1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại bùi huy hạnh, xã tái sơn huyện tứ kỳn tỉnh hải dương

68 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 22,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---LÊ TRANG TRỌNG Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TR BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI BÙI HUY HẠNH, XÃ TÁI SƠN, HUYỆN TỨ KỲ, T N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-LÊ TRANG TRỌNG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG

TR BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI BÙI HUY HẠNH,

XÃ TÁI SƠN, HUYỆN TỨ KỲ, T NH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên – năm 2017 Ị

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-LÊ TRANG TRỌNG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG

TR BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI BÙI HUY HẠNH,

XÃ TÁI SƠN, HUYỆN TỨ KỲ, T NH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú Y Lớp: TY-K45-N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Giảng viên hướng dẫn : T.S Nguyễn Văn Quang

Thái Nguyên – năm 2017 Ị

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em

đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả nàyngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tậntình của nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, TrườngĐại học Nông Lâm Thái Nguyên Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơnsâu sắc tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệmkhoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tậntình dạy dỗ dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường

Trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh HảiDương đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, giúp emhoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập tại cơ sở

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS NguyễnVăn Quang đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tìnhtrong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này

Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đạtkết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình

và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quýbáu đó

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017

Sinh viên

Lê Trang Trọng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Định mức ăn cho đàn lợn tại trại 29Bảng 2.2: Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn náinuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 30Bảng 2.3: Lịch sát trùng trại lợn nái 31Bảng 2.4: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 32Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh qua 3năm 2015 - 2017 39Bảng 4.2 Thời gian chửa trung bình của đàn lợn nái tại cơ sở 40Bảng 4.3 Tỷ lệ lợn nái đẻ phải can thiệp tại cơ sở 41Bảng 4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo

mẹ trong thời gian thực tập 47Bảng 4.5 Kết quả thực hiện một số biện pháp kỹ thuật trên đàn lợn

49 của trại 49

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 1

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1.Vị trí địa lý 3

2.1.2 Đặc điểm khí hậu 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.4 Cơ sở vật chất của trại

4 2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 6

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6

2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 6

2.2.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở 11

2.2.3 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 21

2.2.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 24

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

33 2.3.1 Một số nghiên cứu trong nước 33

Trang 7

2.3.2 Một số nghiên cứu ở nước ngoài 35

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 37

3.1 Đối tượng 37

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 37

3.3 Nội dung thực hiện 37

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 37

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 37

3.4.2 Phương pháp thực hiện 37

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Bùi Huy Hạnh qua 3 năm 2015 -2017 39

4.2 Tình hình sinh sản của lợn nái 40

4.2.1.Thời gian chửa trung bình của đàn lợn nái 40

4.2.2 Tỷ lệ lợn nái đẻ phải can thiệp 41

4.3 Công tác thú y 43

4.3.1 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 43

4.3.2.Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 47

4.4 Công tác khác 49

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Trang 8

có sự đầu tư của nhà nước…

Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi lợn ởnước ta, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phầnquyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn Xuất phát từ thực tế trên,được sự đồng ý của BCN Khoa và thầy giáo hướng dẫn em tiến hành thực

hiện chuyên đề : “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị

bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”.

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn vàcách cho ăn cho lợn nái qua từng giai đoạn mang thai

Trang 9

phòng trị bệnh hiệu quả nhất.

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

Ðánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện

Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại Xác định tình hình mắc bệnh sinh sản và áp dụng được biện phápphòng trị bệnh

Trang 10

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1.Vị trí địa lý

Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh là một đơn vị chăn nuôi giacông của công ty cổ phần chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Việt Nam).Trang trại được thành lập và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôicông nghiệp từ năm 2007, địa điểm xây dựng trại tại xã Tái Sơn, huyện Tứ

Kỳ, tỉnh Hải Dương

Tứ Kỳ là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằngBắc Bộ Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ nằmhoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, phía đông bắcgiáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình); phía tây Bắc giáp thànhphố Hải Dương; phía tây giáp huyện Gia Lộc; phía tây nam giáp huyện NinhGiang, đều thuộc tỉnh Hải Dương Phía đông nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranhgiới là sông Luộc); phía đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạnsông Thái Bình)

- Khí hậu: Huyện Tứ Kỳ nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùađông, nóng ẩm về mùa hè Độ ẩm không khi trung bình hàng năm là 82%, độ

ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%

Trang 11

tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió mùa đôngnam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa.

