KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT KHẢ NĂNG PHÁT TÁN NHỆN LÔNG NHUNG Eriophyes dimocarpi Acari: Eriophyidae VÀ QUẢN LÝ BỆNH CHỔI RỒNG BẰNG BIỆN PHÁP TỈA CÀNH VÀ BÓN PHÂN TRÊ
Trang 1KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG PHÁT TÁN NHỆN LÔNG NHUNG
Eriophyes dimocarpi (Acari: Eriophyidae) VÀ QUẢN LÝ
BỆNH CHỔI RỒNG BẰNG BIỆN PHÁP TỈA CÀNH
VÀ BÓN PHÂN TRÊN NHÃN TẠI TIỀN GIANG
NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA: 2007 – 2011
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN VIẾT HƯNG
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
Trang 2KHẢO SÁT KHẢ NĂNG PHÁT TÁN NHỆN LÔNG NHUNG
Eriophyes dimocarpi (Acari: Eriophyidae) VÀ QUẢN LÝ
BỆNH CHỔI RỒNG BẰNG BIỆN PHÁP TỈA CÀNH
VÀ BÓN PHÂN TRÊN NHÃN TẠI TIỀN GIANG
Tác giả
NGUYỄN VIẾT HƯNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành Bảo vệ thực vật
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS Lê Cao Lượng ThS Trần Thị Mỹ Hạnh
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Con xin kính dâng lên bố mẹ lòng biết ơn sâu sắc đã nuôi dạy con được như ngày hôm nay Công ơn của bố mẹ con xin ghi mãi trong lòng
Xin chân thành cảm ơn:
Quý Thầy Cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và quý Thầy
Cô khoa Nông Học đã giảng dạy và chắp cánh cho ước mơ của tôi thành hiện thực
Xin chân thành cảm ơn tất cả quý Thầy Cô trong bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Cám ơn ThS Lê Cao Lượng và ThS Trần Thị Mỹ Hạnh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cảm ơn các anh chị phòng Bảo Vệ Thực Vật – Viện Cây ăn quả miền Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn những người bạn những người thân đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ và chia sẻ cùng tôi trong quãng thời gian học tập, cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn tất cả!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 8 năm 2011
Nguyễn Viết Hưng
Trang 4TÓM TẮT
NGUYỄN VIẾT HƯNG, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Tháng 08/2011
Khảo sát khả năng phát tán nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi (Acari:
Eriophyidae) và quản lý bệnh chổi rồng bằng biện pháp tỉa cành và bón phân trên nhãn tại Tiền Giang
Giảng viên hướng dẫn chính: ThS Lê Cao Lượng
Đề tài được tiến hành tại Viện cây ăn quả miền Nam và xã Hiệp Đức – Cai Lậy
– Tiền Giang nhằm biết được khả năng phát tán của nhện lông nhung Eriophyes
dimocarpi trong phòng thí nghiệm đồng thời khảo sát hiệu quả việc cắt tỉa cành và các
mức phân bón khác nhau trong quản lý bệnh chổi rồng trên cây nhãn
Thí nghiệm xác định khả năng phát tán của nhện lông nhung Eriophyes
dimocarpi trên cây nhãn:
+ Thí nghiệm khả năng tự phát tán của nhện lông nhung trên nhãn được thực hiện trong nhà kính Thiết kế xếp các cây nhãn con sạch nhện thành những vòng tròn đồng tâm, khoảng cách từ tâm tới các vòng tròn lần lượt là 25, 50, 75 và 100 cm Sau đó đặt cây nhãn có nhiễm nhện lông nhung vào tâm của bố trí thí nghiệm
+ Thí nghiệm khả năng phát tán của nhện lông nhung nhờ côn trùng trên nhãn cũng được thực hiện trong nhà kính Thiết kế xếp các cây nhãn con sạch nhện thành những vòng tròn đồng tâm, khoảng cách từ tâm tới các vòng tròn lần lượt là 25,
50, 75 và 100 cm Sau đó tiến hành đặt cây nhãn có nhiễm nhện lông nhung vào tâm của bố trí thí ngiệm và thả côn trùng lên cây nhãn ở tâm của thí nghiệm
Thí nghiệm khảo sát hiệu quả quản lý bệnh chổi rồng bằng việc cắt tỉa cành khác nhau trên nhãn Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại được bố trí trên 1 cây
Trang 5Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của các mức phân bón đến bệnh chổi rồng trên nhãn Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên gồm: 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại được bố trí trên 1 cây
Những kết quả đạt được:
Qua quá trình theo dõi và quan sát dưới kính lúp với độ phóng đại 40 lần, chúng tôi ghi nhận:
+ Nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi có khả năng tự phát tán được khoảng
cách 100 cm sau 6 ngày đặt cây nhãn có nhiễm nhện lông nhung vào thí nghiệm + Nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi đã xuất hiện tại vòng bán kính 100
cm chỉ sau 1 ngày đặt cây nhãn có nhiễm nhện lông nhung và thả côn trùng vào thí nghiệm
Nghiệm thức cắt tỉa cành 40 cm có tỷ lệ chồi nhiễm thấp nhất đạt hiệu quả cao hơn so với các nghiệm thức còn lại trong việc quản lý bệnh chổi rồng trên nhãn
Nghiệm thức 240 g N: 240 g P2O5: 120 g K2O + 5 kg hữu cơ vi sinh và nghiệm thức 240 g N: 240 g P2O5: 240 g K2O + 2,5 kg hữu cơ vi sinh (bón cho 1 cây nhãn) có hiệu quả quản lý bệnh chổi rồng trên nhãn
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các hình x
Danh sách các bảng xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.2.3 Giới hạn đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu về cây nhãn 3
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố 3
2.1.2 Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới và Việt Nam 3
2.1.2.1 Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới 3
2.1.2.2 Tình hình sản xuất nhãn ở Việt Nam 4
2.1.3 Một số giống nhãn trồng 4
Trang 72.1.3.1 Giống nhãn trong nước 4
2.1.3.2 Giống nhãn ở nước ngoài 6
2.1.4 Kĩ thuật trồng và chăm sóc 7
2.1.4.1 Thời vụ trồng 7
2.1.4.2 Chuẩn bị đất và bón lót 8
2.1.4.3 Khoảng cách trồng và mật độ trồng 8
2.1.4.4 Xuống giống 8
2.1.4.5 Bón phân thúc 8
2.1.4.6 Tưới nước 10
2.1.4.7 Tỉa cây và tỉa hoa quả 10
2.1.4.8 Xử lý ra hoa 11
2.1.4.9 Tăng đậu quả 12
2.1.5 Sâu bệnh hại chính trên nhãn 12
2.1.5.1 Sâu hại chính 12
2.1.5.2 Bệnh hại chính 13
2.2 Một số nghiên cứu về bệnh chổi rồng và nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi trên nhãn 13
2.2.1 Những nghiên cứu bệnh chổi rồng trên nhãn ở nước ngoài 13
2.2.2 Những nghiên cứu bệnh chổi rồng trên nhãn ở trong nước 15
2.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của một số loài nhện lông nhung ở nước ta 16
2.3.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của loài nhện lông nhung Eriophyes
dimocarpi 16
2.3.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của loài nhện lông nhung Eriophyes litchi Keifer 17
2.4 Phổ kí chủ của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi 18
Trang 82.5 Điều kiện phát triển bệnh chổi rồng trên nhãn 19
2.6 Quản lý bệnh chổi rồng trên nhãn 19
2.6.1 Giải pháp giống 19
2.6.2 Biện pháp canh tác 19
2.6.3 Biện pháp cơ học 20
2.6.4 Biện pháp hóa học 20
2.7 Các loại phân bón sử dụng trong thí nghiệm 20
2.8 Các loại thuốc hóa học sử dụng 21
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 22
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 22
