sự bền vững của các nhóm

Chỉ có một vài ví dụ của các hợp phần về việc tích cực nỗ lực gây ảnh hưởng đối với các chính

sách và chiến lược nhằm làm cho phương pháp tiếp cận đã thành công được mở rộng trên toàn

quốc, ngoài sáng kiến của hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ về việc ủng hộ hình thành chiến lược

khuyến nông quốc gia

IPM được thiết lập một cách vững chắc tại Cục bảo vệ thực vật và các chi cục bảo vệ thực vật

Trung tâm khuyến nông quốc gia là đối tác của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ và vì vậy đương

Trang 7

nhiên phương pháp tiếp cận có sự tham gia sẽ tìm được con đường để đi vào các chính sách quốc

gia Các chính sách này đang được xây dựng, nhưng chưa rõ điều gì sẽ được đưa vào Rất có thể

các lớp tập huấn nông dân sản xuất giống và chăn nuôi nhỏ chưa được thực hiện trong thời gian

đủ dài để có thể trở thành một phần trong hệ thống khuyến nông chính thống, nghĩa là chúng

chưa tự chứng minh được đầy đủ để có thể trở thành một ưu tiên trong công tác lập kế hoạch Tuy

nhiên, có một số tiến triển có thể củng cố các yếu tố có sự tham gia Ngân hàng Phát triển châu Á

(ADB) đang hỗ trợ việc thành lập các Hội đồng Khuyến nông có sự tham gia tại 40 tỉnh Vẫn tiếp

tục cần có tài liệu chứng minh một cách tích cực và thử nghiệm các mô hình có hiệu quả chi phí

để lồng ghép các phương pháp tiếp cận

Bài học kinh nghiệm chính

Một trong những bài học quan trọng nhất được rút ra là mối quan hệ chặt chẽ giữa tập huấn có sự

tham gia chủ động và việc hình thành nhóm Nông dân bắt đầu hiểu rõ giá trị của làm việc theo

nhóm, học cách trao đổi, đưa ra tiếng nói của mình và thách thức ý kiến của nhau Qua cách làm

việc này nông dân thấy rằng họ có thể thu được nhiều hơn so với làm việc một mình Điều này

tạo ra nền tảng vững chắc cho làm việc theo nhóm Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng quá trình này

không thể ép buộc được vì nhóm cần có thời gian để phát triển và hoàn thiện

Tính toán chi phí và lợi ích cho thấy thực tế là các phương pháp tiếp cận được ứng dụng là rất

hiệu quả một khi đầu tư ban đầu được thực hiện với tỷ lệ chi phí và lợi ích rất tốt Việc điều

chỉnh một cách hiệu quả các thông điệp và phương pháp làm việc đạt được lợi ích về mặt tài

chính đáng kể cho nông dân cùng với một loạt những lợi ích gián tiếp về mặt xã hội và môi

trường

Một bài học được rút ra là lãnh đạo địa phương và cán bộ khuyến nông rất cởi mở với những ý

tưởng mới và thay đổi thái độ hướng tới các phương pháp tiếp cận khuyến nông có sự tham gia và

tập trung vào người nông dân Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng ở vị trí có thể thực sự áp

dụng được những ý tưởng mới này Nếu các chính sách và chiến lược chính thức ủng hộ một

phương pháp tiếp cận khác hay nhóm đối tượng đích khác thì sẽ rất khó thực hiện được những ý

tưởng mới này

Những bài học chính có thể sử dụng cho việc thực hiện Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp

và phát triển nông thôn (ARD-SPS) là:

• Sẽ là một lợi thế nếu hình thành chiến lược đảm bảo rằng việc phát triển về mặt tổ chức của

nông dân được mô tả từ hộ gia đình cá thể đến hợp tác xã hay các nhóm nông dân bền vững

khác

• Cần phải xây dựng giáo trình cho lớp tập huấn nông dân, đặc biệt là được thiết kế cho nhóm

đối tượng đích của Chương trình ARD-SPS đó là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu

vùng xa Hơn nữa, khi hướng vào đồng bào dân tộc thiểu số, điều quan trọng là phải có

những tập huấn viên là người dân tộc vì những khó khăn về mặt ngôn ngữ

• Khi thiết kế giáo trình mới cho lớp tập huấn nông dân trong tương lai, cần phải đưa cả sáu

khía cạnh học tập quan trọng vào đó là: phù hợp với nông dân, cơ hội kinh doanh, công nghệ

sáng tạo, học tập có sự tham gia, bài tập thực hành và hướng dẫn phù hợp Các yếu tố này cần

được đưa vào càng nhiều càng tốt, liên quan đến chủ đề và đối tượng Việc hướng dẫn nông

dân cần phải tuân theo chu kỳ sản xuất và có những bài tập thực hành ở tất cả các giai đoạn

phát triển của cây trồng và vật nuôi hay quá trình vận hành thiết bị xử lý sau thu hoạch

• Các cơ hội kinh doanh hay những khả năng tạo thu nhập khác cần phải được đưa vào thiết kế

các chương trình nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

SỐ LIỆU CHÍNH VỀ CHƯƠNG TRÌNH

Tên chương trình: Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp

Nước hưởng lợi: Việt Nam

Ngày ký hiệp định: 21/8/ 2000 (IPM tháng 5- 2000, Hội Nông dân VN

năm 2004) Thời gian thực hiện được phê

duyệt:

Tháng 8- 2000 đến 30-06- 2007

Giải ngân đến ngày 31-10- 2006: 253,3 triệu DKK

Các cơ quan đối tác: Bộ NN&PTNT, Hội Nông dân và Ngân hàng

NN&PTNN Các hợp phần: IPM, Giống, Chăn nuôi gia súc nhỏ, Xử lý sau thu

hoạch, Tín dụng và Hội Nông dân Việt Nam

TIỀN TƯƠNG ĐƯƠNG

Tỷ giá hối đoái USD - DKK -VND1

Trang 9

1 GIỚI THIỆU

Kể từ khi thực hiện Đổi Mới năm 1986, trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản

lượng và năng xuất nông nghiệp tăng đáng kể Sản xuất lương thực trên đầu người tăng 50%

trong giai đoạn từ 1990 đến 2000 và an ninh lương thực đã đạt được tổng thể ở cấp quốc gia, chủ

yếu là nhờ tăng sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Mêkông và Đồng bằng sông Hồng Cơ cấu nông

nghiệp và nông thôn đã thay đổi hướng vào đa dạng hóa ngành nghề và cây trồng, góp phần

chuyển đổi cơ cấu kinh tế quốc gia theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Nghề

nghiệp ở nông thôn và những cơ hội việc làm mới, vì vậy, đòi hỏi có sự chuyển đổi lực lượng lao

động nông nghiệp sang lực lượng lao động phi nông nghiệp, ví dụ chế biến hàng nông sản Có

khoảng 12 triệu hộ gia đình ở nông thôn, trong đó có 10 triệu hộ trực tiếp tham gia sản xuất nông

nghiệp Với trung bình mỗi hộ 5 nhân khẩu, ước tính có khoảng 60 triệu người sống ở khu vực

nông thôn, tương đương với 76% tổng dân số và 70% lao động của cả nước

Theo các chính sách của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nục tiêu phát triển lâu dài của

ngành nông nghiệp là xây dựng ngành nông nghiệp thương mại đa dạng trên cơ sở tối đa hóa các

lợi thế cạnh tranh, ứng dụng công nghệ mới và cải thiện khả năng cạnh tranh trên thị trường trong

nước và quốc tế Khác với những giai đoạn trước đây với đặc điểm là tăng cường khai thác nguồn

tài nguyên thiên nhiên và mở rộng quy mô sản xuất, việc lập kế hoạch và các mục tiêu cho giai

đoạn tới chủ yếu dựa vào cải thiện hiệu quả kinh tế, tăng giá trị sản phẩm với việc ứng dụng công

nghệ mới và đẩy mạnh các biện pháp quản lý Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang

khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng của các địa phương là một ưu tiên cao Điều này đòi hỏi

một hệ thống khuyến nông hữu hiệu và phương pháp tiếp cận tập huấn cho nông dân hiệu quả

Để hỗ trợ sự phát triển nông nghiệp này ở Việt Nam, DANIDA đã triển khai Chương trình Hỗ trợ

ngành Nông nghiệp (ASPS) Chương trình ASPS gồm 6 hợp phần chính: Giống, Quản lý dịch hại

tổng hợp (IPM), Xử lý sau thu hoạch (PHH), Chăn nuôi gia súc nhỏ (SL), Tín dụng và Hội nông

dân Việt Nam (VNFU) Bốn hợp phần đầu nằm trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

(MARD), hợp phần Tín dụng nằm trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

(VBARD) và hợp phần cuối cùng do Hội Nông dân Việt Nam thực hiện Điều phối chung toàn bộ

chương trình là Ban Quản lý quốc gia (NMU) có trụ sở tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn

Thỏa thuận của Chính phủ về hợp phần IPM được ký ngày 18-4-2000 trong khi đó Thỏa thuận

chính của Chương trình ASPS được ký ngày 21-8- 2000 Giai đoạn (I) của Chương trình ASPS,

theo kế hoạch, sẽ kết thúc vào ngày 30-6-2007 Sau đó sẽ thực hiện Giai đoạn II (2nd Generation)

của Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (ARD – SPS) tập trung mạnh

vào việc cải thiện sinh kế nông thôn tại 5 tỉnh (mới) ở vùng cao trong đó Phương pháp tiếp cận

Lớp tập huấn nông dân và Nhóm nông dân sẽ tiếp tục được thực hiện có xem xét đầy đủ những

bài học kinh nghiệm rút ra từ Chương trình ASPS hiện nay

Mục tiêu phát triển của Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp (ASPS) là

"Giảm nghèo ở nông thôn trên cơ sở phát triển nông nghiệp bền vững"

Mục tiêu trước mắt là:

"Tăng trưởng bền vững về sản lượng và thu nhập hộ gia đình từ việc cải thiện số lượng và

chất lượng sản xuất nông nghiệp và tiếp thị, chú trọng đến người nghèo, phụ nữ và đồng

bào dân tộc thiểu số”

Trang 10

Mục tiêu trước mắt của Chương trình ASPS cũng là mục tiêu phát triển của một số hợp phần

của Chương trình ASPS

Đánh giá này chú trọng vào tác động và bài học kinh nghiệm rút ra từ các lớp tập huấn nông dân

và nhóm nông dân Các phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân và nhóm nông dân mà

