1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỬ NGHIỆM mô HÌNH NUÔI lươn THƯƠNG PHẨM (MONOPTERUS ALBUS ZUIEW 1793) TRONG vèo BẰNG THỨC ăn VIÊN CÔNG NGHIỆP có bổ SUNG FUCTO OLIGOSACCHARIDE

15 342 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 163 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Đặt vấn đề Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu được báo cáo của Đại học Cần Thơ, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, về sinh sản nhân tạo lươn thành công và Chi cục Thủy sản Vĩnh Long đã ứng dụng, chuyển giao quy trình sản xuất lươn giống nhân tạo đã góp phần chủ động nguồn giống cho việc nuôi thương phẩm của tỉnh Vĩnh Long và các tỉnh lân cận. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng, nuôi lươn thương phẩm được nông hộ áp dụng nuôi khá phổ biến ở hình thức nuôi lươn trong bể lót bạt, bể xi măng hình thức nuôi này thuận tiện trong việc cho ăn, dễ quản lý, dễ kiểm soát trong môi trường bể nuôi, tuy nhiên trở ngại trong hình thức nuôi này là phải có diện tích đất mặt bằng tương ứng quy mô nuôi, chi phí đầu tư xây dựng bể nuôi cao và chi phí sản xuất cao do trong quá trình nuôi phải thay nước và cung cấp nước hàng ngày cho bể nuôi, việc xử lý nguồn nước thải trong bể nuôi trước khi xả thải ra môi trường bên ngoài thì khó khả thi (do quá trình nuôi phải thay nước hàng ngày), hạn chế trong việc nuôi tăng năng suất.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG KHOA KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

  

-ĐỀ CƯƠNG TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NĂM 2018

THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN

(MONOPTERUS ALBUS ZUIEW 1793)

THƯƠNG PHẨM TRONG VÈO BẰNG THỨC ĂN VIÊN

CÔNG NGHIỆP CÓ BỔ SUNG FUCTO - OLIGOSACCHARIDE

GVHD : ThS NGUYỄN HỒNG LINH SVTH : VÕ ANH ĐỨC

MSSV: :1611031078

Năm học 2018 - 2019

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3

2 SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LƯƠN 3

2.1 VỊ TRÍ PHÂN LOẠI 3

2.2 TÍNH ĂN 3

2.3 SINH SẢN 4

2.4 SINH TRƯỞNG 4

2.5 TẬP TÍNH SỐNG 4

3 CÁC NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG LÊN TĂNG TRƯỞNG CỦA LƯƠN 5

3.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 5

3.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 5

4 SƠ LƯỢC VỀ FRUCTOOLIGOSACCHARIDE (FOS) 7

5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ FOS LÊN ĐỘNG VẬT THỦY SẢN 7

6 TÌNH HÌNH NUÔI LƯƠN HIỆN NAY TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 8

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 10

2 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 10

2.1 HỆ THỐNG THÍ NGHIỆM 10

2.2 LƯƠN DÙNG TRONG THÍ NGHIỆM 10

2.3 THỨC ĂN VÀ CHO ĂN 10

2.4 CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ 11

2.5 CÁC CHỈ TIÊU CẦN THEO DÕI TRONG THÍ NGHIỆM 11

2.5.1 THEO DÕI CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG 11

2.5.2 CÁC CHỈ TIÊU THỦY LÝ HÓA CẦN PHÂN TÍCH 11

2.5.3 THEO DÕI TĂNG TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, NĂNG SUẤT VÀ FCR CỦA LƯƠN 12

3 CÁC CHỈ TIÊU TÍNH TOÁN, PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 12

4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 3

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU

1 Đặt vấn đề

Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu được báo cáo của Đại học Cần Thơ, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, về sinh sản nhân tạo lươn thành công và Chi cục Thủy sản Vĩnh Long đã ứng dụng, chuyển giao quy trình sản xuất lươn giống nhân tạo đã góp phần chủ động nguồn giống cho việc nuôi thương phẩm của tỉnh Vĩnh Long và các tỉnh lân cận Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng, nuôi lươn thương phẩm được nông hộ áp dụng nuôi khá phổ biến ở hình thức nuôi lươn trong bể lót bạt, bể xi măng hình thức nuôi này thuận tiện trong việc cho ăn,

