Đề tài được thực hiện để tìm hiểu một số giống vú sữa hiện trồng tại huyện, tìm ra những đặc trưng về kỹ thuật canh tác vú sữa mà người dân đang áp dụng và hiệu quả kinh tế của cây vú sữ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT, ĐẶC ĐIỂM GIỐNG,
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY VÚ SỮA
(Chrysophyllum cainito L.) TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH
Trang 2ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT, ĐẶC ĐIỂM GIỐNG, KỸ THUẬT TRỒNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY VÚ SỮA
(Chrysophyllum cainito L.) TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH
TIỀN GIANG
Tác giả
ĐẶNG NGỌC HÀ
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng kỹ sư Nông Nghiệp Ngành Nông Học
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS NGUYỄN VĂN KẾ
Tháng 8 / 2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Học cùng tất cả Thầy Cô Giáo đã truyền đạt kiến thức và dạy dỗ tôi trong suốt khoá học
Chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Văn Kế, Trưởng
Bộ Môn Cây Lương Thực – Rau – Hoa – Quả Trường Đại Học Nông Lâm , đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp, Phòng thống kê huyện Châu Thành cùng các hộ gia đình tại 3 xã Vĩnh Kim, Bàn Long, Phú Phong đã góp nhiều ý kiến xác đáng và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu để tôi hoàn thành tốt đề tài này
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tháng 8/ 2009 Đặng Ngọc Hà
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “ Điều tra hiện trạng sản xuất, đặc điểm giống, kỹ thuật trồng và hiệu quả
kinh tế cây vú sữa (Chrysophyllum cainito L.) tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền
Giang” Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2009 tại 3 xã Vĩnh Kim, Phú Phong và Bàn Long thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
Đề tài được thực hiện để tìm hiểu một số giống vú sữa hiện trồng tại huyện, tìm
ra những đặc trưng về kỹ thuật canh tác vú sữa mà người dân đang áp dụng và hiệu quả kinh tế của cây vú sữa Kết quả điều tra là cơ sở đánh giá, đưa ra những kết luận
và kiến nghị để thúc đẩy hiệu quả sản xuất vú sữa ngày càng cao hơn
Phương pháp: điều tra ngẫu nhiên 30 hộ theo mẫu phỏng vấn ở 3 xã Vĩnh Kim, Phú Phong và Bàn Long; khảo sát một số đặc tính về cây, quả và lá của các giống vú sữa được trồng tại địa phương Kết quả điều tra cho thấy:
Diện tích trồng vú sữa trong 30 hộ điều tra tại 3 xã là 65.300 m2, diện tích trung bình ở mỗi hộ là 2170 m2
Về giống : có 2 giống chủ yếu là Vú sữa Lò Rèn và Vú sữa Tím Nguồn giống chủ yếu do người dân tự chiết
Về kỹ thuật trồng và chăm sóc : đa số người dân trồng với kỹ thuật khác nhau
Số hộ trồng với khoảng cách 8 x 8m chiếm tỷ lệ cao nhất (36%) Các hộ nông dân đều sử dụng phương pháp xử lý ra hoa bằng biện pháp bón phân và xiết nước Sâu bệnh hại chính tại các vườn chủ yếu là sâu đục trái và bệnh thối trái ngoài ra hiện tượng khô cành chết nhánh do sâu đục cành là tác nhân gây hại nặng chủ yếu ở các vườn vú sữa lớn tuổi, các hộ còn ít sử dụng thuốc để phòng trị Sau trồng 3 năm vú sữa đã cho thu hoạch nhưng sản lượng còn thấp Năng suất của giống vú sữa Lò Rèn cao hơn so với giống vú sữa Tím cụ thể năm thứ 3, vú sữa Lò Rèn cho năng suất 4 tấn/ha còn vú sữa Tím cho năng suất gần 1,9 tấn/ha
Hiệu quả kinh tế của 2 giống vú sữa Lò Rèn và giống vú sữa Tím khá cao Cụ thể năm thứ 3, vú sữa Lò Rèn thu lời 19.289.000đ/ha, vú sữa Tím là 24.905.000đ/ha Suất thu lợi nội hoàn (IRR) của giống vú sữa Lò Rèn là 88% và hiện giá thuần (NPV) đạt 620.164.000đ trong 15 năm Vú sữa Tím với suất thu lợi nội hoàn (IRR) đạt 74% và hiện giá thuần (NPV) đạt 88.300.000đ trong 5 năm đầu
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách bảng vi
Danh sách hình ảnh vii
Danh sách chữ viết tắt viii
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2.Mục tiêu 2
1.3.Yêu cầu 2
1.4.Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.Nguồn gốc và sự phân bố cây vú sữa 3
2.2.Đặc điểm thực vật học 3
2.3.Gía trị cây vú sữa 4
2.4.Đặc điểm sinh thái 5
2.5.Nhân giống, những giống phổ biến 5
2.6.Kỹ thuật trồng và chăm sóc 6
2.7.Sâu bệnh chính 10
2.8.Thu hoạch và cách bảo quản 11
2.9.Tổng quan về huyện Châu Thành 11
2.10.Hiện trạng sản xuất vú sữa của huyện 17
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 21
3.1.Phương tiện điều tra 21
3.2.Điều kiện nghiên cứu 21
3.2.1.Điều kiện khí hậu thời tiết 21
3.2.2.Điều kiện kinh tế - xã hội 22
3.3.Phương pháp điều tra 22
Trang 63.3.1.Kiểu điều tra 22
3.3.2.Qui mô điều tra 23
3.3.3.Các bước điều tra 23
3.3.4.Tính hiệu quả kinh tế 24
3.3.5.Xử lý số liệu 24
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1.Điều tra nông hộ 25
4.1.1.Diện tích vườn 25
4.1.2.Phân bố tuổi vườn vú sữa 26
4.1.3 Phân bố số cây và diện tích của mỗi giống 26
4.1.4 Loại hình canh tác 27
4.2.Khảo sát về giống 27
4.2.1.Các đặc điểm của cây 27
4.2.2.Các đặc điểm của lá 28
4.2.3.Các đặc điểm về quả 30
4.3.Điều tra về kỹ thuật canh tác 33
4.3.1.Nhân giống 33
4.3.2.Thiết kế vườn 33
4.3.3.Thời vụ trồng và cách trồng 34
4.3.4.Chăm sóc 35
4.3.5.Thu hoạch và năng suất 39
4.4.Thị trường 40
4.4.1 Các kênh phân phối vú sữa 40
4.4.2.Thị trường tiêu thụ vú sữa 41
4.5.Hiệu quả kinh tế 43
4.6.Phân tích SWOT 46
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1.Kết luận 48
5.2.Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1.Hiện trạng sử dụng đất của Huyện năm 2007 16
Bảng 2.2.Diễn biến diện tích, sản lượng vú sữa qua các năm từ 1995 – 2006 18
Bảng 2.3.Tỷ trọng giá trị sản lượng, diện tích, sản lượng vú sữa đối với nông nghiệp, trồng trọt và cây ăn quả 19
Bảng 2.4.Dự kiến vùng trồng vú sữa tập trung năm 2010, 2015 20
Bảng 3.1.Một số yếu tố khí hậu tại vùng điều tra 21
Bảng 4.1.Phân bố diện tích vườn 25
Bảng 4.2.Phân bố tuổi cây và diện tích vườn 26
Bảng 4.3.Phân bố giống theo diện tích và số cây 26
Bảng 4.4.Loại hình canh tác 27
Bảng 4.5.Các đặc điểm của thân 27
Bảng 4.6.Các đặc điểm về lá 28
Bảng 4.7.Trọng lượng các phần của quả 30