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22
3.2 Vật liệu thí nghiệm 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Nghiên cứu khả năng tự phát tán và phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi trên nhãn trong phòng thí nghiệm 23
3.4.1.1 Khảo sát khả năng tự phát tán của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi trên nhãn 23
3.4.1.2 Khảo sát khả năng phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi trên nhãn 24
3.4.2 Khảo sát hiệu quả quản lý bệnh chổi rồng bằng việc cắt tỉa cành ở các mức độ khác nhau trên nhãn 26
3.4.3 Khảo sát ảnh hưởng của các mức phân bón đến bệnh chổi rồng trên nhãn 28
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
Trang 9Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Xác định khả năng phát tán của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi trên
cây nhãn trong phòng thí nghiệm 31
4.4.1 Khả năng tự phát tán của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi 31
4.1.2 Phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi 32
4.2 Hiệu quả quản lý bệnh chổi rồng bằng việc cắt tỉa cành trên nhãn 34
4.2.1 Mật số trung bình nhện lông nhung trước và sau khi cắt tỉa cành 34
4.2.2 Tỷ lệ chồi nhiễm chổi rồng trước và sau khi cắt tỉa cành 37
4.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón đến bệnh chổi rồng trên nhãn 40
4.3.1 Mật số trung bình nhện lông nhung trước và sau khi bón phân 40
4.3.2 Tỷ lệ chồi nhiễm chổi rồng trước và sau khi bón phân 44
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 53
Trang 11
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Hiện tượng chổi rồng trên nhãn tiêu da bò 15
Hình 2.2: Các giai đoạn phát triển của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi 17
Hình 3.1: Toàn cảnh thí nghiệm khả năng tự phát tán của nhện lông nhung trên nhãn
24
Hình 3.2: Toàn cảnh thí nghiệm phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung trên nhãn 25
Hình 3.3: Các mức cắt tỉa cành khác nhau 27
Hình 3.4: Khu thí nghiệm cắt tỉa cành ở các mức độ khác nhau trên nhãn 27
Hình 3.5: Khu thí nghiệm ảnh hưởng của các mức phân bón đến bệnh chổi rồng trên nhãn 30
Hình 4.1: Nhện lông nhung bám trên cơ thể bọ xít nhãn (Tessaratoma papillosa) 32
Hình 4.2: Bọ xít nhãn bám trên cây nhãn con ở vòng bán kính 100 cm 33
Hình 4.3: Bọ xít nhãn bám trên cây nhãn tại tâm của thí nghiệm 33
Hình 4.4: Nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi trên lá nhãn với độ phóng đại 40
lần 39
Hình 4.5: Các nghiệm thức cắt cành sau 133 ngày cắt tỉa 40
Hình 4.6: Các nghiệm thức sau 133 ngày bón phân 47
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát hiệu quả quản lý bệnh chổi rồng
bằng việc cắt tỉa cành ở các mức độ khác nhau trên nhãn 26
Bảng 3.2: Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của các mức phân bón
đến bệnh chổi rông trên nhãn 28
Bảng 4.1: Khả năng tự phát tán của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi trên nhãn
trong phòng thí nghiệm 31
Bảng 4.2: Khả năng phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi
trên nhãn trong phòng thí nghiệm 33
Bảng 4.3: Mật số trung bình nhện lông nhung trước và sau khi cắt tỉa cành của các
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour.) là cây ăn quả có giá trị cao, một loài
giống cây quý trong tập đoàn cây ăn quả nước ta Trong những năm gần đây nhãn được coi là cây ăn quả quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở các tỉnh đồng bằng cũng như trung du và miền núi của Việt Nam (Trần Thế Tục, 1999a) Nhãn thường được ăn tươi, có mùi thơm, ngon ngọt, có chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe con người như đường, vitamin C, Fe, Ca, Na, P, K
Sâu bệnh trên cây nhãn là vấn đề được quan tâm bởi vì nếu chúng ta quản lý sâu bệnh không tốt thì thiệt hại mà nó gây ra là sẽ làm giảm năng suất thu hoạch Một
số sâu bệnh hại chính trên nhãn như bọ xít nhãn, sâu đục quả, sâu ăn bông, vạt sành, bệnh thối trái, cháy đầu lá, mốc xám đã gây trở ngại đáng kể cho việc sản xuất nhãn Khoảng vài năm gần đây bệnh chổi rồng (witches’broom) trên cây nhãn đã xuất hiện
và lan rộng khắp các tỉnh Đông Nam bộ và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu gây hại trên hai giống nhãn tiêu da bò và tiêu lá bầu Ở vùng Đông Nam bộ, đặc biệt là những vùng trồng giống nhãn Tiêu da bò, tỷ lệ bệnh có thể lên đến 93% vườn bị
nhiễm (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007) Tại tỉnh Đồng Nai bệnh đã tìm thấy nhiều nơi
như huyện Định Quán, Tân Phú có đến 78 – 93 % vườn nhãn bị nhiễm bệnh chổi rồng Chi cục BVTV tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã ghi nhận có 563 ha nhãn bị nhiễm bệnh chổi rồng năm 2006 Ở Đồng bằng sông Cửu Long theo khảo sát của tỉnh Bến Tre năm
2009 toàn tỉnh có 9.899 ha trồng nhãn thì diện tích nhiễm bệnh chổi rồng là 1.256 ha chiếm 15,68 % diện tích trồng nhãn Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2007), nhện lông
nhung Eriophyes dimocarpi được xác định là có liên quan đến bệnh chổi rồng trên
nhãn Cây nhãn bị bệnh chổi rồng có các chồi hoa và chồi lá biến dạng, mọc tủa ra
Trang 14nhiều đọt nhỏ, co cụm lại do các đốt của đọt ngắn, lá bị thoái hóa, khô dần; chồi hoa
xù ra, ít hoặc không đậu quả (Nguyễn Văn Kế, 2009)
Từ những tình hình thực tế trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo
sát khả năng phát tán nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi (Acari: Eriophyidae)
và quản lý bệnh chổi rồng bằng biện pháp tỉa cành và bón phân trên nhãn tại Tiền Giang”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Đánh giá được khả năng phát tán của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi
trong phòng thí nghiệm, đồng thời khảo sát hiệu quả quản lý bệnh chổi rồng bằng độ sâu cắt tỉa cành và các mức phân bón khác nhau
1.2.2 Yêu cầu
Thu thập côn trùng trên cây nhãn tại các vườn nhãn của nông dân
Làm thí nghiệm về khả năng tự phát tán và phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung trong phòng
Làm thí nghiệm về các mức cắt tỉa cành khác nhau và các mức phân bón khác nhau trên cây nhãn để có biện pháp quản lý bệnh chổi rồng trên nhãn đạt hiệu quả
1.2.3 Giới hạn đề tài
Đối tượng nghiên cứu là nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi trên cây nhãn
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang và phòng BVTV – Viện Cây ăn quả miền Nam, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về cây nhãn
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố
Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour.) thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae) là cây