dễ quản lý, dễ kiểm soát trong môi trường bể nuôi, tuy nhiên trở ngại trong hình thức nuôi này là phải có diện tích đất mặt bằng tương ứng quy mô nuôi, chi phí đầu tư xây dựng bể nuôi cao và chi phí sản xuất cao do trong quá trình nuôi phải thay nước và cung cấp nước hàng ngày cho bể nuôi, việc xử lý nguồn nước thải trong bể nuôi trước khi xả thải ra môi trường bên ngoài thì khó khả thi (do quá trình nuôi phải thay nước hàng ngày), hạn chế trong việc nuôi tăng năng suất

Bên cạnh đó, trong quá trình nuôi phần lớn người nuôi sử dụng thức ăn tươi sống, hoặc thức ăn tự chế điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc tiêu hóa và hấp thu thức ăn, đồng thời việc định kỳ bổ sung vitamin và khoáng chất nhằm tăng cường sức đề kháng, kích thích tiêu hóa sẽ ảnh hưởng đến hệ miễn dịch tự nhiên của vật nuôi và làm tăng chi phí đầu tư

Vì thế, nghiên cứu để tìm ra những giải pháp giúp tăng cường sức đề kháng của động vật thủy sản, kích thích sự tiêu hóa và hấp thu để tăng tốc độ tăng trưởng của vật nuôi đang là vấn đề nhận được sự quan tâm hiện nay Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về chất kích thích miễn dịch lên động vật thủy sản trong đó có prebiotics Prebiotics được xem là chất kích thích hệ miễn dịch tự nhiên, kích thích tăng trưởng, tăng cường khả năng kháng bệnh cho một số đối tượng thủy sản một cách hiệu quả (Chang, 2003) Trong các loại prebiotics thông dụng hiện nay, sử dụng cho nông nghiệp và thủy sản phổ biến là Inulin, Fructo-oligosaccharide (FOS), Mannan Oligosaccharide (MOS), Galacto-oligosaccharide (GOS) đang được chú ý nhiều nhất Ở Việt Nam, những nghiên cứu về các chất prebiotic lên động vật thủy sản chưa được thực hiện nhiều Việc nghiên cứu ảnh hưởng của chất miễn dịch như Fructo-oligosaccharide lên các đối tượng thủy sản là cần thiết

Từ thực tế trên cho thấy rằng đề tài “Thử nghiệm mô hình nuôi lươn (Monopterus

albus Zuiew 1793) thương phẩm trong vèo bằng thức ăn viên công nghiệp có bổ

sung fructooligosaccharide” cần được thực hiện.

Trang 4

2 Mục tiêu của đề tài

Nhằm giúp cho nông hộ có thêm lựa chọn phương thức nuôi lươn thương phẩm mới (nuôi vèo) giảm việc thay nước mô hình nuôi, giảm ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế

Tận dụng những ao nuôi có diện tích nhỏ (500m2-1000m2) lựa chọn nuôi đối tượng có giá trị kinh tế

3 Nội dung nghiên cứu

Theo dõi các yếu tố môi trường nước mô hình thí nghiệm nuôi lươn vèo trong ao đất Xác định ảnh hưởng của FOS lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn

Đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế mô hình nuôi thí nghiệm

Trang 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

(Trên cơ sở đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, những kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu đề tài, đánh giá những khác biệt về trình độ Khoa Học

và Công Nghệ (KH&CN) trong nước và thế giới, nêu được những gì đã giải quyết rồi, những gì còn tồn tại, chỉ ra những hạn chế cụ thể, từ đó nêu được hướng giải quyết -luận giải, cụ thể hóa được tính cấp thiết của đề tài và những vấn đề về (KH&CN) mà

đề tài đặt ra nghiên cứu).