Bảng 4.8.Các đặc tính bên ngoài và bên trong quả 31
Bảng 4.9.Phẩm chất quả 32
Bảng 4.10.Phương pháp nhân giống và nguồn giống 33
Bảng 4.11.Mật độ và khoảng cách trồng 34
Bảng 4.12.Lượng phân bón trung bình cho 1ha vú sữa 36
Bảng 4.13.Các loại sâu bệnh chính tại các vườn điều tra 37
Bảng 4.14.Năng suất trung bình của hai giống điều tra 39
Bảng 4.15.Chi phí đầu tư cho 1 ha vú sữa 43
Bảng 4.16.Ứơc tính lời, lỗ của giống vú sữa Lò Rèn 44
Bảng 4.17.Ước tính lời, lỗ của giống vú sữa Tím 45
Trang 8DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Trang
Hình 4.1 Đặc điểm cây vú sữa Lò Rèn và vú sữa Tím 28
Hình 4.2 Đăc điểm lá vú sữa Lò Rèn và vú sữa Tím 29
Hình 4.3 Đặc điểm bên ngoài quả của giống vú sữa Lò Rèn và giống vú sữa Tím 31
Hình 4.4 Đặc điểm bên trong quả và hạt của vú sữa Lò Rèn và vú sữa Tím 32
Hình 4.5 Mô hình trồng vú sữa .33
Hình 4.6 Cây vú sữa bị gãy nhánh .34
Hình 4.7 Hình cây vú sữa được làm trẻ hóa sau 1 năm .35
Hình 4.8 Một số sâu bệnh hại trên cây vú sữa .38
Hình PL 1 Qủa và hoa của giống vú sữa Lò Rèn 52
Hình PL 2 Qủa và hoa của giống vú sữa Tím 52
Hình PL 3 Qủa vú sữa Lò Rèn bổ dọc 52
Hình PL 4 Qủa vú sữa Tím bổ dọc 52
Hình PL 5 Vú sữa được đóng thùng trước khi vân chuyển 53
Hình PL 6 Thu mua vú sữa tại chợ Vĩnh Kim 53
Trang 9NN – PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NPV = Net present value ( giá trị thực hiện tại)
Trang 10Vú sữa là một trong những loại trái cây ăn trái đặc sản rất được ưa chuộng nhờ phẩm chất ngon, giá trị dinh dưỡng cao Với điều kiện ưu đãi của thiên nhiên, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang là vùng chuyên canh cây vú sữa với diện tích lớn nhất trong cả nước, sản lượng khoảng 22.000 tấn/năm
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh về diện tích nhưng chưa được quan tâm đúng mức đến việc phòng trừ sâu bệnh, quy trình canh tác không đúng kỹ thuật Thấy được nhu cầu thực tế của địa phương, nhằm giúp nông dân huyện Châu Thành có thêm về kiến thức nông nghiệp nói chung, kỹ thuật trồng và chăm sóc vuòn cây ăn trái đặc biệt là cây vú sữa nói riêng, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sồng của người dân, cũng như phục vụ công tác khuyến nông và chuyển giao công nghệ sau này Được sự phân công của khoa Nông Học Trường Đại Học Nông
Lâm TP.HCM và được sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Kế, đề tài " Điều tra
hiện trạng sản xuất, đặc điểm giống, kỹ thuật trồng và hiệu quả kinh tế của cây vú
sữa (Chrysophyllum cainito L.) tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang" được tiến
hành
Trang 111.2 Mục tiêu:
Đánh giá được hiện trạng sản xuất, đặc điểmgiống, thu thập kỹ thuật trồng trọt
để có cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo và cho công tác khuyến nông sau này
Đối tượng điều tra: cây vú sữa
Thời gian và địa điểm: thời gian thực hiện đề tài từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2009 tại 3 xã Vĩnh Kim, Bàn Long và Phú Phong thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
Giới hạn đề tài: do thời gian thực hiện đề tài có hạn so với đời sống cây vú sữa do đó việc tính chi phí đầu tư chưa sát thực tế
Về không gian: địa bàn huyện Châu Thành, chỉ điều tra 30 hộ trồng vú sữa ngẫu nhiên nên kết quả điều tra ít nhiều cũng bị thiếu sót
Trang 12Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây vú sữa
Cây vú sữa là cây ăn quả vùng nhiệt đới, có nguồn gốc ở Trung Mỹ, trồng phổ biến ở Mehico, Sri Lanka, Thái Lan, Philippins và Việt Nam Ở nước ta, cây vú sữa được trồng ở Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ và trồng tập trung nhiều nhất ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
Vú sữa có tên khoa học là : Chrysophyllum cainito L Thuộc họ Sapotaceae
( Morton, 1987)
Trong các ngôn ngữ nước ngoài, nó có các tên gọi như cainito, caimito, ajara,
caimite, caimo, caimitero,murucuija, estrella hay aguay (Julia F Morton, 1987)
Vú sữa phân bố trong vùng nhiệt đới toàn thế giới Việt Nam và Úc trồng vú sữa để lấy trái trong khi Mỹ và những nơi khác trồng vú sữa để làm cây cảnh hơn là cây ăn quả Trong thập niên 80 và 90 giá vú sữa thấp, nhiều nơi đốn bỏ vú sữa nhưng Tiền Giang là tỉnh duy nhất còn giữ lại trên ngàn ha Những năm gần đây nhu cầu thị trường cao, trái vú sữa Tiền Giang có điều kiện phát triển thị trường và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà vườn Diện tích vú sữa mở rộng, tính đến năm 2006 diện tích
vú sữa của toàn huyện Châu Thành 1.896 ha Lợi thế của vùng chuyên canh tập trung tạo ra hàng hóa đó duy trì được vùng vú sữa duy nhất ở nước ta và cũng là vùng trồng vú sữa tập trung lớn nhất thế giới ( Nguyễn Hồng Thủy, 2007)
Trang 13Quả: hình tròn, bầu dục, và một số hình dạng khác, với kiểu hình sao trong cùi thịt, quả có đường kính từ 5 – 10 cm Qủa có da bóng, trơn, vỏ dày 6 – 12.5mm, khi quả còn xanh vỏ dày 3 - 5 mm Vỏ có nhiều mủ
Hạt: các hạt dẹt có màu nâu nhạt và cứng
2.3 Giá trị vú sữa:
2.3.1 Giá trị dinh dưỡng:
Theo Morton (1987), giá trị dinh dưỡng có trong 100g phần ăn được
Theo Chủ tịch Hội Làm vườn huyện Châu Thành Lê Văn Ri thì vú sữa là loại cây có tuổi thọ khá cao cả trăm năm, cho năng suất bình quân từ 15 đến 20 tấn/ha Theo
Trang 14chiết tính của phòng NN-PTNT huyện, nông dân trồng vú sữa một ha cho thu nhập bình quân 100 triệu đồng đối với những vườn chăm sóc tốt, cây từ bảy năm tuổi trở lên
2.4 Đặc điểm sinh thái:
Cây vú sữa phát triển trong đìều kiện nhiệt độ từ 22 – 34 0C Cây chỉ ra hoa kết quả tốt trong điều kiện khí hậu có 2 mùa mưa nắng phân biệt Không chịu được gió to do cây có tán dày và rễ ăn nông
Cây vú sữa có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau Tuy nhiên, để cây sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và chất lượng, nên trồng trên đất phù sa ven sông hoặc, đất thịt nhẹ thoát nước tốt, ít chua và độ cao so với mặt nước biển không quá 400 m
2.5 Nhân giống, những giống phổ biến hiện nay:
Trang 15+ Gốc ghép: chọn những hạt vú sữa to, không bị sâu bệnh đem gieo trong vườn ươm Làm thành luống gieo, thông thường cây mọc khoảng 3-4 tuần lễ sau khi gieo Lúc cây có 3-5 lá thì có thể đem ra trồng ở vườn ghép, đến khi cây đạt tiêu chuẩn ghép (8-12 tháng tuổi) thì ra ngôi cho vào túi nilon có đục lổ thoát nước sau
đó tiến hành ghép Sau khi ghép 40-45 ngày, kiểm tra thấy có sự tiếp hợp tốt giữa gốc ghép và cành ghép (mắt ghép) thì cắt và đem để trong bóng râm khi nào cây phát triển tược mới, lá thành thục mới có thể đem trồng
Có nhiều cách ghép, tuy nhiên trong sản xuất thường gặp phổ biến nhất là ghép cành treo bầu và ghép mắt vì cho tỷ lệ thành công cao
2.5.2 Những giống vú sữa phổ biến hiện nay:
- Vú sữa Lò Rèn: có nguồn gốc xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; có năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất 1000 - 1500 trái/cây/năm ở cây tuổi trên 10 năm, trọng lượng trái 200 – 300 g/trái, vỏ trái khi chín có màu hột gà, tươi bóng, đẹp; phẩm chất trái rất ngon, được thị trường trong nước ưa chuộng và có giá
cả cao nhất so với các giống khác
- Ngoài ra còn có các giống vú sữa Tím, vú sữa Nâu, vú sữa Vàng, vú sữa Bánh
Xe Các giống này có năng suất thấp và phẩm chất kém hơn so với vú sữa Lò Rèn
2.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
2.6.1 Thiết kế vườn:
- Đào mương lên líp (luống)
Nếu trồng mới trên đất ruộng nên lên mô có đường kính từ 0,8 - 1,0 m, cao 0,4 - 0,6 m, tùy theo địa hình của từng nơi Đất mô là đất mặt của ruộng và được phơi khô từ 15-20 ngày Đào mương sâu 1,0 - 1,5 m; bề mặt líp 7-10 m
- Đê bao, cống và cây chắn gió
Cần phải có bờ bao và cống để chủ động việc tưới tiêu, đảm bảo mặt líp hoặc
mô phải cao hơn mặt nước trong mương, ruộng từ 50 – 80 cm Ngoài ra do cây vú sữa dễ bị tét nhánh hay lật gốc, do đó cần phải chú ý đến trồng cây chắn gió, đặc biệt
là những vườn ven sông lớn
- Mật độ và khoảng cách trồng
Với líp rộng 7 – 8 m thì bố trí trồng một hàng cây ở giữa líp, khoảng cách 8m/cây, mật độ 12 - 13 cây/1000m2, với líp rộng 9 – 10 m, trồng hai hàng theo kiểu
Trang 16nanh sấu, khoảng cách 10 m/cây, mật độ từ 7 - 8 cây/1000 m2 Có thể trồng xen rau màu hoặc cây ăn trái ngắn ngày trong 1 - 3 năm đầu để tăng thu nhập
2.6.2 Trồng và chăm sóc:
2.6.2.1 Thời vụ
Vú sữa có thể trồng quanh năm nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa (5 - 6 Dl)
để đỡ công tưới nước cho cây vú sữa trong giai đoạn đầu và có thời gian chuẩn bị đất
2.6.2.2 Chuẩn bị hố và cách trồng:
Sau khi chuẩn bị mô trước đó 15 – 20 ngày, đào hố nhỏ sâu 20 – 25 cm, trộn đều đất này với một thúng phân hữu cơ hoai, 100 g DAP và 200 – 300 g phân lân/cây Đặt bầu cây thẳng đứng, cắt bỏ vỏ bầu và để mặt bầu ngang với mặt mô trồng, sau đó lắp đầy
hố Cây sau khi trồng cần cắm cọc cố định cây và che nắng
2.6.2.5 Bồi bùn
Hàng năm cần bồi bùn vào mô trồng, nên tiến hành phơi khô bùn sau khi vét mương rồi sau đó bồi vào mô Công tác bồi bùn cần tiến hành thường xuyên hàng năm, ngay cả khi cây đã lớn và sau khi định hình mương líp hoàn chỉnh Việc vét mương bồi líp vừa có tác dụng cải tạo hệ thống mương tưới tiêu, nâng cao dần mặt líp, vừa có tác dụng cung cấp một phần dinh dưỡng cho cây vú sữa
2.6.2.6 Tưới tiêu nước
Cần cung cấp nước đầy đủ cho cây vú sữa, đặc biệt trong 3 năm đầu Trong các tháng nắng nên tưới định kỳ 1 - 2 lần/tuần Cần xây dựng hệ thống bờ bao chung quanh vườn và trong 1 - 2 năm đầu, cần giữ mực nước cách mô trồng tối thiểu 40 cm
Trang 17Tưới đủ nước cho cây là một yếu tố giúp cây sinh trưởng phát triển tốt tư đủ nước sau thời kỳ khô hạn sẽ giúp cây ra hoa đồng lọatvà đảm bảo tỷ lệ đậu qả cao
Ở giai đọan cây con cần tưới 3 – 5 lần /tuần vớilượng nước từ 20 – 30lít/cây nhất là trong giai đoạn mùa nắng và giai đoạn mới trồng
Giai đọan cây ra hoa kết trái cần tưới đủ nước giúp cây tăng đậu trái và trái mau lớn
2.6.2.7 Tỉa cành, tạo tán
Trong các năm đầu nên tỉa bớt cành, chỉ để lại các cành phân bố cành đều theo các hướng, tạo cho cây có tán tròn đều và khống chế chiều cao không vượt quá 4-4,5m Cắt bỏ cành vượt trong tán, cành sâu bệnh, cành phụ ốm yếu mọc liên tiếp trên cùng một cành chính, cành mọc gần mặt đất
Đối với vườn đã cho thu họach cần chú ý tỉa bỏ bớt các cành mọc đứng bên trong tán, cành rũ, cành yếu, cành mang sâu bệnh để giúp cây thông thóang và kích thích ra chồi mới
Sau mỗi vụ thu họach nên cưa bỏ 1 – 2 cành vươn cao, ít lá, và có biểu hiện sinh trưởng phát triển kém Chúng ta có thể cưa ngắn các cành này chỉ còn lại khỏang 50 – 60
cm tính từ gốc cành., vết cưa nghiêng 450 để tránh đọng nước, dùng sơn phết lên bề mặt cưa Sau thời gian khỏang 30 ngày từ vết cưa có thể cho rất nhiều chồi mới, cần tỉa bỏ chỉ chừa lải 2 – 3 chồi khỏe và phân bố đều các hướng Khi chồi phát triển khoảng 50 cm thì tiến hành bấm đọt hủy đỉnh sinh trưởng để kích thích chồi phân cành trong thời gian này cần chú ý theo dõi các lọai côn trùng phá hoại để có biện pháp xử lý thích hợp
Đối với vườn cây cho trái lâu năm trên 20 tuổi cây quá cao có thể tiến hành đốn trẻ hóa cho cây Kỹ thuật trẻ hóa cần tiến hành trong 2 – 3 năm liên tiếp và từng phần từng năm để có thể vẫn cho thu họach Các cành mới có khả năng cho quả sau 15 –18 tháng
2.6.2.8 Bón phân
Theo Nguyễn Minh Châu và ctv (2003)
- Bón phân thời kỳ kiến thiết cơ bản:
Từ khi trồng đến một năm, hàng tháng tưới phân Urea (hòa trong nước) với liều lượng 20 – 30 g/cây/lần Từ 1 - 3 năm tuổi bón 1 – 2 kg hỗn hợp phân Urea, DAP (18 - 46 - 0) và NPK (16 - 16 - 8) với tỉ lệ 1/1/1, liều lượng tăng dần theo tuổi
cây, chia 4 lần bón trong một năm
- Bón phân cho cây trưởng thành, đã cho trái ổn định :
Trang 18Cây vú sữa từ năm thứ 7 sau khi trồng, bước sang giai đoạn cho trái ổn định,
và cũng là bắt đầu giai đoạn kinh doanh Đề nghị nên bón 4 lần phân vào các giai đoạn: xử lý ra hoa, đậu trái, nuôi trái và trước thu hoạch 1 - 2 tháng Liều lượng phân bón thay đổi, tăng dần theo tuổi cây từ 7 năm đến trên 20 năm
• Lần 1 : Bón vào giai đoạn xử lý ra hoa sớm cho cây với mức phân đề nghị như sau : 5 – 10 kg phân hữu cơ hoai/cây và 3 – 6 kg NPK (20 - 20 - 15 hoặc 16
- 16 - 8), Ure và phân lân theo tỉ lệ 1/1/1