nhiệt đới lẫn á nhiệt đới Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cây nhãn có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, đời Hán Vũ Đế cách đây hơn 2000 năm đã có sách ghi chép
về nhãn (Trần Thế Tục, 1999a)
Theo Ke và ctv (2000), nguồn gốc của cây nhãn từ bắc Myanmar tới Nam Trung Quốc, nhưng cũng có tác giả cho là nó trải dài tới tận miền Tây Nam Ấn Độ và Sri Lanka Tại Trung Quốc người ta cho là nhãn có nguồn gốc ở Yunan và các trung tâm phát sinh phụ là Guangdong, Guangxi và đảo Hainan (trích bởi Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.2 Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới và Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới
Hiện nay Trung Quốc vẫn là nước có diện tích nhãn lớn nhất và sản lượng vào loại hàng đầu trong các nước trồng nhãn Ngoài Trung Quốc nhãn còn được trồng nhiều ở Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ , Philippines…Đến cuối thế kỉ 19 nhãn mới được trồng ở một số nước Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Ở Trung Quốc, nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Hải Nam (Trần Thế Tục, 1999b)
Trang 16Tại Thái Lan nhãn được trồng nhiều ở Bắc Thái Lan như Chiangmai, Chang Rai Năm 2005 Thái Lan đã xuất khẩu 242.000 tấn nhãn và sản lượng nhãn của Thái Lan đã đạt tới 706.000 tấn trên diện tích trồng là 153.000 ha (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.2.2 Tình hình sản xuất nhãn ở Việt Nam
Ngay từ cuối thế kỉ trước Việt Nam đã là một trong ba nước trồng nhãn nhiều nhất thế giới, năm 2005 diện tích nhãn của Việt Nam là 70.200 ha với sản lượng 481.000 tấn (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Ở Việt Nam, cây nhãn trồng lâu nhất là ở chùa phố hiến thuộc xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên tỉnh Hưng Yên cách đây chừng 300 năm (Trần Thế Tục, 1999a) Theo Vũ Công Hậu (1982), Có thể miền Bắc nước ta là một trong những vùng quê hương của cây nhãn (trích bởi Trần Thế Tục, 1999a)
Hiện nay nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ: Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang Cả vùng có trên 2 triệu cây tính theo mật độ thông thường diện tích trồng nhãn lên đến
20 000 – 31.250 ha Nhãn còn được trồng ở vùng đất phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô, sông Mã, sông Tiền, sông Hậu, vùng gò đồi ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên, Bắc Cạn…và
lẻ tẻ ở các vùng miền Trung, Tây Nguyên (Trần Thế Tục, 1999b)
Trong những năm gần đây do nhu cầu quả tươi tại chỗ, cây nhãn được phát triển mạnh ở các tỉnh phía Nam: Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai…Đặc biệt ở các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang diện
tích trồng nhãn tăng rất nhanh
2.1.2 Một số giống nhãn trồng
2.1.2.1 Giống nhãn trong nước
Nhãn lồng: Nhãn lồng quả thường to hơn các giống khác Trọng lượng quả
trung bình đạt 11 – 12 g/quả Quả to có thể đạt 14 – 15 g Quả nhỏ 7 – 8 g/quả Tuy nhiên trọng lượng quả còn phụ thuộc vào sức sinh trưởng của cây và số quả trên cây
Trang 17Đặc điểm của nhãn lồng là các múi chồng lên nhau ở phía đỉnh quả Trên mặt ngoài của cùi hình thành các nếp nhăn Các múi bóng nhẵn, hạt nâu đen, độ bám giữ cùi và hạt, cùi và vỏ yếu Quả chín ăn giòn ngọt đậm Vỏ quả nhãn lồng thường dày, dòn, độ
dày trung bình đạt 0,8 mm Quả trên chùm nhãn lồng thường có kích thước đều nhau
(Trần Thế Tục, 1999a)
Nhãn bàm bàm: Quả to bằng quả nhãn lồng Trọng lượng trung bình đạt 11 –
13 g/quả Vai quả gồ ghề, cùi dày, khô ít nước có vị ngọt nhạt Phẩm chất quả kém hơn nhãn lồng (Trần Thế Tục, 1999a)
Nhãn cùi: Trọng lượng quả từ 7 – 11 g/quả Trung bình đạt 8,5 g/quả Quả có
hình cầu hơi dẹt, vỏ màu nâu vàng, không sáng mã Độ ngọt thơm của quả kém nhãn lồng Độ dày của vỏ trung bình 0,5 mm, của cùi 4,7 mm Tỷ lệ cùi/quả đạt 58% Giống nhãn này trồng phổ biến ở Hải Dương, Hưng Yên Nhãn cùi chủ yếu để sấy khô làm long nhãn dùng để xuất khẩu (Trần Thế Tục, 1999a)
Nhãn nước: Quả bé, trọng lượng trung bình 6,15 g/quả, cùi mỏng và trong Độ
dày cùi 2,7 mm, tỷ lệ cùi/quả đạt 31%, chỉ gần bằng một nửa so với các giống trong nhóm nhãn cùi Hàm lượng đường tổng số trong quả thấp (11,7%), trong khi đó các giống thuộc nhóm nhãn cùi luôn lớn hơn 16,3 % Giống nhãn này thường được sấy để làm long nhãn Ngoài ra có thể dùng hạt để làm gốc ghép cho các giống nhãn thuộc nhóm nhãn cùi (Trần Thế Tục, 1999a)
Tiêu lá bầu: Quả có trọng lượng trung bình 9 - 14 g, vỏ quả có màu xanh khi
còn non và màu vàng da bò khi chín, quả có thịt dày nhiều nước, ngọt thơm, chùm quả đều (Trần Thế Tục, 1999a)
Xuồng cơm vàng: Quả trên chùm to đều, trọng lượng quả trung bình 16 - 25 g
Cùi dày màu vàng ít nước nhưng ngọt, thịt quả rất ráo giòn, khá thơm, dùng để ăn tươi
là chính (Trần Thế Tục, 1999a)
Tiêu da bò: Màu vỏ quả sẫm, cơm dày, ráo (ít nước) chùm lớn Tiêu da bò lá
có 5 cặp lá chét, bản lá nhỏ, thuôn nhọn, kích thước quả từ nhỏ đến trung bình, năng suất cao Thời gian nuôi quả dài nên thường làm 2 năm 3 vụ (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Trang 18Long nhãn: Bản lá to dày, lá kép có khoảng 4 cặp lá chét, trái to, hạt lớn, để lộ
vệt nứt trắng, cơm mỏng, nước nhiều, ăn ngọt thơm, giống này tỷ lệ phần thịt kém Có thể dùng làm gốc ghép vì sức sống mạnh Do quả nhiều nước nên chúng được xếp vào nhóm “nhãn nước” (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Thái long tiêu: Đầu lá bầu, vỏ quả màu vàng nhạt, trái trung bình, hột nhỏ,
cơm dòn thơm (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Tiêu trắng: Năng suất kém Chùm trái nhỏ và thưa, quả nhỏ, vỏ vàng trắng
nhạt Hột nhỏ, cơm dòn, ngọt vừa (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Tiêu hồng: Quả hơi dẹp theo bề nghiêng, gần cuống quả trước khi chín ửng
hồng, cơm dòn, ít nước, hột trung bình (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Tiêu me: Hạt nhỏ, cơm ngọt, dòn, ít nước, trái tròn dẹp (theo bề đứng) Điểm
đặc biệt là vỏ thân cành có vết nứt trông giống vỏ thân cành cây me Giống này có năng suất thấp (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Nhãn bánh xe: Trồng tại Vũng Tàu, quả to 15 - 19 g, cơm dày, hạt nhỏ, thịt
quả dòn, có mùi thơm đặc trưng (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Nhãn super: Lá dày, cứng, đọt non đỏ Quả nhỡ, màu vỏ vàng nhạt, hột rất
nhỏ, cơm dáo, dày Cây sinh trưởng khỏe, dễ ra hoa và ra nhiều đợt trong năm (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.2.2 Giống nhãn ở nước ngoài
• Trung Quốc
Giống Chuliang: Quả lớn nặng trung bình 12 - 16,5 g Thịt dày và ráo; phần ăn
được 69 - 74%, độ Brix 20 - 23%, thơm, tỉ lệ sấy khô quả là 35 - 38%; tỉ lệ thịt sấy khô
