1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương (Khóa luận tốt nghiệp)

59 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

ĐOÀN CÔNG TUYỂN

Tên đề tài:

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI BÙI HUY HẠNH XÃ TÁI SƠN, HUYỆN TỨ KỲ,

TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2013 - 2017

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

ĐOÀN CÔNG TUYỂN

Tên đề tài:

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI BÙI HUY HẠNH XÃ TÁI SƠN, HUYỆN TỨ KỲ,

TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm

- Đại học Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được những kiến thức cơ bản ngành học của mình Qua 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trang trại Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn huyện Tứ Kì tỉnh Hải Dương, đã giúp em ngày càng hiểu rõ kiến thức chuyên môn, lĩnh hội thêm được nhiều kinh nghiệm quý báu, cũng như đức tính cần có của một người làm cán bộ khoa học kỹ thuật và đã hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp Để

có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Tính người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này

Cũng qua đây cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc, toàn thể cán bộ và công nhân trong trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kì, tỉnh Hải Dương, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Đoàn Công Tuyển

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Cơ cấu sản xuất của trại lợn Bùi Huy Hạnh (2015 - 2017) 6

Bảng 2.2: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 18

Bảng 4.1: Cơ cấu đàn lợn nái của trại lợn Bùi Huy Hạnh (2015 - 2017) 30

Bảng 4.2:Bảng tiêu chuẩn thức ăn chuồng đẻ (kg) 32

Bảng 4.3: Lịch sát trùng trại lợn nái 34

Bảng 4.4: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 35

Bảng 4.5: Kết quả công tác phòng bệnh bằng vắc xin 36

Bảng 4.6: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung cho lợn nái tại trại 38

Bảng 4.7: Kết quả công tác điều trị bệnh 40

Bảng 4.8: Kết quả một số công tác khác 44

Trang 5

PRRS: Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội

chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn TT: Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Tình hình sản xuất của trang trại 5

2.1.3 Đối tượng và kết quả sản xuất cơ sở thực tập 6

2.1.4 Đánh giá chung 7

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 8

2.2.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái 8

2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 11

2.2.3 Một số hiểu biết về bệnh viêm tử cung 15

2.2.4 Một số thông tin về các loại thuốc được sử dụng trong đề tài 22

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 24

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

Trang 7

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu nghiên cứu 28

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 28

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 29

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin 29

3.4.1.1 Điều tra gián tiếp 29

3.4.1.2 Điều tra trực tiếp 29

3.4.2 Phương pháp điều trị 29

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh 30

4.1.1 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y 30

4.1.1.2 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 31

4.1.2 Công tác phòng bệnh 34

4.2 Chẩn đoán và điều trị bệnh 36

4.2.1 Công tác chẩn đoán 36

4.2.2 Công tác điều tri ̣ bê ̣nh 37

4.3 Công tác khác 41

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG ĐỀ TÀI

Trang 8

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam nói chung đã có những bước phát triển vượt bậc Trong đó ngành chăn nuôi nước ta đã và đang ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng Nhiều giống vật nuôi được lai tạo, du nhập vào nước ta đã đem lại nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi Chăn nuôi thực sự đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp như: chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, công nghiệp da thuộc Chăn nuôi lợn là một trong những mũi nhọn của ngành chăn nuôi nước

ta, đem lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao phục vụ cho nhu cầu con người, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho sản xuất nông nghiệp

Trong chăn nuôi lợn thì lợn nái có vai trò quan trọng làm tăng số lượng cũng như chất lượng đàn lợn Tuy nhiên, những năm gần đây, cùng với những thiệt hại do các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây ra cho đàn lợn như: dịch tả,

tụ huyết trùng, lở mồm long móng, tai xanh, đóng dấu lợn…, bệnh về sinh sản cũng không ngừng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất sinh sản của lợn nái Theo các nhà chăn nuôi, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái ở nước ta là bệnh viêm đường sinh dục Nếu không điều trị kịp thời, có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh…, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả ngành chăn nuôi nói chung

Để hiểu rõ hơn về bệnh, đồng thời giúp người chăn nuôi tìm ra hướng phòng

và trị bệnh hiệu quả, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh viêm đường sinh

dục gây ra ở lợn nái sinh sản, chúng tôi tiến hành đề tài: “Áp dụng quy trình

Trang 9

chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương"

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

- Nắm được tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái nuôi tại trại

- Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Áp dụng được quy trình phòng và trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

