44 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống đậu tương ĐT51... Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến các yếu tố cấu th
Trang 1THU NĂM 2016 TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học
Khóa học : 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2THU NĂM 2016 TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học
Khóa học : 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Phương Oanh
ThS Phạm Thị Thu Huyền
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người
thân.Trước tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo cô
Nguyễn Thị Phương Oanh và cô Phạm Thị Thu Huyền người đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bài luận văn này
Em xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Cán bộ giáo viên khoa Nông học - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, thực hiện đề tài Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ em trong quá trình học tập
và thực hiện đề tài này
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ của bản thân còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp của em không tránh sai sót Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thế Qua ̉ ng
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây 7
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất đậu tương ở Mỹ 5 năm gần đây nhất 8
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Quốc 5 năm gần đây 9
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất đậu tương ở Brazil 5 năm gần đây 10
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất đậu tương của Acgentina 5 năm gần đây 11
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam 5 năm gần đây 13
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 30
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến chiều cao cây ở một số giai đoạn sinh trưởng giống đậu tương ĐT51 36
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến đặc điểm hình thái giống đậu tương ĐT51 37
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến một số chỉ tiêu sinh lí giống đậu tương ĐT51 40
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến khả năng hình thành nốt sần giống đậu tương ĐT51 42
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống đổ giống đậu tương ĐT51 44
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống đậu tương ĐT51 47
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 NSLT và NSTT của các công thức phân bón thí nghiệm vụ hè
thu năm 2016 tại Phú Lương, Thái Nguyên 48
Trang 611 Công thức liều lƣợng phân bón CT
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1:MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiếp của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 3
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 5
2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 7
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 7
2.3.Tình hình nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới và Việt Nam 14
2.3.1.Tình hình nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới 14
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về phân bón cho đậu tương 14
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1.Vật liệu, địa điểm, thời gian, nội dung nghiên cứu 22
3.2 Phương pháp nghiên cứu 23
3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu tại Phú Lương - Thái Nguyên 30
Trang 84.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến đặc điểm hình thái giống
đậu tương ĐT51 vụ hè thu năm 2016 tại Phú Lương, Thái Nguyên 35
4.2.1 Chiều cao cây 35
4.2.2 Đường kính thân, số cành cấp 1 và số đốt 37
4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến một số chỉ tiêu sinh lí giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu năm 2016 tại Phú Lương, Thái Nguyên 39
4.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến khả năng hình thành nốt sần giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu năm 2016 tại Phú Lương, Thái Nguyên 42 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống đổ giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Phú Lương, Thái Nguyên 43
4.6 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu năm 2016 tại Phú Lương, Thái nguyên 47
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
I.Tài liệu tiếng Việt 52
II.Tài liệu tiếng Anh 53
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiếp của đề tài
Cây đậu tương (Glycine max L) thuộc cây họ đậu, là cây công nghiệp
ngắn ngày Nó được xem là “cây thần diệu”, còn được ví là “vàng mọc từ đất”… sở dĩ cây đậu tương được đánh giá cao như vậy là do giá trị kinh tế của
nó mang lại lớn Giá trị kinh tế của cây đậu tương được quyết định bởi các trành phần dinh dưỡng quan trọng chứa trong hạt đậu tương bao gồm: Protein chiếm khoảng 36-46%, lipit biến động từ 16-24%, gluxit 10-15% Trong hạt đậu tương chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các axit amin không thay thế như triptophan, leuxin, Izoloxin, valin, lizin, methionin Ngoài
ra còn các loại muối khoáng như Ca, Fe, Mg, Na, P, K… các vitamin B1, B2,
D, K, E Protein của đậu tương có phẩm chất tốt, có thể thay thế hoàn toàn đạm động vật trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người Đậu tương còn được chế biến thành 600 loại thực phẩm khác nhau, bao gồm các loại thức ăn
cổ truyền: đậu phụ, tương chao, sữa đậu nành ngoài ra còn có thể chế biến thành keo bánh đậu tương và các loại thịt nhân tạo… (Trần Đình Long, 2000)[5] tất cả các loại sản phẩm đều thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, sản lượng và diện tích gieo trồng đậu tương đang có xu hướng giảm mạnh trong 3 năm gần đây Năm 2011 cả nước có 181.390 nghìn ha đậu tương được gieo trồng cho khoảng 266 nghìn tấn Đến năm 2012 sản lượng chỉ còn khoảng 175 nghìn tấn và diện tích còn trên 120,8 nghìn ha Do điều kiện thời tiết không thuận lợi đã khiến sản lượng đậu tương năm 2013 giảm xuống còn 117.2 nghìn ha với 173,7 nghìn tấn Năm 2014 chỉ còn 109.4 nghìn ha với 156.5 nghìn tấn và đến năm 1015 diên tích sản xuất chỉ còn khoảng 100 nghìn ha đậu tương được gieo trồng cho khoảng 147 nghìn tấn Quy mô sản xuất nhỏ lẻ so với các loại cây trồng khác