• Lần 2 : bón vào giai đoạn đậu trái lúc trái bằng nút áo với lượng 2 – 4 kg phân/cây gồm Ure và DAP theo tỉ lệ 2/1
• Lần 3 : Bón vào giai đoạn nuôi trái, lúc trái có đường kính khoảng 2 cm, với 2 – 3 kg phân NPK/cây (dạng phân như nói trên)
• Lần 4 : Bón vào giai đoạn trước thu hoạch 1 - 2 tháng với liều lượng 1 –
2 kg phân NPK/cây
Các lần bón phân nói trên cách nhau từ 2,5 - 3 tháng
2.6.2.9 Xử lý ra hoa:
Thông thường nên xử lý ra hoa cho vú sữa khi cây đã trưởng thành, cho trái
ổn định, từ năm thứ 7 trở đi Biện pháp xử lý ra hoa sớm trên cây vú sữa phổ biến là xiết nước và bón phân
Theo Phạm Văn Côn (2003), biện pháp xử lý ra hoa sớm trên cây vú sữa phổ biến là xiết nước và bón phân Trong thời gian chuẩn bị thu hoạch, từ tháng 10 âm lịch, quét sạch lá rụng trên mặt líp để phơi thật khô đất, đồng thời xiết cạn nước trong mương cho đến khi thu hoạch xong, nếu không cạn được thì mực nước trong mương tối thiểu phải cách mặt líp trên 50 cm, tỉa bỏ các trái non còn sót lại và tỉa các loại cành già, cành vô hiệu, cành vượt (cành phướn), cành sâu bệnh Khoảng từ cuối tháng 2 đến 3, bắt đầu làm gốc (xử lý ra hoa) bằng cách bơm nước tràn trên mặt líp,
số lần bơm từ 2 - 3 lần, cách quãng 4 - 5 ngày/lần, yêu cầu đảm bảo mặt líp phải thật
ẩm (hoặc có thể bơm nước ngâm líp trong 1 -2 ngày) Sau đó bón toàn bộ lượng phân đợt 1 hoặc chia lượng phân này thành 2-3 lần bón, cách quảng 5 - 6 ngày/lần bón và tưới nước cho tan phân sau mỗi lần bón Sau khi bón phân có thể tưới định kỳ
1 lần/tuần cho dến khi cây ra hoa Theo kinh nghiệm của nông dân, muốn xử lý ra
Trang 19hoa thành công thì trước khi ra hoa, cây phải không có tược non và lá phải già, hơi bạc màu (khằn) và đất phải thật khô
2.7 Sâu bệnh chính:
2.7.1 Sâu hại:
- Sâu đục trái ( Alophia sp ): thành trùng hoạt động vào ban đêm Trưởng
thành cái đẻ trứng trên trái, đặc biệt là nơi tiếp giáp giữa các trái.Ấu trùng nở ra đục thẳng vào và ăn ở bên trong trái.Khi đủ lớn chúng làm nhộng bên trong trái Phòng trị có thể phun thuốc khi sâu còn nhỏ và đang ở bên ngoài, độ khoảng 2 tuần 1 lần khi thấy có nhiều trái non tấn công Có thể sử dụng thuốc Karate, Fenbis, Secsaigon
- Xén tóc đục cành: gây hại rất phổ biến, trưởng thành đẻ trứng trên đọt non,
ấu trùng nở ra đục thành đường hầm ngay dưới vỏ cây khi lớn chúng đục vào trong thân gỗ của các nhánh cây lớn hay thân chính và làm cho cành gãy khi có gió mạnh Ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây Phòng trị thường xuyên thăm vườn phát hiện phân gỗ của chúng thải ra trên mặt đất Sau đó tìm đường đục của chungstreen cây để bắt ấu trùng bên trong Để phòng ngừa, nên tránh gây thương tích trên thân và nhánh cây, dọn trống các cành chính để tránh bị thành trùng đẻ trứng ( Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng, 1997)
- Rầy bướm ( Lawana conspersa ) Trứng được đẻ trên cành non hay giữa
những gân chính của lá non Nhộng được hình thành trên đỉnh chồi non, lá non hay hoa Chúng thường tấn công trên trái, lá cành non và thường tạo ra một lớp mật tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển
- Rệp sáp: trưởng thành của rệp sáp không di chuyển, bên ngoài cơ thể có một lớp sáp trắng bao bọc Chúng gây hại từ khi trái còn non, trong quá trình gây hại rệp sáp tiết ra mật tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển Phòng trị có thể phun nước vào trái để rửa trôi rệp sáp Tránh trồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như mãng cầu Phun thuốc khi mật độ rệp cao bằng các loại thuốc như Supracide, Fenbis 25 EC, Pyrinex ( Nguyễn Minh Châu và ctv, 2003)
2.7.2 Bệnh hại:
- Bệnh thối trái ( do nấm Colletotrichum sp.) bệnh nhiễm từ lúc trái còn non
đến thu hoạch, bệnh nặng là thịt trái chai sượng và thối sau đó trái sẽ rụng Để phòng trị bệnh thối trái vú sữa nên tỉa bỏ nhuwngxtrasi bị bệnh đem tiêu hủy và tránh trồng
Trang 20dày tạo ẩm độ cao làm cho bệnh phát triển nhanh Trên trái non khi bệnh phát triển nhiều có thể phun thuốc phòng trị bằng các loại thuốc như: Antracol, Daconil, Benomyl, Carbenzim 500FL ( Nguyễn Minh Châu và ctv, 2003)
- Bệnh thối trái ( do nấm Lasiodiplodia theobromae) bệnh gây hại ở trái trong
giai đoạn thu hoạch và tồn trữ hay vận chuyển, làm thối phần thịt trái nơi gần cuống, sau đó lan dần làm thối nát cả trái Để ngăn ngừa bệnh thối trái nên nên thu hoạch trái vào những ngày nắng ráo, hạn chế gây thương tích cho trái ( Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng, 1997)
- Bệnh bồ hóng ( do nấm Capnodium sp.)
Nâm bệnh bám thành mảng trên mạt lá, thân, trái ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Bệnh thường phát triển mạnh trong mùa nắng Phòng trị: tạo vườn cây thông thoáng Có thể phun các loại thuốc để diệt rầy như Dimenate 40EC, Bascide 50EC, Supracide kết hợp với thuốc trừ nấm như Carbenzim 500SL, Copper Zinc với liều lượng theo khuyến cáo ( Nguyễn Minh Châu và ctv,2003)
- Bệnh mốc xanh, mốc xám: trên lá bị các đốm mốc màu xanh, xám kích thước 1 – 3mm phát triển dày đặc trên mặt lá Ở những vườn lâu năm thường thấy những đốm bệnh màu trắng loang lỗ Phòng trị: để phòng ngừa hiện tượng này cần tránh trồng dày Phun các loại thuốc gốc đồng hay hỗn hợp thanh phèn – vôi theo tỷ
lệ 1: 1: 100 sẽ hạn chế các đốm bệnh này.( Nguyễn Minh Châu và ctv, 2003)
2.8 Thu hoạch và cách bảo quản
Thời gian từ khi hình thành mầm hoa đến khi đậu trái từ 35 – 40 ngày Thời gian từ đậu trái đến khi thu hoạch từ 180 – 200 ngày tùy theo giống, mùa vụ Tiến hành thu hoạch khi trái đã chín sinh lý trên cây
Do trái có vỏ mỏng, dễ bị tổn thương cơ học, cuống trái dễ bị tách rời khỏi trái Sau thu hoạch có thể bao trái bằng các loại bao giấy Thùng, giỏ chứa trái phải lót đệm bằng giấy hoặc các loại vật liệu xốp, khô Không nên chất quá 4 – 5 lớp trái trong vỏ
2.9 Tổng quan về huyện Châu Thành
2.9.1 Vị trí địa lý
Huyện Châu Thành có một vị trí thuận lợi, là cửa ngõ của Tỉnh đi thành phố
Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây nam bộ theo hướng Quốc lộ 1 Đồng thời đường
Trang 21tỉnh 864 và tuyến sông Tiền nối các tuyến trong Tỉnh với thành phố Mỹ Tho – Trung tâm văn hóa chính trị của Tỉnh