2 Sơ lược đặc điểm sinh học của lươn

2.1 Vị trí phân loại

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993); Rainboth (1996), vị trí phân loại của lươn đồng như sau:

Ngành Chordata

Lớp Actinopterygii

Bộ Synbranchiformes

Họ Synbranchidae Giống Monopterus Loài Monopterus albus, Zuiew 1793

Ở Việt Nam, lươn (Monopterus albus) phân bố rất rộng trong tự nhiên do có đặc tính

sinh lý, sinh thái phù hợp với điều kiện khí hậu từng vùng Từ lâu, đối tượng này được người dân nuôi phổ biến với nhiều mô hình nuôi khác nhau Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nghề nuôi lươn bước đầu đang đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao Lươn

là đối tượng rất kinh tế có tiềm năng phát triển nghề nuôi theo quy mô công nghiệp

2.2 Tính ăn

Lươn có ruột ngắn, không cuộn khúc Tỉ lệ chiều dài ruột so với chiều dài thân trung bình 0,67% Lươn đồng có miệng rộng, độ mở cửa miệng rất to, răng sắc bén, dạ dày

có dạng hình ống dài và vách dày nằm dọc theo chiều dài cơ thể nên lươn đồng là loài

ăn động vật và có thể ăn những thức ăn có kích thước lớn Ngoài tự nhiên thức ăn chủ yếu là cá, cua và tép (Lý Văn Khánh, 2008)

Theo Ngô Trọng Lư (2002), lươn là loài ăn tạp, thích ăn động vật có mùi tanh Khi còn nhỏ thức ăn của lươn là động vật phù du, khi trưởng thành thức ăn là động vật đáy như: tôm, cá con, ấu trùng côn trùng thủy sinh, đặc biệt lươn thích ăn thức ăn có mùi

Trang 6

tanh Tuy nhiên, tính ăn còn thay đổi tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của cơ thể, cơ

sở thức ăn trong môi trường sống Ngoài ra, lươn còn có khả năng nhịn đói từ 1 - 2 tuần và trọng lượng có thể giảm đi một nửa

Lươn có tập tính bắt mồi vào ban đêm Khi kích cỡ không đồng đều và thiếu thức ăn lươn có thể ăn lẫn nhau Tốc độ tăng trưởng của lươn từ 25 - 280C, nhưng nhìn chung tốc độ tăng trưởng chậm Ở ngoài môi trường tự nhiên sau một năm lươn có thể đạt trọng lượng 200 - 300 g/con Trong điều kiện nuôi, sau 8 - 10 tháng lươn có thể đạt kích cỡ khoảng 200 g/con (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004)

Khi nuôi trong ao, thức ăn tốt nhất cho lươn là giun đất Ngoài ra, có thể cho lươn ăn phế phẩm lò mổ… có thể tập cho lươn ăn cám, bã đậu, các loại rau quả băm vụn Lươn đồng có tính lựa chọn thức ăn rất cao, vì vậy cần phải thuần dưỡng, tập cho lươn quen dần thức ăn ngay từ đầu

2.3 Sinh sản

Lươn là loài có hiện tượng sinh sản lưỡng tính (trong tuyến sinh dục có cả tinh sào và trứng xen kẽ lẫn nhau) Ở miền Bắc nước ta, cỡ lươn nhỏ hơn 20cm hoàn toàn là cái,

cỡ 36 - 47cm lươn ở thời kỳ lưỡng tính, cỡ lớn hơn 54cm hầu hết là lươn đực

Ở miền nam mùa lươn đẻ chủ yếu là vào tháng 5 - 6 dương lịch, có thể đẻ vào mùa phụ tháng 8 - 9 dương lịch

Lươn làm tổ đẻ ở những nơi như bờ ruộng, ven kênh mương, bờ ao,… Trước lúc đẻ lươn đực có tác dụng đào hang Hang thường có hình chữ ‘U’ cao hơn mặt ruộng khoảng 5 - 10cm