Trang 10chính là nguyên nhân khiến ngành đậu tương vẫn không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước (Lúa gần 8 triệu ha; Ngô hơn 1triệu ha) (Tổng cục thống kê, 2017) [11]
Việt Nam đang nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn, khoảng 1,2 triệu tấn một năm
Theo số liệu thống kê chính thức của chính phủ, đậu tương được trồng ở
28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ; và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng Đậu tương được trồng cả 3 vụ trong năm (vụ xuân, vụ hè và vụ đông), trong đó vụ hè thu là vụ trồng chính
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên 353318, 91 ha; trong đó diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp chiếm trên 30% (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2013) Đậu tương là một trong nhóm cây trồng hàng năm được tỉnh quan tâm chỉ đạo sản xuất Vì đậu tương là cây trồng ngắn ngày, giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao; không quá kén đất; có thể gieo trồng cả 3 vụ; có khả năng cải tạo đất Hơn nữa ngay trong địa bàn tỉnh có làng nghề sản xuất đậu phụ nổi tiếng tại huyện
Võ Nhai Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trong tỉnh luôn giảm (Năm 2005 diện tích là 3389 ha; năm 2010 là 1567 ha; năm 2011
là 1559 ha; năm 2012 là 1418 ha; năm 2013 là 1309 ha; đén năm 2014 diện tích trồng đậu tương của tỉnh chỉ còn hơn 1.2 nghìn ha) (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2014), không đủ đậu tương cung cấp cho ngay cả thị trường trong tỉnh
Nguyên nhân chủ yếu của đậu tương chưa phát triển ở tỉnh Thái Nguyên là do giống và kỹ thuật canh tác còn kém Vì vậy muốn phát triển cây đậu tương ở Thái Nguyên ta cần chú trọng đến hai vấn đề này Giống là hướng đầu tư quan trọng hàng đầu có hiệu quả kinh tế trong ngành Song bên
Trang 11cạnh đó, muốn phát huy được tiềm năng và phẩm chất của giống thì cần phải xác định được biện pháp kỹ thuật kết hợp bón phân hợp lý
Nguồn phân bón rất đa dạng, đòi hỏi người sản xuất đậu tương phải biết sử dụng các loại phân bón phù hợp và sao cho đúng liều lượng, cân đối
và bón đúng thời điểm mới tăng năng suất và chất lượng đậu tương
Xuất phát từ thực tiễn năng suất đậu tượng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: thời tiết, mùa vụ, giống phân bón nhằm nâng cao năng suất của đậu tương trong đó phương thức bón phân ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây đâu tương và biện pháp sử dụng phân bón vô cơ là biện pháp nhanh và rẻ tiền nhất,hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế người dân Việt Nam Từ thực
tiễn trên chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng
phân bón vô cơ đến sự sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu năm 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích của đề tài
Xác định được liều lượng phân bón thích hợp cho sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 trồng vụ hè thu tại huyên Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của giống đậu tương ĐT51 ở các liều lượng phân bón khác nhau
- Đánh giá một số đặc điểm sinh lý của giống đậu tương ĐT51 ở các liều lượng phân bón khác nhau
- Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 ở các liều lượng phân bón khác nhau
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 ở các liều lượng phân bón khác nhau
Trang 121.4 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo (mật độ, phân bón, thời vụ) về giống đậu tương ĐT51 ở các liều lượng phân bón khác nhau
Ý nghĩa thực tiễn sản xuất:
- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương nói chung và quá trình canh tác trên địa bàn huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên nói riêng
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài
Cơ sở khoa học của đề tài
Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn cầu trong bối cảnh khí hậu và môi trường sống ngày càng biến đổi phức tạp hiện nay, chúng ta cần xây dụng được một nền sản xuất tiên tiến Dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới và các yếu tố như: Gống, nước, phân bón, kỹ thuật thâm canh… nhưng vẫn phải bảo vệ được môi trường Trong đó, liều lượng phân bón là yếu tố quan trong, sử dung lượng phân bón hợp lý giúp cây có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bênh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận.Và phải có khả năng cải tạo được đất, hạn chế ô nhiễm môi trường đó là mục tiêu hàng đầu của việc phát triển một nghành nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao
Để có được lượng phân bón thích hợp đối với từng giống đậu tương trong từng vùng sản xuất thì công tác nghiên cứu, thử nghiệm lượng phân bón
là vô cùng quan trọng Đó là một cuộc thí nghiệm đưa ra nhiều lượng phân bón khác nhau nhằm xác định ảnh hưởng của yếu tố đó lên giống khác nhau như thế nào trong cùng một điều kiện của địa phương, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một giống đậu tương
Nếu không nghiên cứu về lượng phân bón thích hợp đối với giống đậu tương thì ta không thể tìm ra biện pháp phù hợp nhằm thâm canh tăng năng suất đậu tương, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế
Cơ sở thực tiễn của đề tài
Sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên phát triển không mạnh do hiệu quả sản xuất chưa cao Có nhiều nguyên nhân như năng suất thấp, đầu tư cao mà giá bán không cao, không ổn định, do sâu bệnh … Trong đó nguyên nhân
Trang 14chính là liều lượng phân bón chưa thích hợp để tạo điều kiện cho cây đậu tương có điều kiện sinh trưởng phát triên và cho năng suất cao nhất, giảm đi chi phí về đầu tư giống, dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế giống đậu tương ĐT51 là một giống mới được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc nên chưa có nhiều
nghiên cứu về liều lượng phân bón thích hợp cho giống
