1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra, đánh giá về thành phần loài ốc mang sau (opisthobranchia) và ốc phổi (pulmonata) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện giao thủy, tỉnh nam định

106 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN LOÀI ỐC MANG SAU OPISTHOBRANCHIA VÀ ỐC PHỔI PULMONNATA TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN LOÀI

ỐC MANG SAU (OPISTHOBRANCHIA) VÀ ỐC PHỔI (PULMONNATA) TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP

MẶN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN VĂN QUANG

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN LOÀI

ỐC MANG SAU (OPISTHOBRANCHIA) VÀ ỐC PHỔI (PULMONNATA) TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

NGUYỄN VĂN QUANG

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ : 8440301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HOÀNG NGỌC KHẮC

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Hoàng Ngọc Khắc

Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Đỗ Văn Nhượng

Cán bộ chấm phản biện 2: PGS.TS Phạm Đình Sắc

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 17 tháng 01 năm 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những gì tôi đã trình bày trong luận văn là được thực hiện tại địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Các số liệu trong bài đều trung thực, chưa được công bố trước hội đồng nào

Tác giả

Nguyễn Văn Quang

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm bài và thực hiện công việc nghiên cứu tôi luôn được sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Hoàng Ngọc Khắc công tác tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Tôi xin chân thành bày tỏ lời cám ơn sâu sắc đến thầy người đã luôn chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cám ơn Ban giám hiệu nhà trường, phòng Đào tạo, và toàn bộ các cán bộ thầy, cô giáo trong khoa Môi trường, trường ĐH Tài Nguyên và Môi Trường

Hà Nội đã luôn giúp đỡ chỉ bảo và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn

Tôi xin cám ơn các cán bộ và người dân thuộc huyện Giao Thủy đã luôn giúp đỡ nhiệt tình tôi trong quá trình phỏng vấn thu thập thông tin

Cuối cùng tôi xin được cám ơn gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ và giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua

Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Văn Quang

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH i

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan về phân lớp ốc mang sau và ốc phổi 3

1.1.1 Đặc điểm của phân lớp ốc mang sau (Opisthobranchia) 3

1.1.2 Đặc điểm của phân lớp ốc phổi (Pulmonata) 7

1.1.3 Đặc điểm hình thái ngoài của vỏ 9

1.1.4 Vai trò của ốc 10

1.2 Tình hình nghiên cứu về ốc mang sau và ốc phổi ở rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam 11

1.2.1 Trên thế giới 11

1.2.2 Ở Việt Nam 14

1.3 Tổng quan về điệu kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Giao Thủy 15

1.3.1 Vị trí địa lý 15

1.3.2 Địa hình, thổ nhưỡng 15

1.3.3 Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm 16

1.3.4 Điều kiện thủy văn 18

1.3.5 Hiện trạng về rừng ngập mặn và tài nguyên sinh học 18

1.3.6 Kinh tế và xã hội 19

CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp: 22

2.2.2 Phương pháp tham vấn chuyên gia: 22

Trang 7

2.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học: 22

2.2.4 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 22

2.2.5 Phương pháp xử lý mẫu và phân tích mẫu 31

2.2.6 Phương pháp định danh, xác định tên loài: 32

2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu: 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Danh lục các loài ốc mang sau và ốc phổi trong khu vực nghiên cứu 35

3.2 Khóa định danh ốc mang sau và ốc phổi trong khu vực nghiên cứu 37

3.2.1 Một số nguyên tắc chung trong xây dựng khóa định loại 37

3.2.2 Khóa định danh các họ ốc mang sau và ốc phổi trong khu vực nghiên cứu 38

3.2.3 Mô tả các loài ốc mang sau và ốc phổi trong khu vực nghiên cứu 40

3.3 Cấu trúc thành phần loài ốc mang sau và ốc phổi trong khu vực nghiên cứu 62

3.3.1 Cấu trúc thành phần loài ốc mang sau và ốc phổi trong khu vực nghiên cứu 62 3.3.2 Mối quan hệ của khu hệ ốc mang sau và ốc phổi trong khu vực nghiên cứu với các khu vực lân cận 66

3.4 Đa dạng loài và đặc điểm phân bố của các loài ốc mang sau và ốc phổi 70

3.4.1 Đa dạng loài và phân bố của các loài tại các điểm khảo sát 70

3.4.2 Đa dạng loài và đặc điểm phân bố của các loài theo độ cao nền đáy 78

3.4.3 Đa dạng loài và đặc điểm phân bố của các loài theo độ mặn của nước 80

3.4.4 Đa dạng loài và đặc điểm phân bố của các loài theo thảm thực vật 82

3.5 Vấn đề sử dụng và định hướng quản lý đa dạng sinh học ốc mang sau và ốc phổi ở khu vực nghiên cứu 84

3.5.1 Tình hình sử dụng ốc mang sau và ốc phổi 84

3.5.2 Một số định hướng quản lý đa dạng sinh học ốc mang sau và ốc phổi 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Kiến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC: Error! Bookmark not defined

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Danh lục các loài ốc mang sau và có phổi trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Giao Thủy 35Bảng 3.2: Số lượng loài và cá thể trong từng họ của phân lớp ốc mang sau và ốc có phổi 65Bảng 3.3: Danh sách thành phần loài ốc mang sau và ốc phổi trong HST RNM Giao Thủy (Nam Định), HST RNM Tiền Hải (Thái Bình) và HSTRNM Nghĩa Hưng (Nam Đinh) 67Bảng 3.4: So sánh thành phần loài ốc mang sau và ốc phổi với các khu vực huyện Nghĩa Hưng và huyện Tiền Hải 69Bảng 3.5: Chỉ số tương đồng về thành phần loài giữa KVNC với các KVNC khác 70Bảng 3.7: Độ phong phú của các loài ốc mang sau và ốc phổi ở KVNC 74Bảng 3.8: Tần số xuất hiện của các loài ốc mang sau và ốc phổi ở 76Bảng 3.9: Đa dạng loài và đặc điểm phân bố của các loài theo độ cao nền đáy 78Bảng 3.10: Đa dạng loài và đặc điểm phân bố của các loài theo độ mặn của nước 80Bảng 3.11: Đa dạng loài và đặc điểm phân bố của các loài theo thảm thực vật 82Bảng 3.12:Tình hình khai thác, sử dụng một số loài thân mềm có trong KVNC 85Bảng 3.13: Tình hình hiện trạng RNM ở trong KVNC 87