Chương trình ASPS áp dụng có thể chia làm ba phương pháp tiếp cận khác nhau Một phương

pháp tiếp cận là lớp tập huấn nông dân – như là một sự kiện đơn lẻ – không có hoạt động nối tiếp

chính thức của hợp phần, mà chỉ do chính quyền địa phương và bản thân người nông dân tiếp tục

làm Nói chung, phần lớn Chương trình ASPS là tập huấn cho nông dân, những người vừa mới

tham gia vào một sự kiện tập huấn đơn lẻ như vậy Trong các hợp phần IPM, Giống và Chăn nuôi

gia súc nhỏ, sự hỗ trợ này được tiếp tục với những người nông dân có quan tâm và đã tham gia

lớp tập huấn nông dân phát triển thành nhóm nông dân hoạt động thường xuyên hơn (hay câu lạc

bộ) có nội quy, quy chế bằng văn bản và có ban quản lý v.v Các Nhóm nông dân (IPM, Giống

hay Chăn nuôi gia súc nhỏ) sẽ tiếp tục hoạt động với hầu hết các phần của giáo trình sử dụng

trong lớp tập huấn nông dân Tuy nhiên, khác với tất cả các lớp tập huấn nông dân trên đồng

ruộng nói chung, lớp tập huấn nông dân sản xuất giống hay chăn nuôi nhỏ được tiếp tục với các

nhóm nông dân

Một phương pháp tiếp cận nữa, mà Hợp phần Xử lý sau thu hoạch thực hiện ở miền Bắc chú

trọng đến trình diễn xử lý sau thu hoạch (như vậy thực tế không phải là lớp tập huấn nông dân)

thường tổ chức các cuộc hội họp vào mùa vụ, nhưng không có cơ cấu nhóm chính thức (như vậy

không phải là nhóm)

Phương pháp tiếp cận thứ ba về lớp tập huấn nông dân do Ban quản lý quốc gia và Hội Nông dân

Việt Nam thực hiện bắt đầu với việc thành lập các nhóm nông dân trong đó nhóm nông dân được

chính thức thành lập trước và sau đó các nhóm viên được tập huấn theo yêu cầu của họ

Bảng 1.1; Các phương pháp tiếp cận do một số hợp phần ASPS ứng dụng

Lớp TH ND sản xuất giống

CLB Giống

HPChăn nuôi

HPXử lý sau TH

Nhóm Ban Quản lý Quốc

HP Hội ND

Lớp TH ND chăn nuôi nhỏ

Lớp THND trình diễn

xử lý STH

TH tăng cường năn lực nhóm

Tập huấn

kỹ thuật

CLBChăn nuôi nhỏ

Nhóm sở thích

Nhóm tổng hợp

Nhóm sở thích

Nhóm nông dân ( có quy chế hoạt động nhóm và nhiều vụ)

Trang 11

1.1 PHƯƠNG PHÁP VÀ KHUNG LẤY MẪU

Để rút ra bài học kinh nghiệm từ Chương trình ASPS điều quan trọng là phải phân tích và thu

thập tài liệu chứng minh một số tác động của các lớp tập huấn nông dân và nhóm nông dân trong

Chương trình ASPS về mặt phương pháp luận và cách tiếp cận đối với khuyến nông, phác thảo

bài học kinh nghiệm để có thể góp phần vào việc thiết kế các dự án phát triển nông nghiệp và

nông thôn trong tương lai và các phương pháp khuyến nông Những dự án tương lai này có thể là

của Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT, các chương trình khác hay Chương trình hỗ trợ ngành nông

nghiệp và phát triển nông thôn ARD-SPS của DANIDA sắp tới, vì vậy đánh giá này sẽ có một số

người sử dụng hoặc người hưởng lợi tiềm năng

Đánh giá tác động này dựa vào những cuộc phỏng vấn và xem xét các báo cáo và các cơ sở dữ

liệu hiện có Những nhà tư vấn trước đây và bản thân các hợp phần đã thu thập được khá nhiều số

liệu về tác động gồm những số liệu đầu tiên, ví dụ như số liệu về sản xuất, số liệu về thu nhập, về

nhóm đối tượng đích v.v Vì vậy, tư vấn lần này không thu thập lại những số liệu chung này mà

dựa vào những số liệu đã có Trong khi khảo sát thực địa và phỏng vấn, Nhóm đánh giá chú trọng

các số liệu định tính hơn là các số liệu định lượng

Đánh giá này dựa vào một bộ câu hỏi toàn diện, được chia thành từng phần cụ thể cho những cơ

quan và người tham gia khác nhau ví dụ nông dân đã được tập huấn, nông dân không được tập

huấn, các nhà hoạch định chính sách, các đoàn thể quần chúng, những người thực hiện, v.v Bảng

hỏi được sử dụng như là danh mục tham khảo đảm bảo rằng tất cả các chủ đề được trao đổi khi

phù hợp

Ngoài các phỏng vấn, Nhóm đánh giá đã đến thăm một số hoạt động đang được tiến hành trong

Chương trình ASPS ví dụ lớp tập huấn nông dân phòng chống HIV, lớp tập huấn nông dân trồng

rau, lớp tập huấn nông dân trồng lúa, các cuộc họp của nhóm nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ, các

câu lạc bộ chăn nuôi và giống và của Ban quản lý quốc gia và Hội Nông dân Việt Nam

Nhóm đánh giá đã tham khảo ý kiến các hợp phần trong việc tổ chức các cuộc đến thăm và làm

việc với các cơ quan đơn vị tham gia, các nhóm và học viên của các lớp tập huấn nông dân cần

phỏng vấn Ngoài những gợi ý của các hợp phần, Nhóm đánh giá cũng liên hệ và phỏng vấn một

số nông dân và quan chức địa phương không tham gia vào chương trình để tham khảo đối chứng

Nhóm đánh giá đã đi khảo sát ở Thái Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hậu Giang, Đồng Tháp và Sơn

La Ngoài những tỉnh này ra, Nhóm cũng phỏng vấn các đơn vị và cá nhân tham gia chương trình

ở Hà Nội Trong thời gian khảo sát, Nhóm đánh giá đã đến thăm và làm việc với:

• Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh thực hiện Chương trình ASPS

• Hội nông dân cấp tỉnh, huyện và xã

• Các cán bộ khuyến nông

• Các trưởng nhóm nông dân

• Cán bộ Ban quản lý các hợp phần của Chương trình ASPS

• Tập huấn viên (nông dân và chủ chốt)

• Nông dân /thành viên đã được tập huấn

• Những đơn vị cung cấp đầu vào và thương nhân

• Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tại các tỉnh không có Chương trình ASPS

• Cán bộ lãnh đạo các xã không có Chương trình ASPS

• Những người không tham gia lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân

Trang 12

Các lớp tập huấn nông dân đồng ruộng và nhóm nông dân trong đánh giá này là:

• IPM – Các lớp tập huấn nông dân trên đồng ruộng do hướng dẫn viên chính/chủ chốt tiến

hành

• IPM – Các lớp tập huấn nông dân trên đồng ruộng do hướng dẫn viên nông dân tiến hành

• IPM cộng đồng về nghiên cứu đồng ruộng

• IPM cộng đồng về câu lạc bộ và nhóm nông dân

• Chăn nuôi nhỏ - Các lớp tập huấn nông dân chăn nuôi

• Chăn nuôi nhỏ – Các câu lạc bộ nông dân

• Giống – Các lớp tập huấn nông dân sản xuất giống

• Các câu lạc bộ giống/Nhóm nông dân sản xuất giống

• Các nhóm sở thích của Hội Nông dân Việt Nam

• Các nhóm nông dân xử lý sau thu hoạch

• Các nhóm nông dân tổng hợp của Ban Quản lý dự án quốc gia

Trang 13

2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐƯỢC ỨNG DỤNG CHO LỚP

TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN CỦA CHƯƠNG

TRÌNH ASPS

Để hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt được những mục tiêu của mình, Chương

trình ASPS đã hỗ trợ một loạt các hoạt động Trong số những hoạt động này, hoạt động quan

trọng nhất là phương pháp tiếp cận có sự tham gia được ứng dụng trên diện rộng Bảng dưới đây

đưa ra danh sách số nông dân đã được đào tạo trong các hợp phần khác nhau và số nông dân tham

gia vào các nhóm

Bảng 2.1; Chương trình tập huấn nông dân của ASPS chia theo các lớp tập huấn nông

dân và nhóm nông dân, 2000 – 2006

Hợp phần 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

Tổng cộng

1.1 Lớp tập huấn nông dân 1.810 19.585 65.138 76.114 76.620 63.592 34.864 337.723

1.2 Nghiên cứu đồng ruộng (2.558

nông dân tham gia) 0 1.730 5.030 7.881 11.265 14.759 9.473 50.138

4 HP Xử lý sau thu hoạch Miền

2 Số lượng các hoạt động và nông dân đã tham gia vào các chương trình IPM khác nhau chênh nhau rất

nhiều Số lượng các lớp tập huấn nông dân là 11.000 và đã tập huấn cho 230.000 nông dân Sau các lớp tập

huấn nông dân có 895 nghiên cứu đồng ruộng với tổng số 12.000 nông dân tham gia (những người nông

dân này đầu tiên được tham gia lớp tập huấn nông dân) Trong chương trình IPM cộng đồng, có 1.633

nghiên cứu đồng ruộng với tổng số 38,000 nông dân tham gia Ngoài ra đã thành lập 760 Câu lạc bộ IPM

và 383 xã đã nhận được sự hỗ trợ thông qua chương trình IPM cộng đồng Tổng số các nghiên cứu đồng

ruộng trong chương trình IPM cộng đồng là 2.558 và khoảng 50.000 nông dân đã tham gia

Trang 14

2.1.1 Bắt đầu với tập huấn có sự tham gia

Phương pháp tiếp cận đầu tiên được các hợp phần IPM, Giống và Chăn nuôi nhỏ áp dụng lấy

điểm xuất phát từ Lớp tập huấn nông dân IPM được FAO đưa vào Việt Nam năm 1992 Dần dần

một vài hợp phần của Chương trình ASPS thực hiện phương pháp tiếp cận này có điều chỉnh theo

yêu cầu của các chương trình khác nhau Tuy nhiên, các nguyên tắc cơ bản của một vài phương

pháp tiếp cận là tương đối giống nhau, đặc biệt là các hợp phần IPM và Giống, và chừng mực nào

đó là hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ có điều chỉnh đáng kể để

nó có thể ứng dụng được trong tập huấn chăn nuôi nhỏ, nhưng vẫn giữ phương pháp tiếp cận có

sự tham gia, kể cả khả năng sáng tạo của các công cụ học tập do lớp tập huấn nông dân IPM ứng

dụng Những điều chỉnh của phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ là cần

thiết vì những lớp tập huấn nông dân chăn nuôi không dựa vào đồng ruộng như những lớp tập

huấn nông dân trên đồng ruộng, vì vậy ít thực hành hơn và có ít chỗ cho việc thử nghiệm