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng ta cần nghiên cứu liều lượng phân bón thích hợp đối với giống đậu tương ĐT51 sao cho phù hợp với điều kiện của vùng, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân
Theo Trần Đình Long và Nguyễn Thị chinh (2005) [6]cho dù Việt Nam
sẽ là thanh viên của WTO, việc nhập khẩu ngô, đậu tương phục vụ phát triển chăn nuôi hiện nay sẽ trở thành việc bất hợp lý trong tương lai vì tiềm năng trồng cây họ đậu trong nước ta còn rất lớn, lao đọng nông nghiệp và đất tròng trọt còn rất tốt, những cây trồng tiết kiệm nước được ưu tiên phát triển trong
đó cây đậu tương
Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh vùng núi phía Bắc điện tích đất hoang hóa càn nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số cây trồng cho giá trị kinh tế thấp
Do đó việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết Để tăng khả năng sửa dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiên đời sống cộng đồng
Nhưng năm gần đây nước ta đã chọn dước một số giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt chuyển giao vào sản xuất như: ĐT84, ĐT93, ĐT99, ĐT12, ĐT51… Nhờ vậy mà năng suất đậu tương đã tăng lên song tốc đọ còn chậm, có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong nhưng nguyên nhân đó là kỹ thuật canh tác còn lạc hậu không xác định được các yếu tố dinh dương còn
Trang 15hạn chế, bón phân thiếu cân đối, năng suất thấp Vì vậy thiết nập công thức bón phân tìm ra công thức phân bón tối ưu cho cây trồng là hết sức cần thiết
2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Cây đậu tương có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi giá trị kinh
tế, hàm lượng dinh dưỡng và khả năng cải tạo đất Xuất phát từ đó mà cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất Nên diện tích, năng suất và sản lượng được tăng đần qua các năm
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: FAOSTAT Browse Data, 2017 [13]
Số liệu bảng 2.1 cho ta thấy tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới hàng năm được tăng lên cả về diện tích lẫn sản lượng năm 2014 diện tích tăng khoảng 15 triệu ha so với năm 2010, cũng như thế sản lượng cũng tăng lên 43,5 triệu tấn vào năm 2014 Điều này càng khẳng định vị trí quạn trọng của cây đậu tương trong sản xuất nông nghiệp.các nước sản xuất lớn như: Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Úc…
Năm 2000 Mỹ sản xuất được 75 triệu tấn hạt Phần lớn sản lượng đậu tương được dùng cho chăn nuôi và xuất khẩu, mặc dù nhu cầu tiêu thụ đậu
Trang 16tương đag tăng lên, tại Mỹ có tới 80% lượng dầu ăn được chế biến từ đậu tương Hiên nay, đậu tương được trồng ở nhiều quốc gia và các khu vực trên thế giới, qua khảo sát cho thấy sản xuất đậu tương ở khu vực bắc Mỹ đã vượt
xa vùng Viễn Đông nơi khởi nguồn của cây đậu tương
Đậu tương là một trong 5 cây thực phẩm quan trong ở Hoa Kỳ, công nghệ sinh học đang tập trung vào cây đậu tương, theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ thì năm 2008 diện tích trồng đậu tương chuyển gen của nước này chiếm 92% tổng diện tích đậu tương của cả nước
Hiện nay, Mỹ là nước đứng đầu trế giới về sản xuất đậu tương, với diện tích trung bình đạt khoảng 85 triệu ha, sản lượng đạt khoảng 243 triệu tấn vào năm 2013, chiếm khoảng 76% diện tích và 87% sản lượng đậu tương trên thế giới Đậu tương là một mặt hàng chiến lược trong xuất khẩu và thu đổi ngoại tệ Nguyên nhân cơ bản để đậu tương ở Mỹ có năng suất cao và ổn định qua các năm là do: Mỹ đã áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, thâm canh để tăng năng suất Đồng thời Mỹ còn đi sâu vaà công tác chon giống đặc biệt là tạo ra các giống tốt nhờ chuyển gen, công nghệ nuôi cấy
Tình hình sản xuất đậu tương của Mỹ được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất đậu tương ở Mỹ 5 năm gần đây nhất
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 17Trong 5 năm gần đây diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Mỹ không ngừng tăng lên, vào năm 2014 năng suất đạt đạt cao nhất 29 tạ/ha, sản lượng đạt trên 271 triệu tấn So với năm 2010 thì sản lượng đã tăng lên 43 triệu tấn và diện tích tăng khoảng 12 triệu ha Năm 2014 là năm Mỹ đạt đỉnh cao về cả diện tích, năng suất và sản lượng khẳng định vị trí số một trong sản xuất đậu tương
Tình hình sản xuất đậu tương ở Trung Quốc được trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Quốc 5 năm gần đây
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: FAOSTAT Browse Data, 2017 [13]
Từ năm 2010 đến năm 2014 diện tích sản xuất đậu tương ở Trung Quốc giảm mạnh gần 2 triệu ha Năng suất thì tương đối ổn định ở ngưỡng trên 17 tạ/ha Sản lượng thì giảm mạnh do diện tích sản xuất giảm Năng suất đậu tương của Trung Quốc thấp hơn năng suất bình quân thế giới khoảng 7 tạ/ha Tiếp sau Mỹ là Brazil, nước có sản lượng, năng suất, diện tích đứng thứ
2 trên thế giới.tình hình sản xuất đậu tương của Brazil trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 2.4
Trang 18Bảng 2.4: Tình hình sản xuất đậu tương ở Brazil 5 năm gần đây
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: FAOSTAT Browse Data, 2017 [13]
Brazil rất quan tâm tới việc sản xuất đậu tương nên năng suất, sản lượng, diện tích không ngừng tăng lên, chỉ đứng sau Mỹ và là nước có diện tích, sản lượng đậu tương đứng thứ 2 thế giới
Năm 2010, 2011 diện tích sản xuất đậu tương chỉ đạt hơn 23 triệu ha, nhưng trong năm 2011 năng suất hơn 31 tạ/ha lai cao hơn năm 2010 tới 2 tạ/ha, và sản lượng cũng cao hơn 6 tấn Cho tới năm 2014 thì diện tích trồng đậu tương vẫn tăng theo từng năm, còn sản lượng thì lại giảm cụ thể là tới năm 2014 chỉ đạt 28 tạ/ha giảm so với năm 2011 gần 3 tạ/ha Sản lượng thì vẫn tăng vì diện tích tăng theo mỗi năm Sản lượng thấp nhất là 65 triệu tấn vào năm 2012
Brazil đang tiếp tục đẩy mạnh công tác chọn, tạo giống mới chống chịu sậu bệnh, giống chuyển nạp gen…, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất nâng cao năng suất đậu tương hàng năm
Tại Brazil, đậu tương chủ yếu được dùng để làm bột và ép dầu.Chính phủ khuyến khích đẩy mạnh nền công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu
Quốc gia đứng thứ 3 về sản xuất đậu tương sau Mỹ, Brazil là Acgentina
Ở quốc gia này đậu tương được trồng luân canh với lúa mì Từ năm
Trang 191961-1962 chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương, nên cây đậu tương phát triển khá mạnh
Tình hình sản xuất đậu tương của Acgentina được thể hiện ở bảng 2.5
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất đậu tương của Acgentina 5 năm gần đây
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Nguồn: FAOSTAT Browse Data, 2017 [13]
Từ năm 2010 cho tới năm 2014 thì diện tích trồng đậu tương chỉ tăng được 1 triệu ha Năm 2012 thì diện tích thấp nhất so với các năm Năng suất nhìn chung giảm qua các năm, đạt cao nhất vào năm 2010 hơn 29 tạ/ha, thấp nhất năm 2012 đạt 22 tạ.ha giảm hơn 7 tạ/ha Sản lượng năm 2012 giảm hơn
12 triệu tấn so với năm 2010, cho tới năm 2014 thì sản lượng lại tăng trở lại đạt trên 53 triệu tấn
Các nước nhập khẩu đậu tương lớn gồn có: Cộng đồng kinh tế châu âu, Đức, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan,… cho tới sau chiến tranh thế giới thứ hai thì Mỹ
và Trung Quốc vẫn là 2 nước xuất khẩu đậu tương lớn nhất
Tuy nhiên, do dân số của Trung Quốc gia tăng mạnh nên từ một nước xuất khẩu đậu tương đã trở thành một nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất sửa dụng cho nhu cầu trong nước Mỗi năm Trung Quốc cần 25-30 triệu tấn, trong
đó sản xuất trong nước chỉ đạt 15-27 triệu tấn (Lê Quốc Hưng, 2006)
Nhưng diện tích trồng đậu tương của Trung Quốc vẫn đứng thứ 4 thế giới chỉ sau Mỹ, Brazil, Acgentina và đứng thứ nhất châu Á
Trang 20 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Việt Nam là Quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, cho nên cây đậu tương được trồng từ rất sớm Trong thư tích ở thế kỷ thứ 6 cho biết cây đậu tương đã được trồng ở Bắc Bộ Sách “vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn
Ở thế kỷ thứ 18 cho rằng cây đậu tương được trồng cách đây cả ngàn năm nay nhưng với diện tích còn ít Hiện nay, ở Việt Nam cây đậu tương có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những vùng nông thôn nghèo, có nền kinh tế chưa phát triển Ngoài việc cung cấp nguyên liệu chế biến thực phẩm cho con người, xuất khẩu cây đậu tương còn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi rất tốt Cây đậu tương là một trong loại cây đang phát triển mạnh mẽ, có vị trí rất và cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân ở Việt Nam hiện nay
Cây đậu tương có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, đối với đất bạc màu và khô hạn thì cây đậu tương cho hiệu quả kinh tế cao nhất Đồng thời nó cũng góp phần rất to lớn trong công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần cải tạo đất đai, cải tạo môi trường
Hiện nay ở Việt Nam, theo trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ (Viện Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Việt Nam) thì cây đậu tương được trồng ở hầu hết các tỉnh trong cả nước với diện tích hàng năm là 150 – 200 ngàn ha, năng suất trung bình 13–14 tạ/ha Có 3 vùng trồng đậu tương lớn nhất là miền núi và Trung du Bắc bộ, Đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam bộ, chiếm 72,2% tổng diện tích trồng cả nước Các tỉnh trồng nhiều đậu tương như: Cao Bằng, Sơn La, Đồng Nai, Đồng Tháp Nhu cầu về sản phẩm đậu tương của các ngành thương mại, chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm ngày càng phát triển nên cây đậu tương đãđược các viện, trường Đại học đầu tư
Trang 21nghiên cứu và tuyển chọn ra nhiều giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng được nhiều vụ trong năm
Tốc độ phát triển sản xuất đậu tương ở Việt Nam cũng được đánh giá là khá và là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh so với nhiều quốc gia trên thế giới Kết quả này có được là do có sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển cây đậu tương Văn Kiện Đại Hội 5 Đảng Cộng Sản Việt Nam tập 2, trang 37 đã ghi:
“Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người, cho gia súc, cho đất đai và trở thành một loại hàng xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng”
Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam trong 5 năn gần đây được trình bày ở bảng 2.6
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam 5 năm gần đây
(nghìn ha)
Năng Suất (tạ/ha)
Sản Lượng (nghìn tấn)
Trang 22giảm đi gần một nửa so với năm 2011 Vì thế chúng ta cần phải chọn tạo giống mới để tăng được năng suất đậu tương
2.3.Tình hình nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới và Việt Nam
2.3.1.Tình hình nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới
Bên cạnh công tác nghiên cứu về giống thì trên thế giới, nhiều quốc gia, nhiều nhà Khoa học đã dành thời gian để nghiên cứu về phân bón cho cây đậu tương Việc nghiên cứu về chế độ phân bón, chế độ trồng, chăm sóc để cây sinh trưởng phát triển tốt và phát huy hết tiềm năng của giống là vấn đề rất quan trọng N: Là yếu tố quan trọng nhất đối với cây đậu tương Tuy nhiên nhu cầu đạm của đậu tương không lớn vì rễ cây sống cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium japonicum nên cây có khả năng cố định đạm và cung cấp cho đất một lượng đạm khá lớn
Bón đạm sẽ không có tác dụng làm tăng năng suất đậu tương nếu dinh dưỡng trong đất đã cung cấp đủ nhu cầu NO3 cho cây Tuy nhiên, trên đất nghèo chất hữu cơ, kém thoát nước thì bón đạm với lượng 50-110 kg/ha có tác dụng làm tăng năng suất
Đậu tương là cây có nhu cầu đạm (N) rất lớn, để đạt được năng suất 3 tấn/ha cây đậu tương cần khoảng 300kg N/ha, trong khi đó lúa chỉ cần 100kg N/ha đã có khả năng tạo năng suất hạt là 5 tấn/ha, Salvagiottio và các cs (2008) [17] cho rằng năng suất hạt của đậu tương phụ thuộc lớn vào lượng N tích lũy được trong cây, nếu cây đậu tương hấp thu 1kg N sẽ tạo ra được từ 6,4 – 18,8 kg năng suất hạt tùy theo điều kiện môi trường khác và cho trung bình là 12,7 kg hạt/1 kg N hấp thu Các nghiên cứu cho thấy nốt sần có thể cung cấp từ 50-75% nhu cầu N cho cây đậu tương Chính vì vậy cần năng suất của đậu tương phụ thuộc lớn vào khả năng có định N từ khí trời của cây