Trước khi lươn cái đẻ, lươn đực còn có nhiệm vụ phun đầy bọt trong tổ để lươn cái đẻ trứng lên đám bọt đó Lúc đầu đám bọt có màu trắng, khi trứng sắp nở, đám bọt chuyển sang màu vàng ngà (Nguyễn Xuân Giao, 2009)

2.4 Sinh trưởng

Lươn 1 tuổi dài 27cm nặng 18 - 60g

Lươn 2 tuổi dài 36 - 48cm nặng 40 - 100g

Lươn con năm thứ nhất lơn nhanh về chiều dài, sang năm thứ hai trọng lượng tăng lên

là chủ yếu

Ở miền Bắc nước ta con lớn 62cm nặng 300g, ở lòng chảo Điện Biên Phủ (Lai Châu)

có con lươn nặng 900g Ở miền Nam có con nặng 1,5kg (Nguyễn Xuân Giao, 2009)

2.5 Tập tính sống

Lươn thường thích ở nơi đất thịt pha sét, đất bùn Màu sắc của lươn biến đổi theo môi trường sống Hang lươn lớn hay nhỏ tùy theo kích cỡ của lươn, hang có nhiều ngõ

Trang 7

Lươn hoạt động mạnh vào mùa hè, hay đi kiếm ăn vào ban đêm, có khi sống thành bầy đàn đi kiếm ăn Theo nhân dân cho biết, lươn có thể sống được 2 - 3 tháng ở lớp đất sâu dưới 1m ở ruộng khô nẻ, vì có thể nhờ vào cơ quan hô hấp phụ thở bằng họng,

da (Nguyễn Xuân Giao, 2009)

3 Các nghiên cứu ảnh hưởng lên tăng trưởng của lươn

3.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Theo Yang et al (2000) đã báo cáo lượng protein và năng lượng thô là những nguyên

tố chính mà ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của lươn và mức độ thích hợp của hàm lượng protein, lipid, khoáng, carbohydrat là 35,7%, 3 - 4%, 3%, 24 - 33% tương ứng Lươn nuôi sử dụng thức ăn tự chế tại nông hộ và thức ăn viên công nghiệp cho kết quả

hệ số FRC là 3,68 và 1,29 tương ứng với từng loại thức ăn Ngoài ra Liu et al (2000),

đề nghị rằng khẩu phần ăn tốt nhất đối với nuôi tăng trưởng lươn chứa lượng protein 35,7%, lipid 3 - 4%, glucose 23 - 24%, tỉ số giữa protein và năng lượng là 31,6% và 38,9%

Theo Quingsong Tan and Ruiguo He (2007) lươn được nuôi với loại hình nuôi lồng, bè tại vùng miền nam Trung Quốc và nhóm nghiên cứu đã báo cáo rằng khẩu phần ăn có

bổ sung vitamin E có ảnh hưởng đáng kể đến sự thành thục của lươn và bảo vệ mô từ quá trình oxy hóa lipid Khẩu phần ăn có bổ sung vitamin C có tác động đến đáp ứng thể dịch, khẩu phần ăn có bổ sung vitamin D và A sẽ kích thích hiệu quả trong việc hấp thu lượng Canxi ở lươn, nhóm tác giả này đề nghị mức độ cung cấp bổ sung các khoáng chất A, E, C và E vào khẩu phần ăn của lươn nên là 14.000 IU/kg, 5000 IU/kg,

2200 mg/kg và 270 mg/kg

Lươn được nuôi phổ biến trên thế giới với nhiều hệ thống nuôi khác nhau từ hệ thống nuôi ao quảng canh, hệ thống nuôi ao/bể bán thâm canh tới hệ thống nuôi bể tuần hoàn thâm canh (Gooley & McKinnon, 2004)

Nuôi lươn trong ao/bể khi nhiệt độ môi trường nước tăng lên sẽ làm tăng tỉ lệ trao đổi chất ở lươn và kết quả ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của lươn Lươn sẽ phát triển tốt ở nhiệt độ trong phạm vi 24 - 260C (Heisnbroek, 1991)