Hợp phần PM bắt đầu năm 2000 và đã dễ dàng bắt đầu chương trình này vì đối tác là Cục bảo vệ

thực vật đã có kinh nghiệm đối với phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân, về mặt nào đó

có cả hoạt động tiếp tục của lớp tập huấn nông dân, cụ thể là các câu lạc bộ IPM Với sự tài trợ

của Chương trình ASPS, chương trình này đã có đà và được thực hiện trong phạm vi rộng Các

yếu tố tập huấn quan trọng được tất cả các hợp phần áp dụng cho tập huấn nông dân đều đưa kinh

nghiệm học tập dài hạn vào trong đó 25-30 nông dân cùng nhau học tập và theo dõi diễn tiến của

chủ đề từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, ví dụ từ khâu chọn giống cho đến khi thu hoạch Các

lớp tập huấn được những giảng viên có kinh nghiệm hướng dẫn, những người này được trang bị

để hướng dẫn quá trình học tập Trong các chương trình tập huấn, nông dân ứng dụng thu thập

mẫu có hệ thống, quan sát có cấu trúc và thử nghiệm những giả thuyết của chính họ Sự tò mò của

người nông dân là lực hút trong quá trình học tập Chương trình IPM đã hỗ trợ một số lớp tập

huấn nông dân đáng kể, 13.773 lớp và tập huấn cho 33.723 nông dân thông qua các lớp tập huấn

nông dân Hợp phần IPM đã rất lớn nay lại mở rộng các hoạt động IPM cộng đồng (CIPM) bắt

đầu vào năm 2001 tại 4 tỉnh thí điểm Sau khi tham gia vào lớp tập huấn nông dân, một số học

viên của lớp tập huấn được hỗ trợ để tiếp tục nghiên cứu thông qua các nghiên cứu đồng ruộng,

những nghiên cứu này chủ yếu là hoạt động tiếp tục của lớp tập huấn nông dân Sau đó nó được

phát triển lên thành IPM cộng đồng Các cộng đồng thực hiện CIPM xuất hiện từ những nghiên

cứu đồng ruộng và những người tham gia thực hiện những thí nghiệm trên cơ sở những khảo sát

trong cộng đồng, và sau đó báo cáo lại kết quả cho cộng đồng Các câu lạc bộ IPM cộng đồng

cũng thường làm nhiều thí nghiệm và thử nghiệm do chính họ thiết kế, nhưng đôi khi họ cũng

thực hiện những hoạt động khác ví dụ đi tham quan học tập kinh nghiệm các đơn vị khác và công

tác xã hội

Hợp phần Giống cũng tranh thủ phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân của FAO và điều

chỉnh chút ít để đáp ứng yêu cầu mục đích của hợp phần là sản xuất giống nông hộ Một điều

chỉnh quan trọng là thời gian tập huấn là 22 tuần cho lớp tập huấn nông dân sản xuất giống để có

thể theo suốt cả vụ kể cả khâu làm đất và làm mạ thay vì 15 tuần như của lớp tập huấn nông dân

IPM Trong chương trình đào tạo cũng có một số điều chỉnh, đặc biệt là về việc chọn giống,

chống lẫn trong khi trồng, thu hoạch và cất giữ giống Phương pháp tiếp cận có sự tham gia vẫn

giống như với lớp tập huấn nông dân IPM nhưng có bổ xung thêm vào chương trình đào tạo

những vấn đề kỹ thuật liên quan đến giống cụ thể hơn Hợp phần Giống đã thực hiện khoảng

1.300 lớp tập huấn nông dân sản xuất giống nông hộ và tập huấn cho 42.226 nông dân Theo khái

niệm hình thành các nhóm sau khóa tập huấn dài theo mùa vụ, các Nhóm nông dân sản xuất

giống/ Câu lạc bộ giống bắt đầu được thành lập tại 7 tỉnh Thành viên thường là những người

nông dân đã được đào tạo trong lớp tập huấn nông dân sản xuất giống, nhưng không phải lúc nào

cũng như vậy Để chia sẻ những ý tưởng và kinh nghiệm và để đẩy mạnh quá trình thành lập câu

lạc bộ giống, một cuộc hội thảo đã được tổ chức vào tháng 2 năm 2006 Hơn nữa, để khởi xướng

Trang 15

một số nhóm thí điểm, Hợp phần giống quyết định cung cấp một số hỗ trợ ban đầu cơ bản, nghĩa

là tập huấn và trang bị, cho tổng cộng 30 câu lạc bộ giống trong 7 tỉnh thực hiện hợp phần này

Một số thành viên của Câu lạc bộ giống đã hình thành các tiểu nhóm giống Những tiểu nhóm này

là những nhóm mà ở đó có một vài thành viên của nhóm chính thành lập ra nhóm nhỏ tại thôn

xóm của mình Tại những nhóm nhỏ này họ trao đổi và phổ biến nội dung và chủ đề của nhóm

chính Những tiểu nhóm này không nhận được sự hỗ trợ trực tiếp của Chương trình ASPS và

không có số lượng cụ thể về tổng số bao nhiêu người tham gia trong những tiểu nhóm này Tuy

nhiên, đây là một chỉ số của tác động lan tỏa của Chương trình ASPS

Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ cũng được bắt đầu từ chương trình tập huấn nông dân của FAO,

nhưng với bản chất là chăn nuôi chứ không phải là trồng trọt, nên cần phải xây dựng giáo trình và

sách hướng dẫn với thiết kế đặc biệt cho lớp tập huấn nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ Công bằng

mà nói thì Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ bắt đầu với một lĩnh vực khá mới và chưa được biết

đến đó là tập huấn cho những người chăn nuôi nhỏ với việc sử dụng phương pháp tiếp cận lớp tập

huấn nông dân chăn nuôi nhỏ Trên thế giới mới chỉ có rất ít kinh nghiệm được đúc rút về phương

pháp tiếp cận này và Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng

phương pháp tiếp cận này Giáo trình in về chăn nuôi gà, vịt và lợn cũng đã được cung cấp cho

một số tổ chức khác đang thực hiện những chương trình phát triển nông thôn tương tự Ngoài

việc xây dựng giáo trình và sách hướng dẫn, Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ cũng đã tạo ra được

một nhóm giảng viên nòng cốt được đào tạo bởi những cán bộ giảng dạy được lựa chọn từ các

trường đại học vì không có ai chuyên về giảng dạy cho lớp tập huấn nông dân chăn nuôi gia súc

nhỏ trước khi Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ bắt đầu chương trình này Do những khó khăn và

những thách thức ban đầu trong việc đạt được sự nhất trí giữa Chương trình ASPS và Trung tâm

khuyến nông quốc gia về mục đích và nhóm đối tượng đích của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ,

lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ đã bắt đầu khá chậm, trong năm 2003 170 lớp tập huấn

nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ đã được tổ chức và 5.028 nông dân được đào tạo Câu lạc bộ

nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ là một sáng kiến gần đây trong Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ

theo yêu cầu của nông dân và học tập kinh nghiệm từ các hợp phần khác của Chương trình ASPS

Câu lạc bộ mới bắt đầu hoạt động từ quý 3 năm 2006 và mới chỉ có rất ít kinh nghiệm Thành

viên câu lạc bộ thường là nông dân đã tham gia lớp tập huấn chăn nuôi nhỏ, nhưng không phải

lúc nào cũng vậy Cũng giống như trong Hợp phần giống, quan sát thấy rằng một số thành viên đã

thành lập các tiểu nhóm Hai, ba người đã được tập huấn từ “Nhóm mẹ” thành lập nhóm con ở

thôn xóm của mình Đây là một ví dụ tuyệt vời về mạng lưới nông dân, trong đó thông tin về

công nghệ, thị trường, những cảnh báo và chính sách v.v được phổ biến một cách có hiệu quả

giữa những người nông dân

2.1.2 Bắt đầu với những trình diễn

Một phương pháp tiếp cận khác hẳn đã được Hợp phần Xử lý sau thu hoạch ứng dụng Điểm xuất

phát là những lớp tập huấn ngắn trong đó những kỹ thuật mới được giới thiệu và trình diễn và

hướng dẫn sử dụng những công nghệ Theo đúng nghĩa của nó, phương pháp tiếp cận này rất

khác phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân của FAO, vì những trình diễn của lớp tập huấn

nông dân xử lý sau thu hoạch ít ưu tiên cho phương pháp tiếp cận có sự tham gia hơn Tuy nhiên,

do “thông điệp” quan trọng của hợp phần là về phơi và cất giữ thóc, ngô, vì vậy đã đưa ra những

giải pháp làm tăng đáng kể thu nhập cho những người tham gia, nên chương trình đã thành công

Hợp phần Xử lý sau thu hoạch bắt đầu các hoạt động ở Đồng bằng sông Mêkông và tương đối

muộn, trong năm 2004, chiến lược cho miền Bắc được xây dựng và việc đưa công nghệ mới vào

được bắt đầu với tỉnh Sơn La và Hà Giang Hợp phần đã đào tạo 42.000 nông dân trong tổng số

13.665 người được tập huấn ở miền Bắc Sau khi tiến hành tập huấn ở miền Bắc xong, Hợp phần

Xử lý sau thu hoạch đã phối hợp với chính quyền địa phương trong các hoạt động tiếp theo Sở

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Sơn La và Hà Giang đã tập huấn xử lý sau thu hoạch

Trang 16

cho 5.400 nông dân với tất cả chi phí trực tiếp do các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

chịu trách nhiệm thông qua “Chương trình phát triển kinh tế xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn”,

thường gọi tắt là “Chương trình 135” và Hợp phần Xử lý sau thu hoạch đóng góp chi phí cho việc

cung cấp tài liệu tập huấn, trình diễn trong tập huấn và trang thiết bị cho theo dõi, giám sát

Không có nhóm nông dân nào có quy chế bằng văn bản được xác định, nhưng học viên lớp xử lý

sau thu hoạch tham gia vào các “câu lạc bộ khuyến nông hiện có” đã được chính quyền địa

phương thành lập

2.1.3 Bắt đầu với các nhóm

Phương pháp tiếp cận thứ 3 được Hợp phần của Hội Nông dân Việt nam và Ban quản lý quốc gia

áp dụng bắt đầu với việc hình thành các nhóm trên cơ sở những sở thích của nông dân và sau đó,

sau khi các nhóm viên quyết định chủ để mà họ sẽ cùng nhau thực hiện, tập huấn mới được tổ

chức Tất cả các nhóm bắt đầu bằng việc xây dựng nội quy quy chế và những ưu tiên của nhóm

Từ năm 2005 Ban quản lý quốc gia đã bắt đầu với 27 nhóm nông dân tổng hợp với tổng cộng 696

nhóm viên, thông qua các thỏa thuận đồng tài trợ với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

tỉnh Hậu Giang và Cần Thơ Các nhóm tập trung vào những cơ hội kinh doanh và từ đầu năm

