Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ HIÊN
SO SÁNH NĂNG SUẤT MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG LẠC
VÀ PHƯƠNG PHÁP BÓN VÔI CHO LẠC TRONG ðIỀU KIỆN
VỤ XUÂN TẠI VIỆT YÊN - BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS LÊ SONG DỰ
HÀ NỘI, 2008
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn bộ
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược công bố trong các công trình nghiên cứu khác
Tôi xin cam ñoan các thông tin trích dẫn trong luận văn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hiên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS Lê Song Dự ñã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ tôi hoàn thành ñề tài nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo, cán bộ của Bộ môn Cây công nghiệp – Khoa nông học, Khoa sau ñại học trường ðại học Nông nghiệp
Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ñậu ñỗ, Trạm nghiên cứu ñậu ñỗ Bắc Giang, Phòng thống kê, Phòng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Việt Yên - Bắc Giang là những cơ quan ñã tạo ñiều kiện cung cấp giống lạc có chất lượng cao làm vật liệu nghiên cứu và các
tư liệu, tài liệu tham khảo liên quan ñến ñề tài luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Ý Yên, phòng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn huyện Ý Yên, gia ñình, bạn bè cùng ñồng nghiệp ñã tạo ñiều kiện giúp ñỡ, ñộng viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hiên
Trang 41.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 3
2.2 Tầm quan trọng, vai trò và vị trí của cây lạc 6 2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới 8 2.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc ở Việt Nam 20
3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 33
4.1 ðiều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và kết quả ñiều tra tình hình
sản xuất lạc ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 43
4.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện 48
Trang 54.1.4 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Yên Những yếu tố hạn chế năng suất
4.2.2 ảnh hưởng của phương pháp bón vôi ñến sinh trưởng, phát triển và
4.2.3 ảnh hưởng của phương pháp bón vôi ñến mức ñộ xâm nhiễm của
nấm Aspergillus flavus gây ñộc tố Aflatoxin trên lạc 84
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
Trang 7TTNCPTðð Trung tâm Nghiên cứu Phát triển ñậu ñỗ
4.12 Khả năng tích luỹ chất khô của các dòng, giống lạc vụ xuân 2008 67 4.13 Mức ñộ nhiễm sâu bệnh hại của các dòng, giống lạc 69 4.14 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống lạc 70
4.16 ảnh hưởng của phương pháp bón vôi ñến chỉ tiêu sinh trưởng của lạc 74 4.17 ảnh hưởng của phương pháp bón vôi ñến ñộng thái tăng trưởng
Trang 84.18 ảnh hưởng của phương pháp bón vôi ñến khả năng phát triển cành
4.25 ảnh hưởng của phương pháp bón vôi ñến mức ñộ nhiễm A.flavus
và hàm lượng Aflatoxin trong hạt sau thu hoạch 86
Trang 101 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của nước ta ñã thu ñược những thành tựu ñáng kể An ninh lương thực - một vấn ñề cơ bản của người dân Việt nam ñã ñược giải quyết, từ ñó nông dân có ñiều kiện chuyển ñổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang trồng cây khác có hiệu quả kinh tế cao hơn, trong ñó lạc là cây trồng ñược quan tâm nhiều
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn
ngày có giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao và là cây cải tạo ñất lý tưởng Sản phẩm từ hạt lạcñó góp phần ñáng kể vào việc cung cấp năng lượng cho bữa ăn của con người
Hạt lạc chứa nhiều khoáng chất Ca, Fe, Mg, P, K, Zn và một lượng vitamin lớn, ñặc biệt là vitamin B Dầu của hạt lạc chủ yếu chứa axit béo chưa
no giúp cơ thể con người dễ hấp thụ và hạn chế lượng cholesterol trong máu
Vì thế, ngoài là thức ăn giàầu năng lượng, ñủ protein, người ta còn quan tâm ñến tác dụng chữa bệnh của hạt lạc
Bằng những nghiên cứu sâu, y học hiện ñại ñã cho thấy hạt lạc có tác dụng hạn chế ñược nhiều loại bệnh Lạc là thức ăn rất tốt ñối với bệnh nhân bị tiểu ñường vì nó ngăn cản dinh dưỡng gây tăng nhanh nồng ñộ ñường trong máu, và còn bổ sung sự thiếu hụt niacin cho bệnh nhân bị mắc chứng tiêu chảy mãn tính
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng cho con người, lạc còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc Tỷ lệ ñường, chất ñạm trong thân lá lạc khá cao, ñặc biệt là khô dầu lạc có chứa 50% protein có thể cung cấp ñầy ñủ dinh dưỡng cho gia súc
Lạc là cây trồng dễ tính, có khả năng thích ứng rộng, không kén ñất, không ñòi hỏi bón nhiều phân ñạm vì bộ rễ có vi khuẩn cộng sinh có khả năng cố ñịnh
Trang 11ñạm, tạo ra lượng ñạm sinh học cung cấp cho cây và làm tăng ñộ phì ñất
Trong những năm qua, sản xuất lạc ở nước ta ñã ñạt ñược những kết quả ñáng ghi nhận Năng suất lạc bình quân trên toàn Quốc tăng từ 14,51 tạ/ha (năm 2000) lên 19,83 tạ/ha (năm 2007) [30] Tuy nhiên, sự chênh lệch năng suất giữa các vùng miền còn khá lớn Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu giống có năng suất cao, có tính chống chịu, thích hợp cho từng ñịa phương và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất lạc ởủ một số nơi chưa ñược ñầu tư ñúng mức
Bên cạnh ñó, với khí hậu nóng ẩm ở miền Bắc nước ta thì lạc là một trong những ñối tượng cây trồng thích hợp cho các loại sâu bệnh gây hại làm
giảm năng suất, trong ñó có nấm Aspergillus flavus tấn công và sản sinh ñộcố
tố Aflatoxin Nhiễm Aflatoxin sẽ làm ảnh hưởng ñến giá trị sản phẩm, giá trị sử dụng và nguy hiểm hơn Aflatoxin là tác nhân gây ung thư cho người và ñộng vật
Ở Việt nam, việc nghiên cứu về Aflatoxin trên lạc còn rất hạn chế, chủ yếu các nghiên cứu mới tập trung vào ñiều tra, thu thập, phân lập, xác ñịnh các loại nấm hại và phân tích mẫu ñất, quả và hạt lạc, chỉ ra sự có mặt của nấm và hàm lượng ñộc tố Aflatoxin chứa trong sản phẩm Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác như thời vụ, phân bón, vôi, ñến sự xâm nhiễm
của nấm Aspergillus flavus và sản sinh ñộc tố Aflatoxin trên lạc chưa ñược quan
tâm nghiên cứu một cách óhệ thống trên các vùng có diện tích lạc lớn
Việt Yên là huyện trung du của tỉnh Bắc Giang nơi có truyền thống sản xuất lạc từ lâu ñời với diện tích khoảng 1000 ha/năm Cây lạc ở ñây chủ yếu ñược trồng trên ñất bạc màu nghèo dinh dưỡng và tồn tại nhiều nấm bệnh hại, ñặc biệt là nấm Aspergillus flavus có khả năng sản sinh ñộc tố Aflatoxin trên hạt lạc Bên cạnh ñó, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về sản xuất lạc òchưa ñược người dân quan tâm nhiều, vì thế năng suất lạc bình quân của huyệnò thấp (19 tạ/ha) so với một số tỉnh ñiển hình ở miền Bắc như Nam ðịnh (37 tạ/ha), Hà
Trang 12Nam (25 tạ/ha) (Tổng cục thống kê, 2007) [30] Nhằm mở rộng diện tích và nâng cao năng suất lạc tại Việt Yên, Bắc Giang, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóaềữ tại ñịa phương chúng