- Về chế độ gió: Gió mùa đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, giómùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại gồm có 20 người trong đó có:

+ 1 chủ trại

+ 1 quản lý

+ 1 kỹ sư chính của công ty

+ 2 tổ trưởng (1chuồng lợn chửa, 1chuồng lợn đẻ)

+ 1 bảo vệ

+ 14 công nhân

2.1.4 Cơ sở vật chất của trại

Trang trại Bùi Huy Hạnh được Công ty CP chọn là nơi để tập huấn chotất cả các kỹ sư mới được tuyển dụng vào công ty Chính vì vậy, cơ sở vậtchất của trang trại được đầu tư khá đầy đủ, theo đúng quy trình Trong đó,trang trại có riêng 2 dãy nhà làm nơi ở và phòng học tập cho các kỹ sư này.Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho các sinh viên đến trại thực tập

Trang 12

nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động kháccủa trại.

- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn chửa) vàgiường nằm (đối với chuồng lợn đẻ) được lắp đặt theo dãy

- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, núm uống nước cho lợn tự động

- Có hệ thống bóng điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấpđiện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

- Về cơ sở hạ tầng:

+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của côngnhân, sinh viên và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi

+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ănchung (buổi tối)

+ Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ

+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc lànơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụcông tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại

- Hệ thống chuồng nuôi

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễthoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân,gồm: 6 chuồng lợn đẻ, 2 chuồng lợn chửa, chuồng lợn đực nằm trong chuồnglợn chửa 1 và 3 chuồng cách ly (một chuồng cách ly lợn con) Trong đó có 3dãy chuồng lợn đẻ, mỗi dãy được tách ra làm 2 chuồng nhỏ với 56 ô chuồngsàn Chuồng lợn bầu gồm 2 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôiđều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động

ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát

Trang 13

- Thuận lợi:

+ Trại được xây dựng giữa cánh đồng nên cách xa khu dân cư, khônglàm ảnh hưởng đến người dân xung quanh và đảm bảo yêu cầu vệ sinh antoàn dịch bệnh

+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năngđộng, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.1.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnhđược đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặnđược bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàngđầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việcphòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

Trang 14

Bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nhiều nguyên nhân phứctạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp

cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát cáckhả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằmlàm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đềkháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [18] vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi

khuẩn tồn tại trong môi trường đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trườngquá ô nhiễm do vê sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi nhiễm vikhuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi cảm nhiễm

E coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn

trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật làđiều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻmạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phảiđược vê sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo

27 – 30oC đối với lợn sơ sinh và 28 - 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luônkhô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùađông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trongnhững ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang laịhiêụ quả cao trong chăn nuôi

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], từ 3 - 5 ngày trước ngày dựkiến lợn đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóachất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùngchuồng lợn nái trước khi đẻ

Trang 15

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau

đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với nhữngchuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần

phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử

lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng

và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, cácdụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắntrong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửachuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phunsát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưavào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Trang 16

ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch.

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thìkhông nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [10] các biện phápchữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện

vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hôhấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thờiđối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnhbằngkháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có

Trang 17

tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh khángđộc tố).

+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh.Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽchữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xácđịnh Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian đểphát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tácdụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

Trang 18

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở

- Nguyên nhân: Lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình từ

hậu bị đến chửa, đẻ như: Ít vận động, cơ bụng và cơ hoành, cơ liên sườn yếu,xương chậu hẹp Những trường hợp xương chậu hẹp do bẩm sinh, thai quá to,thời tiết nóng bức, cơ thể mẹ yếu do ăn uống, chăm sóc nuôi dưỡng kém, lợnchửa hay sốt cao, mắc một số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị, lợn náiquá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích đẻ (oxytocin vàprostagladin F2α) quá thấp trong thời gian đẻ, lợn nái bị liệt 1/3 thân sau, nơi

đẻ không phù hợp, cách đỡ đẻ không đúng kỹ thuật (Nguyễn Ðức Lưu vàNguyễn Hữu Vũ, 2004) [13]