Trang 23đậu tương.Tuy nhiên khả năng cố định N của vi khuẩn nốt sần phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ ẩm đất, pH đất và nhiều yếu tố môi trường khác
Tang và các cs (2007) [18] cho biết năng suất sinh khối, khối lượng hạt
và năng suất hạt đậu tương có tương quan thuận với lượng P tích lũy trong cây và lượng P hấp thu của cây đậu tương Tuy nhiên các giống đậu tương khác nhau phản ứng rất khác nhau với lượng P bón vào đất [172] Tác giả cũng cho biết các giống đậu tương có nguồn gốc ở vùng đất chua nghèo P có khả năng hấp thu P tốt hơn những giống có nguồn gốc từ vùng đất mùn giàu lân
Smith (1998) [20] nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và điều kiện thời tiết đến hàm lượng Protein và dầu trong hạt cho thấy hàm lượng Protein trong hạt có tương quan nghịch với lượng phân K bón vào đất trong khi đó hàm lượng dầu lại có tương quan thuận với lượng phân K bón vào đất Xinhua and Tony (2004) [21] cho rằng có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc bón phân K như cấu trúc đất, phương pháp bón phân, hiện trạng tồn dư các loại phân khác và khả năng di động của K trong từng loại đất
Ngoài yếu tố đạm thì lân là yếu tố rất có ý nghĩa với cây đậu tương Khi cây được cung cấp lân đầy đủ sẽ giảm tỷ lệ rụng hoa, rụng quả, tăng tỷ lệ đậu quả, tỷ lệ quả chắc từ đó làm tăng năng suất rõ rệt
Tại Indonexia, bón phân cho đất có hàm lượng lân dễ tiêu dưới 18ppm
đã làm tăng năng suất đậu tương đáng kể, thiếu lân dễ tiêu thường gắn liền với đất chua, hàm lượng Al, Fe, Mn cao gây trở ngại cho sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất (Salesh và Sumarno (1993))[15]
Trong đất chua khả năng giữ lân thường cao vì tỷ lệ Fe, Al cao, gây thiếu lân nghiêm trọng làm hạn chế khả năng hấp thu các yếu tố dinh dưỡng
Trang 24của cây đậu tương Việc bón vôi sẽ làm tăng pH đất, từ đó tăng hàm lượng lân
dễ tiêu giúp cho cây có thể hút được lân dễ dàng Ngoài ra, cần kết hợp các yếu tố N, K, phân hữu cơ sẽ nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phân lân Ngoài các yếu tố N, P thì Kali là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao năng suất của cây đậu tương Khi bón lân làm tăng năng suất của cây đậu tương thì nhu cầu về kali cũng tăng lên
Nigieria (1990-1991) nghiên cứu về hiệu quả tác động của việc kết hợp giữa phân khoáng N, P, K đã kết luận rằng: hiệu quả kinh tế đạt cao nhất ở công thức: 60 tấn phân chuồng + 200 kg N, P, K (15:15:15)/ha và bón vào thời kỳ phân cành của cây đậu tương
Trong trường hợp đất chua nghèo N, thiếu N trở nên nghiêm trọng vì khả năng cố định N bị hạn chế rõ rệt Trong trường hợp này phân N sẽ là nguồn N quan trọng nhất đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây
Li-shufan và cộng sự (1993) [14], đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón kali tới sự tăng cường khả năng chịu hạn của cây đậu tương cho biết: Việc bón kali cho đậu tương làm làm tăng hàm lượng kali trong cây, tăng cường khả năng trao đổi chất, sụ phát triển của một số bộ phận có sự liên quan tói tính chịu hạn Trong đó sự phát triển bó mạch của rễ thân và sự đảm bảo dinh dưỡng, lưu lượng nước lên lá, các tế bào có thành tế bào dày lên khả năng giữ nước, tính thẩm của màng tế bào thấp dẫn đến tăng cường tính chống chịu với nhiệt đọ cao, lỗ khí khổng nhỏ sẽ làm giảm sự thoát hơi nước liên kết trong tế bào cây Năng suất của đậu tương tăng lên rõ rệt do bón kali trong thời kì gặp hạn
Theo Sugumoto-h và cộng sự (1993) [16], các tác giả người Nhật Bản
đã nghiên cứu sụ nguy hại của đậu tương ở những cánh đồng lúa vụ trước và xem xét việc bón đạm sunfat amôn có là yếu tố chống lai tác hại của điều kiện
độ ẩm qua cao hay không: Kết quả nghiên cứu thấy rằng những cây trong điều
Trang 25kiên độ ẩm quá cao mà không bổ sung đạm thì hàm lượng đạm trong lá giảm dẫn đến cường đọ quang hợp giảm rõ rệt Ngược lại những cây được bổ sung đạm thì hàm lượng đạm trong lá tăng và cường đọ quang hợp tăng Nó được giả thiết rằng việc bổ sung đạm làm tăng cường đọ quang hợp, tăng sự nảy chồi, ra hoa và giảm sự dụng quả khi trồng đậu tương ở nhiệt đọ cao
Theo Talekar (1987) [19], thì các loại sâu hại nguy hiểm đối với đậu
tương là: Giòi đục thân Melamgromyza soja và sâu xanh Heliothiolis armigera, sâu đục quả Etiella Zickenella và bọ xít xanh Neza Viridulal Khi nghiên cứu ở
vùng Nhiệt Đới (Sepswadi, 1976) thấy giòi đục thân phổ biến ở Thái Lan và Indonexia, ở những nước này tỷ lệ hại do giòi đục thân có thể tới 90 – 100% cây
bị hại
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về phân bón cho đậu tương
Bên cạnh công tác nghiên cứu chọn tạo giống có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu khá thì việc đưa ra biên pháp kỹ thuật thâm canh cây đạu tương đang được áp dụng trong đó có sự đóng góp của phân bón NPK
Để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt thì đậu tương cần được bón đầy đủ các loại phân hữu cơ và các loại phân khóng khác, vì nó chỉ có thể sinh trưởng và phát triển khi được bón đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết Phan Văn Thiều , 2006 [8] Nghiên cứu về nhu caaud dinh dưỡng của đậu tương, tác giả Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên (1999) [12]cho biết để tao
ra 1 tấn hạt đậu tương cần cung cấp đầy đủ và cân đối các dinh dưỡng đa lượng như N, P, K, Canxi và các yếu tố vi lượng như Mn, Zn, Cu, B, Mo Lượng phân bón trong thực tế sản xuất phải tùy thuộc vào thời vụ, chân đất, cây trồng vụ trước, giống cụ thể mà bón cho thích hợp (Trần Thị Trường và các cs, 2006) [9] Do vậy không thê có một công thức bón phân chung cho tất
cả các vụ, các vùng, cá loại đât khác nhau
Trang 26Theo Nguyễn Văn Bộ (2001) [1]: nếu chỉ bón riêng đạm cho đậu tương thì năng suất đạt 1,4 tạ/ha Trong khi đó cũng lượng đạm như vậy trên nền có bón lân cho năng suất đậu tương đạt 2,3 tạ/ha