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ câu tạo tấm đầu của bộ Cephalaspidea 3

Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo của Pyramidellacea 4

Hình 1.3: Sơ đồ cấu tạo của Anaspidea 5

Hình 1.4: Sơ đồ cấu tạo của bộ Sacoglossa 6

Hình 1.5: Sơ đồ cấu tạo của Nudibranchia 7

Hình 1.6 Sơ đồ cấu tạo của Systellommatophora 7

Hình 1.7: Sơ đồ cấu trúc của họ Ellobiidae (hay Melapidae) 8

Hình 1.8: Cấu trúc cơ thể của ốc trên cạn 8

Hình 1.9: Sơ đồ huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 17

Hình 1.10: Tổng số hộ và số hộ nghèo 5 xã vùng ven biển thuộc huyện Giao Thủy 20 Hình 2.1: Sơ đồ các điểm khảo sát tại hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (tỷ lệ 1:50000) 29

Hình 2.2: Xây dựng ô tiêu chuẩn 30

Hình 2.3: Sơ đồ cấu tạo chung của vỏ ốc 32

Hình 3.1: Loài Melampus fasciatus 41

Hình 3.2: Loài Melampus parvulus 42

Hình 3.3: Loài Melampus (Detracia) graminea 43

Hình 3.4: Loài Melampus caffer 44

Hình 3.5: Loài Ellobium aurisjudae 45

Hình 3.6: Loài Ellobium chinensis 46

Hình 3.7: Loài Cassidula aurisfelis 47

Hình 3.8: Loài Cassidula mustelina 48

Hình 3.9: Loài Cassidula sowerbyana 49

Hình 3.10: Loài Cassidula doliolum 50

Hình 3.11: Loài Laemodonta exaratoides 51

Hình 3.12: Loài Laemodonta octanfracta 52

Hình 3.13: Loài Laemodonta punctatostriata 53

Hình 3.14: Loài Pythia scarabaeus 54

Hình 3.15: Loài Pythia plicata 55

Hình 3.16: Loài Pythia trigona 56

Hình 3.17: Loài Auriculastra subula 57

Hình 3.18: Loài Onchidium stuxbergi 58

Hình 3.19: Loài Platyvindex sp 58

Hình 3.20: Loài Haminoea fusca 59

Trang 11

Hình 3.21: Loài Truncacteocina sp 60

Hình 3.22: Loài Elysia leucolegnote 61

Hình 3.23: Loài Bursatella leachii 62

Hình 3.24: Sơ đồ cấu trúc thành phần ốc mang sau và ốc có phổi ở huyện Giao Thủy 63

Hình 3.25: Cấu trúc thành phần loài ốc mang sau và ốc phổi tại KVNC 64

Hình 3.26: Tỷ lệ % số loài trong các họ thuộc phần lớp ốc mang sau và ốc phổi tại KVNC 65

Hình.3.27: Số lượng cá thể ốc mang sau và ốc phổi phân bố tại KVNC 66

Hình 3.28: Độ đa dạng loài tại các xã trong KVNC 73

Hình 3.29: Biểu đồ 80

Hình 3.30: Biểu đồ loài phân bố theo độ mặn của nước 82

Hình 3.31: Biểu đồ loài phân bố theo thảm thực vật 84

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và địa hình tương đối phức tạp, nên hệ sinh thái cảnh quan ở Việt Nam khá đa dạng Chính vì vậy, nước ta rất phù hợp cho sự phát triển của các loài động vật nói chung và các loài ốc nói riêng

Lớp Chân bụng (Gastropoda) bao gồm các loài ốc và sên trần, chúng nằm trong 3 phân lớp: phân lớp mang trước (Prosobranchia), phân lớp mang sau (Opisthobranchia) và phân lớp có phổi (Pulmonata) Trong đó phân lớp mang trước

và phân lớp có phổi là phân lớp phổ biến ở nước ta sống ở cả môi trường nước ngọt, nước lợ, nước mặn và trên cạn, còn phân lớp mang sau chủ yếu sống ở biển, môi trường nước mặn, nước lợ

Thân mềm chân bụng có vai trò quan trọng đối với con người và môi trường Đối với con người, các loài chân bụng là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thịt và dịch nhớt còn hiệu quả trong điều trị một số bệnh về tiêu hóa, tim mạch, sưng đau, mụn nhọt, hen suy n và khớp

Đối với môi trường, các loài ốc và sên trần có vai trò phân hủy vật chất hữu

cơ rơi rụng, đẩy nhanh quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tự nhiên, làm sạch môi trường Sự phản ứng và thích nghi của các loài thân mềm chân bụng trong môi trường sống phản ánh được đặc điểm của môi trường sống đó Vì thế, người ta coi các loài ốc như nhóm sinh vật chỉ thị cho tình trạng thay đổi của môi trường, có thể đánh giá chất lượng hoặc những thay đổi môi trường thông qua thành phần loài, sự biến mất hoặc suy giảm số lượng cá thể của nhóm loài bản địa

Ở Việt Nam các công trình nghiên cứ về ốc cũng có rất nhiều nhưng công trình nghiên cứu mang tính tổng thể đối với cả ngành thân mềm hoặc cả nhóm động vật sống ở đáy tại các khu vực khác nhau Chưa có sự tổng hợp riêng về từng nhóm nhỏ, trong đó có 2 phân lớp là phân lớp mang sau (Opisthobranchia) và phân lớp có phổi (Pulmonata) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn

Trang 13

Huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định có diện tích rừng ngập mặn tự nhiên lớn, nơi có hệ sinh thái RNM phong phú, nơi tiếp giáp cửa sông Hồng và nằm trong vườn quốc gia Xuân Thủy Nơi đây được cho là có mức độ đa đa dạng sinh học cao trong số các hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển phía Bắc Việt Nam [10]

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Điều tra, đánh giá về

thành phần loài ốc mang sau (Opisthobranchia) và ốc phổi (Pulmonata) trong

hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được hiện trạng về thành phần loài của phân lớp ốc mang sau và

ốc có phổi tại rừng ngập mặn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Bước đầu đề xuất một số giải pháp quản lý các loài ốc mang sau và ốc phổi có giá trị

3 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần loài ốc mang sau (Opisthobranchia) và ốc phổi (Pulmonata) ở HTS rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu

- Xác định đặc điểm phân bố của loài ốc mang sau (Opisthobranchia) và loài

ốc phổi (Pulmonata) ở HTS rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu

- Xác định hiện trạng khai thác, sử dụng và các nhân tố tác động đến đa dạng sinh học loài ốc mang sau (Opithobranchia) và loài ốc phổi (Pulmonata) ở khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp quản lý các loài ốc mang sau và ốc phổi có giá trị trong khu vực nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về phân lớp ốc mang sau và ốc phổi

1.1.1 Đặc điểm của phân lớp ốc mang sau (Opisthobranchia)

Phân lớp ốc mang sau (Opisthobranchia) cơ thể vặn xoắn không hoàn toàn,

vỏ và nắp vỏ thường tiêu giảm hoặc còn lại rất ít, vỏ tiêu giảm ở giống Doris hoặc nằm trong khoang áo giống Aplysia, một mang uốn nếp nằm ở phía sau tim, đôi khi được thay thế bởi mang thứ sinh, tim chỉ có một tâm nhĩ, xoang áo nằm ở phía bên phải cơ thể đôi khi tiêu giảm hoặc mất h n, phần đầu có 2 cặp xúc tu (râu) Lưỡng tính, sống ở biển Được chia làm 9 bộ, 120 họ và khoảng 2000 loài, gồm: [19][29]

Bộ 1 Cephalaspidea:

o Sự hiện diện của lá chắn đầu là đặc điểm đặc trưng nhất

o Vỏ có một phần hoặc toàn bộ trong khoang áo

o Có 2 thùy bên đầu

o Có một mang gấp nếp ở bên phải

Đại diện: Ốc bóng (Acteon, Cylichna, Bulla, Hydatina, Scaphander)

Hình 1.1: Sơ đồ câu tạo tấm đầu của bộ Cephalaspidea (theo Mari, 2013)[22]

(cs-tấm khiên đầu; f-chân; m-áo; p-chân bên; pl-thùy chân; s-vỏ; sg-rãnh tinh dịch Tỷ lệ 5mm)

Bộ 2 Pyramidellacea:

o Ký sinh ngoài ở các loài hai mảnh vỏ và giun nhiều tơ

o Mang và lưỡi bào thiếu

Trang 15

o Vỏ hình xoắn ốc và có nắp vỏ

o Có một vòi dài có thể co rút

Đại diện như : Pyramidella, Odostomaia

Hình 1.2: Sơ đồ cấu tạo của Pyramidellacea (Tore Høisæter, 2014)[29]

(từ trên xuống và trái qua phải: Odostomia turrita, Brachvstomia lukisi và Ondina divisa)

Đại diện như: Unela, Ganitus, Hedylopsis Acochlidium

Bộ 4: Anaspidea hoặc Aplysiacea

o Vỏ tiêu giảm thành một tấm ph ng và được phủ bởi áo bên ngoài, trừ nhóm

Akera có vỏ ngoài

o Có mang và khoang áo

o Các chi bên hông được hình thành hoàn thiện

o Phần đầu có cặp xúc tu và 1 cặp sừng Cặp xúc tu thứ nhất được gọi là xúc tu miệng

o Lỗ sinh dục đực nằm ở gốc chân bên phải

Đại diện: Thỏ biển thuộc các giống Notarchus, Akera, Bursatella, Aplysia

Trang 16

Hình 1.3: Sơ đồ cấu tạo của Anaspidea [30]

(Theo https://doi.org/10.1016/B978-0-12-751408-6.50008-4)

Bộ 5: Notaspidea

o Vỏ có thể có hoặc không

o Có áo nhưng không có khoang áo

o Mang ở bên phải cơ thể

Đại diện như loài: Tylodina, Umbraculum, Pleurobranchus

Bộ 6: Sacoglossa

o Không có vỏ hoặc vỏ nhỏ

o Có khoang áo, mang và cơ quan cảm nhận có thể có (e.g., Berthelinia) hoặc không có (e.g., Elysia)

o Lưỡi bào có 1 hàng răng thích hợp với kiểu hút thức ăn

Đại diện: Caliphylla, Oxynoe, Lobiger, Berthelinia, Julia, Elysia

Trang 17

Hình 1.4: Sơ đồ cấu tạo của bộ Sacoglossa [29]

(A-Pleurobranchus, B-Berthelinia, C-Elysia, D-Glossodoris, E-Dendronobus)

Bộ 7: Thecosomata (= Pteropoda)

o Có vỏ ngoài

o Các chi bên giống các cơ bắp lớn

Đại diện loài như: Corolla, Cavolina, Clio, Limacina, Spiratella

Bộ 8: Gymnosomata :

o Vỏ và vỏ khoang áo tiêu biến

o Sống ở dưới đại dương

o Có các chi bên

Đại diện loài như: Cliopsis, Pneumoderma

Bộ 9: Nudibranchia

o Vỏ, khoang áo, mang và cơ quan thụ cảm tiêu giảm

o Cơ thể có nhiều lông gai hoặc lông hô hấp, một số loài có lông hô hấp đơn

(Ví dụ: Aeolida, Glaucus), hoặc lông phân nhánh (Ví dụ: Dendronotus, Tritonia)

o Một số loài có mang thứ cấp xung quanh hậu môn (Ví dụ: Doris, Glossodoris) và một số có mang tấm dưới mép áo hoặc lông hô hấp (Ví dụ: Amirna)

Trang 18

o Đại diện loài như: Armina, Aeolidia, Glaucus, Pleurophyllidia, Eolis, Aeolis, Tethys)

Hình 1.5: Sơ đồ cấu tạo của Nudibranchia [30]

1.1.2 Đặc điểm của phân lớp ốc phổi (Pulmonata)

Phân lớp có phổi (Pulmonata) hô hấp bằng phổi, cơ quan áo l , thần kinh lệch, các hạch thần kinh tập trung ở phần đầu Vỏ phát triển hay tiêu giảm, không có nắp

vỏ Lưỡng tính một số đ con, có khoảng 16000 loài còn sống và được chia làm 3

bộ:

Bộ 1: Systellommatophora

o Có ở hậu môn nằm ở phần cuối của cơ thể

Có túi phổi nhưng không có phổi ở họ Veronicellidae

o Ví dụ: Sên biển (Onchidium, Rhodope)

Hình 1.6 Sơ đồ cấu tạo của Systellommatophora [18]