2006 đã nhận được hỗ trợ về quản lý và kỹ thuật và trợ giúp của các cơ quan địa phương Thường

thường các nhóm này gồm những người đã tham gia lớp tập huấn nông dân đã thành lập một

nhóm hoặc câu lạc bộ và nay lồng ghép thêm các hoạt động vào Các nhóm tổng hợp của Ban

quản lý quốc gia không tiến hành tập huấn kỹ thuật cho nông dân Tập huấn chủ yếu chú trọng

vào những vấn đề về mặt tổ chức (phát triển nhóm), kế hoạch sản xuất và kinh doanh, được bổ

xung bằng tập huấn kỹ thuật phù hợp trong sản xuất trên cơ sở những nhu cầu của nhóm Hợp

phần của Hội Nông dân Việt Nam đã thành lập 40 nhóm nông dân có cùng sở thích với tổng cộng

3.380 nông dân tham gia Các nhóm này chỉ mới bắt đầu từ tháng 9 năm 2006, như vậy mới chỉ

hoạt động được 4 tháng Các nhóm này được hình thành theo sở thích của nông dân và những sở

thích này được xác định thông qua một khảo sát toàn diện tại địa phương Tuy nhiên, những

nhóm này chỉ được hỗ trợ trong việc tập huấn quản lý nhóm ban đầu trước khi các hoạt động bị

dừng vào tháng 11 năm 2006 Mô hình liên quan đến các nhóm nông dân được những người tham

gia hưởng ứng tốt Các nhóm viên bày tỏ mong đợi cao vào nỗ lực của nhóm và tất cả những

người được phỏng vấn đều nói rằng họ dự định tiếp tục hoạt động của nhóm không có sự hỗ trợ

của Chương ASPS Một nông dân ở tỉnh Thái Bình nói rằng nhóm có thể tiếp tục công việc bình

thường của Hội Nông dân một cách dễ dàng

2.1.4 Hàm ý của các phương pháp tiếp cận khác nhau

Mặc dù phương pháp tiếp cận cơ bản gần tương tự như nhau, giữa các hợp phần có sự khác nhau

đáng kể Quy mô của các hợp phần là quan sát đầu tiên liên quan đến tác động của nó Đặc biệt là

hợp phần IPM đã tiếp cận với số lượng nông dân rất lớn Vì chương trình IPM đã có khi Chương

trình ASPS bắt đầu, ví dụ, giảng viên loại 1 đã được đào tạo và đã có kinh nghiệm, người ta hy

vọng rằng chương trình IPM tiếp cận được với nhiều nông dân hơn các hợp phần khác

Trong quá trình thực hiện chương trình của FAO, khái niệm về tập huấn viên nông dân đã được

phát triển là một phần của “Chương trình phát triển cộng đồng của FAO khu vực” Tuy nhiên

khái niệm này chưa bao giờ được thực hiện với quy mô lớn Chương trình IPM của ASPS đã lấy

khái niệm này và sau khi có một số điều chỉnh của phương pháp này, ví dụ thời gian và nội dung

đào tạo giảng viên (ToT), Chương trình ASPS đã mở rộng quy mô và tiếp cận với một số lớn

nông dân Đồng thời Hợp phần Giống và Xử lý sau thu hoạch cũng đã tiếp cận với số lượng nông

dân khá lớn, như vậy có tác động đáng kể đến cấp nông trại Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ vẫn

đang trong giai đoạn thí điểm, nhưng tuy thế đến nay đã sẵn sàng mở rộng quy mô bởi vì đã có

700 tập huấn viên được đào tạo, những người này được trang bị kiến thức để tiến hành các lớp tập

Trang 17

huấn nông dân chăn nuôi nhỏ Các nhóm của Hội Nông dân chỉ mới hoạt động khoảng 3-4 tháng

vì vậy còn quá sớm để đánh giá phương pháp tiếp cận này

Một trong những khác nhau quan trọng giữa các phương pháp tiếp cận được áp dụng là thời gian

tập huấn Hợp phần giống đã lựa chọn việc kéo dài lớp tập huấn hơn vì vậy tập huấn sâu hơn các

hợp phần khác, đặc biệt liên quan đến đào tạo tập huấn viên nông dân Cũng cần lưu ý rằng

những người nông dân nghèo tham gia vào chương trình xử lý sau thu hoạch chỉ được hướng dẫn

trong 4 ngày về công nghệ mới

Bảng 2.2; Thời gian tập huấn của một số hợp phần trong Chương trình ASPS

Trong khi Hợp phần IPM và Giống đào tạo dài cho tập huấn viên, thì Hợp phần chăn nuôi gia súc

nhỏ và Sau thu hoạch hoạt động với những chương trình đào tạo khá ngắn Nhóm đánh giá

không thấy có những sai sót nghiêm trọng nào do hậu quả của những khác nhau này, tuy nhiên

cũng đáng xem xét vấn đề này Nếu chỉ có 14 ngày (xử lý sau thu hoạch) là đủ để hướng dẫn

người dân các phương pháp tiếp cận và công nghệ mới, thì cũng cần tranh luận rằng, vậy thì Hợp

phần IPM và Giống đã lãng phí thời gian và công sức trong các khóa tập huấn của mình chăng

Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy phải mất hơn 2 – 3 tuần tập huấn hiệu quả thì mới đưa vào

được một phương thức làm việc mới một cách đầy đủ kể cả việc học viên làm quen với các

phương pháp tiếp cận mới thiết thực và dễ hiểu cho nông dân Một trong những lợi thế chính của

đào tạo dài hạn là việc nông dân không những học được kỹ lưỡng hơn mà họ còn rất thích làm

việc cùng nhau Việc các cuộc thảo luận và tranh luận dẫn đến sản xuất tăng lên sẽ chứng minh

cho nông dân thấy rằng sự cộng tác giữa những người tham gia mang lại hiệu quả rất tốt Việc

đánh giá cao sự cộng tác giữa nông dân được coi là điểm khởi đầu mạnh nếu nông dân muốn tiếp

tục làm việc theo nhóm và tạo đà cho làm việc theo nhóm cho đến khi nhóm được thiết lập vững

chắc và các nhóm viên cùng nhau hình thành những mục tiêu của nhóm mình, ví dụ tiếp thị, cùng

nhau quản lý máy móc hay sản xuất các mặt hàng đặc biệt nào đó

Nhóm đánh giá thấy có dấu hiệu về việc hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ và Xử lý sau thu hoạch

có áp dụng tập huấn chú trọng nhiều hơn đến việc giới thiệu các công nghệ chứ không chỉ đảm

bảo các bài tập thực hành tích cực tập trung vào nông dân Nông dân của hai chương trình này

trên thực tế thấy tập huấn rất thú vị và hữu ích, nhưng cũng thấy hơi lý thuyết quá và thực hành

quá ít Chương trình của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ hình như có sự tham gia trong đó nông

dân trao đổi với nhau và có ảnh hưởng đến chủ đề thảo luận, nhưng ít thực hiện các bài tập thực

hành đầy đủ một cách tích cực để thấy tự tin trong việc áp dụng những kiến thức đã học Một

trong những lý do chính của sự khác nhau này là các lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ và sau

thu hoạch không dựa vào đồng ruộng như các lớp tập huấn nông dân IPM và lớp tập huấn nông

Thời gian tập huấn (cả ngày) các khía cạnh kỹ thuật Tập huấn

viên loại 1 viên loại 2 Tập huấn Tập huấn viên nông dân

Nông dân

(16 tuần) Giống

Trang 18

dân sản xuất giống Điều này dẫn đến việc giữa các học viên không có sự sản xuất thống nhất và

theo thời vụ Về Hợp phần Xử lý sau thu hoạch, chú trọng chủ yếu đến hoạt động của máy móc

và ít quan tâm đến động lực của nhóm Những minh họa được sử dụng trong chương trình xử lý

sau thu hoạch đã được chuẩn bị trước chứ không phải chính học viên làm, bởi vì nếu học viên tự

làm thì sẽ học được chi tiết hơn và nhiều hơn vì trong khi vẽ

Những thông số tương tự có thể được sử dụng để đánh giá khả năng học viên tham gia các buổi

tập huấn nông dân có thể hình thành nhóm và tiếp tục cộng tác trong nhóm, hay khả năng của

những người nông dân chưa được tập huấn trong việc hình thành nhóm Nhóm đánh giá thấy rằng

các nhóm hay câu lạc bộ của những nông dân có động cơ cao, được hình thành trong chương

trình ASPS, đã đưa ra những quyết định đối với các vấn đề liên quan đến quỹ quay vòng vốn của

nhóm, chất lượng giống, quản lý phân bón, quản lý nước, các hoạt động văn hóa, máy móc nông

cụ, các hoạt động đa dạng hóa thu nhập và tiếp thị sản phẩm Đối với Nhóm đánh giá một đặc

điểm quan trọng của Chương trình ASPS là các nhóm đã được thành lập và hình thành những

mục tiêu và quy chế cho sự cộng tác của mình Đây là một hoạt động cần có sự quan tâm nhiều

hơn

Những nhóm tổng hợp hoạt động tốt của Ban Quản lý Quốc gia mà Nhóm đánh giá đến thăm đều

đã trưởng thành thành những nhóm ổn định bao gồm những người đã tham gia các lớp tập huấn

nông dân và đã hình thành nhóm trong các hợp phần (chủ yếu là IPM) Vì nhóm sở thích của Hội

Nông dân Việt Nam chưa bao giờ qua được giai đoạn đầu sau khi nhóm được thành lập, Nhóm

đánh giá không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy các nhóm nông dân được hình thành, hoạt

động và phát triển mà không có sự trợ giúp trước

2.1.5 Nhận thức của nông dân đã được tập huấn

Nhóm đánh giá thấy có sự tăng lên đáng kể về nhận thức của những học viên tham gia các lớp tập

huấn nông dân về những vấn đề kỹ thuật, an toàn (ví dụ IPM) và mối quan hệ qua lại với thị

trường (ví dụ câu lạc bộ giống) Một tác động rất quan trọng nữa của lớp tập huấn nông dân

/nhóm nông dân đáng chú ý là sự thay đổi thái độ của các đơn vị tham gia, những nhà hoạch định

chính sách và nông dân về khái niệm và nhận thức của phương pháp tiếp cận có sự tham gia

Nhận thức này về một phương pháp tiếp cận thay thế được thấy ở một số công đoạn của quy trình

lập kế hoạch (ví dụ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thái Bình), thông qua việc thực hiện

và thủ tục giám sát

Nông dân tham gia lớp tập huấn chăn nuôi nhỏ biết rõ hơn những loại bệnh của vật nuôi hơn

những nông dân không được tập huấn Họ biết cách phòng ngừa và chữa trị những bệnh thông

thường cho vật nuôi của mình Nhu cầu của họ đối với dịch vụ thú y cũng tăng lên (ví dụ tiêm

phòng cho vật nuôi được nông dân yêu cầu nhiều đối với câu lạc bộ) Nhiều nông dân hài lòng

với dịch vụ thú y Tuy nhiên, như nêu trong báo cáo đánh giá tác động của hợp phần chăn nuôi

gia súc nhỏ, ở một số khu vực như vùng núi, dịch vụ thú y chưa đáp ứng yêu cầu của nông dân