13 - 16%, khi sấy khô thịt có màu vàng, cây cho quả sớm, năng suất cao và ổn định (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Trang 19Giống Fuyan: Trồng tại tỉnh Phúc Kiến chiếm 90% quả lớn, vỏ mỏng, hột nhỏ,
cơm ráo và dòn, năng suất cao, nhưng ăn nhạt độ Brix chỉ độ 15 - 16% nên rất tốt để đóng hộp (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Giống Fengko: Chiếm khoảng 98% diện tích nhãn ở Taiwan, năng suất cao,
quả to, màu vỏ nâu vàng, thịt dày, ngọt, độ Brix 20%, cuống quả dai (Nguyễn Văn Kế, 2008)
• Thái Lan
Giống I Do (Daw): Đây là giống trồng ở miền Bắc Thái Lan nên cần nhiệt độ
lạnh để cảm ứng ra hoa Cây có năng suất cao và ổn định, không bị hiện tượng cách niên, không nhiễm bệnh chổi rồng Quả to nhưng hột khá lớn, quả dùng để xuất tươi
và chế biến, không neo quả lâu trên cây được vì hột có thể nảy mầm ngay trong quả (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Giống Si Chompoo: Quả trung bình, hình oval, vỏ nâu nhạt, hơi xanh, hột nhỏ,
thịt dày màu hơi hồng, ngọt, độ Brix 21 - 22%, năng suất thấp, cây đòi hỏi chăm sóc nhiều (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Giống Biao Khiao (Biew Khiew): Quả tròn, màu xanh nâu, thịt dày dòn, thơm
ngọt, độ Brix 22% Vỏ dày nên để lâu được Bất lợi là ra quả thất thường, nhiễm bệnh chổi rồng (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Phetsakon: Giống này trồng ở vùng đất thấp ở các tỉnh như Samut Sakhon,
Ratchaburi, không cần lạnh để ra hoa, cho quả sớm (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1.3.1 Thời vụ trồng
Ở các tỉnh miền Bắc trồng vào vụ xuân tháng 2 – 3 là tốt nhất, vụ thu từ tháng 8 – 10 Ở miền Nam trồng vào đầu hoặc cuối mùa mưa Cần chú ý điều kiện khí hậu ở từng vùng sinh thái mà xê dịch thời vụ trồng cho thích hợp (Trần thế tục, 1999b)
Trang 20- Đất cao: Đào hố kích thước độ 0,6 m x 0,6 m x 0,6 m bón lót như trên trước khi trồng khoảng 2 - 4 tuần lễ Trồng hơi âm hoặc trồng bằng mặt đất rồi đắp vồng để
dễ tưới vào mùa khô, vồng được mở rộng theo tán cây Chú ý đất dốc nên trồng theo đường đồng cao độ, thẳng góc với hướng dốc để tránh sói mòn (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.3.3 Khoảng cách và mật độ trồng
Khoảng cách trồng là 6 m x 6 m (225 cây/ha), nếu trồng ở khoảng cách 3 m x 3
m thì cây giao tán phải tỉa bớt Ở Thái Lan khoảng cách là 8 m x 8 m Tại Taiwan khoảng cách thay đổi từ 4 - 6 m mật độ là 300 - 600 cây/ha Với khoảng cách trên thì cây sẽ giao tán sau 6 - 7 năm trồng (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.3.4 Xuống giống
Quan sát hễ nhánh có nhiều cành cấp 1 (3 - 4 cành) thì đặt nhánh thẳng, hễ ít cành cấp 1 thì đặt hơi xiên sau này tán cây sẽ xòe rộng Chú ý cắm cây cột nhánh chiết lại để chống gió Nén đất xung quanh rễ cho chặt, tưới nước, tủ gốc để giữ ẩm nếu trời không mưa (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.3.5 Bón phân thúc
- Thời kì kiến thiết cơ bản: Thường từ 1 - 3 năm đầu tùy theo tuổi cây, tính chất
đất … lượng phân bón tính cho mỗi năm tuổi trong thời kì này thường là 100 g N, 50 g
P2O5, 100 g K2O Như vậy nếu cây 3 tuổi sẽ bón là 300 g N, 150 g P2O5, 300 g K2O tùy theo loại phân thương mại mà quy đổi ra Phân chuồng khoảng 10 kg/gốc Quan
Trang 21sát cây nếu cây mọc quá tốt cành lá xum xuê tới năm thứ tư mà vẫn chưa ra hoa thì ngưng bón cho đến khi thu hoạch lần 1, cây 4 tuổi thường phải lớn hơn 2 m và đường kính tán phải trên 1,5 m, cây còi cọc lượng phân phải tăng lên (Nguyễn Văn Kế, 2008)
- Thời kì kinh doanh: Từ năm thứ tư trở đi nhãn bắt đầu có nhiều trái lượng
phân gia giảm tùy theo sức lớn của cây, sản lượng mà cây cho theo nguyên tắc bù lại lượng dưỡng liệu mà cây lấy đi của đất; sự bón phân ở thời kì này cần hài hòa với các biện pháp khác nhất là xử lý ra hoa, thường là:
N: 400 - 600 g/gốc/năm tức khoảng 900 g tới 1300 g urê
P2O5: 150 - 300 g/gốc/năm tức khoảng 900 g tới 2000 g Super lân
K2O: 400 - 800 g/gốc/năm tức 650 g tới 1400 g KCl Ngoài ra hàng năm cần chú trọng bồi dưỡng phân chuồng và vôi cho nhãn
Số lần bón chia làm 4 lần bón chính/năm để tránh rửa trôi và nâng cao hiệu suất của phân
+ Lần 1: Sau thu hoạch vụ phụ: bón phân chuồng, ½ phân lân ( ½ còn lại để bón lót trước và sau khi ra hoa), ¼ tổng lượng N và ¼ tổng lượng kali Kết hợp với bấm đọt, sửa cành cây sẽ sinh trưởng mạnh để chuẩn bị cho vụ quả chính
+ Lần 2: Bón nuôi quả vụ chính: Sau khi quả đã hơi lớn, tức khoảng 1 tháng sau khi thụ Lần này bón ¼ N, ¼ K
+ Lần 3: Sau khi thu hoạch vụ chính, kết hợp với bấm đọt nhẹ hơn để lấy quả
vụ phụ ¼ N, ¼ K
+ Lần 4: Bón nuôi quả vụ phụ dùng số phân còn lại
Các lần bón phụ là: Trước khi xử lý ra hoa từ nửa tháng tới một tháng: Bón lân không bón đạm vào lúc phát hoa vừa lộ Hạn chế bón N để giảm bớt rụng hoa quả non Các lần bón phụ có thể là phun phân bón lá có hàm lượng lân cao (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Trang 222.1.3.6 Tưới nước
Nhãn là cây chịu hạn giỏi, tuy nhiên muốn có năng suất cao cần tưới nước đầy
đủ Thời kì cây còn nhỏ cần tưới đều để cây mau ra cành nhánh mới mau cho quả Ở thời kì khai thác cần tưới, nhất là vào các giai đoạn cây cần nước: ra hoa và thụ quả, nuôi quả, sau thu hoạch cắt tỉa và bón phân cần tưới nước cho cây mau phục hồi, ra tược mới Giai đoạn ngừng tưới là từ tược lá đã trưởng thành tới cây ra hoa (xiết nước) Trên đất cao, cây lớn độ 10 tuổi cần khoảng 60 lít nước/tuần nếu trời khô hạn (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.3.7 Tỉa cây và tỉa hoa quả
- Thời kì cây còn nhỏ: Cần tỉa tạo hình, làm khung tán mạnh khỏe, hứng được
nhiều ánh nắng Cần cắt bỏ cành mọc vống, cành đâm vào trong tán, cành xà, cành sâu bệnh Người ta để cây mọc cao tới 1,2 m thì bấm ngọn, giữ 3 - 4 cành chính, giữ các cành này có góc phân cành lớn, mỗi cành chính giữ lại hai cành phụ mọc cách nhau và
xa thân, trên mỗi cành này lại giữ hai cành nữa cho tới khi tán cây có được 24 - 32 cành phụ (Nguyễn Văn Kế, 2008)
- Thời kì khai thác: Ngoài việc cắt tỉa, sửa cành cho tán cây cân đối và thoáng,
người ta còn bấm đọt sau khi thu hoạch, thường sâu 10 - 20 cm tính từ ngọn vào, cành
sẽ đâm đọt, đợt đọt non đầu tiên ra khoảng 10 - 15 ngày sau bấm, lặt bớt một số đọt Khi đợt đọt non này già đi và đợt đọt non thứ hai xuất hiện khoảng 30 - 40 ngày sau
đó, khi đợt đọt non thứ hai già thì áp dụng biện pháp xử lý ra hoa Trong thời kì này cũng cần theo dõi để tỉa hoa, quả tránh hiện tượng ra hoa cách niên Ở Trung Quốc nhà vườn ở những năm được mùa thường tỉa 40% số phát hoa và tỉa bớt 30% số trái non Tỉa lúc phát hoa dài khoảng 10 cm vì lúc đó có thể phân biệt cành yếu hay mạnh Tỉa bớt quả non khi quả lớn bằng hột đậu, tức sau thụ phấn từ 4 - 6 tuần lễ Để các quả thưa ra, không nên để quả dính chùm vào nhau Tỉa bớt hoa, quả sẽ làm cây bớt kiệt sức kết hợp với bón phân cân đối đầy đủ sẽ làm giảm hiện tương ra hoa cách niên (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Trang 232.1.3.8 Xử lý ra hoa