Trang 19

Bộ 2: Basommatophora

o Mắt ở gốc của các xúc tu

o Có một cặp xúc ở phần đầu

o Môi trường sống chủ yếu nước ngọt, có một số sống ở nước biển và nước lợ

Ví dụ: Planorbis (Indoplanorbis), Lymnaea, Anisus, Bulius; Siphonaria ở biển; Amphibola ở cửa sông

Bộ 3: Stylommatophora

o Hai cặp xúc tua

o Mắt nằm ở đầu các cặp xúc tu phía sau

o Môi trường sống chủ yếu là ở trên cạn, một số sống ở cả nước cả cạn

Ví dụ: Achatina, Achatinella, Pupilla, Limax, Subulina, Helix, Glessula,…

Hình 1.7: Sơ đồ cấu trúc của họ Ellobiidae (hay Melapidae) [18]

Hình 1.8: Cấu trúc cơ thể của ốc trên cạn [18]

1-Vỏ ốc; 2-Tuyến tiêu hóa; 3-Phổi; 4-Hậu môn; 5-Lỗ hô hấp; 6-Mắt; 7-Râu, xúc tu; Hạch não; 9-Ống dẫn nước bọt; 10-Miệng; 11-Hầu; 12-Tuyến nước bọt; 13-Lỗ sinh dục; 14-Gai giao phối; 15-Lỗ sinh dục cái; 16-Tuyến nhầy; 17-Ống dẫn trứng; 18-Túi sinh dục;

8-19-Chân; 20-Dạ dày; 21-Thận; 22-Áo; 23-Tim; 24-Ống dẫn tinh

Trang 20

Đa số các loài ốc được phát hiện có thể xác định dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ, các vòng xoắn của vỏ ốc là tính chất phức tạp trong vỏ ốc Vòng xoắn (hay còn gọi là vỏ xoắn) là sự tiến hóa hay thoái hóa của dạng ống Kích thước rộng hay hẹp của vòng xoắn, tách ra thành các đường liên tục gọi là đường xoắn Hầu như trong các mẫu vỏ, vòng xoắn cuối là vòng xoắn rộng nhất Phần mở ra bên ngoài của vỏ gọi là miệng vỏ

Ngoài ra với một số loài có bề ngoài hình thái khá giống nhau người ta còn có thể dựa vào màu sắc của vỏ ốc, màu sắc có thể màu đậm màu nhạt, thậm chí màu trong suốt thậm chí còn không có vỏ

1.1.3 Đặc điểm hình thái ngoài của vỏ

mà còn đặc trưng cho từng loài khác nhau

Các loài ốc phổi (Pulmonata) thì thường có vỏ dày rất chắc chắn có màu sắc thì đa dạng và đôi khi có nhiều màu kết hợp với nhau

Đối với loài ốc mang sau (Opisthobranchia) thì thường có vỏ với độ dày của vỏ rất mỏng thường vỏ được bọc trong lớp bên thân bên ngoài, hoặc vỏ bị tiêu giảm đi đến mức không có vỏ, có vỏ thi vỏ thường nhẵn bóng

b Đỉnh vỏ

Đỉnh vỏ là điểm khởi đầu của các vòng xoắn, là nơi hình thành các vòng xoắn đầu tiên của vỏ (còn gọi là vòng xoắn phôi), các vòng xoắn này thường rất nhỏ và nhẵn Đỉnh vỏ có thể nhọn hoặc tù

c Kích thước vỏ

Kích thước vỏ với các số các vòng quan trọng như chiều cao hay chiều dài (tính

từ đỉnh vỏ đến vành miệng, không tính bờ vành môi), chiều rộng (khoảng cách rộng ngang lớn nhất), chiều cao tháp ốc, chiều cao và chiều rộng miệng vỏ là đặc điểm

Trang 21

dùng để mô ta nhận dạng nhận biết về từng loài khác nhau, cũng có thể để nhận biết tuổi đời của từng cá thế loài

Dựa vào kích thước vỏ có thể phân chia ốc thành: Nhóm kích thước bé (dưới

10 mm), nhóm kích thước trung bình (từ 10 – 20 mm) và nhóm kích thước lớn (trên

20 mm)

d Các vòng xoắn

Các vòng xoắn bao gồm các vòng xoắn tính từ đỉnh vỏ tới vòng xoắn cuối cùng,

trừ lỗ miệng Các vòng xoắn theo chiều ngược chiều kim đồng hồ (Ví dụ: Ellobium chinensis; Ellobium aurisjudae), nhiều loài có cả hai kiểu xoắn; tròn đều, phồng lên

hay phình ra ở phần dưới Các vòng xoắn có khi nhẵn, có khía; gờ dọc, gờ vòng hay

gờ hình cánh cung Trên các vòng xoắn có thể có hay không có hoa văn trang trí, đường viền có gai hay nốt sần, có lông hoặc không Số vòng xoắn của vỏ ốc cũng thay đổi từ con non đến trưởng thành

e Miệng vỏ

Với loài ốc mang sau cũng như loài ốc phổi Miệng vỏ là nơi vỏ ốc thông với bên ngoài Ở vùng miệng vỏ có thể phân biệt bờ trục (bờ trong hay bờ ngoài) và vành miệng ngoài (bờ ngoài hay bờ trên) Có thể phân biệt góc trên và góc dưới lỗ miệng vỏ Hình dạng lỗ miệng thay đổi; có thể xiên, bầu dục, hình thoi, hình thang, hình ovan, hình bán nguyệt, hình quả lê…Bờ viền của miệng là môi, được chia thành bốn khu vực: Bên ngoài môi, gốc môi (basa lip), trụ môi (columellar lip) và môi trong vách (parietal lip) Trong hầu hết các vỏ, môi trong vách không phân biệt, được tách rời hay nối liền đi trước vòng xoắn và chỉ với một lớp mỏng có thể chai Phía ngoài và gốc môi trong đặc thù có thể dày, loe ra hay cuộn lại Miệng có thể một hay nhiều hơn các mấu chìa ra gọi là răng, tên của nó có thể tùy theo vị trí của chúng Gờ vành miệng ngoài có thể liên tục hay ngắt quãng ở bờ trụ, lỗ miệng có nắp miệng hay không

1.1.4 Vai trò của ốc

Trong hệ sinh thái, ốc là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên cung cấp nhiều năng lượng và canxi cho các loài động vật ăn thịt, hằng ngày chúng ăn