Huyện Châu Thành nằm về phía Tây Tỉnh Tiền Giang, thị trấn Tân Hiệp là trung tâm của huyện cách thành phố Mỹ Tho 13km và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 60km, được xác định như sau:
Tọa độ địa lý;
Kinh độ Đông: Từ 106010’26’’ đến 106023’15’’
Vĩ độ Bắc: Từ 10018’40’’ đến 10031’58’’
Ranh giới:
Đông giáp huyện Chợ Gạo và thành phố Mỹ Tho
Tây giáp huyện Cai Lậy
Nam giáp tỉnh Bến Tre
Bắc giáp huyện Tân Phước và tỉnh Long An
Huyện Châu Thành gồm 25 đơn vị với 24 xã và 1 thị trấn, chia làm 2 khu vực; vùng Nam quốc lộ 1 và vùng Bắc quốc lộ 1
2.9.2 Điều kiện tự nhiên
- Thời tiết và khí hậu
Nằm trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long nên huyện Châu Thành mang những nét đặc trưng của khí hậu đồng bằng châu thổ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có hai mùa mưa nắng rõ rệt
- Nhiệt độ
Do ảnh hưởng của xích đạo nên nhiệt độ khá ổn định không phân hóa theo mùa
rõ rệt Nhiệt độ trung bình trong năm là 270C Biên độ nhiệt trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất từ 30- 50C Giao động nhiệt độ giữa ngày và đêm bình quân 100 Tháng nóng nhất trong năm thường từ tháng 3 – 4, tháng lạnh nhất là tháng giêng
- Lượng mưa:
Mùa mưa thường trùng với gió mùa Tây Nam từ biển Đông thổi vào từ tháng
5 đến thánh 11 DL, mang theo nhiều hơi nước làm cho thời tiết mát mẻ, khí hậu ẩm Lượng mưa trung bình hàng năm 1437,6 mm nhưng phân bố không đều giữa các mùa, mùa mưa tập trung nhiều nhất vào các tháng 7,8,9,10 Mưa thường xảy ra và
Trang 22kết thúc rất nhanh mang đặc tính mưa giông Cuối tháng 7, đầu tháng 8 thường có tiểu hạn gọi là hạn bà chằn kéo dài 10 – 15 ngày
- Ârm độ:
Ẩm độ trung bình trong năm là 79,2%, trong mùa mưa 82,5%, mùa khô là 74,1%, ẩm độ giữa các tháng trong năm chênh lệch không đáng kể phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng
- Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi cao đều quanh năm trung bình 3,3 mm/ngày, tổng lượng bốc hơi cả năm 1183 mm Trong tháng mưa, lượng mưa lớn hơn lượng bốc hơi khoảng 2 – 3 lần, tháng nắng lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi từ 30 – 60 lần
- Gió: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa hàng năm thường xuất hiện hai mùa gió chính:
Gió mùa Tây Nam: Từ biển thổi vào lục địa theo hướng Tây Nam, từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch, gió mùa này mang nhiều hơi nước làm cho thời tiết mát mẻ, khí hậu ẩm, hình thành mây góp phần tạo thành những trận mưa lớn
Gió mùa Đông Bắc: Từ lục địa thổi ra biển theo hướng ngược lại từ tháng 11 đến tháng 4 dương lịch có đặc tính khô, mát lạnh, độ ẩm giảm, khí hậu khô
- Bức xạ và chiếu sáng: Nguồn năng lượng bức xạ dồi dào, bình quân 10 Kcal/cm2 và trên 2400 giờ nắng trong năm Số giờ nắng bình quân 6,3 giờ/ngày, mùa khô trung bình là 7 giờ/ngày
Nhìn chung khí hậu, thời tiết của vùng mang các đặc điểm của nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt cao, biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ, khí hậu phân hóa thành hai mùa rõ rệt thích hợp cho cây vú sữa sinh trưởng và phát triển tốt Tuy nhiên cây vú sữa có tán rộng, cành giòn dễ bị gãy đổ khi có gió lớn, vì vậy cần chú ý trồng cây chắn gió, đặc biệt là vùng ven các con sông lớn như sông Rạch Gầm và sông Tiền
- Thủy văn:
Huyện Châu Thành có nguồn nước ngọt phong phú từ sông Tiền và sông Vàm
Cỏ Tây, tình hình thủy lợi khá phức tạp Tuy nhiên có thể dựa vào tính chất nước, mật độ sông rạch kênh mương nội đồng có thể phân lập thành 2 hệ thống khác nhau:
Trang 23+ Hệ thống sông Tiền: Phân bố về phía Nam của huyện có mật độ sông rạch cao, hệ thống kenh mương nội đồng tốt, hướng nước ngọt quanh năm và mang lại phù sa bồi đắp từ sông Tiền đưa vào thông qua các sông rạch chính như: sông Phú Phong, sông Rạch Gầm, rạch Bến Chùa và kênh Nguyễn Tất Thành với đặc điểm như vậy nên vùng này có nhiều thuận lợi trong việc tưới tiêu, phục vụ tốt sản xuất đặc biệt là vùng chuyên canh cây ăn quả
+ Hệ thống sông Vàm Cỏ Tây: Phân bố về phía Đông Bắc của huyện, mật độ sông rạch không cao và đều trên toàn vùng gồm các kênh rạch chính như: Rạch Cốc, Kênh Chợ Bưng nằm trong khu vực ảnh hưởng của sông Vàm Cỏ Tây nên tình hình thủy lợi khá phức tạp, đực điểm yinhs chất nước luôn thay đổi theo từng thời kỳ
Nhìn chung chế đọ thủy văn trong vùng chịu ảnh hưởng bán nhật triều không đều, biên độ triều bình quân 2,5 m thuận lợi cho việc tưới tiêu Biên độ dao động mực nước giữa các ngày, các tháng không lớn lắm
Địa bàn chịu ảnh hưởng lũ lụt tương đối nặng ở phía Tây Bắc và nhẹ ở phía Nam Quốc lộ 1, ra đến gần sông Tiền đất chỉ ngập nhẹ theo con triều, chất lượng nước khá tốt nhiều khả năng tưới tiêu, cho phép phát triển nông nghiệp đa dạng
- Địa hình:
Địa hình có khuynh hướng thấp dần về phía Bắc và phía Tây Bắc Trong đó nổi lên địa hình cao gò trên dãy đất giồng có dạng dãy kéo dài theo hình cách cung chạy suốt từ Tây Nam đến Đông Bắc Huyện có 3 dạng địa hình chính, đó là địa hình cao, địa hình trung bình và địa hình thấp
+ Địa hình cao: có cao trình phổ biến từ + 1,2 đến + 2 m, tập trung ở các xã phía Đông Bắc của Huyện như: Tân Lý Tây, Tân Lý Đông, Tân Hương, thị trấn Tân Hiệp và các xã phân bố ở khu vực ven sông Tiền: Bình Đức, Song Thuận, Kim Sơn, Phú Phong và cù lao Thới Sơn
+ Địa hình trung bình: tập trung hầu hết đất đai ở toàn huyện với địa hình khá bằng phẳng, cao trình từ + 0,8 m đến + 1,2 m Tuy nhiên ở khu vực Đồng Tâm thì địa hình hơi cao hơn +1,5 m và hơi thấp dạng lòng chảo nằm trong địa phận của xã Bàn Long và một phần của các xã như; Hữu Đạo, Bình Trưng, Kim Sơn, Vĩnh Kim, Phú Phong
Trang 24+ Địa hình thấp: Phân bố ở các xã phía Bắc Quốc lộ 1 bao gồm các xã Điềm
Hy, một phần Nhị Bình, Long Định, Tam Hiệp có độ cao từ +0,5 m đến +0,8 m Ngoài
ra còn có vùng trũng thuộc phạm vi xã Điềm Hy có cao trình +0,2 m đến +0,3 m
2.9.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Tuy có vị trí kinh tế thuận lợi, tiếp giáp với tỉnh Long An đang công nghiệp hóa