Tùy theo sức sinh trưởng của cây mà quyết định biện pháp xử lý ra hoa
a) Xới xáo một lớp đất mỏng từ gốc ra tới bìa tán, ngưng tưới từ 3 - 6 tuần, cây phản ứng khô hạn sẽ ra hoa Cách làm này thường chỉ áp dụng vào mùa nghịch và cây
ra hoa thất thường (Nguyễn Văn Kế, 2008)
b) Khoanh vỏ độ rộng 5 mm, lột lớp vỏ vừa khoanh đi để hạn chế sự tăng trưởng của cây, thúc cây ra hoa, khoanh các cành lớn, sau khi đợt lá thứ nhất già đi hay đợt lá thứ hai già đi Sự khoanh vỏ cần hạn chế, nó tùy theo mùa vụ, thời tiết sức sinh trưởng của cây Cần chừa lại ¼ số cành để nuôi bộ rễ, sau khoanh vỏ độ một tháng cây
sẽ ra hoa (Nguyễn Văn Kế, 2008)
c) Xử lý bằng chất KClO3 có thể tưới vào đất ở mức 30 - 40 g cho mỗi mét đường kính tán cây, như vậy hễ có đường kính tán 4 m thì sử dụng 120 g đến 160 g clorat kali, hòa nước cần từ 10 lít tới 20 lít nước, tưới dung dịch vào đất cách gốc khoảng 50 - 70 cm Cây sẽ cảm ứng và ra hoa khá tốt sau 4 - 6 tuần xử lý (Nguyễn Văn Kế, 2008)
d) Xử lý bằng Pacclobutrazol kết hợp với Thioure: Pacclobutrazol (chất thương mại có 10% chất hữu hiệu, dạng lỏng) và Thioure có tác dụng làm xoài và nhãn ra hoa Sau khi cắt tỉa cây, bón phân tưới nước rồi phun Thioure với liều lượng 35ml/8lít nước Thioure có tác dụng phá vỡ miên trạng của chồi ngủ, làm cây ra đọt đồng loạt, khi lá còn màu nâu phun Pacclobutrazol (40 ml/8 lít) khi đọt già phun Thioure lần hai (40 ml/8 lít), rồi phun phân bón lá giàu lân, sau đó cây sẽ ra hoa (Nguyễn Văn Kế, 2008)
e) Dùng chất điều hòa sinh trưởng: Qiu và ctv (2000) nhận thấy phun Ethrel lên
lá cây có lợi cho sự phân hóa mầm hoa Phun một lần ở nồng độ Ethrel 400 µl/L trên giống nhãn Shixia làm tăng Cytokinin, ABA và tỉ lệ Cytokinin/Gibberellins (GA1+3) trong mầm hoa cản các hoạt động của Gib (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Kế, 2008)
Trang 242.1.3.9 Tăng đậu quả
Khi hoa đã thụ, quả non bằng hột tiêu có thể phun thuốc tăng đậu quả để làm bớt rụng, chùm dài hơn và làm quả to hơn Các thuốc đã được thử nghiệm và có sẵn trên thị trường là HPC - B97, Thiên Nông, Progibb, GA3 (20 ppm) và NAA (20 ppm), các loại phân bón lá giàu chất lân và các nguyên tố vi lượng (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.1.4 Sâu bệnh hại chính trên nhãn
2.1.4.1 Sâu hại chính
Bọ xít nhãn (Tessaratoma papillosa thuộc họ Pentatomidae, bộ Hemiptera): Là
loại côn trùng chuyên phá nhãn, kích thước to, màu nâu vàng, dài khoảng 25 - 30 mm,
bề ngang khoảng 15 - 17 mm Đẻ trứng thành từng hàng màu nâu ở lá Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút nhựa ở đọt non, cuống hoa làm rụng hoa (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Sâu đục quả (Acrocercops cramerella thuộc họ Gracillariidae, bộ Lepidoptera):
Thành trùng là một loài bướm hoạt động về đêm, đẻ trứng trên vỏ quả, sâu non nở ra đục ăn vỏ quả, thường đường xâm nhập ở gần cuống quả, chúng ăn vỏ, thịt quả và đôi khi cả hột Thỉnh thoảng chúng đục những đường ngầm nằm ở giữa lớp vỏ và lớp thịt (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Sâu ăn bông (Autoba grisescens thuộc họ Noctuidae, bộ Lepidoptera): Thành
trùng là một loài bướm đêm nhỏ, màu nâu, sải cánh rộng độ 18 mm Ấu trùng là sâu màu hồng ban ngày ẩn núp trong các đường hầm ở cuống phát hoa, đến đêm chui ra ăn bông hoặc quả non Sâu nhả tơ, kết dính với phân có màu nâu đậm và làm nhộng ngay gốc cuống bông nên rất dễ nhận ra (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Vạt sành (Phaneroptera furcifera thuộc họ Tettigoniidae, bộ Orthoptera): Phá
trên nhãn, chôm chôm và cả mãng cầu xiêm Con cái có một lưỡi dao cong ở cuối bụng, rạch chồi non rồi đẻ trứng thành hàng dài bên trong Ấu trùng không cánh, màu xanh lục hơi vàng tụ tập trên các lá non ăn chừa lại gân (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Trang 25Kiến vương (Orytes rhinoceros thuộc họ Scarabacidae, bộ Coleoptera): Loài
này cũng gây hại ở nhiều vườn nhãn, chúng cạp quả và ăn phần thịt quả (Nguyễn Văn
Kế, 2008)
2.1.4.2 Bệnh hại chính
Thối trái do Phythopthora sp: Bệnh này thường xuất hiện và gây hại nặng trên
trái nhãn sắp già, vào mùa mưa có độ ẩm cao bệnh phát triển và lây lan rất nhanh Trái
bị bệnh thường bị thối nâu, lan dần từ vùng cuống trái trở xuống, làm trái nứt ra thịt trái bị thối nhũn chảy nước, có mùi hôi chua và có tơ nấm trắng phát triển trên vết bệnh Phòng trị bằng thuốc Aliette, Ridomin MZ (0,1 - 0,2 %) (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Khô cháy hoa do Phyllostista sp: Xuất hiện trên cánh hoa có các vết đen nhỏ
bằng đầu kim dần dần làm cho hoa vàng, khô và rụng đi Phòng trị bằng Benomyl 0,1% hoặc các loại thuốc gốc đồng (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Cháy đầu lá do nấm Pestalotia mangiferae: Đầu ngọn lá bị cháy khô, khi bị
nặng toàn bộ lá bị cháy chóp lá Nấm tấn công ở đầu lá do việc tích tụ sương trên đầu chóp lá do đó đầu chóp lá sẽ ẩm hơn các phần khác (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Chổi rồng có thể do virus, tác nhân môi giới là nhện lông nhung, bệnh làm hoa
méo mó, rụng hết lá, lá già cong queo, lá non mọc chụm lại (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Ở Việt Nam bệnh gây hại nặng trên giống nhãn tiêu da bò và tiêu lá bầu Để quản lý bệnh tốt cần áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp
Ngoài ra còn một số bệnh như bệnh đốm rong, mốc xám, nấm đen
2.2 Một số nghiên cứu về bệnh chổi rồng và nhện lông nhung Eriphyes dimocarpi
trên nhãn
2.2.1 Những nghiên cứu hiện tượng chổi rồng trên nhãn ở nước ngoài
Hiện tượng chổi rồng (witches’broom) được xem là một hiện tượng rất quan trọng tại các nước Châu Á làm giảm từ 20 – 50% sản lượng nhãn (Chen, 1990) Bệnh
Trang 26còn được gọi là bệnh đọt chổi, tổ rồng, cùi nhãn, hoa tre, chổi xể, chổi ma… bệnh đã sớm được mô tả bởi Qui (1941) Triệu chứng bệnh chổi rồng trên nhãn giống với mô
tả bệnh chổi rồng trên cây vải (Chen và ctv, 1996) Bệnh chổi rồng trên nhãn gây hại trên hoa, lá, chồi non(Chen và ctv, 2001; Menzel và ctv, 1989) Dựa theo triệu chứng của bệnh từ tài liệu Trung Quốc, bệnh chổi rồng trên nhãn đã được ghi nhận ở Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan (So và Zee, 1972; Menzel và ctv, 1990; Sarindu, 1993) Một nghiên cứu ở Hong Kong cho rằng triệu chứng chổi rồng thường xảy ra trên cây