Trang 22

các loại xác bã thực vật, các loại trái cây chín rụng, nấm, rêu,…và thải ra môi trường dưới dạng phân hữu cơ rất hữu ích cho môi trường đất Ngoài ra chúng còn

có vai trò trong việc góp phần cải tạo đất, phân ốc được thải ra trong quá trình tiêu hóa sẽ góp phần làm tăng độ màu mỡ của đất và bảo vệ môi trường Đối với đời sống con người, ốc là các sản phẩm có giá trị kinh tế, thịt ốc chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, một số loài ốc trở thành đặc sản Ngoài ra ốc còn là một sinh vật chỉ thị cho sự thay đổi của môi trường, còn là nguồn cung cấp nguyên liệu sản xuất cho các hàng mĩ nghệ, làm vật trang trí

1.2 Tình hình nghiên cứu về ốc mang sau và ốc phổi ở rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam

Năm 1814, Cuvier là người đầu tiên đặt tên cho nhóm gồm các loài ốc có phổi

là Pulmonata Đối với phân lớp Milne-Edwards (1848) là người đầu tiên đặt tên cho nhóm ốc mang sau - Opisthobranchia Từ đó đến nay có nhiều nhà khoa học trên toàn thế giới đã có những công trình nghiên cứu về đa dạng thành phần loài thân mềm nói chung, trong đó có phân lớp mang sau Các nghiên cứu này được thực hiện

Trang 23

cả ở môi trường biển và ven bờ, cũng như trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung phần lớp vào các đối tượng có kích thước lớn, sống ở biển

Hiện nay, tài liệu “The new classification of gastropods according to Bouchet and Rocroi” được xuất bản năm 2005 đã chỉ ra có 9 bộ trong ốc mang sau và 3 bộ của ốc phổi và các nhận dạng của từng bộ

Năm 2009, Francisco J Garcia và Hans Bertsch đến từ trường đại học Pablo, Tây Ban Nha đã nghiên cứu và thống kế mang tính địa động vật toàn cầu về phân lớp Opisthobranchia từ biển Đại Tây Dương Các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu các tài liệu thứ cấp từ các công trình đã công bố, kết quả cho thấy có

1066 loài thuộc các bộ Cephalaspidea, Anaspidea, Sacoglossa, Notaspidea và Nudibranchia Nghiên cứu cũng xác định về sự phân bố và giới hạn phân bố của các nhóm loài ốc mang sau trong khu vực [16]

Mari H Eilertsen và Manuel António E Malaquias, năm 2013 đã nghiên cứu và

tổng kết về hệ thống phân loại của giống Scaphander (Gastropoda, Cephalaspidea)

ở vùng biển Đại Tây Dương Kết quả nghiên cứu đã xác định khoảng 45 loài thuộc

giống này trên toàn thế giới Phân loại các loài trong giống Scaphander thông thường chủ yếu dựa vào hình thái của vỏ Tuy nhiên đặc điểm của vỏ cũng thường

biến đổi, điều đó dẫn tới tình trạng phân loại không chắc chắn, rõ ràng, vì thế nghiên cứu này dựa trên kết quả phân tích AND để xác định chính xác quan hệ giữa các loài trong giống này [22]

Năm 2013, Roberto A Uribe và những người khác đã nghiên cứu về đa dạng sinh học và phân bố của các loài ốc thuộc phân lớp Opisthobranchia ở Peru Kết quả nghiên cứu cho thấy có tổng số 56 loài thuộc 30 họ trong đó cũng ghi nhận 3 loài lần đầu tiên thấy ở vùng biển Peru Ngoài ra, các tác giả cũng bổ sung 19 loài cho vùng phân bố mới [25]

Tore Hoisæter, năm 2014 đã nghiên cứu và giới thiệu về các loài thuộc họ Pyramidellidae (Gastropoda, Heterobranchia) tại Na Uy và các vùng nước lân cận Tác giả đã kế thừa các kết quả nghiên cứu trước, đồng thời nghiên cứu trên các mẫu

Trang 24

vật thu được Nghiên cứu này đã trình bày 54 loài, trong đó có 2 loài mới được mô

tả và 3 loài được tu chỉnh về tên khoa học Tất cả các loài đều được mô tả và minh họa bằng hình ảnh chụp và bản vẽ một số bộ phận cơ thể và nắp vỏ [29]

Nghiên cứu về các loài thuộc phân lớp Opisthobranchia trong hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực châu Á cũng được một số nhà khoa học thực hiện

Trong báo cáo về rừng ngập mặn biển nam Trung Hoa, Hangqing Fan (năm 2002) đã tập hợp từ tất cả các công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, tác giả đã thống kê được 645 loài động vật không xương sống cỡ lớn trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, trong đó có 11 loài thân mềm thuộc phân lớp Pulmonata, tất cả đều thuộc họ Ellobiidae (Melampidae) [19]

Năm 2011, Liu Yi và cộng sự đã nghiên cứu về họ Ellobiidae trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Trung Quốc Các tác giả đã phát hiện 21 loài mới được ghi nhận Công trình cũng đánh giá sự phân bố và chức năng sinh thái của chúng Ngoài ra còn xác định về mối quan hệ giữa các loài ốc với cây ngập mặn, cụ thể: Loài ốc

Ellobium chinense trong quần xã cây Avicennia marina, loài ốc Cassidula musteline gắn liền với quần thể cây Rhizophora stylosa, loài ốc Pythia trigona với cây Bruguiera sexangula, loài ốc Cassidula nucleus với cây Aegiceras corniculatum, và loài ốc Ellobium aurismidae với quần xã cây Kandelia candel [21]

Năm 2011, Cornelis (Kees) Swennen đã khảo sát ở rừng ngập mặn khu vực châu Á bao gồm Thái Lan, Hong Kong, Singapore, biển Andaman, biển Arabian,

Ấn độ, Australia, vinh Bengal, Malaysia,… Kết quả đã công bố 4 loài thuộc giống

Elysia, trong đó 2 loài đã được mô tả sống trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, đó là: Elysia leucolegnote Jensen, 1990 và E bangtawaensis Swennen, 1998 Các loài này chủ yếu thấy ở nền đáy bùn mềm chỗ nước nông Hai loài mới được mô tả là E singaporensis và E bengalensis Tác giả cũng mô tả đặc điểm hình thái ngoài và

cấu tạo trong cũng như một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và môi trường sống của 4 loài này [14]