Phương pháp tiếp cận phổ biến của Chương trình ASPS bắt đầu với việc tập huấn có sự

tham gia là một phương pháp tuyệt vời cho việc hình thành các nhóm nông dân bền

vững tự chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình

Trang 19

Nông dân làm IPM chú trọng nhiều đến việc phòng ngừa an toàn hơn trước Ví dụ, nhiều nông

dân sử dụng quần áo bảo hộ lao động và khẩu trang khi phun thuốc trừ sâu Nông dân cũng có

kiến thức tốt hơn về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đối với sức khỏe con người và môi trường, đặc

biệt là ảnh hướng đến nguồn nước Nhiều nông dân làm IPM sử dụng sinh học để kiểm soát dịch

bệnh thay vì chỉ dựa vào thuốc trừ sâu Ví dụ, ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nông dân IPM

đã nuôi vịt trong ruộng lúa để vịt ăn những con ốc bươu vàng nhỏ

Theo phân tích KAP từ tỉnh Sơn La và Hà Giang, những nông dân tham gia đã nâng cao kiến

thức của mình về công nghệ sau thu hoạch lên 41% Trước khi tham gia tập huấn, hầu hết nông

dân không có kiến thức về công nghệ sau thu hoạch, nhưng sau khi tập huấn kiến thức, thái độ và

thực hành của họ tăng lên đáng kể

Nhận thức và thái độ của nông dân đối với tập huấn cũng đã thay đổi theo thời gian Trước đây

nông dân tham gia các lớp tập huấn nông dân IPM chỉ khi họ được hỗ trợ về mặt tài chính, nhưng

sau khi đã tham gia được một thời gian, rất nhiều người trong số họ sẵn sàng chi tiền để được đào

tạo nâng cao Đó là do nông dân đã thấy được tầm quan trọng của tập huấn để tăng thu nhập từ

đồng ruộng của mình (ví dụ trồng ớt ở tỉnh Thái Bình hay sản xuất giống ở tỉnh Đồng Tháp)

Nông dân trong lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân thấy rõ hơn những công nghệ mới và cảm

thấy tự tin hơn khi tiếp cận với những công nghệ mới đó Họ cũng thấy rõ hơn những cơ hội khác

nhau mà những laọi cây trồng khác nhau có thể mang lại, ví dụ nông dân trồng lúa bắt đầu

chuyển sang trồng ớt, khoai lang, đậu xanh, lạc trên những thửa ruộng trồng lúa của mình

Nông dân đã tham gia lớp tập huấn sản xuất giống ở tỉnh Đồng Tháp đã nhận rõ lợi ích khi là

thành viên của câu lạc bộ giống vì họ tin là với việc tham gia câu lạc bộ họ sẽ có khả năng tiếp

cận với thị trường dễ dàng hơn Suy nghĩ này được một tập huấn viên nông dân của lớp tập huấn

sản xuất giống ở xã Đình An, huyện Lập Võ ủng hộ Anh nông dân này đã thành lập câu lạc bộ

giống tại thôn của mình với 20 thành viên Hàng năm, câu lạc bộ của anh có hợp đồng sản xuất

21 ha lúa giống cho công ty giống

2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG

Dịch vụ khuyến nông ở Việt Nam tương đối mới và được khởi xướng theo Nghị định số 13/CP

của Thủ tướng chính phủ năm 1993 Khi mới bắt đầu, dịch vụ khuyến nông nằm trong Vụ

Khuyến nông Khuyến lâm (DAFE), và từ tháng 11, 2003 trở thành một đơn vị độc lập nằm trong

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn gọi là Trung tâm khuyến nông quốc gia (NAEC) Đây là

sự chuyển đổi lớn vì các vụ thường là những đơn vị trực thuộc theo chiều dọc trong khi chức

năng của dịch vụ khuyến nông là đơn vị tổng hợp hoạt động theo chiều ngang Trước khi thành

lập dịch vụ khuyến nôngở Việt Nam, mỗi vụ trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực

hiện chuyển giao kiến thức về lĩnh vực của mình cho nông dân Chính vì vậy mà IPM vẫn nằm

trong Cục bảo vệ thực vật, Lớp tập huấn nông dân sản xuất giống nằm trong Cục Trồng trọt (DA)

và Lớp tập huấn nông dân xử lý sau thu hoạch nằm trong Vụ Khoa học Kỹ thuật (DST) Chỉ có

các lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ là nằm trong Trung tâm khuyến nông quốc gia chứ

không nằm trong Cục Chăn nuôi (DLP)

Hình thức làm việc được giới thiệu đã làm tăng nhận thức giữa các đơn vị tham gia và

những người hưởng lợi, không những về những vấn đề kỹ thuật mà cả hiệu quả của

phương pháp tiếp cận có sự tham gia

Trang 20

Hệ thống dịch vụ khuyến nông hiện nay đang được xây dựng từ cấp trung ương - Bộ Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn đến các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở tất cả các tỉnh

(Trung tâm khuyến nông) và 70 % các huyện (Trạm khuyến nông) Tuy nhiên, dịch vụ khuyến

nông hiện tương đối thiếu nhân viên và khó có thể tiếp cận với tất cả các thôn bản Vì vậy, dịch

vụ còn giới hạn trong việc “truyền đạt các thông điệp kỹ thuật” cho một nhóm nông dân tương

đối lớn trong một buổi họp Phương pháp khuyến nông phổ biến này là hiệu quả trong việc tiếp

cận với nhiều nông dân với chi phí thấp trên một người nông dân được tiếp cận Vì vậy nếu chỉ số

tác động chỉ giới hạn trong số nông dân được tập huấn, thì hệ thống khuyến nông hiện tại hiệu

quả hơn nhiều so với phương pháp tiếp cận có sự tham gia Tuy nhiên, nông dân không học được

nhiều và hầu hết nông dân quên thông điệp được truyền đạt trước khi họ về đến nhà Trong khi

dịch vụ khuyến nông truyền thống bao gồm việc học tập khá thụ động vì nông dân chỉ ngồi nghe

cán bộ khuyến nông thuyết trình, và thường tập trung trong một phòng với khoảng hơn 100 người

tham gia, thì Chương trình ASPS tạo điều kiện có sự tham gia nhiều hơn và học tập chủ động

hơn

Sự khác nhau chính giữa khuyến nông có sự tham gia được Chương trình ASPS áp dụng và dịch

vụ khuyến nông truyền thống là sự tham gia chủ động của người dân địa phương vào cuộc đối

thoại Tập huấn của Chương trình ASPS lấy điểm xuất phát từ tình hình của người nông dân và

nông dân cần phải tham gia vào các cuộc trao đổi, bàn bạc, ví dụ thông qua làm việc theo nhóm

Hầu hết những người được phỏng vấn, khi được hỏi, đều nhất trí cho rằng trong những lớp tập

huấn thụ động trước đây họ không có cơ hội trao đổi ý kiến và thảo luận với nhau Nhận rõ tầm

quan trọng của sự tham gia của người dân, các phương pháp tiếp cận có sự tham gia tạo ra diễn

đàn cho học viên có ý kiến và phản hồi ngay lập tức với giảng viên và tập huấn viên Trong

phương pháp tiếp cận này, học viên đóng vai trò chủ động trong quá trình học tập và sự tin tưởng

của họ cũng như kiến thức của họ được nâng lên đáng kể Một hiệu quả nữa của cách làm việc có

sự tham gia là những phản hồi của học viên thể hiện kiến thức mà họ đã hấp thụ được thế nào từ

bài học Hơn nữa, nó tạo ra một môi trường tốt cho học viên đối thoại với nhau, kết quả là cả học

viên và giảng viên/tập huấn viên đều được lợi nhiều hơn từ những trao đổi tương tác này

2.2.1 Tỷ lệ ghi nhớ

bài Theo biểu đồ này, thuyết trình, ở trên đỉnh cao nhất của hình chóp, có tỷ lệ ghi nhớ trung

bình là 5% Ở phía cuối hình chóp, phương pháp “dạy người khác/sử dụng ngay” có tỷ lệ ghi nhớ

trung bình là 90%

3

Biểu đồ hình nón về hiệu quả ghi nhớ của Dale Biểu đồ minh họa kết quả nghiên cứu do Edgar Dale tiến hành trong

những năm 1960 Theo nghiên cứu của Dale, phương pháp ít hiệu quả nhất, ở trên đỉnh của hình nón, gồm việc ghi nhớ

thông tin được trình bày bằng miệng, nghĩa là, nghe những lời nói phương pháp hiệu quả nhất, ở đáy của hình nón, gồm

những kinh nghiệm ghi nhớ có mục đích và trực tiếp, như học qua người khác hay kinh nghiệm thực địa

Sự rời rạc về mặt tổ chức này và thiếu phối hợp liên cục, vụ là một trong những lý do

làm cho sự hòa nhập kém giữa các hợp phần khác nhau của Chương trình ASPS và lỡ

cơ hội gây tác động quan trọng trong việc đưa các phương pháp khuyến nông có sự

tham gia vào hệ thống khuyến nông của Việt Nam

Trang 21

Hệ thống khuyến nông truyền thống sẽ ở trên cùng của hình chóp ghi nhớ với tỷ lệ ghi nhớ rất

nhỏ Hệ thống khuyến nông truyền thống được coi là “học thụ động” vì vậy tỷ lệ ghi nhớ là 5 –

10% Trong các hợp phần của Chương trình ASPS, Nhóm đánh giá thấy có sự học tập “chủ động”

nhiều hơn, và thấy có nhiều hoạt động ở những bước khác nhau trong bình chóp ghi nhớ Với

việc sử dụng hình chóp ghi nhớ ở trên, tỷ lệ ghi nhớ trung bình được dự kiến trên cơ sở các

phương pháp tiếp cận tập huấn khác nhau Theo đánh giá của Nhóm đánh giá, Nhóm cho tỷ lệ ghi

nhớ của phương pháp tiếp cận xử lý sau thu hoạch là khoảng 30% vì lớp tập huấn nông dân sau

thu hoạch kết hợp giữa trình diễn và trao đổi, nhưng có khả năng đạt được đến 90% đối với

những người thực tế sử dụng công nghệ và giới thiệu lại công nghệ đó cho những người khác