Hẹp khe âm môn và tiền đình âm đạo, âm đạo và hẹp cổ tử cung: Xảy ra

do bẩm sinh hoặc ở gia súc co thắt sẹo hình thành từ chấn thýõng hoặc viêm,

do phát triển màng sẹo liên kết của vết loét, ung bướu Ðôi khi gặp trường hợp

đẻ khó ở gia súc đẻ lần đầu do phì đại màng trinh bẩm sinh hoặc mắc phải(tăng sinh van niệu đạo nằm ở thành dưới âm đạo sát mép tiền đình âm đạo).Các cơn rặn đẻ mạnh trong khi đã có các cơn tiền triệu chứng đẻ nhưng gia súckhông đẻ

Trang 19

được, chứng tỏ do gia súc bị hẹp đường sinh dục hoặc do thai to quá (Debois

C H W 1989) [27]

- Triệu chứng: Lợn nái dặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được,

cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều

có lẫn cả máu (màu hồng nhạt), có những trường hợp lợn nái đẻ một con rồinhưng vẫn khó đẻ những con tiếp sau Khi kiểm tra thấy thai vướng ngay ởkhung xương chậu không qua được (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ,2004) [13]

- Chẩn đoán: Theo dõi chặt chẽ ngày phối giống, ngày đẻ, cơn co thắt,

rặn đẻ, nếu 1-2 giờ lợn nái rặn liên tục mà không đẻ được, cơn rặn thưa dần,lợn nái mệt, uống nước nhiều, nhịp thở, nhịp tim tăng hơn bình thường(Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [13]

- Biện pháp can thiệp:

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [25] Trong trường hợp lợn đẻ lâu,tức là thời gian đẻ kéo dài, nên cho lợn mẹ uống nước ấm có pha muối, đồngthời dùng tay hỗ trợ động tác đẻ cho lợn Hoặc có thể dùng lợn con đẻ trướccho vào bú mẹ để kích thích lợn mẹ đẻ

Trong trường hợp can thiệp bằng biện pháp trên không có kết quả thì ta

có thể tiêm oxytoxin cho lợn nái, với liều 4ml/lần Một điều hết sức lưu ýkhông tiêm oxytoxin khi tử cung chưa mở và trường hợp quan sát thấy lợn náirặn nhiều lần và kèm theo co chân không đẻ được, nhiều khả năng lợn connằm ngang bịt kín đường đẩy ra Trong trường hợp như vậy phải can thiệpbằng cách cho tay vào trong để xoay lợn con lại tư thế “thuận ngôi” và cẩnthận, nhẹ nhàng lôi ra ngoài, có như vậy quá trình đẻ mới tiếp tục được.Trước khi tiến hành phải dùng khăn và xà phòng để rửa sạch bộ phận sinh dụcngoài và phải dùng găng tay đã được bôi trơn

Có thể tiêm một trong các kháng sinh sau để chống viêm nhiễm:

Trang 20

Ampicillin: 10 mg/kg TT tiêm bắp ngày 2 lần

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8] viêm tử cung là một quá trìnhbệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷcác tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở giasúc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [11]bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tửcung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật

Trang 21

hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang cho lợn khoẻ.

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêmmạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đếnviêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm tử cung

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện đểxâm nhập vào gây viêm

Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [9] nguyên nhân gây viêm

tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu khuẩn gây dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,Klebriella, E Coli….

Lê Văn Năm (1999) [15] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoạicảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằngdụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến chất nhày trong cơ quan sinhdục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý

và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trongđiều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầukhoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cunggây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây ratrong thời gian động đực (vì lúc đó cổ tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo saisót về kỹ thuật

Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phầnthiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử

Trang 22

cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xâyxát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung.

* Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệttới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màuđục, mùi tanh rất khó chịu

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 42oC trong vài ngày đầu âm môn sưngtấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịchnhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quảhoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả của bệnh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quansinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đềuảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, pháttriển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], Trần Thị Dân (2004) [7], khilợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử

Trang 23

cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2αgây phân huỷ thể vàng ởbuồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi

đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử

cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thaichết lưu

Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng

Progesteronegiảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung

giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ

mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có

mặt của vi khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân

tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳnsữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bịtiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dụctrở lại

Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể

vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone.

Progesteroneức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự

phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trởlại được và không thải trứng được

Trang 24

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung saukhi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻsau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trongcác nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôisống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồng trứng.

* Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểuhiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mởnên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài mlcho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dungdịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màumáu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấptính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượngchảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi cónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kếttinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủchảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì

có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủnên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán chochính xác

Trang 25

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểuhậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

2.2.2.3.Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú

- Theo Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi

không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi

khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhânchính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái,không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cholượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không búhết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm

- Theo Phạm Tiến Dân (1998) [6] nghiên cứu xác định vi khuẩn gây

viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm : E coli chiếm 18,2%, Staphylococcus chiếm 19%, Streptococcus chiếm 27,18%, Klebsiella chiếm 14,7%.

+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu vềtuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh

+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú mộthàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợncon bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (TrươngLăng, 2000) [12]

Trang 26

+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻbẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu

vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm

* Triệu chứng

Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 5 giờ cho đến 5

-7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [20] viêm vúthường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú

có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứngđau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dàitrong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vúxuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹđòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê HồngMận, 2002) [14] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa cónhững cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng,xanh lợn cợn, đôi khi có máu

* Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó

sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [13] bệnh viêm tửcung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợnnái nuôi con

- Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] cũng khẳng định: mất sữa sau khi đẻ

là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thườngsốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnhhưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡngtrong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chứcnăng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Trang 27

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con

bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

* Điều trị

Trong nhiều trường hợp viêm vú do nhiều nguyên nhân gây ra nên việcđiều trị cần phải tiến hành kết hợp giữa kháng sinh và phong bế giảm đau.Một số kháng sinh thường dùng

* Nguyên nhân:Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [21] cho biết : Sau khi đẻ

tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vậtkhông được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là

Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quánhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quámức

+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác

+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnhtruyền nhiễm, đặc biệt bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis), hoặc do cấutạo của nhau

Trang 28

- Triệu chứng: căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:

+ Sót nhau hoàn toàn: toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắcthường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn

+ Sót nhau không hoàn toàn: ở động vật đơn thai một phần màng nhaucòn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau rangoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ

- Điều trị: can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để

quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnhtay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tửcung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nướcmuối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và

cs, 2010) [21]

2.2.3 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài

* Amoxiject LA: Là thuốc kháng sinh thuộc nhóm β–lactam có phổ

kháng khuẩn rộng, tác động kéo dài

- Dạng thuốc: huyễn dịch tiêm

- Quy cách sản phẩm: lọ 100 ml

- Thành phần: Trong 100 ml có:

Amoxycillin (dưới dạng muối trihydrate): 15g

Dung môi vừa đủ: 100ml

- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp 2 ngày/lần, tiêm 1 ml/10 kg TT,điều trị trong 5 ngày Hiệu lực của thuốc kéo dài 48 giờ Kết hợp sử dụng một

số thuốc có tác dụng giảm đau hạ sốt, trợ sức trợ lực… làm tăng hiệu quả điềutrị của thuốc Lắc kĩ trước khi dùng

- Công dụng: điều trị các bệnh nhiễm trùng trên gia súc bao gồm: nhiễmtrùng đường tiêu hóa, nhiễm trùng đường hô hấp (như các bệnh do

Pasteurella gây ra), nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm trùng đường sinh dục,

tiết niệu (viêm bàng quang, viêm vú, viêm tử cung), nhiễm trùng sau khi giảiphẫu

Trang 29

- Cơ chế tác dụng của amoxycillin:

Theo Nguyễn Trúc Anh (2010) [1] amoxycillin là dẫn xuất bán tổnghợp của ampicillin, có cùng cơ chế tác động với ampicillin Tuy nhiên,

amoxycillin đi vào vách tế bào vi khuẩn gram (–) dễ dàng hơn ampicillin, do

đó hoạt động của amoxycillin chống lại vi khuẩn gram (–) mạnh hơn.

Amoxycillin xâm nhập nhanh chóng vào các mô cũng như vào hệ thốngmạch máu Khả năng chuyển hóa của amoxycillin yếu nên phần lớn bị thải trừqua đường tiểu dưới dạng còn hoạt tính

Cơ chế tác dụng của Streptomycin và Penicillin

Penicillin có cơ chế tác dụng gần như amoxicillin

Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid (AG –amonosid) là thuốc kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn, ức chế sự tổng hợpprotein của vi khuẩn ở mức ribosome Streptomycin gắn đặc hiệu vào tiểuphần 30s của ribosome Do vậy mã bị đọc sai, gây tổng hợp và tích lũy cácprotein sai lạc kìm hãm vi khuẩn phát triển Streptomycin còn gây rối loạn cả

Trang 30

giai đoạn tổng hợp protein từ khâu khởi đầu, kéo dài đến kết thúc Ngoài ra,còn các cơ chế khác như: thay đổi tính thấm màng, hô hấp tế bào, thay đổiADN của vi khuẩn Một số AG khác còn gắn vào tiểu phần 50s.