- Đánh giá được thực trạng viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh nằm độc lập giữa một vùng bát ngát màu xanh của cánh đồng lúa, được thành lập và đi vào sản xuất năm 2007 địa điểm xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương

- Quy mô, cơ sở vật chất :

Trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó xây dựng 1ha khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và 2ha trồng cây xanh và ao hồ Khu chăn nuôi của trại chuyên nuôi lợn sinh sản do công ty CP cung cấp hai giống lợn Landrace - Yorkshire và Pietrain - Duroc

Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái, bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4

m x 1,6 m/ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0,65 m/ô), 3 chuồng cách ly, một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa, 2 quạt đối với chuồng cách ly Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trang 11

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng nái chửa 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Hệ thống điện: nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con, mỗi chuồng đẻ được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra

Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 3 phòng: phòng sát trùng nam, phòng sát trùng nữ và phòng sát trùng kỹ sư Mỗi phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm, chậu rửa, gương soi, móc quần áo, khăn, xà bông, dầu gội Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi

Kho chứa thức ăn: trần đóng kín, có sàn cách mặt đất 30 cm để chứa thức ăn trong chăn nuôi

Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi

Các công trình phụ trợ khác: khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột, bể tôi vôi nước

Trang 12

Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi

2.1.2 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến

bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45

- 2,47 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,68 con/đàn, số con cai sữa: 11 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty

Trong trại có 22 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái

và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn Pietrain và Duroc Lợn nái được phối 2 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác vệ sinh

Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ

sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tại nhà sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

Trang 13

* Công tác phòng bệnh

Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm

“phòng bệnh là chính” nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

* Công tác trị bệnh

Cán bộ kỹ thuật của trang trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại

lớn về số lượng đàn gia súc

2.1.3 Đối tượng và kết quả sản xuất cơ sở thực tập

Bảng 2.1 Cơ cấu sản xuất của trại lợn Bùi Huy Hạnh (2015 - 2017)

Loại lợn

Số lượng lợn qua các năm (con)

Số lợn con cai sữa/ nái/

Trang 14

Số liệu bảng 2.1 cho thấy: số lượng lợn nái hậu bị của trại tăng lên không đáng kể qua các năm Năm 2016 tăng so với năm 2015 cụ thể là 50 con Số lượng lợn con tăng so với năm trước khá nhiều Năm 2016 tăng so với năm 2015 là 13.921con Số lượng lợn con chết và loại sau sinh giảm không đáng kể Năm 2016 giảm 63 con so với năm 2015 Tính đến tháng 5 năm 2017, tổng đàn giảm đáng kể so với năm 2016 Tổng số lượng con sinh sống của năm 2016 là 36.010 con, trong khi đó 5 tháng của năm 2017 chỉ đạt 14.839 con Cũng như thế, đối với lượng con cai sữa/ nái/ năm của năm 2016

là 30.033 con, trong khi đó 5 tháng của năm 2017 chỉ đạt mức 10.929 con

Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng

Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn

Trang 15

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái

Cơ quan sinh dục của lợn nái được chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài

+ Bộ phận sinh dục bên trong gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo

+ Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình

- Bộ phận sinh dục bên trong

* Buồng trứng (ovarian)

Buồng trứng lợn nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai Buồng trứng của lợn gồm một cặp treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng Kích thước dài 1,5 - 2,5 cm; khối lượng khoảng 3 - 5 gram (Đặng Quang Nam và Phạm Đức

Chương, 2002) [2]

Cấu tạo: phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền tủy có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ gồm ba thành phần:

Tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên

thủy hay còn gọi là trứng non (Fulliculo oophoriprimari) nằm dưới lớp màng

của buồng trứng Khi noãn bào noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Khuất Văn Dũng, 2005) [6], các tế bào nang bao quanh tế bào trứng và phân

chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum glanulosum) Noãn bao

Trang 16

ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (ovum)

* Ống dẫn trứng (vòi Fallop)

Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:

- Tua diềm: có hình giống như tua diềm

- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng

- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm

- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung Chức năng của ống dẫn trứng: là nơi để tế bào sinh dục đực (tinh trùng)

và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả năng co bóp

dưới ảnh hưởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng thuận lợi hơn

trong việc thụ tinh (Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương, 2002) [16]

* Tử cung (Uterus)

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu Tử cung được giữ lại tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng

Tử cung gồm các phần: sừng, thân và cổ tử cung

Tử cung lợn thuộc loại sừng tử cung kép, gồm hai sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 50 – 100 cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng Thân tử cung dài 3 – 5 cm Cổ tử cung dài 10 – 18 cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lược, thông với âm đạo Vách tử cung gồm ba lớp được cấu tạo từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn và lớp nội mạc

Theo Trần Thị Dân (2004) [23], trương lực cơ càng cao (tử cung trở

nên cứng) khi có nhiều Estrogen trong máu và trương lực cơ giảm (tử cung

Trang 17

mềm) khi có nhiều Progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp

phần cho sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi

dưới tác dụng Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung

Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết ra các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di

chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung

phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng

của Progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn

của chu kỳ động dục

* Âm đạo (Vagina)

Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [16], âm đạo là ống đi từ cổ tử cung đến âm hộ Đầu trước âm đạo dính vào cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, có màng trinh đậy ở lỗ âm đạo

Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung.(Trần Tiến Dũng và cs 2002) [25]

Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:

Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài

âm môn có hai môi (labia pudendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulvae)

Trang 18

Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi)

* Âm vật (clitoris)

Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn Âm vật giống như dương vật con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như cấu tạo dương vật của con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới

* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)

Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm:

phía sau thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2

lá niêm mạc gấp lại thành một nếp

hổng ở bao dương vật của con đực

Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

Sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống của vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố và hoàn thiện qua quá trình chọn lọc để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu theo dõi các chỉ tiêu sau đây: tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại

- Tuổi động dục lần đầu: là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục Các giống lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau

Trang 19

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4]: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm, từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg;

ở lợn nái là F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 - 7 tháng) khi đạt 65 - 80 kg

Trần Văn Phùng và cs (2004) [21] cho biết, tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi Theo Hughes và Jemmes (1996) [29] thì có đến 83% lợn nái hậu bị có khối lượng

cơ thể trên 90 kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống

2 lần/ngày, 20 - 25 phút/lần

Còn Nguyễn Văn Trí (2008) [16] cho rằng, tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng

65 -70 kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55

kg Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn nái hậu bị được sinh vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa Xuân

- Tuổi phối giống lần đầu:

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [17] cho rằng: không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống

Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 - 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg, nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi

Trang 20

Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn

mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn

- Tuổi đẻ lứa đầu: theo Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2004) [5], Lợn

Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi, không nên để quá 14 tháng tuổi

- Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ

Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại) (Nguyễn Văn Thiện, 2002)

Lê Hồng Mận (2006) [4] cho biết: thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày, lợn mẹ động dục trở lại

- Đặc điểm động dục của lợn nái: ở lợn nái, thời gian động dục chia làm

3 giai đoạn: trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực

+ Trước chịu đực: lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác nhảy lên lưng Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40 giờ ở lợn ngoại và lợn lại, 25 - 30 giờ ở lợn nội

+ Chịu đực: lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm

hộ giảm sưng, dịch nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30 giờ ở lợn nội Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai

+ Sau chịu đực: lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng

- Thời điểm phối giống thích hợp: đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3

Trang 21

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2002) [13]: thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

- Mang thai: thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 -

115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:

Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ

- Quá trình đẻ: theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [25], thì gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy theo loài gia súc, khi nào bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần nút niêm dịch cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh và dính chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời gian gia súc đẻ:

+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa đầu

+ Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt ra sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt ra sữa đầu

- Năng suất sinh sản của lợn

Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/năm Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất

Trang 22

sinh sản của lợn Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ

lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm

2.2.3 Một số hiểu biết về bệnh viêm tử cung

* Nguyên nhân

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường xảy ra ở lợn nái sau đẻ, có thể xảy

ra ở lợn nái sau khi phối giống và ít xảy ra ở lợn nái hậu bị, thời gian hay xảy

ra nhất là sau khi đẻ 1 - 10 ngày Bệnh xảy ra ở lợn mẹ do nguyên nhân sau:

Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [12], lợn nái sinh sản đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển

Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [11], trong quá trình

có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một

số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm tử cung

- Từ bản thân lợn mẹ

+ Lợn là loài động vật đa thai, khả năng sinh sản cao, thời gian mang thai ngắn, thời gian sinh sản kéo dài, làm cho bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển trong bộ phận sinh dục