và TP Mỹ Tho năng động, nhưng do cơ sở hạ tầng chưa phát triển đầy đủ, nên mức đọ giao lưu đối ngoại chưa cao và việc huy động nguồn lực từ bên ngoài còn hạn chế Nền kinh tế trong các năm từ đây phát triển tuy khá nhưng chưa phát huy hết tiềm năng
GDP theo giá hiện hành tăng từ 779 tỷ đồng năm 1995 lên đến 1.378 tỷ đồng năm 2000 và 2.478 tỷ đồng năm 2005, tương đương với giá so sánh 1994 tăng tới 676 tỷ đồng năm 1995 lên đến 933 tỷ đồng năm 2000 và 1.448 tỷ đồng năm 2005, bình quân tăng 6,6 %/năm trong giai đoạn 1996-2000 và 9,2 %/năm trong giai đoạn 2001-2005, chủ yếu là do ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ thương mại phát triển nhanh
Trong động thái phát triển, nền kinh tế tăng chậm trong những năm 1998 -
1999 do do ảnh hưởng phát triển chậm của ngành xây dựng, năm 2004 do tình hình dịch bệnh gia cầm, nhưng tăng khá và đều đặn trong suốt thời kì 1996-2005, chủ yếu
là nhờ kinh tế công nghiệp và thương mại dịch vụ phát triển nhanh
Cơ cấu kinh tế của huyện có những chuyển dịch quan trọng, năm 1995 từ 63,0
% khu vực I, 10,2% khu vực II vào 26,8 % khu vực III đến 2005 cơ cấu là: 43,5% - 39,9% và 16,6%, và đã phát triển theo hướng nông công nghiệp và dịch vụ thương mại, trong đó công nghiệp chiếm vai trò mũi đột phá trong nền kinh tế
2.9.4 Dân số và lao động
- Dân số: dân số huyện Châu Thành là 245.463 người gồm 5.430 người dân thành thị còn lại là dân nông thôn Tốc độ gia tăng dân số là 1,25%, cơ cấu dân số thành thị chiếm 2,21%, nông thôn chiếm 97,79% Qua đó cho thấy khuynh hướng
đô thị hóa còn thấp Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,25%/năm, đến năm 2010 ước tính dân số của huyện khoảng 273.792 người, áp lực dân số đối với đời sống kinh
tế xã hội là rất lớn Do đó để đạt các mục tiêu đề ra cần ưu tiên phát triển công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, ngân hàng, gia tăng tốc độ đô thị hóa nông thôn
Trang 25để tạo tiền đề phát triển kinh tế, giảm sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị
Bên cạnh đó cần chỉnh trang lại thị trấn, quy hoạch xây dựng các điểm thị tứ nâng
dần tỷ lệ dân số thành thị, hiện tại hệ số sử dụng đất khá cao, diện tích phục vụ
cho nông nghiệp không còn nhiều, cho thấy việc thu hút lao động ở khu vực này
dần dần bị hạn chế Vì vậy việc phát triển nhanh các khu vực kinh tế phi nông
nghiệp là một yêu cầu cần thiết và phù hợp với yêu cầu hiện nay
- Lao động: Tổng số người trong độ tuổi lao động của huyện năm 2007 là
146.915 người chiếm 60% dân số toàn huyện, số người có khả năng lao động
144.815 người chiếm 99% tổng số lao động toàn huyện, lượng lao động trong các
ngành kinh tế là 122.471 người chiếm 83% tổng số lao động
+ Lao động khu vực I (NLN): 94130 người chiếm 65% tổng số lao động
+ Lao động khu vực II ( CN-XD): 13541 người chiếm 9,359% tổng số lao động
+ Lao động khu vực III (TM- DV): 14800 người chiếm 10,22% tổng số lao động
Phần còn lại là lao động các dạng khác như: thất nghiệp, nội trợ, đi
học…chiếm 15% tổng số lao động
Việc phân bố sử dụng nguồn lao động trong các khu vực không đều, tỷ lệ lao
dộng trong các khu vực không đều, tỷ lệ lao động trong khu vực I còn cao so với khu
vực II và III Qua đó hoạt động sản xuất trên địa bàn huyện còn nặng về nông nghiệp
2.9.5 Đất đai
Bảng 2.1.Hiện trạng sử dụng đất của Huyện năm 2007
Nguồn: Phòng thống kê nông nghiệp huyện Châu Thành
Trang 26Huyện Châu Thành có tổng diện tich tự nhiên 25.574,80 ha Bình quân diện tích tự nhiên trên nhân khẩu 1.0042 m2/người Huyện có 1 thị trấn và 24 xã, quy mô các xã không đồng đều , lớn nhất là xã Tam Hiệp: 2.121,41 ha, nhỏ nhất là xã Dưỡng Điềm với diện tích là 341,57 ha, thị trấn Châu Thành có quy mô diện tích là 71,92
ha Hiện trạng sử dụng đất của huyện năm 2007 như sau:
- Đất chuyên dùng
Đất xây dựng: 235,89ha, chiếm 11,27% đất chuyên dùng
Đất giao thông: 389,30 ha, chiếm 18,60% đất chuyên dùng
Đất thủy lợi và mặt nước chuyên dùng: 969,36 ha, chiếm 46,30% đất chuyên dùng Đất di tích lịch sử: 1,44 ha
Đất an ninh quốc phòng: 378,43 ha, chiếm 18,08% đất chuyên dùng
Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 111,70 ha, chiếm 5,34% đất chuyên dùng
Đất chuyên dùng khác: 7,82 ha
- Đất ở: bình quân 59,14m2/người Đất ở địa phương không cao
Đất ở đô thị; 71,93 ha trong đó đất ở của thị trấn 21,55 ha, chiếm 1,49% đất ở Đất ở nông thôn: 1429,91 ha chiếm 98,81% tổng diện tích đất ở
- Đất chưa sử dụng và sông rạch:
Nhìn chung đất chưa sử dụng của huyện Châu Thành còn ít, do khả năng khai thác và sử dụng quỹ đất của huyện ngày càng triệt để
2.10 Hiện trạng sản xuất vú sữa của huyện
2.10.1 Thực trạng phát triển vú sữa từ năm 1995 đến 2006:
Diện tích năm 1995 là 732 ha, tăng lên 997 ha năm 2000 và đạt 1.896 vào
Trang 27Trưng, Bàn Long, Vĩnh Kim, Kim Sơn, Phú Phong, Long Hưng, Song Thuận, các xã
khác chiếm diện tích không đáng kể
Sản lượng năm 1995 là 16.816 tấn, tăng lên 27.586 tấn năm 2000 và đạt
36.745 vào năm 2006, tốc độ tăng bình quân 8,1%/năm
Bảng 2.2 Diễn biến diện tích, sản lượng vú sữa qua các năm (*)
(ha)
Sản lượng ( tấn)
(*)Nguồn phòng thống kê Nông nghiệp huyện Châu Thành
2.10.2 Vị trí kinh tế cây vú sữa
Theo số liệu thống kê của huyện Châu Thành năm 2006
- Cây vú sữa có diện tích 1.896,4 ha chiếm 16,36 % diện tích cây ăn quả
- Sản lượng 36.744 tấn chiếm 28,55 % sản lượng cây ăn quả
Gía trị sản lượng 220,466 tỷ đồng ( chiếm 42,28% so với GTSL cây ăn quả,
chiếm 22,98%, so với ngành trồng trọt, chiếm 17,10% so với GTSL nông nghiệp)
Trang 28Bảng 2.3 Tỷ trọng giá trị sản lượng (GTSL), diện tích (DT), sản lượng (SL) vú sữa đối với
nông nghiệp, trồng trọt và cây ăn quả của huyện Châu Thành
I Gía trị sản lượng (GTSL)
- Gía trị sản lượng nông nghiệp Triệu đồng 1.288.922,60
Tỷ trọng GTSL cây vú sữa/GTSL nông nghiệp % 17,10
- Gía trị sản lượng ngành trồng trọt Triệu đồng 959.396,00
Tỷ trọng GTSL cây vú sữa/giá trị sản lượng trồng
trọt
%
22,98
- Gía trị sản lượng cây ăn quả Triệu đồng 521.477,00
Tỷ trọng GTSL cây vú sữa/ giá trị cây ăn quả % 42,28
- Gía trị sản lượng cây vú sữa Triệu đồng 220.466,20