tôi tiến hành ñề tài: “So sánh năng suất một số dòng, giống lạc và phương pháp bón vôi cho lạc trong ñiều kiện vụ xuân tại Việt Yên - Bắc Giang”
1.2 Mục ñích - yêu cầu
1.2.1 Mục ñích
- Xác ñịnh yếu tố hạn chế năng suất lạc, bộ giống lạc có năng suất cao thích hợp với vùng sinh thái ùávà phương pháp bón vôi hợp lý cho lạc Xuân tại Việt Yên, Bắc Giang
- Xác ñịnh phương pháp bón vôi hợp lý nhằm tăng năng suất và giảm
thiểu mức ñộ xâm nhiễm nấm Aspergillus flavus gây ñộc tố Aflatoxin trên lạc
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Trên cơ sở ñánh giá thực trạng sản xuất lạc của huyện từ ñó xác ñịnh ñượnhững lợi thế và nguyên nhân hạn chế năng suất lạc
- Làm cơ sở khoa học góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh lạc
ónăng suất cao, hạn chế mức ñộ xâm nhiễm của nấm Aspergillus flavus gây
ñộc tố Aflatoxin trên lạc tại huyện Việt Yên - Bắc Giang
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Bổ sung một số giống lạc có năng suất cao, phù hợp với ñiều kiện sinh thái củaạ ñịa phương vào cơ cấu giống của huyện nhằm nâng cao năng suất
Trang 13lạc
- Xác ñịnh phương pháp bón vôi óhiệu quả nhất nhằm khuyến cáo cho người dân trồng lạc trên ñịa bàn huyện Việt Yên - Bắc Giang
Trang 141.4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
- ðề tài ñược nghiên cứu trong vụ xuân năm 2008 tại huyện Việt Yên, Bắc Giang
- Sử dụng vật liệu nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ñậu ñỗ cung cấp
- Sử dụng lượng phân và vôi bón cho lạc trong thí nghiệm theo Qui trình kỹ thuật sản xuất lạc cho các tỉnh phía bắc do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ñậu ñỗ khuyến cáo làm cơ sở khoa học ñể thực hiện thí nghiệm
Trang 15
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và phân bố của cây lạc
Dựa vào tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học người ta cho rằng cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ,à ựặc biệt ở những vùng ựảo thuộc Tây Ấn, Mêhicô, vùng biển đông - đông Bắc Braxin, trên những vùng ấm áp thuộc lòng chảo Rio-Plata bao gồm: Achentina, Paragoay, Bolivia, Cực Tây Nam Braxin, Pêru Sau ựó cây lạc ựược phổ biến sang Châu Âu, tới vùng bờ biển Châu Phi, Châu Á (Trung Quốc, Indonesia,
Ấn độ), tới quần ựảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới vùng đông Nam Hoa
Kỳ Tuy nhiên, giới hạn sản xuất rộng rãi của cây lạc ở khoảng 400 Bắc ựến
400 Nam (Vũ Công Hậu và CS biên dịch, 1995) [15]
Hiện nay, lạc ựược trồng nhiều ở các nước Ấn độ, Trung Quốc, Mỹ, Senegan, Indonesia, Nigeria, Myanma, Braxin và Achentina, Thái Lan, Việt Nam, (Vũ Công Hậu và CS biên dịch, 1995) [15]
2.2 Tầm quan trọng, vai trò và vị trắ của cây lạc
2.2.1 Giá trị của cây lạc trong hệ thống trồng trọt
Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây có khả năng cố ựịnh ựạm sinh học rất
tốt, trong ựiều kiện thuận lợi có thể cố ựịnh ựược lượng ựạm tương ựối lớn từ 200-260 kg N/ha (Williams, 1979) [82] Chắnh vì vậy, lạc là ựối tượng cây trồng ựược sử dụng nhiều trong các công thức luân canh của hệ thống trồng trọt Thân lá, rễ lạc ựược chôn vùi sau thu hoạch là biện pháp làm giàu ựạm cho ựất cóó hiệu quả
Theo kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, ựặc biệt là việc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa ựã rút ra ựược những kết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: ựđưa các cây họ ựậu vào luân canh với lúa, giúp cải thiện tắnh chất lý, hoá của ựất một cách rõ rệt, làm
Trang 16thay ñổi pH của ñất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong ñất (Fu Hsiung Lin, 1990) [53]
áảNgô ðức Dương (1984) [11] khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng chuyên canh lạc phía Bắc nước ta ñã kết luận: Cây lạc luân canh tốt nhất với cây trồng họ hoà thảoà ñặc biệt là với lúa nước, ở thời ñiểm 1 năm sau khi luân canh với cây lúa chế ñộ dinh dưỡng ñất ñựơc cải thiện rõ rệt, pH ñất tăng, lượng chất hữu cơ tăng, hàm lượng ñạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong ñất ñều tăng
Theo tác giả Lê Văn Diễn và cộng sự (1991) [6] khi so sánh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên các chân ñất khác nhau ở một số vùng chuyên canh lạc vùng ñồng bằng Bắc Bộ ñã chỉ ra rằng: ở tất cả các công thức luân canh có lạc Xuân ñều cho tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả ñồng vốn ñầu tư cao hơn so với các công thức luân canh khác trên cùng một loại ñất ðồng thời khiñ so sánh hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính ở
vụ Xuân như: lúa, lạc, ñậu tương, ngô, các tác giả cũng ghi nhận àviệc trồng lạc trong vụ Xuân cho thu nhập thuần cao hơn so với trồng các cây trồng khác Từ ñó có thể thấy lạc là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, ñặc biệt là với các công thức luân canh nền lúa và trồng lạc trong vụ Xuân cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với các cây trồng khác cùng thời vụ
2.2.2 Giá trị dinh dưỡng của lạc
Hạt lạc là sản phẩm chính thu ñược từ cây lạc Hạt lạc là thức ăn giàu lipit (40- 60%), protein (26- 34%), vitamin và các khoáng chất ñối với con người Do vậy, hạt lạc từ lâu ñã ñược con người sử dụng như một nguồn thực phẩm quan trọng Gần ñây, sự phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm ñã chế biến nhiều sản phẩm từ lạc như: dầu lạc, bơ lạc, phomat lạc, sữa lạc ñể phục vụ cho nhu cầu sử dụng của con người ở nhiều nước trên thế giới, ñặc biệt là ở các nước phát triển (ðoàn Thị Thanh Nhàn , và CS, 1996) [25]
Trang 17Ngoài ra thân lá, khô dầu lạc là nguồn thức ăn giàu ựạm cho chăn nuôi Trong khẩu phần thức ăn của gia súc, khô dầu lạc có thể chiếm tới 25- 30% (đoàn Thị Thanh Nhàn và CS, 1996) [25], (Phạm Văn Biên và CS, 1991) [1]
Vỏ quả lạc chiếm 25 - 30% khối lượng quả, vỏ lạc dùng ựể nghiền thành cám làm thức ăn chăn nuôi
2.2.3 Giá trị về mặt xuất khẩu
Hiện nay lạc là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn Trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, sản lượng lạc xuất khẩu trên thế giới bình quân chỉ ựạt 1,11 - 1,16 triệu tấn/năm, ựến năm 1997 - 1998 tăng lên 1,39 triệu tấn và ựến năm 2001- 2002 ựạt 1,58 triệu tấn Trong ựó châu
Mỹ và Châu Á là 2 khu vực xuất khẩu nhiều nhất chiếm 70% sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới
Ở khu vực đông Nam Á, trong những năm 80 của thế kỷ 20 xuất khẩu lạc hàng năm ở chỉ ựạt 0,32 triệu tấn/năm Trong ựó Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Singapore là các nước xuất khẩu lạc nhiều
Trong vòng 10 năm (1991- 2000), Việt Nam ựứng thứ tư về xuất khẩu lạc, tổng sản lượng xuất khẩu là 127 nghìn tấn Những năm gần ựây (2001-2005), trung bình kim ngạch xuất khẩu lạc của Việt Nam ựạt trên 50 triệu ựôla Mỹ và lạc ựược xếp vào một trong các mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu của cả nước