Các yếu tố đa lượng có tác dụng thúc đẩy, hỗ trợ nhau trong việc cung cấp dinhh dưỡng cho cây đậu tương, thiếu một trong các yếu tố này đều làm cho cây sinh trưởng, phát triển không bình thường, năng suất thấp
Theo Vũ Đình Chính (1998) [2] cho rằng: bón kết hợp N, P trên đất bạc màu nghèo dinh dưỡng với mức 90 kg P2O5/ha trên nền 40 kg N/ha làm tăng
số lượng nốt sần, số quả chắc/cây và năng suất hạt Theo tác giả thì trong điều kiện vụ hè trên đất bạc màu (Hiệp Hoà - Bắc Giang) bón cho giống đậu tương Xanh lơ Hà Bắc thích hợp nhất là 20 kg N: 90 kg P2O5: 90 kg K2O
Tác giả Lê Đình Sơn (1988) cho rằng: lân và đạm có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau trong việc làm tăng số các cành cho quả, số quả/cây [7]
Tác giả Trần Danh Thìn (2001) [9] cho biết: khi bón kết hợp N, P, Ca có tác dụng rõ rệt trong việc khắc phục hạn chế của các yếu tố dinh dưỡng đất, nâng cao năng suất đậu tương và lạc Việc bón kết hợp cả 3 yếu tố N, P, K cho năng suất cao nhất ở cả 2 nền phân cao và thấp Đối với đất chua, nghèo dinh dưỡng bón 100N: 150P2O5: 800Ca: 50 K2O đã cho hiệu quả kinh tế của lạc và đậu tương cao
Theo Trần Thị Trường, Trần Thanh Bình (2005) tỷ lệ sử dụng phân đạm, lân, kali thích hợp nhất cho đậu tương là 1:2:2 Đạm và Kali là hai yếu
tố có ảnh hưởng nhiều nhất tới năng suất của cây đậu tương Nếu bón riêng rẽ kali cho bội thu 1,4 tạ/ha; trên nền đạm cho bội thu 4,3 tạ/ha Nếu bón riêng rẽ đạm cho bội thu 1,4 tạ/ha; trên nền có lân cho 2,3 tạ/ha; trên nền có kali cho 3,1 tạ/ha; trên nền có kali và lân cho năng suất 5,4 tạ/ha.[10]
Võ Minh Kha (1996) đã khẳng định: trên đất đồi chua hàm lượng Fe3+, Al3+ cao nên bón lân và đạm có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương rõ rệt
Trang 27[4] Diện tích đất canh tác của nước ta hiện nay nghèo lân vì diện tích đất phèn, đất bạc màu khá nhiều Riêng ở miền Bắc, trong hơn 2 triệu ha đất canh tác thì có hơn 1 triệu ha là đất chua Ph (KCl) = 4 - 4,5 Hàm lượng Fe, Al di động trong đất có khi lên tới 20-25 mg/100g đất, còn ở miền Nam có tới 2 triệu ha đất nghèo lân
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất và khả năng cố định đạm của đậu tương trên đất đồi trung du phía Bắc Việt Nam, Trần Văn Điền (2001) đã kết luận: bón lân cho đậu tương tăng lên, với giống đậu tương không có nốt sần thì hầu như không có phản ứng gì; còn với giống đậu tương có nốt sần thì có tác dụng tăng năng suất hạt và thân lá rõ rệt [3]
Một số yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương tại Việt Nam
Đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày, dễ làm, hiệu quả kinh tế cao,
có khả cải tạo đất tốt, thích hợp cho luân canh tăng vụ Nhưng hiện nay diện tích, năng suất đậu tương còn thấp so với thế giới, năng suất đậu tương trung bình của Việt Nam chỉ bằng khoảng 60% so với năng suất bình quân thế giớ; sản lượng đậu tương chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ so với nhu cầu đậu tương công nghiệp chế biến thực phẩm, dầu ăn và thức ăn gia súc Thực trạng trên do nhiều yếu tố tác động, trong đó chủ yếu là cá yếu tố hạn chế sau;
Điều kiện kinh tế, tập quán canh tác, nhận thức của con người về vị trí mỗi loại cây trồng trong hệ thống nồn nghiệp đều có ảnh hưởng đến khả năng phát triển của cây trồng đó trong sản xuất đại trà, trong đó có cây đậu tương Đảng và nhà nước đã chủ trương tập trung phát triển cây lúa,cây ngô để giả quyết vấn đè an ninh lương thực Quốc gia dẫn đến việc nhận thức về vai trò và vị trí cây đậu tương trong hệ thống cây trồng và trong đời sống xã hội chưa được chú trọng Đâu tương bị co là cây trồng phụ, người đan ít đàu tư thâm canh
Trang 28Mặc dù trong những năm qua chúng ta đã chọn tạo được bộ giống đậu tương có tiềm năng năng suất cao, song công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất còn chậm, do vậy nhiều diện tích trồng hiện nay vẫn còn đang sử dụng các giống đậu tương cũ, năng suất thấp và không ổn định, chất lượng kém khả năng thích ứng không cao
Việc sản xuất cung ứng hạt giống đậu tương cho sản xuất của nước ta còn yếu Hạt không thể bảo quản qua nhiều vụ, dễ mất sức nẩy mần
Hiện nay sản xuất đậu tương ở nước ta chủ yếu là thủ công, chưa áp dụng đước những cái tiến trong lao động nên năng suất lao động thấp do đó chưa khuyến khích được người đan đẩy mạnh sản xuất
Nhìn chung điều kiện thời tiết, khí hậu nước ta thuận lợi cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên ở mỗi thời vụ sản xuất đạu tương có nhưng khó khăn riêng về điều kiện thời tiết Trong đó miền Bắc vụ xuân thời ddiemr gieo trồng đậu tương thường gặp khô hạn, vụ hè điều kiện thời tiết thường thuận lợi hơn, tuy nhiên mưa lớn và tập trung nên thường gây úng cục
bộ, đất dí, chặt đã ít nhiều ảnh hưởng tói năng suất, chất lượng đậu tương hè Ngoài những yếu tố về điều kiện thời tiết, khí hậu thì sâu bệnh cũng là một trong nhưng yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương ở nước ta Sâu hại nguy hiển nhất là dòi đục quả, sâu đục quả, sâu xanh… Còn bệnh hại chủ yếu là bệnh gỉ sắt, lở cổ rễ, sương mai…
Trang 29+ Nhu cầu phân bón cho đậu tương là rất lớn gồm cả N, P, K nhưng do khả năng tự cố định đạm từ khí trời cung caapscho cây nển không cần bón nhiều đạm Yêu cầu lân cao hơn đạm nhu cầu về kali là cao hơn cả
+ Đất bạc màu hình thành trên các mẫu chất phù sa cổ có đọ phì nhiêu
tự nhiên thấp, đất có thành phần cơ giới nhẹ, các tính chất vật lý, nước đầu không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Tuy vậy nếu biết khắc phúc bằng việc cơ cấu cây trồng có sự tham gia của cây họ đậu thì cũng có thể cải thiện các tính chất của đất nâng cao đọ phì nhiêu cưa chúng + Sử dụng phân cho đậu tương là kỹ thuật mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên năng suất và hiệu lưc phân bón tăng lên nếu sử dụng phân bón với liều lượng và tỉ lệ các yếu tố dinh dưỡng thích hợp Tùy từng loại đất khác nhau
mà tỷ lệ liều lượng N P K khác nhau
Nhìn chung những nghiên cứu về mức phân bón hợp lý mới bắt đầu đi sâu trong vài năm gầng đây nhưng kết quả đạt được chưa nhiều chưa đề suất được các công thức phân bón, tổ hợp phân bón hợp lý cho hiệu quả cao tại Phú Lương- Thái Nguyên