nhãn 10 – 25 năm tuổi hơn là cây 30 năm tuổi (So and Zee, 1972)
Bệnh này xảy ra ở Quảng Đông Trung Quốc từ năm 1955 và có người cho rằng bệnh chổi rồng trên nhãn gây ra do virus (Chen và ctv, 1996; Chen và ctv, 2001; So and Zee, 1972; Ye và ctv, 1990), do mycoplasma (MLO) (Menzel và ctv, 1989), hoặc
do nhện (He và ctv, 2001) Trong thập kỉ qua bệnh gây hại nặng ở Fujian, ở Quảng
Đông người ta lại cho rằng sâu đục cành (Hypadime longanae) là tác nhân gây ra bệnh này Trong khi đó các nhà khoa học Thái Lan thì cho rằng bệnh do phytoplasma gây
ra Theo Sdoodee (1999), bằng phương pháp PCR, không tìm thấy sự hiện diện của
Phytoplasma trên nhãn bị nhiễm hội chứng chổi rồng, mà gợi ý sự hiện diện của
Prokaryote
He và ctv (2001), báo cáo rằng bệnh chổi rồng trên nhãn gây ra bởi nhện
Eriophyes dimocarpi Kuang không do mọt đục cành và họ cũng đã chứng minh khả
năng do virus gây ra là rất thấp bởi vì đối với cây bệnh sau khi cắt tỉa cành bệnh và phun thuốc trừ nhện thì không thấy bệnh phát triển trở lại Họ chứng minh rằng bằng cách giám định những lá không có triệu chứng bệnh thường không có sự xuất hiện của nhện lông nhung, trong khi đó những cây khỏe được chủng nhện lông nhung thì xuất hiện triệu chứng bệnh
Gần đây Feng và ctv (2005), cho rằng triệu chứng hiện tượng chổi rồng trên
nhãn do nhện Eriophyes dimocarpi và sử dụng các loại thuốc trừ nhện giúp giảm quần
thể nhện và cải thiện khả năng đậu quả
So và Zee (1972), báo cáo rằng những giống khác nhau có tính mẫn cảm khác nhau đối với bệnh Các khảo sát ở Thái Lan cho thấy giống Biew Kiew, Deang Klom
Trang 27và Ma Teen Klong nhiễm bệnh nặng trong khi nhưng giống khác như Heaw và Daw
thì bị nhiễm nhẹ (Visitpanich và ctv, 1996)
Biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại này được đưa ra gồm : Kiểm soát cách ly
chặt chẽ với bệnh; lựa chọn và sử dụng giống kháng bệnh; kiểm soát vector truyền
bệnh kịp thời; thiết lập những vườn ươm sạch virus; loại bỏ cành nhánh, phát hoa bị
hại, các cây giống bị nhiễm bệnh từ các vườn ươm và vườn cây ăn quả; bón phân hợp
lý, quản lý đất và nước tưới thúc đẩy sức khỏe của cây nâng cao khả năng kháng bệnh
(Chen và ctv, 2001)
2.2.2 Những nghiên cứu bệnh chổi rồng trên nhãn trong nước
Bệnh đã được ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam trước đây (Đặng Vũ Thị Thanh
và Hà Minh Trung, 1999)
Hình 2.1: Hiện tượng chổi rồng trên nhãn tiêu da bò
tại Hiệp Đức – Cai Lậy – Tiền Giang (2011) (A) Cây nhãn bị chổi rồng, (B) Triệu chứng trên lá non, (C) Triệu chứng trên hoa
C A
B
Trang 28Theo khảo sát vùng Đông Nam Bộ cho thấy bệnh chổi rồng có liên quan đến nhện và côn trùng chích hút và có thể chúng là nguyên nhân trực tiếp hay yếu tố liên quan đến sự phát sinh, phát triển dịch hại này (Mai Văn Trị và ctv, 2005)
Khảo nghiệm tác nhân là phytoplasma bằng sinh học phân tử sử dụng đoạn mồi universal phytoplasm primers không cho kết quả nhân đoạn DNA, ngay cả khi sử dụng chất kháng sịnh là Oxytetracylin 10% ở nồng độ 500ppm kết hợp thuốc trừ nhện Ortus cũng không khống chế được hiện tượng chổi rồng (Nguyễn Văn Hòa, 2007)
Theo nguyễn văn hòa và ctv (2007), hiện tượng chổi rồng không ghi nhận đối với vector lan truyền là bọ xít, sâu đục gân lá nhưng có liên quan mật thiết với nhện
lông nhung Eriophyes dimocarpi Loài nhện này hoặc là trung gian truyền bệnh chổi
rồng hoặc là tác nhân gây nên triệu chứng chổi rồng trên nhãn
Phạm Thị Thúy Yến và ctv (2008), đã lây nhiễm bằng cách lấy nhện lông nhung từ cây bệnh và cây không bệnh lây cho cây nhãn tiêu da bò khỏe thì thấy nhện lông nhung từ cây bệnh làm cho nhãn tiêu da bò bị bệnh nhưng nhện lông nhung lấy từ cây không bệnh không làm cho nhãn tiêu da bò khỏe bị bệnh
Trong các giống nhãn được dùng để đánh giá khả năng nhiễm chổi rồng thì giống nhãn tiêu da bò và nhãn lồng Hưng Yên nhiễm còn hai giống nhãn long và nhãn xuồng cơm vàng thì không nhiễm đến 60 ngày sau khi truyền bệnh bằng nhện lông nhung (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2009), bệnh chổi rồng xuất hiện và gây hại nặng theo các đợt lá non, chồi non và hoa, tập trung nhiều vào giai đoạn có mưa ít hay ẩm
độ thấp Bệnh nặng hơn vào những tháng cuối năm, điều này cũng trùng với mật số nhện lông nhung trên lá non tăng cao
2.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của một số loài nhện lông nhung ở nước ta
2.3.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của loài nhện lông nhung Eriophyes
dimocarpi
Trang 29Hiện nay ở nước ta chưa có nhiều nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh học
của loài nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi Tuy nhiên Viện Cây ăn quả miền Nam
đã có nuôi vòng đời của loài nhện lông nhung này và bước đầu ghi nhận một số đặc điểm sau: Trứng nhện lông nhung hình tròn, màu trắng trong, lúc sắp nở có màu trắng đục Thời gian phát dục của trứng từ 3 - 7 ngày Ấu trùng có 2 tuổi: Tuổi 1 từ 1 - 2 ngày, tuổi 2 từ 4 - 6 ngày Thành trùng có kích thước rất nhỏ, cơ thể dài từ 0,12 – 0,17
mm, thân màu trắng ngà, mắt thường không nhìn thấy Phần đầu ngực có hai cặp chân, đoạn đuôi có một cặp lông, số vòng lưng bụng của thân tương đối giống nhau 70 - 72 vòng Nhện trưởng thành có hình dạng gần giống ấu trùng tuổi 2 Vòng đời nhện lông
nhung Eriophyes dimocarpi vào khoảng 8 - 15 ngày
(Nguồn Viện CAQMN, 2009)
Theo quan sát cho thấy về đặc điểm hình thái của nhện lông nhung Eriphyes
dimocarpi trên nhãn cũng gần giống với nhện lông nhung Eriophyes litchii gây hại
mm, rộng từ 0,035 - 0,04 mm và thon dần về phía đuôi Phần ngực có 2 đôi chân và có
70 - 72 đốt bụng Cả giai đoạn nhện non và nhện trưởng thành tuy chỉ có 4 chân phát
Hình 2.2: Các giai đoạn phát triển của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi
Trang 30triển, nhưng chúng di chuyển rất dễ dàng Trứng rất nhỏ, có đường kính 0,032mm, trứng đẻ rải rác từng quả một trên mặt lá Nhện non trông như một chấm nhỏ, màu hồng thường di chuyển rất chậm
Nhện lông nhung xâm nhập vào các chồi cây để sinh sống và đẻ trứng đồng thời kích thích cho các tế bào biểu bì phát triển thành nhiều lông nhỏ, mịn như nhung Thời gian từ khi nhện lông nhung xâm nhập đến khi xuất hiện nhện lông nhung từ 8 - 12 ngày Sau thời gian từ 12 - 18 ngày xuất hiện nhện trưởng thành Nhện trưởng thành
đẻ trứng dưới gốc các sợi lông nhung Nhện non nở ra tiếp tục sống dưới lớp lông mới
di chuyển tìm nơi ở mới Nhện lông nhung có thể tự di chuyển từ nơi ở cũ sang nơi ở mới nhưng phạm vi hẹp và di chuyển nhờ gió (Đào Đăng Tựu và Trần Huy Thọ, 2008)