+ Cơ quan sinh dục của lợn nái phát triển không bình thường gây khó

đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do nhiều trường hợp khác nhau như: thai to quá, thai

ra ngược, thai không bình thường, Nái tơ phối giống sớm khi khối lượng cơ thể chưa đạt 70% khối lượng trưởng thành; nái già đẻ nhiều lứa, trong khi đẻ

tử cung co bóp yếu, lứa trước bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến dạng nhau không ra hết hoàn toàn gây sót nhau, thối rữa, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển mạnh

Trang 23

+ Lợn nái ngoại nhập nội cũng dễ mắc bệnh do chưa thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam và khả năng sinh sản nhiều con/lứa

- Do yếu tố ngoại cảnh như: do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật, do thức

ăn nghèo dinh dưỡng, hay do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý, thiếu vận động đã tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh

+ Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sừng hóa niêm mạc, sót nhau (Lê Hồng Mận, 2006) [12]

Theo Lê Minh và cs (2017) [7], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

Trang 24

+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc

tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm

Đoàn Kim Dung và cs (2001) [5] cho biết, Nguyên nhân gây viêm tử cung

là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết

(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgaris, Klebriella…

Nguyễn Văn Thanh (2007) [23] khẳng định rằng, việc dùng tay móc thai khi lợn đang đẻ nhằm rút ngắn thời gian xổ thai của lợn mẹ là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm tử cung ở đàn nái nuôi theo mô hình trang trại hiện nay

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [14], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: Mùa Hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, Mùa Đông 46,05%, Mùa Thu 43,70%

* Triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [15], khi lợn nái bị viêm tử cung các chỉ tiêu lâm sàng như thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng so với lợn nái bình thường Lợn bị sốt theo quy luật lên xuống: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5C; chiều

40 - 41C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi cong lưng rặn như rặn

Trang 25

đái, từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu, âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại

khó khăn

Bệnh được chia làm 3 thể viêm chính gồm: viêm nội mạc tử cung (thể nhẹ), viêm cơ tử cung (thể trung bình), viêm tương mạc tử cung (thể nặng) với các biểu hiện cụ thể được trình bày trong bảng 2.2

Bảng 2.2: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung

Thể viêm

Chỉ tiêu

Phân biệt

Viêm nội mạc tử cung

Viêm cơ

tử cung

Viêm tương mạc tử cung

Dịch

viêm

Màu Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt

Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ hơn Đau có phản ứng

Bỏ ăn Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

(Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [25] )

* Hậu quả của bệnh

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển

Lê Thị Tài và cs (2002) [8] cho rằng, đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc

Trang 26

cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai

và sinh sản của gia súc cái

Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc

tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non

Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường

Theo Trần Thị Dân (2004) [23], Trần Tiến Dũng và cs (2002) [25], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới những hậu quả chính như: Sẩy thai, bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu, giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ, ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại

* Chẩn đoán viêm tử cung

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [11], dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường, ở tử cung mùi hôi thối đặc biệt khi kiểm tra qua trực tràng có thể cảm thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co của sừng tử cung yếu Nếu trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối đa hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm, từ đó

Trang 27

đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhất, thời gian điều trị ngắn, chi phí điều trị thấp nhất nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất

* Phòng bệnh viêm tử cung

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], thì công tác phòng bệnh cần phải tiến hành: vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ 1 tuần trước khi đẻ Tắm cho lợn nái trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu và được bôi trơn bằng gel bôi trơn hoặc dầu lạc Trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải sạch sẽ và phải được vô trùng

Can thiệp đẻ khó, thao tác phải nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch nước muối sinh lý 0,5% để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: penicillin 2 - 3 triệu

UI, tetramycine hay sulfanilamid 2 - 5g vào tử cung để chống viêm

Nên tiêm một mũi oxytocin liều 3 ml/con sau khi đẻ xong để kích thích

tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo Đồng thời tiêm một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như: tetramycin Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc bổ trợ như: vtm b1, b.complex, vtm b12, Gluconatcanxi để trợ sức, kích thích lợn nái ăn khoẻ để

có sữa cho con bú

Phối giống: đảm bảo phối giống đúng kỹ thuật, dụng cụ đảm bảo vô trùng

* Điều trị

Để điều trị bệnh viêm tử cung đạt hiệu quả cao cần phải theo dõi sát đàn lợn để chẩn đoán chính xác thể bệnh và từ đó đưa ra biện pháp điều trị sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, lợn mau hồi phục và giảm chi phí điều trị

Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của cơ tử cung

Trang 28

Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có các

bộ máy nội tiết và thần kinh, bởi vậy điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm gây tác động cục bộ và tác động lên toàn thân, thường dùng phương pháp thụt rửa sau đó can thiệp bằng các loại kháng sinh và thuốc bổ bằng cách tiêm, cho uống hay bơm vào tử cung

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [18], thì sử dụng kháng sinh tổng hợp có tác dụng cao Oxytetracylin có tác dụng rộng với cả vi khuẩn Gram (-)

và vi khuẩn Gram (+), đặc biệt là có tác dụng mạnh với nhóm vi khuẩn: E

coli, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, xoắn khuẩn, phẩy khuẩn…

Ngoài oxytetracylin thì penicillin bán tổng hợp cũng có tác dụng với hầu hết với các vi khuẩn Gram (-) và Gram (+)

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [19] cho biết, hiệu quả điều trị bệnh viêm

+ Tiêm oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài

+ Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE B complex, Calci - B12, calci - fort…

Còn Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [11], đã dùng oxytocin với liều 20 - 40IU/con/ngày, để làm cho tử cung co bóp tống các chất, dịch viêm ra ngoài Sau đó thụt rửa bằng han - iodine 5%, tiêm kháng sinh như: gentamicin 4% 1 ml/6 kg thể trọng hoặc lincomycin 10% 1 ml/10

kg thể trọng liên tục trong 3 đến 5 ngày

Trang 29

2.2.4 Một số thông tin về các loại thuốc được sử dụng trong đề tài

- Cơ chế tác dụng của amoxycillin:

Theo Nguyễn Trúc Anh (2010) [10], amoxycillin là dẫn xuất bán tổng

hợp của ampicillin, có cùng cơ chế tác động với ampicillin Tuy nhiên,

amoxycillin đi vào vách tế bào vi khuẩn gram (+) dễ dàng hơn ampicillin, do

đó hoạt động của amoxycillin chống lại vi khuẩn gram (–) mạnh hơn

Amoxycillin xâm nhập nhanh chóng vào các mô cũng như vào hệ thống mạch máu Khả năng chuyển hóa của amoxycillin yếu nên phần lớn bị

thải trừ qua đường tiểu dưới dạng còn hoạt tính

Hiệu lực của thuốc kéo dài 48 giờ

- Công dụng:

Đặc trị các bệnh nhiễm trùng trên gia súc, lợn, cừu, bao gồm: nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhiễm trùng đường hô hấp (như các bệnh do

Pasteurella gây ra), nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm trùng đường sinh

dục - tiết niệu (viêm vú, viêm tử cung, viêm bàng quang), nhiễm trùng sau khi giải phẫu

* Nova-Amcoli

- Dạng thuốc: hỗn dịch thuốc tiêm

- Quy cách sản phẩm: lọ 100 ml

Ngày đăng: 12/09/2018, 08:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Đình Tín (1986). Sản khoa và bệnh sản khoa thú y . NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản khoa và bệnh sản khoa thú y
Tác giả: Đặng Đình Tín
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1986
2. Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương (2002), Giáo trình giải phẫu vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giải phẫu vật nuôi
Tác giả: Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
3. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2001), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
4. Lê Hồng Mận (2006), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
5. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2004), Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
6. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
8. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thú y
Tác giả: Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2017
9. Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên (2002), Phòng và trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
10. Nguyễn Trúc Anh (2010), Giáo trình Dược lý thú y, Trường Trung cấp Nông Lâm Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý thú y
Tác giả: Nguyễn Trúc Anh
Năm: 2010
11. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
12. Nguyễn Hữu Phước (1982), “Một số bệnh ở lợn”, Tạp chí khoa học Nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh ở lợn”, "Tạp chí khoa học Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Phước
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1982
13. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2002), Bệnh sản khoa gia súc,Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
14. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2014
15. Nguyễn Văn Thanh (2007), “Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Đồng bằng Sông Hồng và thử nghiệm điều trị”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, số 3, tập XIV, tr 38 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Đồng bằng Sông Hồng và thử nghiệm điều trị”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
16. Nguyễn Văn Trí (2008), Hỏi đáp ky ̃ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở hộ gia đình, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở hộ gia đình
Tác giả: Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2008
17. Nguyễn Xuân Bình (2005), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
18. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
19. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
20. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Quán, Hoàng Văn Hoan, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Huy Đăng và Đỗ Ngọc Thúy (2011), Bệnh sinh sản ở vật nuôi, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Quán, Hoàng Văn Hoan, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Huy Đăng và Đỗ Ngọc Thúy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
21. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w