Từ những giá trị kinh tế mà cây lạc ựem lại có thể khẳng ựịnh rằng vai trò của cây lạc rất quan trọng ựối với nền kinh tế nông nghiệp ở nước ta
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới
2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới
Tình hình sản xuất
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm
ngắn ngày Mặc dù ựã có từ rất lâu ựời nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ ựược xác ựịnh trên 100 năm trở lại ựây Trên thế giới, hiện nay nhu cầu sử dụng và
Trang 18tiêu thụ lạc ngày càng tăng và ựang khuyến khắch nhiều nước ựầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng Diện tắch, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới có xu hướng tăng, diện tắch trung bình 6 năm gần ựây (2000 - 2006) là 22,42 triệu ha, tăng so với những năm 70 của thế kỷ trước là 24,8%, so với những năm 90 là 8,7% Năm 2006, diện tắch trồng lạc của thế giới ựạt 21,67 triệu ha, năng suất bình quân ựạt 15,6 tạ/ha và sản lượng ựạt 33,8 triệu tấn So với năm 1994, diện tắch lạc tăng 10,3%, năng suất tăng 28,8% và sản lượng tăng 42,3%, (FAOSTAT Database Wibsite) [47], (USDA, 2000-2006) [80]
Bảng 2.1 Diện tắch, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới
giai ựoạn 2000 - 2006
Chỉ
tiêu
đV tắnh 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Diện tắch Triệu ha 24,10 24,04 24,10 26,46 22,73 25,22 21,67 Năng suất tạ/ha 14,50 15,00 13,48 14,03 14,71 14,47 15,6 Sản lượng Triệu tấn 34,90 36,08 33,30 35,66 33,45 36,49 33,8
Nguồn: FAOSTAT
Theo thống kê của FAO (FAOSTAT Database Wibsite) [47], USDA (USDA, 2000-2006) [80], châu Á có diện tắch trồng lạc lớn nhất thế giới (chiếm 60% diện tắch trồng và 70% sản lượng lạc trên thế giới - năm 2005) Trong ựó, diện tắch khu vực đông Á tăng mạnh nhất từ 2,0 triệu ha lên 3,7 triệu ha, khu vực đông Nam Á tăng 15,5%, Tây Á tăng 14,1%
Ấn độ là nước có diện tắch sản xuất lạc lớn nhất trên thế giới Do lạc chủ yếu ựược trồng ở những vùng khô hạn và bán khô hạn nên năng suất lạc rất thấp, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới Năm 1995, diện tắch trồng lạc của Ấn độ là 7,8 triệu ha, chiếm 37% diện tắch trồng lạc trên thế giới, năng suất ựạt 9,5 tạ/ha và sản lượng ựạt 7,3 triệu tấn (Florkowski V.J.,
Trang 191994) [52] Theo thống kê từ năm 2000-2004 diện tắch lạc trung bình hàng năm của Ấn ựộ là 8,2 triệu ha (chiếm 36,2%), năng suất trung bình là 8,6 tạ/ha, giảm 8,5% so với những năm 90 của thế kỷ 20 (USDA, 2000-2006) [80]
Trung Quốc là nước ựứng thứ hai về diện tắch trồng lạc (USDA, 2006) [80] Những năm gần ựây trung bình diện tắch trồng lạc hàng năm của Trung Quốc là 5,03 triệu ha, chiếm 20% tổng diện tắch lạc toàn thế giới Năng suất lạc trung bình là 28,2 tạ/ha, cao gần gấp ựôi năng suất lạc trung bình của toàn thế giới Sản lượng là 14,16 triệu tấn, chiếm gần 40% tổng sản lượng lạc trên toàn thế giới Tỉnh Sơn đông là tỉnh có diện tắch trồng lạc lớn nhất Trung Quốc, chiếm 23% diện tắch, 33,3% tổng sản lượng lạc của cả nước, năng suất lạc trung bình ở Sơn đông cao hơn năng suất trung bình của cả nước là 34%ôếâượêị [46]
2000-Có ựược những thành tựu này là do Trung Quốc ựặc biệt quan tâm ựến công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nhiều năm qua
Mỹ là nước có diện tắch, năng suất lạc khá ổn ựịnh, sản lượng ựứng thứ
ba sau Trung Quốc và Ấn ựộ Những năm 90 của thế kỷ 20, diện tắch lạc hàng năm của Mỹ là 0,57 triệu ha, năng suất là 27,9 tạ/ha ( Ceasar.L.Revoredo et al., 2002) [36] Giai ựoạn từ 2000-2004, diện tắch trồng lạc trung bình là 0,578 triệu ha/năm Năng suất trung bình hàng năm là 31,7 tạ/ha, cao hơn những năm trước là 13,6% (USDA, 2000-2006) [80]
Ngoài các nước trên, cây lạc còn ựược trồng ở nhiều nước khác trên thế giới như Achentina, Indonesia, Hàn Quốc, Senegan, Braxin, Isaren,
Tình hình tiêu thụ lạc:
Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn độ, Việt Nam là những nước xuất khẩu lạc nhiều trên thế giới Ngược lại, Hà Lan, Canada, đức, Nhật,
Trang 20Singapore, Pháp, là những nước nhập khẩu lạc nhiều trên thế giới
Từ năm 1991 ñến năm 2000, Trung Quốc là nước xuất khẩu lạc nhiều nhất, hàng năm trung bình xuất khẩu gần 78 nghìn tấn, chiếm trên 26,5% tổng sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới ðứng thứ 2 là Mỹ, trung bình hàng năm xuất khẩu 67,3 nghìn tấn, chiếm 22,9% tổng lượng xuất khẩu lạc thế giới Achentina là nước ñứng thứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu 36,2 nghìn tấn, chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới (USDA, 2000-2006) [80]
Hà lan là nước nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991-2000, trung bình hàng năm nhập khẩu 39,8 nghìn tấn, chiếm 13,9% tổng lượng lạc nhập khẩu của thế giới ðứng thứ 2 là Indonesia, bình quân hàng năm nhập khẩu 34,3 nghìn tấn
Từ năm 2001-2005, châu Âu là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới, chiếm 60% tổng lượng nhập khẩu lạc của thế giới với khoảng 460 nghìn tấn mỗi năm, tiếp theo là thị trường Nhật Bản, nhập khẩu 130 nghìn tấn lạc mỗi năm (USDA, 2000-2006) [80]
2.3.2 Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới
2.3.2.1 Một số kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới
Giống là một trong những yếu tố rất quan trọng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng lạc Do ñó từ nhiều năm qua, các Quốc gia, các nhà khoa học trên thế giới ñã ñặc biệt quan tâm ñến chương trình chọn tạo giống lạc phục vụ sản xuất
Viện Nghiên cứu Cây trồng vùng nhiệt ñới bán khô hạn (ICRISAT) là
cơ sở nghiên cứu lớn nhất về cây lạc Tính ñến năm 1993, ICRISAT ñã thu thập ñược 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 89 nước trên thế giới Trong ñó, từ châu Phi là 4.078 mẫu, châu Á 4.609, châu Âu 53, châu Mỹ là 3.905, châu Úc
và châu ðại dương 59, còn 1.245 mẫu giống chưa rõ nguồn gốc ðặc biệt,
Trang 21ICRISAT ñã thu thập ñược 301 lượt mẫu giống thuộc 35 loài dại của chi
Arachis, ñây là nguồn gen có giá trị cao trong công tác cải tiến giống theo hướng chống bệnh và chống chịu với ñiều kiện ngoại cảnh bất thuận (Mengesha M.H, 1993) [64]
ICRISAT ñã chọn ñược nhiều giống lạc mới có năng suất cao như: ICGV - SM 83005 (Nigam S.N et al, 1998) [69], ICGV88438, ICGV89214, ICGV91098 (Hadjichristodoulou A et al, 1997) [56], và các giống lạc chín sớm ICGV 86105 (Nigam S.N et al, 1995) [70], ICGS (E) 52, ICGV 86062
Ở Trung Quốc, việc cải tiến giống ñã ñóng góp một phần rất lớn cho việc tăng sản lượng lạc Hơn 200 giống có năng suất cao ñã ñược phát triển và phổ biến cho sản xuất từ những năm cuối của thập kỷ 50 của thế kỷ 20 Kết quả ghi nhận là các giống lạc ñược trồng ở tất cả các vùng ñạt tới 5,46 triệu ha Trong số ñóó những giống có năng suất cao là Haihua1, Xuzhou 68-4, Hua 37, Luhua 9,11,14 và 8130, tiềm năng năng suất của mỗi giống tới 7,5 tấn/ha ôếâượêị [46]