Năm 2015, Ullah và cộng sự đã nghiên cứu đa dạng và sự phân bố của thân mềm trong rừng ngập mặn ven biển Karachi, Pakistan Các tác giả đã khảo sát và

Trang 25

thu mẫu từ vùng cao triều tới vùng thấp triều, mỗi ô định lượng được thiết lập là 1m2 Kết quả nghiên cứu đã thu được 14 loài, trong đó có 6 loài ốc phổi Pulmonata,

1 loài ốc mang sau Opisthobranchia Họ Ellobiidae và Onchididae phân bố rộng ở

cả 2 khu vực [28]

Năm 2016, Benoît Dayrat và cộng sự đã điều tra, khảo sát về mẫu vật của các loài thuộc giống Onchidium trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương như Ấn độ, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc và mẫu vật ở một số bảo tàng Kết quả nghiên cứu đã tu

chỉnh và mô tả lại 3 loài thân mềm thuộc giống Onchidium dựa trên phương pháp

phân tích di truyền phân tử, đồng thời lập khóa định loại của 3 loài này

Tập hợp các nghiên cứu về ốc, đặc biệt là ốc mang sau và ốc phổi tại rừng ngập mặn Việt Nam, nhóm tác giả: Đỗ Văn Nhượng và Hoàng Ngọc Khắc cùng Tạ Thị Kim Thoa (2008), đã chỉ ra ở vùng biển phía Bắc Việt Nam có 4 loài ốc phổi[8] Năm 2011, Hoàng Ngọc Khắc và Đỗ Văn Nhượng cũng nghiên cứu và công bố 15 loài thuộc các họ ốc phổi của vùng của sông Hồng [3]

Năm 2016, Sofya Sergeevna Zvonareva và Yu I Kantor đã khảo sát về thân mềm chân bụng trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tỉnh Khánh Hòa, bao gồm cả rừng trồng và rừng tự nhiên từ năm 2005 đến 2015 Kết quả nghiên cứu đã công bố 65 loài thân mềm chân bụng trong khu vực nghiên cứu, trong đó có 17 loài thuộc phân lớp có phổi Mỗi loài đều được mô tả về kích thước, môi trường sống, độ thường gặp, khu vực phân bố và hình ảnh minh họa

Trang 26

1.3 Tổng quan về điệu kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Giao Thủy

1.3.1 Vị trí địa lý

Huyện Giao Thuỷ nằm ở cực Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách thành phố Nam Định 45 km, có tọa độ địa lý: 20o10’ đến 20o21’ vĩ độ Bắc và từ 106o21’ đến 106o35’ kinh độ Đông

- Phía Bắc – Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình

- Phía Bắc – Tây Bắc giáp huyện Xuân Trường

- Phía Tây giáp huyện Hải Hậu

- Phía Nam và Đông Nam giáp Biển Đông

Huyện Giao Thủy có đường tỉnh lộ 489, 489B và đường 486B chạy qua cùng với hệ thống sông Hồng chảy qua địa bàn huyện Huyện có 32 km bờ biển, phía Đông Nam có Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ tham gia Công ước Ramsar là địa danh

có tiềm năng du lịch sinh thái lớn, phía Tây Nam có khu du lịch tắm biển Quất Lâm

Với vị trí địa lý như trên, huyện Giao Thủy có nhiều tiềm năng để xây dựng phát triển kinh tế đa dạng, phong phú trên cơ sở tiếp tục ổn định sản xuất nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực, nông thôn Tập trung huy động mọi nguồn lực khai thác có hiệu quả tiềm năng biển, đưa kinh tế biển thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọng, phát triển đồng bộ và chuyên môn hoá các ngành công nghiệp, dịch vụ du lịch [11]

Trang 27

Vùng bãi bồi ven biển có địa hình tương đối bằng ph ng có điều kiện thuận lợi khai thác tiềm năng kinh tế biển và phát triển ngành du lịch

Nhìn chung, địa hình của huyện Giao Thủy tạo ra hệ sinh thái động, thực vật khá đa dạng, phong phú, đồng thời thuận lợi cho việc khai thác tiềm năng biển và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội [11]

1.3.3 Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm

Khí hậu huyện Giao Thủy mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ,

có thời tiết bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông tương đối rõ, mùa đông lạnh khô, mùa

hè nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 – 24°C Tháng lạnh nhất là các tháng 12 và 1, với nhiệt độ trung bình từ 16 – 17°C Tháng 7 nóng nhất, nhiệt độ trung bình khoảng trên 29°C

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.700 – 1.800 mm, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Số giờ nắng trong năm: 1.650 - 1.700 giờ Độ ẩm trung bình: 80 - 85%

Mặt khác, do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm huyện Giao Thủy thường chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 - 6 cơn/năm, chủ yếu rơi vào khoảng từ tháng 7 đến tháng 10 [11]

Trang 28

Hình 1.9: Sơ đồ huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Nguồn: Trung tâm Công nghệ thông tin-Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định

Trang 29

1.3.4 Điều kiện thủy văn

Là huyện ven biển nằm về phía Đông Nam của châu thổ sông Hồng, có khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, nguồn nước rất phong phú biến đổi theo mùa và chịu ảnh hưởng của thủy triều, trung bình thủy triều lên cao từ 1,6 - 1,7 m, cao nhất là 3,3 m, thấp nhất 0,1 m Thủy triều gây ra tình trạng nhi m mặn và tăng mực nước ở các sông Thủy triều cũng tạo ra sự bồi đắp hình thành vùng bãi bồi ven biển

Chế độ thủy văn trên địa bàn của huyện luôn chịu tác động trực tiếp của hệ thống sông Hồng thông qua cửa Ba Lạt ở phía Bắc và hệ thống dòng chảy theo mùa ven bờ Tây vịnh Bắc Bộ [11]

1.3.5 Hiện trạng về rừng ngập mặn và tài nguyên sinh học

1.3.5.1 Hiện trạng về rừng ngập mặn

Toàn huyện có 2.481,92 ha đất rừng chiếm 10,42% tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là diện tích đất rừng đặc dụng với 2.360,71 ha, còn lại là diện tích đất rừng phòng hộ có 121,21 ha (năm 2016 )

Chủ yếu là rừng ngập mặn, đặc biệt ở khu vực Vườn Quốc gia Xuân Thủy với những cánh rừng ngập mặn gần như nguyên sinh, hàng năm với sự hỗ trợ từ các dự