Đánh giá về sự ghi nhớ của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ là 55% vì các lớp tập huấn chăn nuôi

nhỏ dựa vào những trao đổi có sự tham gia Đánh giá về sự ghi nhớ của Hợp phần IPM và Giống

là 60% - Hợp phần Giống có áp dụng công nghệ, cả theo nhóm và cá nhân, và đối với tất cả các

hợp phần tỷ lệ ghi nhớ chung là 75 – 90 %

Chương trình ASPS đã áp dụng một loạt những sự thể hiện khác nhau về các phương pháp tiếp

cận có sự tham gia trong khuyến nông để góp phần làm tăng hiệu quả cho ngành nông nghiệp

Những phương pháp này đi song hành với cơ cấu khuyến nông hiện có, như đối với hợp phần

IPM, hay đưa vào cơ cấu khuyến nông như hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ – hay hợp tác với các

đối tác khác nhau như tiểu hợp phần giống 8 đã tổ chức hoạt động này với Sở Nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn và các công ty giống như là những đối tác chính Trong khi dịch vụ khuyến

nông tập trung vào việc truyền “thông điệp”, có thể là do thiếu nhân viên, thì hầu hết các hợp

phần của Chương trình ASPS đã chọn phương pháp tiếp cận có sự tham gia tập trung vào người

nông dân

Theo ý kiến của Nhóm đánh giá Chương trình ASPS đã góp phần đáng kể vào việc

chuyển đổi phương pháp tiếp cận khuyến nông sang khuyến nông có sự tham gia với

tỷ lệ ghi nhớ cao hơn

Dịch vụ khuyến nông (5-10 %)

Tâp huấn sau thu hoạch (35 – 90 %) Tâp huấn chăn nuôi nhỏ (50 – 90%) Tâp huấn sản xuất giống và lớp TH nông dân đồng ruộng(60 – 90 %)

Trang 22

Các tổ chức khác như các tổ chức phi chính phủ quốc tế: SNV, Helvetas và Oxfarm, các nhà tài

trợ khác ví dụ GTZ và các tổ chức đa phương như Ngân hàng phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế

giới, Tổ chức Nông Lương (FAO) đang nỗ lực góp phần vào việc chuyển đổi phương pháp tiếp

cận khuyến nông ở Việt Nam Tuy nhiên, tầm cỡ của Chương trình ASPS là đáng kể và vì vậy đã

tạo nên sự tranh luận lớn cho các cuộc thảo luận

2.2.2 Phương pháp tiếp cận khuyến nông linh hoạt

Nhóm khách hàng của dịch vụ khuyến nông bao gồm nông dân sản xuất nhỏ tự cung tự cấp, nông

dân sản xuất hàng hóa, thanh niên nông thôn, phụ nữ, người nghèo ở nông thôn, các gia đình

nông dân có người tàn tật về thể chất và người mới nhiễm HIV/AIDS Tất cả những người này có

nhu cầu khuyến nông khác nhau Trong quá trình đánh giá, Nhóm đánh giá thấy một vài dấu hiệu

của việc Chương trình ASPS đưa vào những thay đổi hướng tới khái niệm của các phương pháp

tiếp cận khuyến nông cho phép xây dựng các chương trình khác nhau đáp ứng những nhóm đối

tượng cụ thể, ví dụ lớp tập huấn nông dân có đưa vào nội dung phòng chống HIV ở Thái Bình

Hiệu quả của truyền đạt kiến thức thông qua việc sử dụng phương pháp tiếp cận khuyến nông có

sự tham gia đã được tất cả mọi người mà Nhóm đánh giá phỏng vấn hoan nghênh Điều này cũng

đã được nêu trong hầu hết các báo cáo đánh giá trước đây và những người được phỏng vấn trước

đây, kể cả các quan chức địa phương và nông dân Đặc biệt nông dân ở những khu vực dân tộc

thiểu số như ở Quỳnh Châu và Sơn La đánh giá cao phương pháp này Việc chấp nhận chung sự

cấn thiết áp dụng phương pháp tiếp cận học có sự tham gia được xác định trong các hợp phần

IPM/Giống /Chăn nuôi nhỏ/Ban Quản lý Quốc gia /Hội Nông dân Việt Nam và phần nào đó là

Xử lý sau thu hoạch

Các phương pháp đào tạo thụ động truyền thống thường được tổ chức không có thực hành trên

đồng ruộng và chỉ khi có kinh phí, nông dân đôi khi mới nhận được một vài tài liệu in Những lớp

như vậy thường chỉ được tổ chức trong 1 hoặc 2 ngày Nhiều người được phỏng vấn trả lời là

trong những lớp như thế họ được cung cấp rất nhiều kiến thức nhưng chỉ nhớ được chút ít

Ngược lại, tất cả những khóa tập huấn của Chương trình ASPS trong một số hợp phần đã hỗ trợ

nông dân thông qua việc trình diễn điểm trên những thửa ruộng của họ Những lớp tập huấn này

được tổ chức với nhiều môđun, được tiến hành liên tiếp theo giai đoạn phát triển của cây trồng và

vật nuôi hoặc quy trình vận hành của máy móc; vì vậy hiệu quả của việc chuyển giao kiến thức

được cải thiện rõ rệt

Việc thành lập nhóm nông dân /câu lạc bộ sau khi kết thúc các lớp tập huấn nông dân chăn nuôi

nhỏ và sản xuất giống nhằm đảm bảo phát triển bền vững được coi là một phần quan trọng trong

việc duy trì kỹ năng và kiến thức đã thu được Các chủ đề được thảo luận thông qua nhóm nông

dân và câu lạc bộ Việc tham gia vào các nhóm nông dân /câu lạc bộ là cách tốt để ôn tập những

điều đã học được và chia sẻ kinh nghiệm Đồng thời, nhóm nông dân khuyến khích các thành

viên hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

Chương trình ASPS cho thấy có thể dần dần thay đổi phương thức cũ của việc truyền

đạt các thông điệp kỹ thuật cho nông dân sử dụng cùng một phương pháp khuyến nông

cho tất cả mọi người sang phương pháp tiếp cận tập trung vào khách hàng trong dịch vụ

khuyến nông

Trang 23

2.2.3 Kiến thức và kỹ năng thu được từ lớp tập huấn nông dân của các nhóm

nông dân

Nhóm đánh giá thấy một số ví dụ về tính hiệu quả của các phương pháp tiếp cận được ứng dụng

Dưới đây là một vài trong số các ví dụ đó:

Việc sử dụng các phương pháp tiếp cận khuyến nông có sự tham gia đã tăng cường kiến thức và

nhận thức về sản xuất cho cả học viên và tập huấn viên Điều này được thấy trong tất cả các hợp

phần Ví dụ, trước đây trong các chương trình khuyến nông của Bộ Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn, cán bộ khuyến nông hay chính quyền địa phương chủ yếu chú trọng đến việc làm thế

nào để tăng năng xuất, nhưng bỏ qua thất thoát về sản lượng sau thu hoạch bởi vì họ không quan

tâm đến kỹ thuật bảo quản thóc, ngô Việc bảo quản (thóc hoặc ngô) tại các hộ gia đình trở nên

rất thông dụng đặc biệt là trong các cộng đồng dân tộc thiểu số Nông dân ở vùng núi cao thường

để ngô như là “những chiếc đèn treo” ngoài đồng, hoặc cất giữ nông sản trong những đống lớn,

tạo điều kiện cho chim, chuột, côn trùng và ẩm ướt làm hư hỏng sản phẩm của mình Sau khi

được hướng dẫn thông qua lớp tập huấn xử lý sau thu hoạch, nay họ đã học được những cách bảo

quản phù hợp, làm các dụng cụ để bảo quản, phân loại và phơi khô và chứa trong các xilô Nông

dân ở Sơn La nói rằng trước đây rất khó khăn trong việc phơi khô nông sản Hiện nay, thậm chí

trong mùa mưa, họ cũng có thể phơi khô lúa ngô Theo đó sự sáng tạo của họ cũng phát triển hơn

Họ có thể sử dụng nguyên liệu sẵn có ở địa phương để giảm chi phí sản xuất

Các báo cáo tác động của IPM cho thấy năng xuất lúa tăng lên 8 % và chi phí đầu vào giảm 8 %

Kết quả là, lợi ích của nông dân tăng lên 16 % và việc sử dụng phân đạm và thuốc trừ sâu giảm đi

15 % và 38 % 4

Nông dân ở Cẩm Tân, Cẩm Thủy, Thái Bình cho biết họ thường phải mua toàn bộ hạt giống,

nhưng sau khi tham gia vào lớp tập huấn sản xuất giống của Hợp phần Giống, nay họ có thể sản

xuất được giống có chất lượng cho gia đình mình, vì vậy họ tiết kiệm được 20 % chi phí giống và

50% chi phí quản lý dịch hại Ở Quỳ Châu, Nghệ An, người ta cũng cho biết là lần đầu tiên, năng

xuất lúa trung bình của huyện đạt trên 5 tấn/ha5 Một trong những đóng góp chính cho thành công

này là những lớp tập huấn nông dân sản xuất giống của Hợp phần Giống

Nông dân là người dân tộc thiểu số tham gia lớp tập huấn chăn nuôi nhỏ nay đã biết nhiều về

những cách nuôi lợn hiệu quả; thay vì thả rông lợn, giờ họ đã nuôi nhốt trong chuồng và vì thế đã

có phân để bón ruộng và tạo điều kiện cho việc tiêm chủng dễ dàng hơn

Báo cáo tác động của IMP nêu rằng ngoài tác động đến phương thức sản xuất nông nghiệp và thu

nhập, việc tham gia vào lớp tập huấn nông dân đã cải thiện kỹ năng phân tích và năng lực suy

nghĩ có phê phán của nông dân Lớp tập huấn nông dân của Chương trình ASPS không chỉ cung

cấp kiến thức về nông nghiệp mà còn cả kiến thức về giới, tiếp thị, quản lý tài chính v.v và

những kiến thức này là cần thiết và quí giá cho việc đưa ra quyết định

Người dân thường muốn tiếp tục làm việc với nhau sau chương trình tập huấn Ở Châu Tiến, Qùy

Châu, câu lạc bộ giống với toàn bộ thành viên là người Thái được thành lập sau khóa tập huấn

sản xuất giống của Hợp phần Giống và câu lạc bộ muốn trở thành “một bản sản xuất giống” để

cung cấp giống cho các khu vực vùng núi cao xung quanh

4 Báo cáo tác động IPM

5 Bà Lang Thị Hồng – Phó chủ tịch, Huyện Qùy Châu, Nghệ An

Trang 24

Về khả năng tập huấn, nhìn chung tập huấn viên của Chương trình ASPS có thể xử lý được nội

dung kỹ thuật của lớp đào tạo giảng viên TOT với sự tự tin trong lớp tập huấn nông dân Tuy

nhiên, một số giảng viên nông dân gặp khó khăn trong việc truyền đạt thông điệp từ những bài

giảng tương đối lý thuyết trong lớp học sang bối cảnh thực hành Báo cáo đánh giá tác động của

Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ cho thấy một số điểm tồn tại của tập huấn cho nông dân chăn

nuôi nhỏ Hiện tại trong giáo trình TOT không hướng dẫn làm thế nào để hỗ trợ tín dụng và hỗ

trợ tài chính cho nông dân nghèo, làm thế nào để hỗ trợ quản lý đồng ruộng nói chung, làm thế

nào để phân tích chi phí và lợi ích đơn giản và làm thế nào để giúp nông dân tiếp thị sản phẩm

chăn nuôi của mình Theo tập huấn viên nông dân ở các hợp phần khác nhau, tất cả những môn

học này đều hữu ích và cần thiết cho nông dân

2.3 TÁC ĐỘNG ĐẾN THÁI ĐỘ NÓI CHUNG

Hệ thống sản xuất đã dần dần thay đổi từ các hệ thống sản xuất dựa vào số lượng sang hệ thống

dựa vào chất lượng Để minh họa bằng ví dụ, nông dân trong những khu vực thực hiện IPM biết

làm thế nào để lựa chọn giống có chất lượng, cân đối phân bón với việc giảm tỷ lệ phân đạm và

dùng phân kali và giảm sử dụng thuốc trừ sâu và trừ nấm Hơn nữa, Nhóm đánh giá thấy rằng có

xu hướng tiến tới chú trọng đa dạng hóa hệ thống sản xuất nông nghiệp, nghĩa là không chỉ là

hiệu quả của đầu vào cho sản xuất nông nghiệp được tối ưu hóa mà trong nhiều trường hợp đã

được giảm đi Kết quả nói chung là nông dân sản xuất với năng xuất và sản lượng cao hơn Nông

dân là ngưồ dân tộc thiểu số của các lớp tập huấn xử lý sau thu hoạch ở tỉnh Sơn La đã áp dụng

việc cất giữ ngô theo phương pháp cải tiến Rất nhiều hộ gia đình đã có thể cất giữ nông phẩm

của mình trong thời gian dài hơn, vì vậy, họ có thể bán và thu được giá cao hơn

Nhóm đánh giá thấy rằng có sự thay đổi dần dần trong hệ thống cây trồng và đầu tư Ví dụ, ở

huyện Quỳnh Châu, ngô đông gần đây đã được đưa vào hệ thống cây trồng Nông dân ở tỉnh Thái

Bình đã từng bước thay đổi sản xuất từ trồng lúa sang trồng rau với lợi nhuận cao hơn Có thể

điều quan trọng hơn là nông dân ở Sơn La nay đã biết áp dụng kỹ thuật bảo quản ngô

Nhóm nông dân đã tạo ra cơ hội để hình thành các nhóm sản xuất trong tương lai, khai thác thế

mạnh của việc hợp tác và tăng cường khả năng cạnh tranh của nông dân Ví dụ, Câu lạc bộ giống

ở xã Hưng Tân, Hưng Nguyên đã ký hợp đồng sản xuất lúa giống với Công ty Giống cây trồng

Trung ương Nhiều nông dân thành viên của Câu lạc bộ ở xã Độc Lập, Huyện Hưng Hà, tỉnh Thái

Bình cho biết rằng việc tham gia vào nhóm đã giúp họ giảm chi phí đến mức tối đa

Nhóm đánh giá thấy rằng những người tham gia vào các lớp tập huấn chăn nuôi nhỏ đã tăng năng

xuất sản xuất vật nuôi của mình Thông qua lớp tập huấn chăn nuôi gia súc nhỏ, nông dân đã tin

tưởng rằng chăn nuôi thu được lợi nhuận nhiều hơn nhiều so với sản xuất lúa Rất nhiều lợn đã

được bán ra ở chợ và điều này chứng tỏ đó là nguồn thu nhập với lợi nhuận rất cao

Hiệu quả của việc tổ chức nhóm nông dân đã khuyến khích thay đổi từ cạnh tranh sang hợp tác vì

mục đích phát triển chung Mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đang được hình thành, cho phép

cộng đồng phát triển hướng tới suy nghĩ tích cực, dân chủ hóa, trách nhiệm xã hội và hợp tác lẫn

nhau Hiện nay, xu hướng hợp tác chú trọng vào khả năng cạnh tranh Kết quả là, các nhóm viên

Các phương pháp khuyến nông tập trung vào nông dân của Chương trình ASPS là

phương pháp tiếp cận hiệu quả, với phương pháp này nông dân có thể học được kiến

thức kỹ thuật và cách đưa ra các quyết định và áp dụng những công nghệ phù hợp với

các hệ thống sản xuất cải tiến và bền vững

Trang 25

nhận được nhiều hỗ trợ hơn, quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong nhóm được hình thành

góp phần làm cho nhóm nông dân ngày càng vững chắc và phát triển bền vững

Nhiều nông dân giải thích rằng sau khi tham gia vào lớp tập huấn, họ trở nên ít cá nhân hơn, tự

tin hơn và cởi mở hơn trong việc hiểu về cuộc sống phụ thuộc lẫn nhau và họ sẵn sàng chia sẻ

thông tin và giúp đỡ nhau

2.4 TÁC ĐỘNG LAN TỎA CỦA LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM

NÔNG DÂN CỦA CHƯƠNG TRÌNH ASPS

Lớp tập huấn nông dân và nhóm nông dân không chỉ có tác động đối với khu vực đích hay những

người hưởng lợi trực tiếp mà về mức độ nào đó còn lan tỏa sang những khu vực khác và những

nông dân không được hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động của Chương trình ASPS Hơn nữa,

người ta thấy rằng kinh nghiệm từ lớp tập huấn nông dân, thu được từ những lớp IPM thí điểm

trong những năm đầu đã được áp dụng cho các hợp phần khác ví dụ như Hợp phần chăn nuôi gia

súc nhỏ, Giống và Xử lý sau thu hoạch Đồng thời, phương pháp tiếp cận có sự tham gia không

những chỉ được áp dụng cho tập huấn nông dân mà còn được áp dụng rộng rãi cho các hoạt động

khác của các đơn vị khác như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên và Hội Nông dân v.v Theo lãnh đạo

của Ủy ban nhân dân các huyện, họ đã áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia vào quá

trình lập kế hoạch năm với sự tham gia đầy đủ của các đơn vị khác nhau có liên quan

Như báo cáo trong nghiên cứu tác động của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ, trong số 42 tập

huấn viên được phỏng vấn, 36 người (85,7% tổng số) đã hướng dẫn các lớp nông dân chăn nuôi

nhỏ các cấp khác nhau Đây là cách cụ thể nhất cho việc phổ biến kiến thức thông qua các

phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, phát thanh địa phương hay các cuộc hội

họp, các cuộc đi thăm người thân, đặc biệt là thông qua việc trao đổi lao động và họat động xã hội

tại cộng đồng Ví dụ, anh Dũng ở xã Nguyên Xá (là nông dân không được tập huấn) đã nói rằng

mặc dù anh không tham gia vào lớp tập huấn nông dân và câu lạc bộ nhưng anh nghe được thông

tin từ đài truyền thanh ở thôn

Nhóm đánh giá thấy một số ví dụ về những tác dụng lan truyền này Thành công của Chương

trình ASPS là khá rõ và một số lãnh đạo địa phương đã thấy điều này Hợp phần chăn nuôi gia

súc nhỏ đã giành khá nhiều công sức trong việc vận động các nhà hoạch định chính sách thay đổi

các phương pháp khuyến nông, chủ yếu là ở cấp tỉnh nhưng về mức độ nào đó ở cả cấp trung

ương Tuy nhiên Nhóm đánh giá thấy rằng nỗ lực chung trong việc tích cực đưa các phương pháp

tiếp cận và kỹ thuật này vào các chính sách và chiến lược quốc gia còn khá hạn chế Khi một

chương trình thành công về mặt diện rộng, sáng tạo và cải thiện sinh kế v.v mong rằng sẽ có sự

vận động các nhà hoạch định chính sách ủng hộ

Việc phổ biến các phương pháp xảy ra hoặc là từ “nông dân sang nông dân” hoặc là “lan

truyền” ngay trong tỉnh đích, từ huyện này sang huyện khác Hơn nữa, cũng thấy rằng

các tỉnh không phải là tỉnh đích cũng áp dụng phương pháp tiếp cận của Chương trình

ASPS sau khi đến thăm các hoạt động của chương trình

Trang 26

2.5 SÁNG TẠO

Vì phương pháp tiếp cận tổng quát đã được FAO đưa vào, nên Chương trình ASPS không thể cho

rằng đã đặc biệt sáng tạo về sự tham gia và phương pháp tiếp cận tập trung vào nông dân Tuy

nhiên, có một số đặc điểm quan trọng đối với các phương pháp tiếp cận mà Chương trình ASPS

áp dụng Đặc điểm quan trọng nhất là chuyển đổi phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân

sang lớp tập huấn nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ và lớp tập huấn nông dân sản xuất giống và

đưa tập huấn viên nông dân vào thực hiện trong diện rộng Hơn nữa, Chương trình IPM quốc gia/

ASPS đã được mở rộng hơn bằng cách xây dựng giáo trình toàn diện hơn nhấn mạnh nhiều đến

thủy lợi, tỷ lệ và chất lượng giống, phân bón, tiếp thị v.v và gần đây là HIV/AIDs

Lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ và sản xuất giống là cái gì đó mới, rất sáng tạo và đã tồn

tại Trong khi lớp tập huấn nông dân được những người thực hiện dự án biết đến và hoan nghênh,

điều luôn được trao đổi là ở mức độ nào có thể có những hoạt động tương tự cho chăn nuôi hay

sản xuất chuyên canh như sản xuất giống Không nhiều người làm thử, nhưng hợp phần chăn nuôi

gia súc nhỏ và hợp phần giống của Chương trình ASPS đã thí điểm thách thức này với thành công

lớn Tất cả những công việc ban đầu như tạo ra nhóm giảng viên nòng cốt, thiết kế giáo trình

giảng dạy, tiến hành tập huấn cho giảng viên v.v đã được thực hiện như là một phần của Chương

trình ASPS Một số người thực hiện dự án khác đã tham khảo ý kiến tư vấn của các hợp phần của

Chương trình ASPS và tài liệu tập huấn về những chủ đề này

Một đặc điểm sáng tạo quan trọng nữa của Chương trình ASPS là chương trình tập huấn nông

dân với “quy mô lớn” Người ta luôn tranh luận rằng lớp tập huấn nông dân là phương pháp

khuyến nông không hiệu quả vì chỉ có 25-30 người tham gia một lớp tập huấn và rằng lớp này

kéo dài tới 16 tuần Với cách này, sẽ không bao giơ có thể có tác động đáng kể của những chương

trình như vậy Bằng việc đưa tập huấn viên nông dân vào tham gia, đã chứng minh rằng chương

trình tập huấn nông dân quy mô lớn là có thể thực hiện được Chương trình ASPS đã tập huấn

cho khoảng 414.407 người thông qua phương pháp tiếp cận này Đây là một kết quả đáng kể