Trang 30PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Vật liệu, địa điểm, thời gian, nội dung nghiên cứu
Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
+ Giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo và được công nhận 2012 + Các loại phân bón vô cơ: đạm (N), lân (P2O5), kali (K2O)
Địa điểm nghiên cứu
+ Thí nghiệm được thực hiện trên chân đất màu tại xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
+ Nền đất thí nghiệm là đất thịt pha cát, thoát nước tốt, đã qua canh tác nhiều năm; các biện pháp canh tác, đầu tư như nhau, đảm bảo điều kiện đồng đều cho nền thí nghiệm
Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ hè thu năm 2016 (tháng 7 – tháng
10 năm 2016)
Nội dung nghiên cứu
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến một số đặc điểm hình thái của giống ĐT51 trong vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống ĐT51 trong vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến tình hình sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống ĐT51 trong vụ hè thu 2016 tại tỉnh Thái Nguyên
Trang 31+ Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống ĐT51 trong vụ hè thu 2016 tại tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp bố trí thí nghiệm
+ Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
(Randomized Complete Block Design – RCBD), gồm 4 công thức và 3 lần nhắc lại Trong đó, công thức 1 (CT1) là công thức đối chứng, 3 công thức liều lượng phân bón còn lại là công thức thí nghiệm
+ Kích thước mỗi ô thí nghiệm: 8,5m2
(1,7m x 5m); khoảng cách giữa các lần nhắc lại là rãnh 30cm, giữa các công thức trong 1 lần nhắc lại là 30cm Tổng diện tích thí nghiệm là: 102m2 (8,5m2 x 4 x 3 ) không tính rãnh và hàng bảo vệ
CT1 : 0 N + 20kg P2O5 + 20kg K2O + 1000kg HCVSSG
CT2 : 15 N + 40kg P2O5 + 40kg K2O + 1000kg HCVSSG
CT3 : 30 N + 60kg P2O5 + 60kg K2O + 1000kg HCVSSG
CT4 : 45 N + 80kg PO5 + 80kg K2O + 1000kg HCVSSG
Trang 32 Quy trình kỹ thuật
- Thời vụ: vụ hè thu, gieo ngày 3/7/2016
- Làm đất: đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại, sau đó lên luống, rạch hàng
bằng hạt
+ Xới phá váng tạo điều kiện cho đất tơi xốp, tỉa dặm cây nếu cây bị chết
để đảm bảo độ đồng đều giữa các cây khi cây 1 -2 lá thật
+ Khi cây có 3- 5 lá thật thì tiến hành bón thúc nốt lượng phân kết hợp vun gốc
+ Tưới tiêu nước: khi gieo, nếu đất khô thì phải tưới nước đảm bảo đủ
ẩm độ để hạt có thể nảy mầm tốt Sau gieo cũng nên thường xuyên kiểm tra
độ ẩm đất, cần tưới nước nếu thời tiết khô hạn kéo dài, đất khô hoặc thoát nước kịp thời nếu bị ngập úng Trong quá trình sinh trưởng của cây nếu không có mưa cần phải tưới nước vào những giai đoạn cần thiết như trước giai đoạn ra hoa và phát triển hạt
+ Vun xới lần 1: khi cây được 2 – 3 lá thật, tiến hành vun xới phá váng, kết hợp bón thúc cho cây, tạo độ thoáng khí cho rễ phát triển thuân lợi và diệt
cỏ dại
Trang 33+ Vun xới lần 2: khi cây có 4 – 5 lá thật, tiến hành vun xới lần 2, vun cao, chống đổ
+ Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ sâu bệnh: theo dõi sâu bệnh định kỳ 7 ngày/ lần, phòng trừ sâu bệnh: bệnh lở cổ rễ, sâu đục thân khi cây được 1 – 2
lá thật; bệnh rỉ sắt, nấm, sâu đục quả khi cây vào thời kỳ ra hoa tạo quả Kịp thời phát hiện và trị sâu, bệnh khi phát hiện sâu bệnh đạt ngưỡng kinh tế
- Thu hoạch: Khi có khoảng 95% số quả trên cây đã chín (vỏ quả có màu nâu hoặc đen)
3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Áp dụng theo hệ thống tiêu chuẩn của QCVN 01-58 : 2011/BNNPTNT
do Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón
Quốc gia biên soạn, Cục Trồng trọt trình duyệt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ban hành ta ̣i Thông tư s ố 48 /2011/TT-BNNPTNT ngày 05 tháng 7 năm 2011
Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển:
+ Ngày gieo: 3/7/2016
+ Ngày mọc: tính khi có 50% số cây trong ô thí nghệm có 2 lá mầm xòe trên mặt đất
+ Ngày ra hoa: tính khi 50% số cây trên ô ra hoa đầu tiên
+ Ngày chắc xanh: khi 50% số cây trên ô có quả đã vào chắc
+ Ngày chín: khi 90% số quả trên ô đã chín, vỏ quả chuyển màu nâu hoặc đen
+ Chiều cao cây (cm): đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính khi thu hoạch; đo 10 cây/ô (lấy ở 2 rạch giữa luống, mỗi rạch 5 cây) và tính trung bình
+ Đường kính thân (mm): đo ở giữa đốt đầu tiên trên thân chính lúc thu hoạch; đo 10 cây/ô (lấy ở 2 rạch giữa luống, mỗi rạch 5 cây) và tính trung bình
Trang 34+ Số cành cấp 1: đến số cành mọc ra từ thân chính; đếm 10 cây/ô (lấy ở
2 rạch giữa luống, mỗi rạch 5 cây) và tính trung bình
+ Số đốt trên thân chính: đếm số đốt trên thân chính của 10 cây /ô (lấy
ở 2 rạch giữa luống, mỗi rạch 5 cây) và tính trung bình
ra hoa rộ và chắc xanh
Phương pháp tiến hành: lấy bộ lá của 3 cây liên tiếp trên ô, ở hang ngoài cùng, chuẩn bị bìa cứng 1dm2, lấy lá ở các tầng dưới, giữa và trên của tán cây, xếp cho khít 1dm2 bìa rồi cân nhanh được khối lượng PA, sau đó cân nhanh khối lượng toàn bộ lá của 3 cây được khối lượng PB Chỉ số diện tích lá (CSDTL) tính theo công thức:
và chắc xanh
Phương pháp tiến hành: cân tươi toàn bộ phần trên mặt đất của 3 cây trong ô được khối lượng PT, sau đó đem sấy khô toàn bộ phần PT, sấy đến khi khối lượng cân 3 lần là không đổi được PK
Khả năng tích lũy chất khô (KNTLCK) tính theo công thức:
Trang 35KNTLVCK =
PK (g/cây)
Khả năng chống chịu sâu bệnh
+ Sâu cuốn lá (Lamprosema Indicata): điều tra 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc
Sơ đồ điều tra
Tỉ lệ hại (%) = Số lá bị cuốn x 100
Tổng số lá điều tra
+ Sâu đục quả (Eitiella Zinekenella): Điều tra 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc
Sơ đồ điều tra
Tỉ lệ hại (%) = Số quả bị hại x 100
Tổng số quả điều
tra
Trang 36+ Bệnh gỉ sắt (Phakopsora pachyrhizi Sydow); Bệnh sương mai
(Peronospora manshurica); Bệnh đốm nâu (Septoria glycines Hemmi): điều
tra 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc
Mức độ nhiễm bệnh tính theo thang từ 1 đến 5