án phục hồi rừng của quốc gia và quốc tế huyện đã tổ chức trồng mới, trồng dặm bổ sung thêm

Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong việc phòng chống thiên tai, gió bão, thích ứng biến đổi khí hậu, nước biển dâng và là lá chắn an toàn để bảo vệ hệ thống

đê biển, góp phần ổn định cuộc sống cho nhân dân đồng thời đây cũng là khu dự trữ sinh quyển của vùng đồng bằng Sông Hồng

Rừng ngập mặn còn là nơi trú ngụ, sinh sản của các loài thuỷ hải sản và cung cấp nguồn lợi thuỷ sản phong phú với 500 loài động thực vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, cá, ngao, sò, rong câu chỉ vàng.v.v [11]

1.3.5.2 Tài nguyên sinh học

Huyện Giao Thủy có đường bờ biển dài 32 km Đặc điểm của khu vực bờ biển là:

- Có 2 cửa sông là sông Hồng và sông Sò

Trang 30

- Vùng biển có rất nhiều phù du sinh vật và thức ăn cho cá tôm từ đất liền do 2 con sông đổ ra

- Nằm giữa hai cửa sông lớn, cùng với vùng đất bãi bồi ven biển, là những điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, du lịch Tổng sản lượng thuỷ hải sản bình quân 15.000-20.000tấn/năm; tổng sản lượng lương thực bình quân 106.000 tấn/năm là nguồn nguyên liệu dồi dào cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến thuỷ hải sản, lương thực, thực phẩm xuất khẩu và ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm

Vùng bãi bồi Cồn Lu, Cồn Ngạn nằm ở cửa sông Hồng có hệ sinh thái đất ngập nước đa dạng, phong phú với trên 2.000 ha rừng ngập mặn là nơi dừng chân của nhiều loại chim di cư quý hiếm được ghi tên trong sách đỏ quốc tế Tháng 01/1989 vùng bãi bồi Cồn Lu, Cồn Ngạn được UNESCO công nhận tham gia công ước RAMSAR, đây là điểm RAMSAR đầu tiên của Đông Nam Á và duy nhất của Việt Nam hiện nay Ngày 02/01/2003, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thuỷ thành Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ Xuôi về phía Tây Nam có bãi biển Quất Lâm với bãi cát dài hơn 5 km hàng năm cũng đã thu hút khá nhiều du khách về tắm biển [11]

1.3.6 Kinh tế và xã hội

1.2.6.1 Điều kiện kinh tế

Trong quá trình điều tra tại thực địa, nhóm nghiên cứu đã về huyện Giao Thủy liên hệ với các cấp chính quyền địa phương để thu thập thông tin, tư liệu Về điều kiện và kết quả phát triển kinh tế nói chung của địa phương có thể tóm tắt về các mặt gồm: Sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, công thương Nhìn chung, trong số 5 xã ven biển huyện Giao Thủy gồm: Giao Lạc, Giao Thiện, Giao An, Giao Xuân, Giao Hải, kinh tế xã hội xã Giao Lạc được xếp vào loại trung bình

Theo báo cáo kinh tế xã hội của UBND xã Giao Lạc cho thấy, địa phương có tổng diện tích 1389,71ha (tính cả diện tích rừng trồng và bãi bồi phía ngoài đê), diện tích đất tự nhiên là 704,67ha (tính từ đê Trung Ương trở vào) với dân số

Trang 31

10.435 người, tập trung ở 22 xóm dân cư, mật độ dân số là 1447 người/km2 Sản xuất nông nghiệp của các xã ben biển huyện Giao Thủy bao gồm các hoạt động chính như: trồng trọt, chăn nuôi, hoạt động khai thác và sản xuất thủy hải sản [10][11]

Hình 1.10: Tổng số hộ và số hộ nghèo 5 xã vùng ven biển thuộc huyện Giao Thủy

Về khai thác và sản xuất thủy hải sản: Quy mô sản xuất tiếp tục được duy trì với các hoạt động chính như nuôi ngao vạng, đầm nuôi tôm…, mặc dù giá cả thị trường không thuận lợi so với kỳ vọng song người dân vẫn duy trì đầu tư cải tạo bãi nuôi, đầu tư nuôi thả ngao giống

Công tác quản lý tài nguyên môi trường:

Chính quyền địa phương đã xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2014 tầm nhìn

2020 được cấp có thẩm quyền phê duyệt Tiếp tục tuyên truyền và phổ biến Luật đất đai 2013 đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý những trường hợp vi phạm, giải quyết khiếu nại tố cáo về tranh chấp đất đai

Xây dựng chương tình bảo vệ HST tự nhiên trong đó đặc biệt quan tâm tới công tác quản lý và bảo vệ RNM như dự án đầu tư phát triển vùng lõi vườn quốc gia Xuân Thủy tăng cường trồng cây rừng phòng hộ, tăng cương công tác kiểm lâm Quản lý đê điều, phòng chống lụt bão: Tổ chức kiểm tra các công trình trọng điểm về đê kè và công tác phòng chống lụt bão, phương án ứng phó với tình huống

Trang 32

siêu bão Tiếp tục khuyến khích người dân tham gia công tác xây đắp đê kè và bảo

vệ RNM [9][10]

1.3.6.2 Điều kiện xã hội

Về văn hóa xã hội: Phần lớn người dân trong xã đã được xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục đến bậc giáo dục tiểu học Người Kinh chiếm đại đa số với 3 tôn giáo chính: Thiên chúa giáo (71%), Phật giáo và Tin lành Cơ sở hạ tầng tiếp tục được cải thiện và đồng bộ

Giáo dục: Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào các loại hình THPT đạt trên 80% Số học sinh tốt nghiệp THCS vào học lớp 10 THPT bằng các loại hình đào tạo trong năm học 2017- 2018 trên 80% Tỷ lệ học sinh hạnh kiểm khá tốt chiếm trên 97%, học lực khá giỏi chiếm trên 80% 99,89% đã hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia [10]

Trang 33

CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu: Hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định

2.1.2 Thời gian nghiên cứu: Tháng 5/2018 đến tháng 12/2018

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp:

Thu thập từ các công trình nghiên cứu, sách báo tài liệu xuất bản về ốc mang sau và ốc phổi trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Kế thừa các thông tin về điều kiện

tự nhiên xã hội khu vực huyện Giao Thủy, và các công trình đã từng nghiên cứu liên quan về loài ốc mang sau và ốc phổi