Các giống lạc có chất lượng hạt tốt bao gồm: Baisha 1016, Hua 11, Hua
17, Luhua 10 và 8130 ñã sản xuất chủ yếu ñể xuất khẩu Một số giống kháng cao với bệnh héo xanh vi khuẩn và bệnh gỉ sắt như giống: Luhua 3, Zhonghua
2, Zhonghua 4, Yueyou 256 ñã ñược sử dụng rộng rãi ở các vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao, nhờ ñó mà năng suất lạc luôn ñược giữ ổn ñịnh Trong những năm 2003 và 2004, Trung Quốc ñã công nhận 17 giống lạc mới, trong
ñó ñiển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01-2101, Yuznza 9614, 99-1507, R1549 có năng suất trung bình là 46-70 tạ/ha (ICRISAT, 2005) [57]
Ấn ðộ ñã lai tạo và chọn ñược các giống lạc thương mại mang tính ñặc trưng cho từng vùng Mỗi bang của Ấn ðộ trồng các giống khác nhau Tại Bang Andhra Pradessh, trồng giống Kadiri-2, Giống Karidi-3, chiều cao cây 23-28 cm, thời gian sinh trưởng 115-120 ngày, hạt chứa 43,7% dầu, tỷ lệ nhân
Trang 2276% Bang Gujarat, trồng giống GAUG-1, dạng cây ñứng, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, thích ứng trong ñiều kiện canh tác nước trời Bang Haryana, trồng giống MH, dạng thân ñứng, lá màu xanh tối, thời gian sinh trưởng 105-110 ngày Bang Uttar pradesh, trồng giống T-28, dạng thân bò, lá xanh ñen, hạt chứa 48% dầu, năng suất cao Giống Kaushal, dạng thân ñứng,
lá màu xanh tối, thời gian sinh trưởng 108 ñến 112 ngày, năng suất cao, tỷ lệ nhân 72% (Groundnut) [54]
Ở Mỹ, các nhà khoa học không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu giống và
ñã tạo ñược nhiều giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh phục vụ sản xuất (Florigant Florkowski V.J.1994) [52], giống F2 VA93B ( Coffelt T.A et al, 1994) [37], VGP9 ( Coffelt T.A et al, 1994) [38] Giống VGS1 và VGS2 ñều là 2 giống có năng suất cao ñược trồng nhiều ở Floridaà ( Coffelt T.A et al, 1995) [39] Giống Andru 93 là giống có năng suất cao, hàm lượng dầu là 50,7%, giống NC12C có khả năng kháng bệnh ñốm lá, gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn, năng suất cao từ 30-50 tạ/ha ñược trồng phổ biến ở Georgia, Florida và Alabam (Isleib T.G et al, 1997) [58] Giống Tarmun 96, năng suất cao và có khả năng kháng bệnh thối quả và một số bệnh
do virus khác (Smith và CS., 1998) [76]
Australia ñã thu thập ñược 12.160 lượt mẫu giống từ nhiều nước trên thế giới như châu Phi, Trung Quốc, Bắc Mỹ, châu Á, châu Âu, châu ðại Dương Hầu hết các mẫu giống ñều thuộc 2 kiểu phân cành liên tục và xen kẽ Theo FAO (1991) [48]
Philipin ñã ñưa vào sản xuất nhiều giống như UPLP n6, UPLP n8
và BPIP n8 có kích thước hạt lớn, kháng bệnh gỉ sắt, bệnh ñốm lá (Perdido, 1996) [71]
Thái Lan cũng ñã chọn tạo và ñưa vào sản xuất các giống lạc có ñặc tính năng suất cao, chín sớm, chịu hạn, kháng bệnh ñốm lá, gỉ sắt có kích
Trang 23thước hạt lớn như: Khon Kean 60-3; Khon Kean 60-2; Khon Kean 60-1 và Tainan 9 (Sanun Joglog và CS., 1996) [75]
2.3.2.2 ộốKết quả nghiên cứu về ỹậáêếớsử dụng phân bón cho lạc
Các nhà khoa học ựều khẳng ựịnh, cây lạc cần lượng ựạm lớn ựể sinh trưởng và tạo năng suất, lượng ựạm này chủ yếu lấy từ quá trình cố ựịnh ựạm sinh học Tuy nhiên, ựể lạc ócho năng suất caoì cần phải bón bổ sung thêm các dinh dưỡng khoáng vào những giai ựoạn cần thiết
Tại Ấn độ, ựã tiến hành nhiều nghiên cứu về hiệu quả của bón ựạm cho lạc, theo Nadagoida (1968),ì bón 30kg N/ha năng suất lạc tăng 29% so với không bón, còn Reid và Cox (1973) [72] cho rằng, bón N cho lạc chỉ có hiệu quả ựối với ựất xấu
Ở Trung Quốc, bón lót 187,5 kg phân ựạm có chứa 20% kg N nguyên chất ìnăng suất lạc tăng lên từ 4,8 - 20%, bón thúc từ 7,5 - 15,0 kg/ha ở giai ựoạn cây con, năng suất lạc tăng 9 - 11% Không nên bón ựạm quá nhiều cho lạc dẫn ựến sinh trưởng thân lá mạnh và sẽ làm giảm năng suất, với ựất có hàm lượng N < 0.045%ì bón 94 kg N/ha; ựất có hàm lượng ựạm N = 0,045 Ờ 0,065% ìbón 56 kg N/ha, ựất có hàm lượng N > 0,065%, không cần bón ựạm ôếâượêị [46]
Theo Lê Song Dự và CS (1979) [8ế], tại Senegan, phân lân có hiệu lực trên nhiều loại ựất Hiệu quả tăng năng suất của lân là 10-15% với lượng bón tương ựối thấp (12-14kg P2O5/ha), phân lân không có hiệu quả chỉ khi hàm lượng lân dễ tiêu trong ựất ựạt trên 155 ppm
Ở Ấn độ, bón 14,52kgP/ha cho lạc nhờ nước trời, năng suất lạc tăng 210kg/ha, trên ựất limông ựỏ nghèo N, P bón 15kgP/ha, năng suất lạc tăng 14,7% đựất ựen bón 10kgP/ha lên lá lạc cho năng suất tương ựương với bón 40-60kgP/ha vào ựất (Vũ Công Hậu và CS biên dịch 1995) [15]
Ghosh và CS., (2001) [55] cho rằng, bón lân là biện pháp cơ bản nâng cao
Trang 24năng suất lạc, bún 13,1 kg P/ha năng suất tăng 28,8%, bún 26,2 kg P/ha năng suất tăng 40% so với khụng bún lõn
Bún vụi cho lạc rất quan trọng, vụi làm giảm ủộc tố Al, Mn, làm tăng cỏc nguyờn tố P, Ca, Mg, Mo và cải thiện sự hỡnh thành nốt sần (Mengel và cỏc cộng sự , 1987) [63]
Vụi là một trong những yếu tố dinh dưỡng quan trọng ủối với sinh trưởng phỏt triển của lạc ðặc biệt, bún vụi ủỳng cỏch sẽ làm cõy sinh trưởng phỏt triển thuận lợi, hạn chế sõu bệnh và tăng năng suất lạc
Venkatarao [15] ủó tăng năng suất quả lạc bằng cỏch bún Ca cho ủất cỏt và ủất limụng cỏt ở Karnataka
Sanjeeviah (1969) [15] cho biết, năng suất quả lạc ủó tăng 12% so với ủối chứng nhờ bún thờm 120 kg CaO/ha
Yadahalli (1970) [15], tăng năng suất quả 89,1% trờn ủất ủỏ pH = 7,8 khi bún thạch cao với lượng 450 kg/ha trong ủiều kiện nước trời
Satyanaraya (1975) [15] cho biết, khi bún 1 tấn vụi và 0,3 tấn thạch cao/ha trờn ủất chua pH = 5,1 ở Bangalore thỡ tăng ủược năng suất
Thompson L.M (1957) [78], bún vụi làm pH tăng kộo theo ủạm và lõn
dễ tiờu trong ủất tăng, cung cấp dinh dưỡng cho cõy lạc
Caires và Rosolem (1995) [35] cho rằng, năng suất lạc tăng theo tỷ lệ thuận với mức Ca tăng từ 0, 4, 6, 8 tấn/ha
Duan Shufen (1998) [46] cho biết, bún vụi cho ủất chua làm trung hoà
ủộ pH, thay ủổi lý tớnh của ủất và ngăn ngừa sự tớch luỹ cỏc ủộc tố nhụm trong ủất trồng
Bún Ca chỉ cú hiệu quả cao ủối với ủất cú hàm lượng Ca dễ tiờu nhỏ hơn 158 mg/kg ủất (Adams và CS., 1993) [32]
Tại Trung Quốc, bón thạch cao với liều l−ợng 37,5 kg/ha cho đất nâu ở Weihai đ+ làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha/năm, tăng 11,8% so với đối
Trang 25chứng không bón [46]
2.3.2.3 Nghiên cứu về độc tố Aflatoxin trên thế giới
* Tầm quan trọng của vấn đề nhiễm Aflatoxin
Bệnh mốc vàng (A.flavus) là đối tượng có ý nghĩa kinh tế quan trọng với cây lạc, được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới Nấm A.flavus có
khả năng sinh độc tố aflatoxin, có thể gây ung thư và một số bệnh nguy hiểm
trên người và động vật Các nghiên cứu về nấm A.flavus và sự hình thành
aflatoxin trên lạc và các sản phẩm từ lạc trên thế giới được tiến hành toàn diện
và hệ thống, với gần 2000 công trình được xuất bản (Mehan et al, 1991) [65]
Là nước có sản lượng lạc lớn nhất thế giới (6-7 triệu tấn/năm), nhưng tỷ