Đếm số cây đổ trên ô và đánh giá theo thang từ 1 đến 5:
Mức 1: Không đổ (Hầu hết các cây đều đứng thẳng)
Các yếu tố cấu thành năng suất:
+ Số cây thực tế thu hoạch trên ô: đếm số cây có quả thực tế trên mỗi ô thí nghiệm
Lấy 10 cây theo dõi trên mỗi ô ở 2 rạch giữa, mối hàng 5 cây để theo dõi các chỉ tiêu:
Số quả trên cây (quả): đếm tổng số quả trên 10 cây theo dõi trên mỗi
ô thí nghệm, tính trung bình mỗi cây
Số quả chắc trên cây (quả): đếm tổng số quả chắc trên 10 cây trên mỗi ô thí nghiệm, tính trung bình mỗi cây
Trang 37 Số quả 1 hạt trên cây (quả): đếm tổng số quả 1 hạt trên 10 cây theo dõi trên mỗi ô thí nghiệm, tính trung bình mỗi cây
Số quả 3 hạt trên cây (quả): đếm tổng số quả 3 hạt trên 10 cây theo dõi trên mỗi ô thí nghiệm, tính trung bình mỗi cây
+ Xác định số hạt chắc/quả theo công thức:
Hạt chắc/quả = Tổng số hạt/cây
Tổng số quả chắc/cây
+ Khối lượng 1000 hạt (g) : mỗi công thức đếm 3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt ở
ẩm độ 12% rồi cân 3 mẫu, chia và láy trung bình 3 mẫu là khối lượng 1000 hạt của ô thí nghiệm (lấy 1 chữ số sau dấu phẩy)
+ Năng suất lý thuyết (tạ/ha) (NSLT):
NSLT =
Số quả c hắc/ câ y x s ố h ạ t chắc/ quả x M 1 0 0 0 hạ t x mật đ ộ ( câ y/ m2)
( t ạ/ ha) 10.000
+ Năng suất thực tế (tạ / ha): khi có 90% quả chín, cắt toàn bộ số cây trên ô đem về phơi, tách lấy hạt, cân rồi tính năng suất của từng ô (bao gồm cả những cây trước đã nhổ để theo dõi) Cân năng suất từng lần nhắc lại rồi tính năng suất cho từng công thức mật độ theo đơn vị tạ /ha
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu khi tính toán được xử lý trên EXCEL và IRRISTAT 5.0
Trang 38PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu tại Phú Lương - Thái Nguyên
Thời gian và tỉ lệ nảy mầm trên đồng ruộng là các chỉ tiêu quan trọng, quyết định đến tổng thời gian sinh trưởng của giống đồng thời đảm bảo sự đồng đều cũng như mật độ trên ruộng Giai đoạn này chịu ảnh hưởng rất nhiều của điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ Vì vậy ở các điều kiện khác nhau khả năng sinh trưởng của đậu tương cũng khác nhau Kết quả thời gian từ gieo đến nảy mầm và tỉ lệ mọc mầm của giống trên các mức phân bón khác nhau được trình bày tại bảng 4.1:
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ đến thời gian sinh
trưởng của giống đậu tương ĐT51
Trang 39 Giai đoạn từ gieo đến mọc
Đây là thời kỳ hạt chuyển từ trạng thái ngủ nghỉ sang trạng thái sống để tạo
cơ thể mới được tính từ khi hạt hút nước trương lên đến khi mầm mọc lên khỏi mặt đất, xoè hai lá tử diệp Thời kỳ này khi nhô lên khỏi mặt đất lá diệp tử đã bắt đầu quang hợp Song vật chất quang hợp được là không đáng kể, sinh trưởng của cây chủ yếu dựa vào chất dinh dưỡng trong hạt Đây là thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đến sự tồn tại và sức sống của cây Tỷ lệ nảy mầm của hạt quyết định đến mật độ cây/đơn vị diện tích, sức nảy mầm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậu tương sau này Hạt nảy mầm nhanh và đều, cây con sinh trưởng khỏe thì khả năng chống chịu tốt, có thể cho năng suất cao Nếu hạt nảy mầm chậm, cây con yếu, sức sinh trưởng kém ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng, phát triển về sau
Để hạt nảy mầm tốt yêu cầu nhiệt độ đạt 25 - 300C, độ ẩm đất đạt 75 - 80% Nếu nhiệt độ thấp đậu tương mọc chậm, còn nhiệt độ cao quá thì ảnh hưởng lớn đến quá trình nảy mầm Chất lượng hạt giống tốt, thời điểm gieo thích hợp, làm đất tơi xốp thoáng khí, độ sâu gieo hạt vừa phải từ 2 - 4cm quá trình nảy mầm diễn ra thuận lợi
Qua theo dõi chúng tôi thấy thời gian từ gieo đến mọc của các công thức phân bón thí nghiệm dao động từ 5 – 6 ngày Ba công thức CT1-CT2-CT3có thời gian mọc là 5 ngày và CT4 là 6 ngày Sự chênh lệch về thời gian từ gieo đến nảy mầm của các công thức phân bón tham gia thí nghiệm không lớn, do vậy đảm bảo độ chính xác cho thí nghiệm sau này
Giai đoạn từ gieo đến phân cành
Là giai đoạn còn gọi là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, được tính từ khi cây ra lá thật đến khi cây ra hoa Hoạt động sống của cây lúc này là hình thành
và hoàn thiện các cơ quan dinh dưỡng như: rễ, thân, lá, cành Đồng thời đây
Trang 40cũng là thời kỳ phân hoá mầm hoa, tạo tiền đề quyết định số cành/cây, số hoa/cây, tổng số đốt mang hoa/cây, tạo năng suất sau này
Nhiệt độ thích hợp nhất cho giai đoạn này là 22 - 270C, ẩm độ 75 - 80%,
ẩm độ không khí 75 - 80% Nhiệt độ đất 250
C thì sự sinh trưởng của cây và nốt sần đạt mức tối đa, ở nhiệt độ thấp làm giảm quá trình sinh lý, sinh hoá diễn ra trong cây, giảm sự vận chuyển vật chất quang hợp vào hạt qua việc giảm các chất vào vỏ hạt và giảm sinh trưởng của phôi Nếu ẩm độ không đầy đủ, cây ít đốt, ít cành, ít lá, đặc biệt khi ẩm độ đất thiếu, lượng nước trong cây giảm, lá héo, chóng tàn
Khả năng phân cành của đậu tương ngoài đặc tính giống có ý nghĩa quyết định chính Cây đậu tương còn phụ thuộc vào thời vụ, điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ Trong tháng 11 nhiệt độ trung bình là 22,10C, ẩm độ trung bình
là 82%, lượng mưa là 58,5 mm là điều kiện thuận lợi cho cây phân cành
Qua kết quả theo dõi ta thấy thời sinh trưởng của đậu tương ĐT51 dao động từ 28-30 ngày Sự dao động thời gian giữa các công thức chỉ từ 1- 3 ngày
Đánh giá khả năng phân cành của giống để từ đó có cơ sở áp dụng các biện pháp kỹ thuật kịp thời, tối ưu như: mật độ trồng, tỉa định cây, vun xới, chăm sóc
để phân hoá mầm hoa được tốt, tránh sinh trưởng dinh dưỡng quá mạnh, tạo tiền
đề cho quá trình ra hoa kết quả đạt năng suất cao
Giai đoạn từ gieo đến ra hoa và tạo quả
Trong giai đoạn này cây đậu tương bước vào thời kỳ sinh trưởng sinh thực,
là giai đoạn phát triển các cơ quan sinh sản như: hoa, quả, hạt Đây là thời kỳ
quan trọng trong chu kỳ sống của cây đậu tương Bởi vì nó quyết định tới sinh
khối, tỷ lệ quả chắc, ảnh hưởng đến năng suất sau này của đậu tương
Thời gian ra hoa của cây đậu tương được tính từ khi có hoa đầu tiên cho đến khi có hoa cuối cùng Thời gian nở hoa trug bình là từ 3 - 4 tuần, có trường