2.2.2 Phương pháp tham vấn chuyên gia:

Tham vấn những chuyên gia có những hiểu biết nhất định tại địa điểm nghiên cứu để có thể tìm hiểu, đánh giá khách quan được về điều kiện tự nhiên, xã hội, môi trường ở khu vực nghiên cứu, và những chuyên gia đã từng nghiên cứu về ốc Tìm hiểu và xin ý kiến những người đã khảo sát trước

2.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học:

Xây dựng 2 mẫu phiếu điều tra thu thập thông tin về tình hình khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên sinh vật và các loài có giá trị Đây là phương pháp bổ

sung thông tin làm cơ sở cho việc đề xuất định hướng quản lý tài nguyên sinh vật

+ Mẫu phiếu cho cán bộ quản lý rừng ngập mặn

+ Mẫu phiếu cho người dân địa phương sống xung quanh rừng ngập mặn

2.2.4 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

2.2.4.1 Dụng cụ, hóa chất

- Thiết bị máy móc: Điện thoại để định vị GPS và chụp ảnh (Iphone 7 plus, sản xuất năm 2017), cân phân tích KD-TBED153 (độ phân giải bên trong:1/30000 đến 1/60000), máy đo độ mặn, đèn pin chiếu sáng untrafire xmlT6

- Hóa chất: Cồn 90o hãng Ngân Hà

Trang 34

- Thiết bị khác: X ng nhỏ xúc đất (loại 15cm), thước dây (loại 5m), thước đo Beiliang (sai số 0,02mm), kính lúp cầm tay Maifeng (phóng đại 8x), kẹp gắp loại rộng 5m, sàng dây có mắt 5mm, túi bấm kích thước 10x12 (cm) và 18x20 (cm), túi nylon loại 10kg, hộp những loại 10ml, xô nhựa, bút bi, bút dạ, giấy dán nhãn không thấm nước, kéo, bản chải

2.2.4.2 Phương pháp xác định độ cao nền đáy:

Độ cao nền đáy được tính so với mức chuẩn” 0 độ sâu” và dựa vào độ cao của thủy triều

H = H0 – H1 Trong đó: H là độ cao nền đáy

H0 là độ cao của thủy triều - tính theo bảng thủy triều năm 2018

H1 là độ cao của thủy triều so với nền đáy tại các điểm nghiên cứu được do trực tiếp ngoài thực địa khi nước thủy chiều lên cao

Bước 3: Nước phải phủ đều lên mặt kính

Bước 4: Đưa lên mắt ngắm

Bước 5: Đọc thông số trên thang đo, chỉnh tiêu cự sao cho thấy dõ nhất

Bước 6: Lau khô bằng giấy thấm mềm

Nghi rõ dán nhãn vị trí lấy mẫu nước (tọa độ, sinh cảnh)

2.2.4.4 Xác định vị trí thu mẫu ngoài thực địa

- Vị trí thu mẫu:

Trang 35

- Địa điểm thu mẫu 1: Tại xã Giao Thiện

- Địa hình dốc thoải, thấp, H =.0,8m

- Đất trống, có một số cành cây đã chết Độ mặn 9‰

- Chịu tác động của con người

3 GT3 Hồ nuôi ngao

20°14'29.5"N 106°34'10.0"E

- Địa hình bằng ph ng

- Độ cao trung bình với H 1,6m

- Có một số cọc tre được cắm, và cây trang nhưng thưa, mỏng Độ mặn 10,5‰

Trang 36

- Dưới rãnh nước có các cành cây, lá cây khô

7 GT7 Bờ hồ nuôi ngao

giữa rừng ngập

mặn

20°13'20.1"N 106°34'35.8"E

- Có cây muốn biển, cây cóc kèng, cỏ

- Đại hình cao với H= 2,5m

- Địa hình bằng ph ng, độ cao H=1,2m

- Có các loại cây trang, cây sú

1 GA1 Rìa bờ gần lều

hồ nuôi của nhà

dân

20°14'16.4"N 106°31'58.5"E

- Địa hình cao, H=2,8m

- Đất có cây cỏ Độ mặn 10,8‰

- Chịu tác động của con người

- Giáp rạch nước và hồ nuôi ngao, tôm

Trang 37

- Trong hồ có một số gậy và lưới vây

ngập mặn cạnh

kênh rạch

20°14'10.2"N 106°31'59.2"E

- Có các loại cây trang, sú, với mật độ trung bình Độ mặn 14,4‰

- Gần bờ rìa của các hồ nuôi ngao

- Địa hình ph ng, Độ cao H=0,6m

- Có các loại cây trang, cây sú

- Đất bùn cát Độ mặn 15,6‰

Trang 38

9 GA9 Bờ ngoài rừng

ngập mặn 20°13'23.8"N

106°31'54.1"

- Địa hình bằng ph ng, độ cao H=0,4m Tiếp giáp bãi triều nuôi thủy hải sản và rừng ngập mặn Độ mặn 15,8‰ Đất cát

- Có các loại cây trang

10 GA10 Rạch nước bờ

ngoài ngoài

rừng ngập mặn

20°13'28.2"N 106°32'00.3"E

- Địa hình bằng ph ng, H= 0,5

- Có rạch nước rộng 1,6m

- Có cây trang Độ mặn 15,9‰

- Dưới rạch có các lá cây trang rụng

- Địa điểm thu mẫu 3: Tại xã GiaoLạc

- Địa hình dốc, độ cao H=2,3m

.- Có các loại cây cỏ, cây muốn biển

Trang 39

- Chịu nhiều tác động của người dân

- Xung quanh được bao bằng lưới chắn

ngập mặn 20°14'12.7"N

106°31'07.9"E

- Địa hình bằng ph ng, độ cao H=1,3m

- Có các loại cây trang, cây sú

- Gần hồ nuôi ngao và rạch nước

- Đất thị cát Độ mặn 12,2‰

ngập mặn

20°14'07.0"N 106°31'15.7"E

- Địa hình bằng ph ng, H=0,5m

- Tiếp giáp cồn cát Độ mặn 16,8‰

- Có cây trang với mật độ dày

- Đất cát

Trang 40

Nguồn: Sở Tài nguyền và Môi trường Nam Định

Hình 2.1: Sơ đồ các điểm khảo sát tại hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (tỷ lệ 1:50000)

{Chú thích: (+) là các vị trí có mẫu}

Ngày đăng: 01/03/2019, 11:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w