lệ xuất khẩu của Ấn ðộ chỉ ủạt 5% Theo Tulpule, Mehan (1983) [79], 12,5% mẫu lạc từ bang Andhra Pradesh ủược phỏt hiện nhiễm aflatoxin với hàm lượng lờn tới 1000 - 5000àg/kg Tại nhiều vựng khỏc tỷ lệ nhiễm aflatoxin trờn lạc ủược ghi nhận 20 - 40%, thậm chớ là 82% ðõy là rào cản chớnh cho việc xuất khẩu lạc và dầu lạc của Ấn ðộ sang Chõu Âu
Trung Quốc, quốc gia ủạt năng suất lạc cao nhất thế giới, cũng gặp khú khăn với vấn ủề aflatoxin Từ 1973 - 1997, từ 26,3 - 47,3% mẫu lạc và dầu ăn ủược phỏt hiện nhiễm aflatoxin 3 -500 àg/kg (Daren X, 1989) [41]
Tại Thỏi Lan, kết quả ủiều tra trờn hơn 100 ủịa ủiểm cho thấy 49% cỏc mẫu lạc nhiễm aflatoxin, trung bỡnh là 1530àg/kg, cao nhất là 12.300àg/kg (Mehan et al., 1991) [65]
Kiểm tra aflatoxin tại Braxin, một quốc gia sản xuất lạc lớn trờn thế giới ủó cho thấy, mức ủộ nhiễm ủộc tố rất cao, ơtrờn 1000àg/kg, một vài mẫu
cú hàm lượng ủộc tố lờn tới ơtrờn 10.000àg/kg và tần suất hạt chứa ủộc tố lớn (60-90%) (Fonseca et al., 1983) [51]
Trang 26Tại châu Phi, một số nước có diện tích trồng lạc lớn cũng bị nhiễm aflatoxin cao Mehan et al., (1991) [65] ñã ghi nhận, 44% mẫu lạc nhiễm aflatoxin tại Ai Cập và 94/98 mẫu nhiễm aflatoxin tại Nigeria, trong ñó 54% mẫu có hàm lượng aflatoxin cao hơn 30µg/kg
Các nước nhập khẩu lạc và các sản phẩm từ lạc luôn yêu cầu chứng nhận về hàm lượng aflatoxin từ các nước xuất khẩu lạc Hàm lượng aflatoxin tối ña cho phép tại Hoa Kỳ là 15 µg/kg (Stloffo, 1977) [74], một số nước Châu Âu chỉ số này ñược yêu cầu nhỏ hơn 5 µg/kg (Machmud, 1989) [61]
Vấn ñề này gây khó khăn cho một số nước xuất khẩu lạc mà phần lớn
là các nước ñang phát triển
* Sự xâm nhiễm nấm Aspergillus flavus và hình thành aflatoxin trên lạc
Nấm A.flavus và A.Parasiticus là 2 loài có thể sinh ñộc tố aflatoxin
(Wilson et al., 1968) [81] Một ñiều tra cho thấy 72% của 2.979 isolate
A.flavus có sinh ñộc tố aflatoxin, chứng tỏ hầu hết các chủng A.flavus ñều
sinh ñộc tố aflatoxin trong lạc (Mehan, 1998) [66]
Giai ñoạn trước thu hoạch: Các nhân tố có ảnh hưởng bất lợi ñến cây và quả trong quá trình chín như thu hoạch muộn, khô hạn (Mehan et al., 1986) [67], vết thương cơ giới (Ashworh, Langley, 1964) [33], sự gây hại của côn trùng, nhện và tuyến trùng (Dicken, 1997) [43], ñều làm gia tăng mức ñộ
nhiễm A.flavus và aflatoxin trên lạc Sự xâm nhiễm của các nấm ñất như
Fusarium ssp., Rhizocctonia solani, Pythium myriotylum có thể không gây hại
nghiêm trọng nhưng là nhân tố làm tăng tỷ lệ nhiễm A.flavus và aflatoxin (Subrahmanyam, Rao, 1997) [77] Một số bệnh virus như groundnut rosette
virus , hoại tử chồi (bud necrosis virus) cũng làm tăng nguy cơ nhiễm A.flavus
trên lạc (Bampton, 1963) [34]
Giai ñoạn sau thu hoạch: ðộ ẩm quả lạc từ 8 - 40% ấthuận lợiùợ cho sự
xâm nhiễm của A.flavus Thời gian làm khô quả dài hay ngắn ảnh hưởng lớn
Trang 27ñến sự xâm nhiễm nấm và sản sinh aflatoxin (Jackson, 1967) [59] Các hình thức làm khô như phơi, sấy, phương pháp ñảo lạc, vật liệu phơi lạc cũng có ảnh hưởng khác nhau ñến quá trình nhiễm aflatoxin (McDonal, A’Brook, 1963) [62]
Giai ñoạn bảo quản: ðộ ẩm cao là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhiễm
vào hạt của A.flavus cũng như các nấm khác (Diener, 1960) [44] ðộ ẩm hạt
từ 10,5 -11% sẽ làm hạn chế sự nhiễm nấm (Mehan, 1998) [66] Khí CO2 có tác dụng hạn chế sự phát triển của nấm trên hạt do làm giảm nồng ñộ O2 trong không khí của kho bảo quản kín (Lander et al., 1967) [60] Nhiệt ñộ thấp cùng
sự thông khí cũng cần thiết ñể giảm nhiễm aflatoxin trong quá trình bảo quản (Diener, Davi, 1977) [45]
*Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật hạn chế sự xâm nhiễm của nấm Aspergillus flavus trên thế giới
Từ hơn 30 năm nay, nhiều nước trên thế giới ñã nghiên cứu các biện
pháp phòng ngừa sự xâm nhiễm của nấm Aspergillus flavus ñể giảm thiểu ñộc
tố Aflatoxin trên hạt lạc Ngoài các biện pháp tạo giống chống nấm A Flavus,
các nhà khoa học còn chú ý tới các biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp bao gồm cày sâu, ñể ải ñất, sử dụng thuốc trừ nấm sinh học và hoá học, bón vôi, cải thiện phương pháp thu hoạch và bảo quản
Tại ICRISAT, năm 2005-2006, chương trình chọn giống chống chịu A.F ñã giới thiệu và ñưa ra sản xuất 2 giống ICGV88145 và ICGV89104 có
khả năng chống chịu với sự lây nhiễm nấm A.flavus ở hạt lạc
Nhiều dòng lai ñiển hình ñã ñược giới thiệu với mức kháng cao với AF như ICGV02195 (năng suất 4 tấn/ha, hạt nhiễm = 0%, hàm lượng AF 0µg/kg), ICGV02191 (3,1 tấn/ha, 0%, 0µg/kg), ICGV01002 (3tấn/ha, 0%, 0µg/kg) và ICGV 01149 (2,6tấn/ha, 0%, 0µg/kg)
Nghiên cứu ñánh giá các giống lạc mới kháng nấm A.flavus thích hợp
Trang 28với các vùng khác nhau ñã ñược F.Waliyar và cộng sự thực hiện trên ñồng ruộng ở bang Andhra Pradesh thuộc Ấn ñộ (năm 2003) cho thấy có 14
dòng/giống mới, nhiễm bào tử nấm A.flavus trên hạt dưới 10% so với trên 50-
90% của giống nhiễm TMV2 Các giống ñó là: ICGV91278, 91279, 91283,
91284, 91315, 91317, 91324, 91328, 91341, 92302, 93305, 93328, 93379 và
94434 Các giống này cho năng suất cao hơn 12- 45% so với TMV2 và hàm lượng AF từ 0-7 µg/kg so với 0-150 µg/kg của TMV2 ở tất cả các ñiểm Nông dân huyện Chittoor ñã chọn các giống ICGV91341, 93305, 94379 và 94434, còn ở huyện Anantapur chọn ICGV91278, 91328, 94379 và 94434 ñưa vào
mở rộng sản xuất Các giống này có khả năng chịu hạn tốt, năng suất cao, tỷ
lệ nhân cao và nhiễm AF thấp (Waliyar F et al., 2003 ) [83]
Các nhà khoa học trong nhóm nghiên cứu tại ICRISAT và Trường ðại học Reading, nước Anh ñã tiến hành ñề tài: “Hiệu lực của việc bón vôi, xác cây trồng và những tác nhân ñiều khiển sinh học ñến sự lây nhiễm nấm
Aspergillus flavus ở giai ñoạn trước thu hoạch và sự lây nhiễm tạo AF trong lạc” Kết quả các công thức xử lý ñất bằng bột thạch cao (Gypsum) hoặc Trichoderma viridae cho hiệu quả cao nhất
Tại Trung Quốc, các nhà khoa học ñã áp dụng một số biện pháp như canh tác, xử lý hạt giống, phơi khô và bảo quản sau thu hoạch làm hạn chế
mức ñộ nhiễm A flavus trên lạc Nhưng những biện pháp này thường khó có hiệu quả ở những nước ñang phát triển, ñặc biệt là vùng nhiệt ñới
Năm 1983, Davidson et al., [42] cho rằng, bón vôi bột vào ñất có thể làm giảm tỷ lệ nhiễm aflatoxin trên lạc Tuy nhiên, kết luận này gặp phải nhiều tranh cãi do cơ chế tác ñộng của vôi ñến sự xâm nhiễm bệnh chưa ñược làm rõ (Cole et al., 1985) [40] Gần ñây Fernandez et al., (1997, 2000) [49],
[50] khẳng ñịnh, vôi có tác dụng làm giảm sự xâm nhiễm của nấm Aspergillus
ssp vào hạt lạc do tác dụng làm ñầy và cứng vỏ lụa cũng như vỏ ngoài của quả Tác giả cũng kết luận sự sinh ñộc tố của nấm bị ảnh hưởng bởi việc bón
Trang 29vôi và phương pháp làm khô quả
Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới
Công tác nghiên cứu chọn tạo giống lạc và các biện pháp kỹ thuật canh tác ñã ñược các Quốc gia, các tổ chức và các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống và ñầy ñủ Các kết quả nghiên cứu ñã ñược ứng dụng thành công và mang lại hiệu quả sản xuất to ấlớn tại nhiều nước như Mỹ, Trung Quốc, Ấn ðộ,
Bên cạnh việc nghiên cứu chọn tạo ra giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có tính chống chịu , các nhà khoa học còn ñầu tư nghiên cứu nhiều
về các biện pháp kỹ thuật canh tác gồm: bón phân khoáng, bón vôi, cho lạc
và quan trọng hơn là các biện pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu sự lây nhiễm
của các loại nấm bệnh hại trên lạc, trong ñó nấm Aspergillus Aflavus là ñối
tượng ñược quan tâm nghiên cứu nhiều và sâu hơn
2.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc ở Việt Nam
2.4.1 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hướng phát triển ngày càng tăng Do trước ñây cây lạc chưa ñược chú ý nhiều, năng suất lạc thấp Trong 10 năm từ năm 1981 ñến năm 1990, diện tích lạc tăng bình quân 7%/năm, sản lượng tăng 9%/năm Từ năm 1990 - 1995, sản xuất lạc tăng về diện tích và sản lượng song năng suất còn thấp, chỉ ñạt khoảng 1 tấn/ha
Những năm từ 1996 - 1998 diện tích và sản lượng lạc tăng rõ rệt, năng suất ñạt gần 1,5 tấn/ha
Theo Ngô Thế Dân và CS., (2000) [4], sự biến ñộng về diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 ñến 1998 chia làm 4 giai ñoạn:
- Từ năm 1975 - 1979: Giai ñoạn này diện tích gieo trồng có xu thế giảm từ 97,1 ngàn ha (1976), xuống còn 91,8 ngàn ha (1979), giảm bình quân 2,0%/năm Năng suất và sản lượng giai ñoạn này cũng giảm, năm 1976 năng
Trang 30suất ựạt 10,3 tạ/ha, ựến năm 1979 chỉ còn 8,8 tạ/ha, giảm 5,0% Nguyên nhân chắnh là thực trạng phong trào hợp tác xã hoá bị sa sút, yêu cầu giải quyết ựủ lương thực cần thiết ựặt lên hàng ựầu, sản xuất lạc lúc này chủ yếu mang tắnh
tự cung, tự cấp nên cây lạc không ựược ựầu tư phát triển
- Từ năm 1980 - 1987: Thời kỳ này diện tắch trồng lạc tăng nhanh, từ 91,8 ngàn ha năm 1979 lên 237,8 ngàn ha (1987) Tốc ựộ tăng trưởng hàng năm từ 5,6% năm ựến 24,8% năm
Diện tắch năm 1987 tăng gấp 2 lần so với năm 1980 và sản lượng tăng 2,3 lần Mặc dù diện tắch gieo trồng tăng lên nhanh chóng, nhưng năng suất không tăng, chỉ dao ựộng từ 8,8 - 9,7 tạ/ha, sản xuất lạc lúc này còn mang tắnh quảng canh truyền thống
- Từ năm 1988 - 1993: Trong ba năm ựầu diện tắch trồng lạc giảm từ 237,8 ngàn ha (1987) xuống còn 201,4 ngàn ha (1990) giảm với tốc ựộ 2,0% năm và sau ựó phục hồi trở lại Nguyên nhân chủ yếu là do mất thị trường tiêu thụ truyền thống, thị trường mới chưa kịp tiếp cận, giá lạc thế giới giảm trong
2 năm 1988 - 1989
- Từ năm 1994 - 1998: Giai ựoạn này diện tắch trồng lạc năm 1998 tăng 8% so với 1994 và sản lượng tăng (25%) Tốc ựộ tăng trưởng chủ yếu là do sự tăng trưởng về năng suất Do chúng ta ựã tiếp cận ựược với thị trường quốc tế
và nhu cầu cho chế biến trong nước cũng tăng lên
Trong giai ựoạn từ 1997 - 2005, sản xuất lạc ở Việt Nam ựã có những chuyển biến tắch cực, diện tắch, năng suất và sản lượng có chiều hướng tăng Năm 2005 ựạt 249,3 nghìn ha, năng suất ựạt cao 18,64 tạ/ha, sản lượng 464,8 nghìn tấn, tăng 113,5 ha so với năm 1997 Hiện nay, lạc ựược trồng hầu hết ở các vùng sinh thái nông nghiệp, diện tắch lạc chiếm 28% diện tắch cây công nghiệp hàng năm Tuy nhiên diện tắch, năng suất và sản lượng lạc của các vùng sinh thái vẫn có sự chênh lệch nhau khá lớn (Trần đình Long, CS., 2005) [23]
Trang 31Bảng 2.2: Diện tắch, năng suất, sản lượng lạc trong nước
từ năm 1997-2006
Năm Diện tắch
(1000ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000tấn)
Miền Bắc: Diện tắch 157,4 nghìn ha, năng suất trung bình 18,8 tạ/ha, gồm các vùng: ựồng bằng sông Hồng, đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ Vùng ựồng bằng sông Hồng có diện tắch 32,1 nghìn ha, năng suất cao nhất 22,9 tạ/ha cao hơn năng suất trung bình của cả nước 15,7%
Miền Nam: Diện tắch 97,2 nghìn ha, năng suất trung bình 21,4 tạ/ha, gồm các vùng: Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Longêô Vùng ựồng bằng sông Cửu Longêô có diện tắch 13,5 nghìn ha, năng suất cao nhất 31,7 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình của cả nước 60,1%
Trang 322.4.2 Tình hình nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam
2.4.2.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống
Ở Việt Nam, công tác thu thập và bảo tồn những nguồn gen quý phục
vụ cho công tác chọn tạo giống lạc ñược quan tâm nhiều Từ những năm
1980, Trung tâm giống cây trồng Việt Xô-Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VKHKTNNVN) ñã tiến hành thu thập có hệ thống và nhập nội nguồn vật liệu từ nước ngoài Số lượng mẫu giống lạc thu thập và nhập nội ñã lên tới 1.271 mẫu, trong ñó gồm 100 giống ñịa phương và 1.171 giống nhập từ 40 nước trên thế giới [4]
Công tác chọn tạo giống ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các mục tiêu: năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng, giống có chất lượng cao phục vụ ép dầu và xuất khẩu
Từ năm 1974, bộ môn Cây Công nghiệp - Trường ðại học nông nghiệp
I Hà Nội ñã bắt ñầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữu tính và phương pháp ñột biến phóng xạ
Các giống ñược chọn tạo bằng phương pháp ñột biến: Từ giống Bachsa,
sử dụng phương pháp ñột biến phóng xạ tạo ra ágiống B5000 có hạt to, vỏ lụa màu hồng, năng suất cao ổn ñịnh (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS., 1996) [10] Từ 1986 ñến 1990, Viện KHNN Miền Nam ñã xử lí ñột biến 3 giống: Lì, Bạch Sa 77, Trạm Xuyên ñã chọn ñược các dòng triển vọng là: L15-2-1, L25-4-1, TX15-1-2, TX 10-7-2BS 1-1-1 Giống 4329 ñược chọn tạo
từ xử lý ñột biến giống Hoa 17, giống có nguồn gốc Trung Quốc, có thời gian sinh trưởng 130-140 ngày, năng suất ñạt trên 20 tạ/ha, tỷ lệ hạt cao.ễăễế
Các giống ñược chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính: Giống lạc Sen lai 75/23 ñược chọn tạo từ việc lai hữu tính 2 giống Mộc Châu trắng và Trạm Xuyên, có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tương ñối chịu rét, vỏ lạc màu
Trang 33hồng, hạt to phù hợp xuất khẩu (Lê Song Dự và CS, 1991) [9] Giống L12 ựược chọn tạo từ tổ hợp lai giữa V79 và ICGV 87157, có năng suất trung bình là 30 tạ/ha, chịu hạn khá, nhiễm trung bình một số bệnh như ựốm nâu, ựốm ựen, gỉ sắt, khối lượng 100 hạt 50-60 g (Nguyễn Văn Thắng và CS, 2002) [28]
Giai ựoạn 1996 - 2004 chương trình giống Quốc gia ựã chọn tạo ựược
16 giống lạc, trong ựó các giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14; giống
có khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn năng suất khá MD7, giống chất lượng cao L08, giống chịu hạn L12 hiện ựang phát triển mạnh ở các tỉnh Phắa Bắc Các giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn Lỳ ựịa phương, phù hợp cho các tỉnh phắa Nam (Trần đình Long, CS., 2005) [23]