Theo nghiên cứu của Rebecca A Colo et al (2014) ghi nhận ấu trùng giun đầu mốc

(Gnathostoma Spinigerum) ký sinh trên lươn sống được thu mẫu ở ngoài tự nhiên, từ

cơ sở nuôi và việc buôn bán ngoài chợ tại Thái Lan, Việt Nam và một vài quốc gia Châu Á

3.2 Những nghiên cứu trong nước

Lươn kiếm mồi bất kỳ thời gian nào trong ngày, nhưng thường bắt mồi vào ban đêm

Trang 8

Những người khai thác lươn dựa vào tập tính này và tập trung đánh bắt lươn vào ban đêm là chủ yếu Có hai hình thức bắt mồi ở lươn: Bắt mồi thụ động: lươn không chủ động đi tìm mồi mà nhô đầu lên miệng hang, chờ mồi bơi đến rồi đớp lấy; Bắt mồi chủ động: lươn chủ động đi tìm mồi Lươn rút vào bùn tìm bắt động vật nhỏ như: giun nước, ấu trùng côn trùng, tôm, tép, cá con, ốc, hến, … (Phạm Văn Quỳnh, 2013) Theo nghiên cứu của Viện Nuôi trồng thủy sản III (2010), thực nghiệm mô hình nuôi lươn thương phẩm trên bể lót bạt tại nông hộ thuộc địa bàn huyện Châu Thành - tỉnh

An Giang và huyện Vĩnh Thạnh - thành phố Cần Thơ với thức ăn sử dụng lươn là ốc bươu vàng kết hợp với thức ăn viên cho kết quả hệ số FCR trung bình là 6,1

Thức ăn cho lươn nuôi thương phẩm có thể sử dụng từ nhiều nguồn khác nhau, khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp hàm lượng protein của thức ăn là từ 30 - 35% với khẩu phần cho ăn từ 1 - 3% trọng lượng thân, đối với thức ăn cho lươn ăn là thức ăn tươi sống (cá tạp, cua, ruột ốc, phụ phẩm lò mổ, …) thì khẩu phần cho ăn từ 4 - 8% trọng lượng thân Khi cho ăn bằng thức ăn chế biến cần cung cấp một số chất bổ sung như premix khoáng, vitamin và thức ăn phải được nấu chín để loại bỏ những kháng chất dinh dưỡng cũng như giảm thiểu sự ô nhiễm nguồn nước từ sản phẩm thức ăn dư thừa Hàng ngày nên quan sát mức độ ăn của lươn để điều chỉnh chế độ ăn phù hợp, cho lươn ăn vừa đủ, không để lươn bị đói nhưng cũng không cho thức ăn dư thừa sẽ gây ô nhiễm nguồn nước nuôi hoặc lươn ăn nhiều quá sẽ bị bội thực và chết Giai đoạn đầu mới nuôi cho lươn ăn với mức khẩu phần thấp hơn khi lươn đã lớn (Nguyễn Văn Khánh và ctv, 2012)

Theo báo cáo của La Ngọc Thạch (2014) khi nuôi lươn thương phẩm việc lựa chọn nguồn giống thì quan trọng, lựa chọn lươn giống bằng cách quan sát ngoại hình, lươn khỏe, đều cỡ, có màu sáng đặc trưng của loài, thân màu vàng có chấm rõ, không bị sây sát, không bị mất nhớt, vận động co trườn nhanh nhẹn Những con lươn có màu nhợt nhạt, có khi màu vàng xanh hoặc xám tro thì chủ yếu là khó nuôi, tăng trưởng chậm Lươn giống trước khi thả vào bể nuôi phải được tắm trong dung dịch nước muối nồng

độ 3% từ 3 - 5 phút, tiến hành loại bỏ những con lươn yếu bơi lờ đờ, lươn bị sây sát hoặc có dấu hiệu bệnh