Nhện sinh sống trong lớp nhung, màu sắc lớp nhung ban đầu có màu xanh hơn bình thường, sau chuyển sang màu trắng bạc, trắng, trắng vàng, vàng, vàng nâu và cuối cùng là màu nâu sẫm Lớp lông nhung phát triển làm cho lá cong lại, lá nhỏ, cả cành lọc xoăn tít lại Sau khi xuất hiện lớp nhung 12 - 18 ngày có thể quan sát thấy nhện trưởng thành, lúc này lông nhung có màu trắng bạc Khi lớp lông nhung có màu trắng vàng xuất hiện lứa trưởng thành thứ hai Khi lông nhung có màu vàng nâu - nâu tươi xuất hiện trưởng thành lứa thứ ba Thời gian từ khi xuất hiện lông nhung tới khi lông nhung có màu nâu tươi từ 46 - 55 ngày (Đào Đăng Tựu và Trần Huy Thọ, 2008) Như vậy ở mỗi đợt lộc phát triển có ba lứa nhện lông nhung phát sinh Trong đó nhện trưởng thành lứa 1, lứa 2 và nhện non của lứa 3 sinh sống ở nơi có lớp lông nhung cũ, còn nhện trưởng thành l ứa thứ 3 di chuyển đi nơi khác (Đào Đăng Tựu và Trần Huy Thọ, 2008)
2.4 Phổ kí chủ của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi
Theo Nguyễn Văn Hòa (2009), trong 10 chủng loại cây cỏ, rau ăn lá và những
loại cây trồng khác cho thấy cây bồ ngót (Sauropus androgynus) và cây bóng nẻ (Securinega virosa) và một số loài cây khác chưa được định danh tên tiếng Việt là kí
Trang 31chủ của nhện lông nhung, trong đó cây bóng nẻ nhiễm nặng hơn và là kí chủ thích hợp
hơn cây bồ ngót
2.5 Điều kiện phát triển bệnh chổi rồng trên nhãn
Ở miền Đông Nam Bộ, bệnh thường gây hại nặng từ giai đoạn đầu mùa mưa khi
có nhiều đọt non xuất hiện hay trong điều kiện trời hanh khô là điều kiện thời tiết thích hợp cho côn trùng phát triển (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
Ở những vườn chăm sóc tốt (có tỉa cành tạo tán, phun thuốc BVTV, bón phân tưới nước, xử lý ra hoa…) có tỷ lệ bệnh thấp Những vườn chăm sóc kém (không tỉa cành tạo tán, phun thuốc BVTV , bón phân tưới nước…) thì tỷ lệ bệnh cao (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
Các thời kì sinh trưởng khác nhau cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh chổi rồng trên nhãn tiêu da bò Ở thời kì kiến thiết cơ bản (1 - 3 tuổi) tỷ lệ bệnh thấp hơn so với thời
kì kinh doanh (trên 3 tuổi) (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
2.6 Quản lý bệnh chổi rồng trên nhãn
2.6.1 Giải pháp giống
Sử dụng giống chống chịu tốt với bệnh này như giống nhãn xuồng cơm vàng hoặc ghép đổi giống lên giống nhãn tiêu da bò đang nhiễm nặng Vật liệu nhân giống phải sạch bệnh tuyệt đối không sử dụng giống từ những cây hoặc vườn có triệu chứng chổi rồng mà chỉ sử dụng giống sạch bệnh làm vật liệu nhân giống (Nguyễn Văn Hòa
và ctv, 2009)
2.6.2 Biện pháp canh tác
Tưới phun nước với áp lực cao lên tán: Biện pháp này cũng làm hạn chế mật số nhện và các côn trùng chích hút trên tán cây, làm giảm áp lực bệnh đáng kể trên vườn (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
Bón phân cân đối hợp lý, tránh bón nhiều đạm làm lá phát triển nhiều dễ tạo
điều kiện tốt cho nhện phát triển dẫn đến bệnh nhiều (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
Trang 322.6.3 Biện pháp cơ học
Sau khi thu hoạch tiến hành cắt tỉa loại bỏ cành kém hiệu quả giúp cây thông thoáng và ra chồi lá mới sẽ cho năng suất cao hơn vụ kế tiếp, vừa loại bỏ được mầm bệnh nhất là nhện cư trú trên lá non và lá già (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
Cắt tỉa hết và loại bỏ những cành, lá có triệu trứng chổi rồng Tỉa cành, nhánh, phát hoa, chồi ngọn và cây con bị nhiễm là biện pháp tốt để khống chế bệnh Nên tỉa
và tiêu hủy đồng loạt trên toàn khu vực nhiễm bệnh Sau đó tiếp tục khống chế quần thể nhện bằng biện pháp hóa học để bảo vệ các đợt lá non và tiếp tục cắt những cành còn lộ triệu chứng bệnh sau đó (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
2.6.4 Biện pháp hóa học
Tiến hành phun thuốc trừ nhện kết hợp giữa Cypermethrin với dầu khoáng DC trong Plus hoặc SK Enpray 99 EC Cũng có thể sử dụng thuốc trừ nhện gốc lưu huỳnh
để phòng trừ nhện Nên phun định kì lúc cây ra đọt non, lá non đến khi lá lụa chuyển
từ màu nâu đỏ sang xanh tươi hoặc lúc chuẩn bị tượng hoa Nên luân phiên các loại thuốc có gốc khác nhau để tránh tính kháng thuốc của nhện lông nhung (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
Trên vùng có áp lực bênh cao hay vùng có tiền sử nhiễm bệnh, nên tiến hành phun thuốc trừ nhện và những côn trùng khác vào giai đoạn ra lá, đọt non hoặc lúc chuẩn bị tượng hoa (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009)
2.7 Các loại phân bón sử dụng trong thí nghiệm
Trang 33- Phân Clorua Kali
+ Hàm lượng 60% K2O
+ Công thức: KCl
- Phân hữu cơ vi sinh Trichoderma + TE
+ Thành phần: Hữu cơ (20%), N (1%), P2O5 (1%), K2O (1%), nấm Trichoderma Spp (1 x 106), vi sinh vật cố định đạm (1 x 106), vi sinh vật phân giải lân (1 x 106) + Công dụng: Nấm Trichoderma giúp phòng chống thối rễ, chống nghẹt rễ, tăng sức đề kháng sâu bệnh Bổ xung nguồn hữu cơ, vi sinh vật có ích cho đất, giúp cây trồng phát triển tốt tăng năng suất và chất lượng nông sản Bổ xung nguồn vi lượng cần thiết cho cây trồng Giữ ẩm đất cho mùa khô, giúp đất tơi xốp, chống bạc màu + Cách dùng: Có thể trộn với phân đơn hay NPK
2.8 Các loại thuốc hóa học sử dụng
- Pegasus 500SC:
+ Hoạt chất Diafenthiuron
+ Đặc tính: Tác động tiếp xúc, vị độc và xông hơi, có khả năng thấm sâu, diệt
được cả trứng sâu Đặc trị nhện lông nhung hại vải thiều, nhện hại cây cảnh
- Ditacin 8L:
+ Hoạt chất Ningnamycin
+ Đặc tính: Có tác dụng nội hấp, lưu dẫn, có hiệu lực phòng trừ các bệnh do vi khuẩn và nấm Sử dụng Ditacin sớm tăng khả năng kháng bệnh , tăng năng suất, chất lượng nông sản
Trang 34Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Phòng thí nghiệm côn trùng, bộ môn BVTV - Viện Cây ăn quả miền Nam, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Các thí nghiệm ngoài đồng thực hiện tại xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
3.2 Vật liệu thí nghiệm
Vườn cây nhãn Tiêu da bò 5 năm tuổi và 6 năm tuổi đang bị nhiễm bệnh chổi
rồng; cây nhãn con 35 ngày tuổi trồng trong ly nhựa; nhện lông nhung Eriophyes
dimocarpi; bọ xít nhãn (Tessaratoma papillosa)
Kéo cắt cành, bao nilon, lọ nhựa, thước kẻ, ly nhựa, vợt bắt côn trùng, que kẹp, đĩa petri, kính lúp, máy chụp hình
Phân vô cơ (Urea, DAP, KCl), phân hữu cơ vi sinh Trichoderma + TE, formol Thuốc bảo vệ thực vật:
+ Pegasus 500 SC (hoạt chất Diafenthiuron)
+ Ditacin 8L (hoạt chất Ningnamycin)
Trang 353.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng phát tán của nhện lông nhung trong phòng thí nghiệm Khảo sát hiệu quả quản lý bệnh chổi rồng bằng việc cắt tỉa cành ở các mức độ khác nhau trên nhãn
Khảo sát ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến bệnh chổi rồng trên nhãn
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Nghiên cứu khả năng tự phát tán và phát tán nhờ côn trùng của nhện lông