Một số giống tiến bộ kỹ thuật ựiển hình ựang trồng phổ biến ngoài sản xuất trên cả nước:
Giống L02: Năng suất trung bình ựạt 35 tạ/ha, trong ựiều kiện thâm canh tốt, năng suất có thể ựạt tới 50 tạ/ha, kháng khá với bệnh ựốm lá, gỉ sắt, héo xanh
Giống L14: Là giống có năng suất tương ựối cao, thắch ứng rộng có thể ựạt 40 tạ/ha, có khả năng chịu hạn khá, kháng bệnh hại lá khá [4]
Giống L18: Là giống thắch hợp cho vùng thâm canh, năng suất cao từ
50 - 55 tạ/ha, nhiễm trung bình với các bệnh hại lá [27]
Giống VD1: Chọn lọc từ giống Lỳ ựịa phương, có thời gian chắn rất sớm, năng suất trung bình ựạt 30 tạ/ha, thắch hợp với các tỉnh phắa Nam [12]
Trang 34Mặc dù còn một số hạn chế nhất ñịnh song công tác chọn tạo giống lạc
ở Việt Nam trong thời gian qua ñã ñạt ñược nhiều kết quả ñáng ghi nhận Nhiều giống lạc mới có năng suất cao, thích ứng rộng và chống chịu sâu bệnh
ñã ñược giới thiệu cho sản xuất và ñược nông dân chấp nhận Bên cạnh ñó, hàng loạt các giống ñịa phương cổ truyền và số lượng ñáng kể các vật liệu di truyền từ các nước khác nhau ñã ñược thu thập và bảo quản trong ngân hàng gen cây trồng của Viện KHKTNNVN trước ñây và ngày nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác chọn tạo giống lạc hiện tại và tương lai
2.4.2.2 Nghiên cứu về sử dụng ỹậáêứềphân bón cho lạc
Lạc là cây có khả năng cố ñịnh ñạm nhưng giai ñoạn ñầu cây rất cần ñạm do lượng dự trữ trong hạt không ñáp ứng ñược nhu cầu phát triển bình thường của cây Tuy nhiên, việc bón ñạm phải có chuẩn mực, vì bón ñạm quá ngưỡng thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu ñến quá trình hình thành quả và hạt dẫn ñến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện nông hoá thổ nhưỡng trên ñất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8- 10 tấn phân chuồng, lượng bón thích hợp là 30 kg N/ha, nếu tăng lên 40 kg N/ha thì năng suất không tăng
và hiệu lực giảm ñi rõ rệt (Ngô Thế Dân, 2000) [4]
Nguyễn Thị Dần (1991) [7], Ngô Thế Dân (2000) [4], Trần Danh Thìn (2001) [29ạ] ñều cho rằng, ñể việc bón ñạm thực sự có hiệu quả cao, cần bón kết hợp các loại phân khoáng khác như lân, canxi và phân vi lượng khác
Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2001) [29] trên ñất ñồi bạc màu ở tỉnh Thái Nguyên cho thấy, bón 100kgN/ha năng suất tăng 6,5-11,3 tạ/ha, bón 40kgN/ha năng suất tăng 5,7 lên 7,1 tạ/ha so với không bón phân
Trên ñất nghèo dinh dưỡng, hiệu lực của lân càng cao khi bón 60 kg
P2O5/ha sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bón ở mức 90 kg P2O5/ha cho năng suất cao nhất trên nhiều loại ñất (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991) [5] Trung bình hiệu suất 1kg P2O5 là 4-6kg lạc vỏ Nếu bón 90kg P2O5 ìnăng
Trang 35suất cao nhưng hiệu quả không cao [4]
Theo Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS.,(1979) [8ế], phân kali thường có hiệu lực cao ñối với lạc trồng trên các loại ñất có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng như: ðất cát thô ven biển, ñất bạc màu Hiệu lực 1 kg K2O trong các thí nghiệm biến ñộng từ 5,0 - 11,5 kg quả khô Lượng kali bón thích hợp cho lạc ở các tỉnh phía Bắc là 40 kg K2O trên nền 20 kgN
và 80 kg P2O5
Bón phân cân ñối là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của phân bón
và nâng cao năng suất lạc Theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) [9], trên ñất cát ven biển Thanh Hoá bón 10 tấn phân chuồng và 30 kg N + 90 kg
P2O5 + 60 kg K2O/ha làm tăng năng suất lạc 6,4 – 7,0 tạ/ha so với không bón
Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2000) [29] cho biết, trên ñất ñồi Thái Nguyên, vụ xuân nếu bón riêng rẽ từng loại phân N, P, vôi thì năng suất lạc tăng 14 - 31,5%, khi kết hợp lân với vôi năng suất tăng 64,9%, lân với ñạm năng suất tăng 110,5%, nếu bón kết hợp cả lân, ñạm, vôi thì năng suất tăng 140,3% so với không bón
Ngô Thế Dân và CS., (2000) [4] cho rằng, trên ñất bạc màu Bắc Giang, bón nền (8 tấn phân chuồng + 30 kg K2O + 30 kg N) và 90 kg P2O5, hiệu suất
là 3,6 - 5 kg , nếu bón nền + 60 kg P2O5 thì hiệu suất là 4- 6 kg
Bón vôi không chỉ kiểm soát và quản lý ñộ chua của ñất mà ócòn ñượlà một trong những biện pháp quan trọng nhất ñể làm tăng năng suất lạc Vôi làm tăng trị số pH của ñất từ ñó tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn cố ñịnh ñạm, và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình ra hoa, tạo quả của lạc
Tác dụng của vôi ñược xác ñịnh ở tất cả các loại ñất trồng lạc ở nước
ta, kể cả các loại ñất có pH tương ñối cao (pH = 6), vai trò của vôi là cung cấp
Ca cho lạc và nâng cao pH ñối với ñất chua Những thí nghiệm về bón vôi
Trang 36ựược thực hiện tại trường đại học Nông nghiệp I cho thấy: bón vôi làm tăng
rõ rệt lượng Ca trong cây, tăng cường khả năng dinh dưỡng N và hoạt ựộng của vi khuẩn nốt sần ựến tăng năng suất do tăng số hoa, số quả và trọng lượng quả (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979) [8ế]
Trên ựất bạc màu trồng lạc ở Ba Vì, những kết quả thắ nghiệm cho thấy, năng suất lạc tăng từ 0,2 - 0,4 tấn/ha, khi bón 300 - 600 kg vôi trên nền 8 tấn phân chuồng + 90kg P2O5 và 40kg K2O (Nguyễn Thị Dần và CS., 1991) [5]
Theo Ngô Thị Lam Giang (1999) [12], ở vùng đông Nam Bộ, bón vôi ựã làm tăng năng suất 2 giống lạc hạt to VD3 và VD4 lên 3 - 11% Bón lót 300 kg và thúc 300 kg vôi không những cho năng suất cao nhất (3,37 tấn/ha) vượt ựối chứng 11% mà lãi suất ựầu tư một ựồng vôi cũng cao nhất (3,58 ựồng)
Bón 500 kg vôi chia 2 lần, tại vùng ựất ựồi Chương mỹ, Hà Tây và sử dụng rơm phủ cho ựất sau khi gieo lạc ựã làm tăng sức chống chịu bệnh cho cây từ ựó giảm nhiễm nấm và tăng năng suất lạc (Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Ly và CS., 2003) [19]
Nguyễn Thị Chinh và CS., 2000 [2] cho rằng, lượng vôi phù hợp với chân ựất vùng đồng bằng sông Hồng là 400 kg vôi/ha chia 2 lần bón (bón lót
và sau khi ra hoa) có thể làm tăng năng suất lạc từ 13- 26% so với ựối chứng không bón
Nghiên cứu về ựộc tố Aflatoxin ở Việt Nam
Trong những năm qua, sản xuất lạc ở nước ta ựã có bước nhảy vọt nhờ vào các thành tựu nghiên cứu khoa học giai ựoạn 1995-2000 và 2001- 2005 Nhưng các giống hiện ựang trồng phổ biến ở sản xuất bị mẫn cảm với nấm
Aspergillus flavus. (Nguyễn Xuân Hồng và cộng sự, 1999) [18]
Tuy nhiên, ở Việt Nam việc nghiên cứu về bệnh mốc vàng do nấm
Aspergillus flavus gây ra và sản sinh ựộc tố Aflatoxin trên các sản phẩm của
Trang 37cây lạc còn hạn chế, chưa có những kết quả nghiên cứu mang tính tổng thể ñể cho người sản xuất tham gia,à ñánh giá tầm quan trọng và tác hại của
Aflatoxin do nấm Aspergillus flavus gây ra, chưa có quy trình cụ thể ñể
khuyến cáo rộng rãi nhằm hạn chế sự xâm nhiễm của nấm và sản sinh Aflatoxin
Người sản xuất và tiêu dùng chưa hiểu biết hết tác hại của Aflatoxin ñối với sức khoẻ con người, ñộng vật và quan trọng hơn là chưa quan tâm ñến giá trị của sản phẩm không chứa Aflatoxin Hầu hết, sản phẩm từ lạc nói riêng