Thí nghiệm vể ảnh hưởng của các lợi thức ăn tăng trưởng của lươn được Hồ Thị Bích Ngân (2008) tiến hành bố trí thí nghiệm trong 151 ngày với 3 nghiệm thức là thức ăn công nghiệp, thức ăn chế biến và thức ăn tươi Kết quả cho thấy, tăng trưởng về khối lượng không có sự khác biệt có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nghiệm thức sử dụng thức

ăn tươi và nghiệm thức sử dụng thức ăn chế biến, giá trị SGR đạt 1,11% - 1,12%/ngày cao hơn hẳn so với nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp 0,94%/ngày Tỷ lệ sống trung bình của lươn cao nhất ở nghiệm thức sử dụng thức ăn chế biến 91,5±5,3%, kế đến đó là ở nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp 89,2±10,4% và thức ăn tươi

Trang 9

88,5±5,2% Như vậy, loại thức ăn không ảnh hưởng đến tỷ lệ tươi sống của lươn nuôi Lươn có khối lượng là 1 gam có thể nuôi theo mô hình sử dụng giá thể là đất + lục bình, ống PVC và nilon Tuy nhiên kết quả về tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của lươn đồng ở nghiệm thức sử dụng giá thể là dây nilon tốt hơn

sử dụng giá thể là đất + lục bình và giá thể là ống PVC (Trần Thị Bích Như và Dương Hải Toàn, 2012)

4 Sơ lược về fructooligosaccharide (FOS)

Fructooligosarcharides là một prebitic có nguồn gốc thực vật; là hợp chất oligosarchacides thuộc nhóm carbohydrat không được tiêu hóa bởi enzym; được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm phư hành tây, măng tây, atiso, tỏi, lúa mì, chuối, cà chua và mật ong Cấu trúc hóa học của FOS bao gồm một phân tử đường glucose liên kết với chuỗi fructose thông qua liên kết β(2,1) glucoside Công thức tổng quát của đường FOS là GFn, trong đó n là số nhóm fructose (n = 2 - 60) (Roberfroid and Delzenne, 1998)

Kết quả của các công trình nghiên cứu cho thấy tác dụng của hợp chất oligosaccharide như sau:

Gia tăng mật độ và chiều dài của nhung mao ruột và loại thải chúng ra ngoài theo phân, giúp ngăn ngừa sự xâm nhập của những mầm bệnh này vào trong cơ thể để gây bệnh Vì vậy, tỉ lệ bệnh do vi khuẩn thấp và gia tăng tỷ lệ sống của vật nuôi

Kết dính mầm bệnh vi khuẩn trong đường ruột và loại thải chúng ra ngoài theo phân, giúp ngăn ngừa sự xâm nhập của những mầm bệnh này vào trong cơ thể để gây bệnh

Vì vậy, tỉ lệ bệnh do vi khuẩn thấp và gia tăng tỷ lệ sống của động vật nuôi

Tăng khả năng kháng bệnh do vi khuẩn

Trong nuôi trồng thủy sản FOS có thể được trộn vào thức ăn hoặc làm giàu thức ăn tươi sống

5 Một số nghiên cứu về FOS lên động vật thủy sản

Các nghiên cứu bổ sung FOS vào thức ăn cho đối tượng thủy sản chủ yếu được thực

hiện trên một loài cá kinh tế như cá rô phi (Oreochromis), cá Hồi vân (Onchorhynhus mykiss), cá tầm (Huso huso), cá tra (Panggasianodon hypophthalmus) và tôm sú (Penaeus monodon)….Tuy nhiên các kết quả thu được không giống nhau.