+ Cơ chế tác dụng của oxytocin:

Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung, có tác dụng đẩy thai rangoài trong quá trình đẻ

Trang 31

Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của oxytocin là kíchthích bài tiết sữa.

Oxytocin cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bàng quang

và cơ trơn ruột Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung (Hoàng Toàn Thắng,2006) [19]

2.2.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻvà lợn nái nuôi con

2.2.4.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợncon có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi conChính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17] thức ăn dùng cho lợn nái đẻphải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợnnái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó,hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạngsức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối vớinhững lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sứckhỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằngcách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phảicăn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độdinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh(0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ

có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăncháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột

Trang 32

ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cầnchế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăncho lợn nái.

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếpđến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và

cs (2004) [17] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu

vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện cáctrường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -

15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ôchuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầuchuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêuđộc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ

1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phânbám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếpxúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cholợn nái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợnquen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quantrọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs(2004) [17] ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừalợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt,

mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điềukiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vàonhững tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ănsớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà

Trang 33

không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ củalợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m.

Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khiđón lợn con sơ sinh

2.2.4.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quá trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17] thức ăn cho lợn nái nuôi conphải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó

là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,

cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn

bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợnnái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗnhợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủprotein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩnquy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, Protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%,Phospho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng vàảnh hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ,chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡngcho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17] trong quá trình nuôi con,lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg)hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 – 3kg tương ứng

Trang 34

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗnhợp/nái/ngày.

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thứcăn/nái/ngày = 2kg + (số con x 0,35kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày : 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kgthức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh(nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Quy trình chăm sóc

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17] vận động tắm nắng là điềukiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữacủa lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chănnuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thờigian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên.Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong cáccũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinhdưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảmbảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinhchuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[17] chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cholợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 28 – 30oC, độ ẩm 70 - 75%

2.2.4.3 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

a Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản

Ngày đăng: 15/01/2019, 16:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nôngnghiệp
Năm: 2002
15. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnhlợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
16. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1986), Thuốc thú y tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y tập II
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: NxbNông nghiệp
Năm: 1986
17. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm (1993), “Nghiên cứu chế tạo vacxin E. coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm, số 9, tr. 324 - 325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vacxin "E. coli "uống phòng bệnh phân trắnglợn con”, "Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm
Năm: 1993
19. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: NxbNông nghiệp
Năm: 2006
20.Ngô Nhật Thắng (2006), Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn
Tác giả: Ngô Nhật Thắng
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2006
21.Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010), Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị, Tạp chí Khoa học kĩ thuật thú y tập 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm tử cungtrên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị
Tác giả: Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010
22.Nguyễn Văn Thiện (2008), Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chănnuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
24.Trekaxova A.V, Daninko L.M, Ponomareva M.I, Gladon N.P (1983), Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản (người dịch Nguyễn Đình Chi), Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnhcủa lợn đực và lợn nái sinh sản (người dịch Nguyễn Đình Chi
Tác giả: Trekaxova A.V, Daninko L.M, Ponomareva M.I, Gladon N.P
Nhà XB: NxbNông nghiệp Hà Nội
Năm: 1983
26.Andrew Gresham (2003), Infectious reproductive disease in pigs, in practice (2003) 25 : 466-473 doi:10.1136/inpract.25.8.466 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infectious reproductive disease in pigs
Tác giả: Andrew Gresham
Năm: 2003
27.Debois C. H. W. (1989), Endometritis and ferti in the cow, Thesis, Utrecht Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endometritis and ferti in the cow
Tác giả: Debois C. H. W
Năm: 1989
28.Smith, B.B. Martineau, G., Bisaillon, A. (1995), “Mammary gland and lactaion problems”, In disease of swine, 7 th edition, Iowa state university press, pp. 40- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mammary gland andlactaion problems”, "In disease of swine, "7th"edition
Tác giả: Smith, B.B. Martineau, G., Bisaillon, A
Năm: 1995
23.Popkov (1999), Điều trị viêm tử cung, Tạp chí KHKT, số 5, tr. 9 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w