và nông sản nói chung thường ñược tiêu thụ trên thị trường dễ tính
Năm 1977, ðặng Trần Phú và CS., [26] cho rằng, Aflatoxin do nấm
Aspergillus flavus sản sinh ðộc tố này không tan trong dầu, chúng nằm lại trong khô dầu Nếu dùng khô dầu này làm thức ăn cho gia súc thì tuỳ lượng àcó thể gây ngộ ñộc, chậm phát triển thậm chí có thể gây chết
Nguyễn Thị Ly (1996) [24] cho biết, các tỉnh trồng lạc chính như Hà
Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá và Bắc Giangấ nấm Aspergillus flavus tồn tại ở
100% mẫu ñất Số mầm bệnh trong các mẫu ñất của Bắc Giang thấp nhất (10-
1625 mầm bệnh /1g ñất), sau ñó ñến Hà Tĩnh (312- 6437), Thanh Hoá (375-
7812) và cao hơn cả là Nghệ An (437- 8250) Nấm Aspergillus flavus xâm
nhiễm trên hạt lạc ngay từ khi cây lạc còn trên ñồng ruộng
Kết quả nghiên cứu ở miền Bắc cho thấy, ngay sau khi mới thu hoạch
ñã có tới 66% số mẫu thu thập bị nhiễm bệnh với tỷ lệ hạt bị bệnh từ 1-30%
ða số mẫu mới thu hoạch bị nhiễm bệnh với tỷ lệ hạt bị nhiễm dao ñộng 5% Lạc sau thu hoạch từ 2 tháng ñến 1 năm có tới 82% số mẫu bị nhiễm với
1-tỷ lệ hạt bị bệnh biến ñộng từ 1- 6%, Nguyễn Thị Ly (1996) [24]
Theo Nguyễn Thị Ly (1996) [24], các giống khác nhau có khả năng
chống chịu khác nhau ñối với sự xâm nhiễm của nấm Aspergillus flavus Tại
Viện bảo vệ thực vật ñã tiến hành thử phản ứng của 41 giống và dòng lai với
nấm Aspergillus flavus cho thấy tất cả các dòng/giống trong thí nghiệm ñều bị
Trang 38nhiễm bệnh với tỷ lệ biến ñộng từ 8,0-100%
Kết quả nghiên cứu của Ngô Bích Hảo (1996) [14] về bệnh hại cho biết, trong số các loại hạt giống như ngô, lạc, ñậu ñỗ ìtỷ lệ hạt giống lạc bị
nhiễm Aspergillus flavus là cao nhất 30,12% Kết quả giám ñịnh bệnh hại
giống nhập nội sau nhập khẩu có tới 100% số mẫu giống hạt kiểm tra nhiễm
Aspergillus flavus Khi mức ñộ nhiễm nấm Aspergillus flavus dưới 5% ìtỷ lệ
nảy mầm ếtăng lên và số cây con yếu giảm ñiăê
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà (2005) [13], ìbảo quản lạc
trong bao tải tình trạng nhiễm nấm bệnh (3 nhóm chính: Aspergillus flavus,
Aspergillus niger, Penicillium spp.) cao hơn so với bảo quản kín và mát Nấm
Aspergillus spp nhiễm tỷ lệ cao nhất so với các nấm khác, ñặc biệt ở phương
pháp bảo quản trong bao tải tỷ lệ nhiễm Aspergillus spp lên tới 22-26% Bảo
quản mát có tỷ lệ nảy mầm cao nhất (92,8%) so với bảo quản kín và bảo quản trong bao tải
Về công tác chọn tạo giống kháng bệnh mốc vàng: Trong 2 năm
1998-1999 Nguyễn Xuân Hồng và CS., (1998-1999) [18] ñã ñánh giá 112 mẫu giống thu thập trên nền nhân tạo thấy rằng chỉ có 5 mẫu giống không bị nhiễm bệnh là VAG 54-1, VAG54-3, VAG29, VAG43-47
* Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế sản sinh ñộc tố Aflatoxin vào hạt lạc
Trên cơ sở những kết quả ñiều tra về tình hình bệnh mốc vàng hại lạc ở Việt Nam, tác giả V.K Mehan và CS., (1996) [68] khuyến cáo áp dụng các biện pháp sau ñây ñể phòng ngừa và hạn chế sản sinh ñộc tố Aflatoxin vào hạt lạc và các sản phẩm chế biến từ lạc:
- ðiều chỉnh thời vụ gieo thích hợp ñể thu hoạch lạc vào cuối mùa mưa khi thời tiết nắng ráo, phải tách quả và phơi kịp thời
- Tránh gây chấn thương cho cây và quả lạc trong quá trình chăm sóc, làm cỏ và thu hoạch
Trang 39- Trỏnh những tổn thương cho cõy do cỏc loại sõu bệnh trong ủất gõy
ra
- Bún thạch cao hoặc vụi cho cõy lạc ở giai ủoạn ủõm tia
- Trong thời gian phỏt triển quả hoặc quả vào chắc nếu gặp hạn cần tưới nước
- Giữ ủất ủủ ẩm ớt nhất 1 thỏng trước thu hoạch
- Khi lạc chớn thu hoạch ngay, loại bỏ cõy bị bệnh hoặc cõy bị hạn nặng
- Sau khi nhổ xong nếu cần phơi cả cõy ngoài ruộng thỡ cần phơi gốc và quả lờn trờn
- Phơi quả càng nhanh càng tốt cho ủến khi ủộ ẩm ủạt dưới 9 %
- Loại những quả bị sỏt thương hoặc quả bị mốc thối
- Bảo quản lạc trong ủiều kiện khụ rỏo, mỏt mẻ, ủảm bảo vệ sinh và sạch sõu bệnh
- Sau khi búc vỏ loại bỏ những hạt bị biến màu, bị chấn thương hoặc bị mốc
2.4.3 Một số yếu tố hạn chế năng suất lạc ở Việt Nam
Trong nhiều năm qua, cỏc nhà khoa học Việt Nam ủó xỏc ủịnh ủược 3 nhúm yếu tố chớnh hạn chế năng suất lạc là: yếu tố kinh tế - xó hội, yếu tố sinh học và yếu tố phi sinh học
- Yếu tố kinh tế - xó hội :
Trần Văn Lài (1991) [22] cho rằng, yếu tố kinh tế x+ hội hạn chế đến sản xuất lạc là sự thiếu quan tâm của Nhà nước và l+nh đạo các địa phương Hoạt động của các hợp tác x+ trong sản xuất lạc kém hiệu quả; thiếu hệ thống tưới tiêu
Theo Ngô Thế Dân và CS., (2000) [4], 75-80% số hộ ở các tỉnh như Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An thiếu vốn để trồng lạc Giá bán không ổn định,
hệ thống cung ứng giống và hệ thống thuỷ lợi chưa được chú trọng và không
đảm bảo
Trang 40Kết quả điều tra năm 2004 của Nguyễn Thị Chinh cho thấy, có 65-70%
số hộ nông dân ở các tỉnh Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An thiếu vốn để mua giống mới và vật tư để thâm canh lạc [3]
- Yếu tố phi sinh học: Việt Nam có tới 46,6% diện tích đang trồng cây
họ đậu là không thích hợp đối với cây đậu đỗ [3], có trên 70% diện tích trồng lạc nhờ nước trời [7] Trong các yếu tố khí hậu, nhiệt độ và chế độ nước ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và năng suất lạc (Ngô Thế Dân và CS., 2000) [4] Đất khô và nhiệt độ thấp ở đầu vụ Xuân và cuối vụ Thu đông hay mưa lớn
và nhiệt độ cao ở cuối vụ Xuân đ+ hạn chế năng suất lạc ở miền Bắc Việt Nam (Ngô Thế Dân và CS., 2000) [4], (Trần Văn Lài, 1991) [22]
- Yếu tố sinh học: Trần Văn Lài (1991) [22], Ngô Thế Dân (2000) [4] cho rằng, yếu tố hạn chế sinh học quan trọng nhất đối với sản xuất lạc ở Việt Nam là thiếu giống chịu thâm canh, giống năng suất cao, giống có khả năng kháng sâu bệnh hại và thích ứng cho từng vùng sinh thái
Nguyễn Xuân Hồng, Mechan V.K (1995) [17], Vũ Thị Hậu (1998) [16], cho rằng, bệnh gây hại là yếu tố hạn chế lớn nhất đối với nhiều vùng trồng lạc ở Việt Nam, đặc biệt ở Miền Bắc nguy hiểm nhất là bệnh héo xanh ở lạc Để khắc phục yếu tố này, Việt Nam đ+ có chiến lược nghiên cứu xây dựng biện pháp phòng trừ bệnh hại tổng hợp trên cây lạc
* Tình hình sản xuất lạc ở Bắc Giang : Bắc Giang là một tỉnh ở miền Bắc cú diện tớch lạc lớn nằm trong vựng lạc trọng ủiểm của cả nước Trong những năm cuối thập niờn 80 của thế kỷ 20, năng suất lạc của Bắc Giang rất thấp, chưa vượt qua ngưỡng 9-10 tạ/ha, thậm chớ cú nhiều nơi chỉ ủạt 6-7 tạ/ha Nguyờn nhõn chớnh là do ủất ủai ở ủõy chủ yếu là ủất bạc màu, tầng canh tỏc mỏng, hàm lượng cỏc chất dinh dưỡng thấp, nhất là N, Ca, K Lạc ủược trồng chủ yếu trờn 2 loại ủất chớnh: ủất bạc màu chõn vàn cao, khả năng giữ nước kộm, loại thứ 2 là ủất gũ ủồi thấp cú ủộ dốc, dễ bị rửa trụi, xúi mũn nghốo dinh dưỡng Mặt khỏc, trong những năm qua, giống lạc chủ yếu là giống ủịa phương, giống cũ, tiềm năng năng suất thấp, kết hợp với việc ủầu tư