nhung Eriophyes dimocarpi trong phòng thí nghiệm
3.4.1.1 Khảo sát khả năng tự phát tán của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi
trên nhãn
Cây nhãn con 35 ngày tuổi được gieo từ hạt trồng trong ly nhựa (h = 12 cm, Ø1
= 9 cm, Ø2 = 5 cm) để trong phòng kín không nhiễm nhện lông nhung Chuẩn bị 5 cây nhãn có nhiễm nhện lông nhung, mật số trung bình nhện lông nhung trên lá nhãn khoảng từ 20 con/lá trở nên được để ở một phòng riêng
Thí nghiệm được thực hiện trong nhà kính Thiết kế sắp xếp các cây nhãn con thành những vòng tròn đồng tâm Khoảng cách tâm tới các vòng tròn lần lượt là 25
cm, 50 cm, 75 cm, 100 cm Sau đó đặt 5 cây nhãn nhiễm nhện lông nhung vào tâm của
bố trí thí nghiệm tiếp đó theo dõi sự phát tán của nhện lông nhung mỗi ngày cho đến khi nhện xuất hiện ở vòng 100 cm thì ngưng quan sát (Hình 3.1)
Chỉ tiêu theo dõi: Ghi nhận sự phát tán của nhện lông nhungtrên các cây nhãn con tại bán kính: 25 cm, 50 cm, 75 cm, 100 cm theo thời gian (ngày)
Trang 36
Hình 3.1: Toàn cảnh thí nghiệm khả năng tự phát tán của nhện lông nhung trên nhãn
3.4.1.2 Khảo sát khả năng phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung Eriophyes
dimocarpi trên nhãn
Theo một kết quả nghiên cứu của Waite (1999) cho rằng loài ong mật là vector phát tán nhện lông nhung ngoài đồng ruộng Những vùng có nuôi ong mật thì bệnh chổi rồng trên nhãn xuất hiện nhiều hơn so với vùng không nuôi
Bọ xít nhãn (Tessaratoma papillosa) là loài côn trùng phổ biến trên nhãn, chúng
thường bay từ cây này qua cây khác hoặc vườn này qua vườn khác Đây có thể là đối tượng mang theo nhện lông nhung đi nơi khác
Tìm nhện lông nhung trên cơ thể ong mật và bọ xít nhãn
Trước khi tiến hành thí nghiệm phát tán nhện lông nhung nhờ côn trùng cần tìm nhện trên cơ thể côn trùng
Ong mật và bọ xít nhãn được thu thập tại các vườn nhãn của nông dân bằng vợt bắt côn trùng Mỗi con được bỏ riêng vào một lọ nhựa đem về phòng thí nghiệm quan sát dưới kính lúp, quan sát toàn bộ cơ thể đặc biệt là phần bụng và chân Trước khi quan sát, côn trùng được làm chết bằng cách dùng kim chích formol vào cơ thể
Số vườn thu thập: 10 vườn nhãn (mỗi vườn bắt 20 con ong mật và 10 con bọ xít nhãn) Quá trình bắt được thực hiện qua 10 lần
Trang 37Quan sát và ghi nhận sự xuất hiện nhện lông nhung trên cơ thể ong mật và bọ xít nhãn
Thí nhiệm khả năng phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung Eriophyes
dimocarpi trên nhãn
Cây nhãn con 35 ngày tuổi được gieo từ hạt trồng trong ly nhựa (h = 12 cm, Ø1
= 9 cm, Ø2 = 5 cm) để trong phòng kín không nhiễm nhện lông nhung Chuẩn bị 5 cây nhãn đã nhiễm nhện lông nhung, mật số trung bình nhện lông nhung trên lá nhãn khoảng từ 20 con/lá trở nên được để ở một phòng riêng
Thí nghiệm được thực hiện trong nhà kính Thiết kế sắp xếp các cây nhãn con thành những vòng tròn đồng tâm, với tâm là 5 cây nhãn nhiễm nhện lông nhung Khoảng cách từ tâm tới các vòng tròn lần lượt là 25 cm, 50 cm, 75 cm, 100 cm Tiếp
đó thả 50 con bọ xít nhãn lên các cây nhãn ở tâm của bố trí thí nghiệm (Hình 3.2) Chỉ tiêu theo dõi: Ghi nhận sự phát tán của nhện lông nhung trên các cây nhãn con tại bán kính: 25 cm, 50 cm, 75 cm, 100 cm, ở các thời điểm 1, 3, 5 ngày sau khi đặt cây nhãn có nhiễm nhện lông nhung và thả bọ xít nhãn vào thí nghiệm
Hình 3.2: Toàn cảnh thí nghiệm phát tán nhờ côn trùng của nhện lông nhung trên nhãn
Trang 383.4.2 Khảo sát hiệu quả quản lý bệnh chổi rồng bằng việc cắt tỉa cành ở các mức
độ khác nhau trên nhãn
Biện pháp cắt tỉa cành sẽ giúp loại bỏ được các cành, nhánh, chồi hoa bị nhiễm bệnh chổi rồng và loại bỏ được nhện lông nhung trên lá, hoa Khả năng tái nhiễm bệnh chổi rồng cũng giảm đi Theo Dennill (1991), việc xén tỉa cành theo đúng phương pháp cũng giúp giảm mật số nhện trên chồi non
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức với 4 lần lặp lại và mỗi lần lặp lại bố trí trên 1 cây
Bảng 3.1: Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát hiệu quả quản lý bệnh chổi
rồng bằng việc cắt tỉa cành ở các mức độ khác nhau
1 Cắt tỉa cành 30 cm Các cành, nhánh được cắt tỉa toàn bộ với độ
dài tương ứng theo từng nghiệm thức và đoạn cành được cắt tính từ ngọn vào
2 Cắt tỉa cành 35 cm
3 Cắt tỉa cành 40 cm
4 Đối chứng (không cắt tỉa)
Ghi chú: Tất cả các nghiệm thức đều được chăm sóc, tưới nước và bón phân theo nông dân
Thí nghiệm được thực hiện trên vườn nhãn tiêu da bò 6 năm tuổi đã bị nhiễm bệnh chổi rồng tại xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Các cây nhãn trong
vườn có tỷ lệ nhiễm chổi rồng trên 50%
Chiều biến thiên
Trang 39Thời điểm theo dõi: Trước cắt tỉa, 21, 35, 49, 63, 77, 91, 105, 119 và 133 ngày
sau cắt tỉa
Chỉ tiêu theo dõi:
+ Tỷ lệ nhiễm (%) = (tổng số chồi nhiễm chổi rồng/tổng số chồi điều tra) x 100
Trên mỗi cây theo dõi 4 hướng, mỗi hướng chọn một cành cấp 3, đếm số chồi nhiễm
trên tổng số chồi điều tra tại mỗi hướng ở các ngày lấy chỉ tiêu
+ Mật số nhện lông nhung trên lá: Trên mỗi cây chọn 4 hướng, mỗi hướng là
một cành, một cành lấy 5 lá chét Dùng kính lúp để đếm và ghi nhận mật số nhện lông
Trang 403.4.3 Khảo sát ảnh hưởng của các mức phân bón đến bệnh chổi rồng trên nhãn
Theo Chen và ctv (2001) bón phân hợp lý là một trong sáu biện pháp quản lý tổng hợp bệnh chổi rồng trên nhãn Việc bón nhiều đạm sẽ làm lá phát triển nhiều dễ tạo điều kiện cho nhện phát triển dẫn đến bệnh chổi rồng nhiều và nặng hơn (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2009) Kết hợp bón phân vô cơ và hữu cơ cũng có thể giúp cây phát triển khỏe mạnh
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại và mỗi lần lặp lại bố trí trên 1 cây
Thí nghiệm được thực hiện tại vườn nhãn tiêu da bò 5 năm tuổi đã bị nhiễm bệnh chổi rồng tại xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Vườn nhãn được cắt tỉa đồng loạt cành sâu bệnh, tỉa chồi độ sâu 10 – 20 cm tính từ ngọn vào và tiêu hủy cành nhánh nhiễm chổi rồng Sau đó bón phân ở các mức độ khác nhau ở mỗi nghiệm thức, phân được bón xung quanh gốc bằng cách rạch rãnh vòng quanh gốc theo đường kính tán, độ sâu đường rạch khoảng 15 cm
Bảng 3.2: Các nghiệm thức của thí nghiệm ảnh hưởng của các mức phân bón đến bệnh
chổi rồng trên nhãn
Nghiệm thức Liều lượng (g/cây)
(N – P 2 O 5 – K 2 O)
1 240 – 240 – 240 + 2,5 kg hữu cơ vi sinh
2 240 – 240 – 120 + 5 kg hữu cơ vi sinh
3 240 – 240 – 120
4 240 – 240 – 120 + 2,5 kg hữu cơ vi sinh
5 640 – 460 – 300 (Đ/C theo nông dân)
Ghi chú : Tất cả các nghiệm thức đều được phun hỗn hợp thuốc Pegasus 500 SC + Ditacin 8L theo nồng độ khuyến cáo một lần sau khi mới tỉa cành và bón phân Liều lượng phân bón trên là tổng hai lần bón