II Diện tích (DT), sản lượng (SL)
- Trong đó: diện tích cât vú sữa Ha 1.896,40
Phòng thống kê nông nghiệp huyện Châu Thành, 2006
Trang 292.10.3 Dự kiến vùng vú sữa tập trung năm 2010, 2015
Bảng 2.4 Dự kiến vùng trồng vú sữa tập trung năm 2010, 2015
Theo TS.Nguyễn Hồng Thủy, trung tâm kỹ thuật và sinh học Tiền Giang
Qua bảng trên cho thấy diện tích vú sữa toàn vùng dự án là 2033,42ha (2006), dự kiến đến năm 2010 diên tích đạt 2900ha trong đó 13 xã thuộc huyện Châu Thành chiếm 83%, và 4 xã thuộc huyện Cai Lậy chiếm 17% Đến năm 2015 diện tích toàn vùng
5000ha trong đó 13 xã thuộc huyện Châu Thành 79,8% và 4 xã Cai Lậy chiếm 20,2%
Diện tích(ha)
Cơ cấu diện tích đất (%)
Diện tích tăng
2010
So 2006
Diện tích tăng
2015
so 2006 Toàn vùng 2033,42 2900.00 100,00 5000,00 100,00 966,59 2966,59
Trang 30Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Phương tiện điều tra:
- Thước đo, sổ sách
- Bảng câu hỏi phỏng vấn in sẵn
- Phương tiện đi lại
- Máy chụp hình
3.2 Điều kiện nghiên cứu:
3.2.1 Điều kiện khí hậu thời tiết
Một số yếu tố khí hậu tại vùng điều tra từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009:
Bảng 3.1 Một số yếu tố khí hậu tại vùng điều tra
Phân viện khí tượng thủy văn và môi trường phía nam
Trang 313.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
Huyện Châu Thành có vị trí kinh tế rất thuận lợi, tiếp giáp với tỉnh Long An đang công nghiệp hóa và TP Mỹ Tho năng động UBND huyện Châu Thành vừa tổ chức Hội thảo triển khai Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện đến năm 2020 Châu Thành sẽ được đầu tư thành một huyện công nghiệp, đầu mối thương mại dịch vụ của khu vực Bắc Mỹ Tho; huyện tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh Khu công nghiệp Tân Hương, Cụm công nghiệp Tam Hiệp, Long Hưng, tuyến công nghiệp ven sông Tiền thuộc khu vực Song Thuận - Kim Sơn; khẩn trương xây dựng khu đô thị mới Long Định với chức năng tương lai là Trung tâm của huyện, Khu công nghiệp Bắc Tân Hương, Tây Chợ Bưng, khu chợ đầu mối kinh tế vườn tại Chợ Giữa Vĩnh Kim, chợ rau thị trấn Tân Hiệp
3.3 Phương pháp điều tra:
3.3.1 Kiểu điều tra:
- Điều tra theo phiếu phỏng vấn
- Thu thập thông tin từ địa phương và quan sát thực tế vườn điều tra
3.3.2 Qui mô điều tra:
Điều tra 30 hộ ngẫu nhiên
3.3.3 Các bước điều tra:
3.3.3.1 Điều tra tổng quát:
Tiếp xúc với cán bộ phụ trách nông nghiệp huyện để lấy thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, khí tượng thủy văn, số liệu thống kê về diện tích, sản lượng trên địa bàn huyện
Liên hệ với ủy ban nhân dân các xã (Vĩnh Kim, Bàn Long, Phú Phong ) để nắm được qui mô sản xuất vú sữa tại địa bàn các xã
Thu thập thông tin về tình hình tiêu thụ, giá cả ở các chợ, hợp tác xã, các thương lái…
Trang 323.3.3.2 Khảo sát các đặc điểm về giống:
- Đặc điểm của cây: chiều cao cây, đường kính tán, đường kính thân Do giống vú sữa Tím được trồng với số lượng cây ít và tuổi cây còn nhỏ nên để thuận tiện cho việc so sánh giữa 2 giống, mỗi giống đo 5 cây và đo ở giai đoạn cây 5 tuổi
Chiều cao cây: Đo từ gốc sát đất đến đỉnh ngọn, bằng sào tre và thước
Đương kính thân: Đo cách mặt đất 50 cm, bằng thước dây
Đường kính tán: Đo trên mặt đất từ bên này qua bên kia của mép tán cây,
đo bằng sào tre
- Đặc điểm lá: chiều rộng lá, chiều dài lá, mỗi giống đo 20 lá
Chiều dài lá L ( cm): đo từ đáy phiến lá đến ngọn lá
Chiều rộng lá R ( cm): đo tại vị trí rộng nhất của bản lá
- Đặc điểm quả: mỗi giống đo 20 quả
Màu vỏ và thịt quả khi chín
Độ ngọt, độ Brix của quả: nếm thử và dùng máy đo độ Brix
Trọng lượng các phần của quả: trọng lượng quả, trọng lượng hạt, trọng lượng vỏ: dùng cân để cân
Độ dày vỏ (mm): đo chiều rộng lớp vỏ khi cắt ngang quả
Tỷ lệ phần ăn được (%)
- Đặc điểm hạt: quan sát đặc điểm hạt, cân trọng lượng hạt Mỗi giống đo 20 hạt Chiều dài hạt ( cm ): đo từ đầu hạt đến đích hạt
Chiều rộng hạt ( cm): đo tại vị trí rộng nhất của mặt phẳng cắt ngang của hạt
Độ dày hạt ( mm ): đo tại vị trí rộng nhất vuông góc với chiều rộng hạt
3.3.3.3 Điều tra về kỹ thuật canh tác:
- Kỹ thuật thiết kế vườn: quan sát, phỏng vấn cách lên lip, kích thước mương
Trang 33+ Nhẹ: sâu (bệnh) xuất hiện dưới 20 cây trong tổng số cây điều tra
- Thu hoạch: thời gian thu, cách thu
- Cách bảo quản
- Năng suất thu được qua các năm
3.3.4 Tính hiệu quả kinh tế và phân tích SWOT:
Đánh giá hiệu quả kinh tế trên 1 ha trồng vú sữa, từ số liệu thu thập được để tính hiệu quả kinh tế bao gồm: Cây giống, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh hại, nhiên liệu tưới, công lao động, năng suất thu hoạch, giá cả thị trường
Phân tích SWOT: nhận xét được điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội của vùng điều tra để từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục điểm yếu và phát huy thế mạnh của vùng
3.3.5 Xử lý số liệu:
Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu đo đạc về đặc điểm giống được xử
lý thống kê theo phần mềm Excel/ Tools/ Data Analysis/Descriptive statistics
Để tính hiệu quả kinh tế dựa vào Excel, hàm financial để tính IRR và NPV thì: Hàm IRR = Internal return rate (tỉ suất thu lợi nội tại hay kết quả đầu tư nội tại) Kết quả đầu tư nội tại của một khoản đầu tư là tỉ lệ làm cho giá trị hiện tại thực bằng không Nói cách khác IRR là tỉ lệ làm cho giá trị hiện tại của số tiền thu
về của khoản đầu tư bằng giá trị đầu tư IRR phải lớn hơn lãi suất vay mới khích
lệ nhà đầu tư Lãi suất rào cản là 10,5 %
Hàm NPV = Net present value ( giá trị thưc hiện tại): Trị giá thực hiện tại
là một phương thức quen thuộc khác để xác định lãi của một khoản đầu tư Nhìn chung, bất cứ đầu tư nào sinh lợi một giá trị hiện tại lớn hơn không đều coi là có lãi
Trang 34Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều tra nông hộ:
4.1.1 Diện tích vườn
Qua điều tra 30 hộ nông dân ở 3 xã Vĩnh Kim, Phú Phong, Bàn Long Với tổng diện tích là 65.300 m2, trong đó vườn có diện tích nhỏ nhất là 500 m2 và lớn nhất là 6000 m2
Bảng 4.1 Phân bố diện tích vườn
Từ bảng trên cho thấy, số hộ có diện tích trồng vú sữa chiếm tỷ lệ cao nhất từ