Chương trình ASPS cũng đã khởi xướng một phương pháp tiếp cận mới bằng cách thành lập các

nhóm tổng hợp của Ban Quản lý Quốc gia và Hội Nông dân Việt Nam Cả hai chương trình này

đều thực hiện theo phương pháp tiếp cận thành lập nhóm trên cơ sở sở thích sản xuất của nông

dân và sau đó nhóm chịu trách nhiệm về nội dung và chủ đề mà họ sẽ cùng nhau làm việc Ý đồ

thành lập các nhóm với chi phí thấp và có sự tham gia nhiều hơn theo cách là không có chương

trình cụ thể định sẵn nào được đưa vào như là điểm khởi đầu Phương pháp tiếp cận này chưa

thực hiện được đủ dài để chứng minh giá trị của nó vì thế hệ đầu tiên của các nhóm này được

thành lập nằm trong hợp phần Ban Quản lý Quốc gia là những người nông dân đã tham gia lớp

tập huấn nông dân, nghiên cứu đồng ruộng và câu lạc bộ, vì vậy họ chưa thực sự bắt đầu với các

nhóm tổng hợp và các nhóm của Hội Nông dân Việt Nam chỉ mới được thành lập được 4 tháng,

vì vậy chưa thực sự bắt đầu các hoạt động

Chương trình ASPS đã cải tiến phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân được nhiều

người biết đến sang lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ và sản xuất giống Hơn nữa nó

đã được chứng minh rằng các phương pháp khuyến nông có sự tham gia có thể được

thực hiện với quy mô lớn

Trang 27

3 TIẾP CẬN CÁC NHÓM ĐỐI TƯỢNG ĐÍCH

Như xác định trong mục tiêu trước mắt của Chương trình ASPS, nhóm đối tượng đích chính là

người nghèo, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số, và mục tiêu này cũng phù hợp với chiến lược

phát triển về giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam Tuy nhiên, có sự không mạch lạc giữa các

chiến lược phát triển của chính phủ và nhóm đối tượng đích chính của các hoạt động của Bộ

Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Trừ Chương trình 135 của Bộ Nông nghiệp và phát triển

Nông thôn được thiết kế cho nông dân rất nghèo, có sự nhấn mạnh nhiều đến việc hỗ trợ cho

những người nông dân sản xuất hàng hóa thương mại, đặc biệt là trong ngành chăn nuôi và những

người nông dân này chủ yếu là nam giới và chủ yếu là người Kinh Đây là một cản trở cho việc

lựa chọn nhóm đích của Chương trình ASPS, đặc biệt là cho hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ

Nhóm đích thực tế của hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ, có 77% phụ nữ, 59% người nghèo và

24% người dân tộc thiểu số là hoàn toàn khác với nhóm đích của dịch vụ khuyến nông quốc gia

và tỉnh

Theo các báo cáo của chương trình, số liệu định lượng cho thấy rằng tỷ lệ chung của các hợp

phần là 39% phụ nữ tham gia vào các lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân Tương tự như vậy,

có 22% người tham gia là nông dân nghèo, đây là số lượng khá cao so với tỷ lệ người nghèo ở

khu vực đích Trung bình có 11% người tham gia là thuộc các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Bảng 3.1; Giới, nghèo đói và dân tộc thiểu số trong Chương trình ASPS và tỉnh – trung

nuôi nhỏ) 467% (IPM)5

51.0%6 78 % (Chăn

nuôi nhỏ)4 59% (IPM)5

nuôi nhỏ) 4

43 % (IPM)5Sơn La 25% 76% (Xử lý sau

Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đồng Tháp 2006

2 Báo cáo của Hội Nông dân, Thái Bình 2006

3 Báo cáo của Phòng sau thu hoạch tỉnh Sơn La 2006- Số nông dân nghèo trong báo cáo này là những

người được coi là nông dân nhỏ trong dự án

4

Nghiên cứu tác động của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ, Việt Nam 2006

5 Thành tựu và tác động của Chương trình ASPS-Danida hỗ trợ chương trình IPM quốc gia 2006

6 http://www.gso.gov.vn

7 http://www.most.gov.vn ; http://www.nghean.gov.vn; http://www.thanhhoa.gov.vn,

http://www.haugiang.gov.vn, http://www.sonla.gov.vn, http://www.thaibinh.gov.vn,

http://www.dongthap.gov.vn

8 NA- không có số liệu

Trang 28

Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn về địa lý trong việc tiếp cận với nhóm đích Rõ ràng là ở miền

Nam chủ yếu nam giới tham gia vào các lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân, trong khi đó ở

miền Bắc chủ yếu phụ nữ tham gia (ví dụ lớp tập huấn nông dân của hợp phần IPM, lớp tập huấn

nông dân sản xuất giống của hợp phần giống) Điều này chủ yếu là do sự phân công lao động

truyền thống trong các hộ gia đình, rất khác nhau miền Nam và miền Bắc Ở miền Nam, chủ yếu

nam giới làm công việc đồng áng, trong khi đó thì ở miền Bắc chủ yếu là phụ nữ

Các hợp phần khác nhau hướng vào các loại nông dân khác nhau, ví dụ 77% nông dân tham gia

vào lớp tập huấn chăn nuôi nhỏ của hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ là phụ nữ, trong khi đó tỷ lệ

này là 40% trong lớp tập huấn nông dân của hợp phần IPM, 56% trong lớp tập huấn nông dân sản

xuất giống của hợp phần giống và 15% trong lớp tập huấn nông dân của hợp phần xử lý sau thu

hoạch Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ có số lượng nữ nông dân nghèo cao bởi vì chăn nuôi chủ

yếu là trách nhiệm của phụ nữ ở những nơi thực hiện hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ

3.1 GIẢM NGHÈO

Các lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân đã cung cấp cho nông dân những công nghệ mới

quan trọng trong sản xuất lúa và đặc biệt là trong việc bảo vệ thực vật (Lớp tập huấn nông dân –

IPM), chăn nuôi gia súc (lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ), sản xuất giống (lớp tập huấn

nông dân sản xuất giống), xử lý sau thu hoạch (lớp tập huấn nông dân xử lý sau thu hoạch), và

Nhóm đánh giá đã tìm thấy những bằng chứng cho thấy rằng thu nhập của nông dân được cải

thiện đáng kể, kể cả thu nhập của 22% những người hưởng lợi nghèo Phân tích kinh tế cho thấy

thu nhập của nông dân, những người đã tham gia các lớp tập huấn nông dân -IPM tăng lên do

giảm chi phí đầu vào (ví dụ thuốc trừ sâu, phân đạm và giống) và năng xuất tăng lên Bức tranh

tương tự cũng thấy ở các hợp phần khác, nơi nông dân đã thu được nhiều lợi ích trong việc tham

gia vào các lớp tập huấn nông dân, lớp tập huấn chăn nuôi nhỏ, lớp tập huấn xử lý sau thu hoạch

và lớp tập huấn sản xuất giống Thu nhập của họ tăng lên đáng kể và nhiều người trong số họ đã

khá giả và thoát nghèo

Bảng 3.2; Nông dân nghèo được tập huấn trong Chương trình ASPS từ 2000-2006

Tổng cộng %

Nông dân nghèo 720 1.150 1.688 3.558 59%

4 Xử lý sau thu hoạch (tổng cộng) 0 0 0 0 4.160 33.780 24.968 62.908

Nông dân nghèo 4.160 9.221 4.800 18.181 29%

Nông dân nghèo 0 0 0 0 0 0 1.530 1.530 44%

8 Tổng cộng 1.810 21.315 70.168 86.458 104.660 135.057 88.338 507.776

Nông dân nghèo 462 4.461 10.783 20.035 25.491 31.797 19.889 112.918 22%

Kết quả cho thấy rằng các hợp phần của Chương trình ASPS đã đạt được mục tiêu của

dự án trong việc tiếp cận với các nhóm đích, đó là phụ nữ, dân tộc thiểu số và người

nghèo

Ngày đăng: 21/08/2013, 13:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1; Các phương pháp tiếp cận do một số hợp phần ASPS ứng dụng - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 1.1 ; Các phương pháp tiếp cận do một số hợp phần ASPS ứng dụng (Trang 10)
Bảng  2.1; Chương trình tập huấn nông dân của ASPS chia theo các lớp tập huấn nông  dân và nhóm nông dân, 2000 – 2006 - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
ng 2.1; Chương trình tập huấn nông dân của ASPS chia theo các lớp tập huấn nông dân và nhóm nông dân, 2000 – 2006 (Trang 13)
Bảng  2.2; Thời gian tập huấn của một số hợp phần trong Chương trình ASPS - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
ng 2.2; Thời gian tập huấn của một số hợp phần trong Chương trình ASPS (Trang 17)
Bảng 3.1; Giới, nghèo đói và dân tộc thiểu số trong Chương trình ASPS và tỉnh – trung  bình - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 3.1 ; Giới, nghèo đói và dân tộc thiểu số trong Chương trình ASPS và tỉnh – trung bình (Trang 27)
Bảng  3.2; Nông dân nghèo được tập huấn trong Chương trình ASPS từ 2000-2006 - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
ng 3.2; Nông dân nghèo được tập huấn trong Chương trình ASPS từ 2000-2006 (Trang 28)
Bảng  3.4; Nông dân dân tộc thiểu số được tập huấn trong Chương trình ASPS từ 2000-2006 - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
ng 3.4; Nông dân dân tộc thiểu số được tập huấn trong Chương trình ASPS từ 2000-2006 (Trang 31)
Bảng 5.2 Chi phí tài chính và lợi ích của lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân 16 Chi phí (USD '000)  IPM Giống - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 5.2 Chi phí tài chính và lợi ích của lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân 16 Chi phí (USD '000) IPM Giống (Trang 39)
Bảng 6.1;  Đào tạo phát triển năng lực, tính đến cuối tháng 9/2006 - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 6.1 ; Đào tạo phát triển năng lực, tính đến cuối tháng 9/2006 (Trang 46)
Hình 7.1 . Mức độ lồng ghép trong hệ thống Chính phủ - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Hình 7.1 Mức độ lồng ghép trong hệ thống Chính phủ (Trang 51)
Bảng 8.1: sự phát triển có thể có từ tập huấn đến hình thành nhóm - LỚP tập HUẤN NÔNG dân và NHÓM NÔNG dân TRONG CHƯƠNG TRÌNH hỗ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 8.1 sự phát triển có thể có từ tập huấn đến hình thành nhóm (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w