Nghiện cứu bổ sung FOS vào thức ăn của cá tra giống trong 90 ngày với liều lượng 0% (đối chứng), 0,5%, 1%, 1,5% và 2% đã cho thấy tỉ tiêu tăng trưởng tăng trọng (WG), tăng dài (LG), tốc độ tăng trưởng theo ngày (DWG), tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SRG), tỉ lệ sống ở nghiệm thức 0,5% và 1% cao hơn các nghiệm thức còn lại và hệ số tiêu tốn thức ăn thì thấp hơn Hoạt tính các men tiêu hóa như amylase (ở dạ dày và

Trang 10

ruột), pepsine, chymontrisine và tổng vi khuẩn đường ruột ở nghiệm thức 0,5% và 1% đều tăng cao hơn các nghiệm thức còn lại (p<0,05) (Lê Thị Mai Anh, 2013)

Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung FOS lên tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống và sức khỏe của

tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) được Đặng Trần Tú Trâm nghiên cứu năm

2013 Với kết quả, sau 90 ngày bố trí thí nghiệm với các nồng độ bổ sung FOS là 0%, 0,1%, 0,2%, 0,4% và 0,8% thì không có sự sai khác về tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng giữa các nghiệm thức (p>0,05) Tuy nhiên, số liệ về tỉ lệ sống, và các chỉ tiêu tăng trưởng của tôm sú khi bổ sung 0,2% - 0,4% FOS vào thức ăn có xu hướng cao hơn so với các nghiệm thức khác Còn kết quả về các chỉ tiêu sinh lý cho thấy, khi bổ sung FOS với liều 0,4% đã cải thiện được sức khỏe của tôm sú, các chỉ số gan tụy và cơ thịt cao hơn so với các nghiệm thức khác (p<0,05)

Ảnh hưởng của FOS lên cá bống tượng đã được Renjie et al (2010) nghiên cứu bổ sung vào thức ăn ở mức 1,5% và 3% trong 30 ngày Kết quả thí nghiệm cho thấy tốc

độ tăng trưởng, số lượng hồng cầu trong máu và mức hemoglobin (Hb) của nhóm cá

có bổ sung FOS vào thức ăn tăng đáng kể (p<0,05) so với đối chứng Ngoài ra, hoạt động của enzyme tiêu hóa trong dạ dày và ruột (protease, lipase và amylase) của nhóm

có bổ sung FOS vào thức ăn cũng tăng (p<0,05) so với nhóm đối chứng

Bổ sung fructooglisaccharides chuổi ngắn (ScFOS, Profeed 95%) trong 8 tuần với liều lượng 0 g/kg, 0,4 g/kg, 0,8 g/kg, 1,2 g/kg và 1,6g/kg thức ăn cho thấy ScFOS có hiệu quả trong việc gia tăng vi sinh đường ruột, tăng tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng đối với tôm thẻ chân trắng và hiệu quả cao nhất khi bổ sung 0,4 g/kg thức ăn (Zou et al., 2007)

Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy, khi bổ sung FOS vào thức ăn cho đối tượng thủy sản đã làm gia tăng tốc độ tăng trưởng cũng như tỉ lệ sống của đối tượng nuôi Đồng thời các chỉ tiêu sinh lý và hoạt tính của enzyme tiêu hóa cũng có sự gia tăng khi bổ sung FOS vào thức ăn Tùy theo đối tượng nuôi, giai đoạn phát triển mà nồng độ FOS

bổ sung vào thức ăn khác nhau

6 Tình hình nuôi lươn hiện nay tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

Ở Đồng Tháp, nghề nuôi lươn đặc biệt phát triển mạnh ở Tam Nông, toàn huyện có trên 200 hộ nuôi với hơn 1.200 bể, đa phần bể đều có diện tích từ 10 - 15m2, phần lớn

là bể xi măng là chủ yếu theo phương thức nuôi lươn sử dụng bắp làm giá thể, con giống chủ yếu được thu gom từ tự nhiên, thức ăn cho lươn đa số sử dụng thức ăn tự chế (phối trộn giữa cá tạp, ốc bươu vàng và thức ăn công nghiệp)

Ở thành phố Cần Thơ, mô hình nuôi lươn hiện nay chủ yếu là nuôi trong bể lót bạt, tập trung ở các huyện: Vĩnh Thạnh (839 bồn), Cờ Đỏ (187 bồn), mùa vụ nuôi lươn quanh năm Nguồn lươn giống phần lớn thu gom từ tự nhiên Lươn giống bán nhân tạo đã

Ngày đăng: 29/12/2018, 08:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w