1500 – 3000 m2 với 19 hộ chiếm 63%, diện tích từ 500 – 1500 m2 chiếm 17% có 5 hộ trồng, và diện tích 3000 – 5000 m2 có 5 hộ trồng chiếm 17%, thấp nhất là trên 5000
m2 chỉ chiếm 3% Qua bảng cho thấy diện tích trồng vú sữa Lò Rèn tại Châu Thành -
Tiền Giang được trồng với qui mô diện tích nhỏ, bà con nông dân ít chú trọng đến việc đầu tư mở rộng diện tích
Trang 354.1.2 Phân bố tuổi vườn vú sữa
Bảng 4.2 Phân bố tuổi cây và diện tích vườn
Tuổi cây từ 6 – 10 năm tuổi với tổng số cây là 357 cây chiếm tỷ lệ 37% số hộ
điều tra và chiếm 39% trong tổng số cây điều tra, vườn từ 11 – 15 năm tuổi chiếm
7% với số cây là 51 cây chiếm 6% tổng số cây, vườn trên 15 tuổi có 249 cây chiếm
30% số hộ điều tra và chiếm 27% tổng số cây, tỷ lệ vườn trồng mới ( 1 – 5 tuổi )
chiếm 26% số hộ điều tra với tống số cây 254 cây cho thấy vú sữa đang được chú
trọng mở rộng diện tích do những năm gần đây giá cả vú sữa có phần ổn định hơn,
chi phí đầu tư thấp và ít tốn công chăm sóc Những cây trên 15 năm tuổi chủ yếu tập
trung ở xã Vĩnh Kim, vì đây là vùng trồng vú sữa từ rất sớm
4.1.3 Phân bố số cây và diện tích của mỗi giống
Bảng 4.3 Phân bố giống theo diện tích và số cây
Tổng diện tích điều tra là 65300 m2, trong đó giống vú sữa Lò Rèn được trồng
nhiều nhất (64060 m2) chiếm tỷ lệ 98% diện tích, vú sữa tím có 1240 m2 chỉ chiếm
2% diện tích Nhìn chung diện tích vú sữa Tím chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng diện
tích điều tra và so với diện tích vú sữa Lò rèn Tổng số cây điều tra là 911 cây, vú
Tuổi cây
Tỷ lệ (%) Số cây Tỷ lệ (%)
Trang 36sữa Tím chỉ chiếm 2% (19 cây), trong khi đó vú sữa Lò Rèn chiếm đến 98% số cây
Do vú sữa tím ít được ưa chuộng và ít phổ biến hơn vú sữa Lò Rèn nên nông dân ít
chú trọng đến việc trồng một giống vú sữa tím
tác dạng chuyên canh chiếm tỷ lệ 50% vì đây là những vườn lớn tuổi cây giao tán nên
không thể trồng xen Đối với những mô hình canh tác xen canh chiếm tỷ lệ 47% do cây
còn nhỏ chưa giao tán nên thường trồng xen với các lọai cây khác như: cam, bưởi,
khóm, dừa, mận để tăng thu nhập Mô hình trồng tạp chỉ chiếm 3% số hộ điều tra
4.2 Khảo sát về giống:
4.2.1 Các đặc điểm của cây
Bảng 4.5 Các đặc điểm về thân ở cây 5 tuổi
Giống Đặc điểm
Vú sữa Lò Rèn Vú sữa Tím t - Test
Đường kính thân (cm) 15,1 ± 0,8 14,5 ± 0,7 ns
Chú thích: ± khoảng tin cậy (α = 95%, n = 5)
ns: sự khác biệt không có ý nghĩa
*: sự khác biệt có ý nghĩa
Trang 37Qua bảng 4.5 cho thấy chiều cao cây (6,8 m), đường kính thân(15,1 cm) và đường kính tán (6,2m) của giống vú sữa Lò Rèn đều cao hơn so với chiều cao cây (6,4 m), đường kính thân (14,5 cm) và đường kính tán (5,9m) của giống vú sữa Tím Sự khác biệt về chiều cao cây và đường kính thân giữa hai giống không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên đường kính tán giữa hai giống khác nhau có ý nghĩa
Vú sữa Lò Rèn Vú sữa Tím t -Test Chiều dài lá (cm) 13,1 ± 0,4 12,1 ± 0,6 **
Chiều rộng lá (cm) 6,7 ± 0,2 6,7 ± 0,3 ns
Chú thích: ± khoảng tin cậy (α = 95%, n = 20)
ns: sự khác biệt không có ý nghĩa
**: sự khác biệt rất có ý nghĩa
Trang 38Lá vú sữa Tím Lá vú sữa Lò Rèn
Hình 4.2 Đặc điểm của lá vú sữa Tím và lá vú sữa Lò Rèn
Lá vú sữa thường có màu xanh bóng ở mặt trên, mặt dưới lá có màu nâu vàng
và có một lớp lông tơ Đối với giống Vú sữa Lò Rèn có chiều dài lá ( 13,1cm) cao hơn so với chiều dài lá ( 12,11cm) của giống vú sữa Tím, sự khác biệt này rất có ý nghĩa thống kê Số cặp gân lá (20) của giống vú sữa Lò Rèn cao hơn so với số cặp gân lá (17) của giống vú sữa Tím, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa Tuy nhiên chiều rộng lá của hai giống bằng nhau nên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Lá vú sữa Tím thường cứng và có màu xanh đậm hơn so với giống vú sữa
Lò Rèn
Trang 394.2.3 Các đặc điểm về quả
Bảng 4.7 Trọng lượng các phần của quả
Chú thích: ± khoảng tin cậy (α = 95%, n = 20)
ns: sự khác biệt không có ý nghĩa
*: sự khác biệt có ý nghĩa
Qua bảng 4.7 cho thấy, trọng lượng TB quả ( 369,6g), trọng lượng TB vỏ (187,7g) của giống vú sữa Tím cao hơn so với trọng lượng TB quả (258,2g), trọng lượng TB vỏ (102,5g) của giống Vú sữa Lò Rèn, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Mặc khác trọng lượng TB hạt ( 3,5 g) và trọng lượng phần ăn được ( 178,4 g) của giống
vú sữa Tím đều cao hơn so với trọng lượng TB hạt ( 2,8 g) và trọng lượng phần ăn được (152,9 g) của giống vú sữa Lò Rèn nhưng sự khác biệt này có ý nghĩa
Tuy nhiên phần ăn được của Vú sữa Lò Rèn chiếm 59,23% trọng lượng quả cao hơn so với giống Vú sữa Tím ( chiếm 48,25 % so với trọng lượng toàn quả)
Các đặc điểm khác như đường kính TB, chiều cao TB, độ dày TB của quả của
Vú sữa Tím đều cao hơn so với Vú sữa Lò Rèn
Qua bảng 4.8 cho thấy các đặc tính như chiều cao TB, đường kính TB của quả cho thấy giống vú sữa Tím có quả to hơn so với giống vú sữa Lò Rèn Giống vú sữa Tím có chiều cao TB quả ( 7,9 cm), đường kính TB quả ( 9,2 cm), độ dày TB vỏ
(9,5 mm) và độ dày hạt ( 8,1 mm) đều cao hơn so với chiều cao TB quả ( 7,0 cm), đường kính TB quả ( 6,7 cm), độ dày TB vỏ ( 7,1 mm) và độ dày hạt ( 6,2 mm) của giống vú sữa Lò Rèn tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa
Giống Đặc tính
Vú sữa Lò Rèn Vú sữa Tím t - Test
Trang 40Đối với vú sữa Tím có chiều dài hạt ( 2,3 cm) cao hơn so với chiều dài hạt (2,1 cm) của giống vú sữa Lò Rèn và sự khác biệt này rất có ý nghĩa Tuy nhiên chiều rộng của hạt giống vú sữa Tím ( 1,2 cm) thấp hơn so với chiều rộng hạt ( 1,3 cm) của giống Vú sữa Lò Rèn, sự khác biệt này cũng có ý nghĩa về mặt thống kê
Bảng 4.8 Các đặc tính bên ngoài và bên trong của quả
Giống Đặc tính
Vú sữa Lò Rèn Vú sữa Tím t - Test
Chiều cao trung bình (TB)
Đường kính TB quả (cm) 6,7 ± 0,2 9,2 ± 0,2 ns
Độ dày TB vỏ (mm)
7,1 ± 0,4 9, 5 ± 0,6 ns Chiều dài TB hạt (cm) 2,1 ± 0,1 2,3 ± 0,1 ** Chiều rộng TB hạt (cm) 1,3 ± 0,1 1,2 ± 0,1 *
Màu thịt quả trắng đục trắng hơi trong
Chú thích: ± khoảng tin cậy (α = 95%, n = 20)
ns: sự khác biệt không có ý nghĩa
*: sự khác biệt có ý nghĩa
**: sự khác biệt rất có ý nghĩa
Vú sữa Lò Rèn Vú sữa Tím