Có thể thấy, việc đa dạng hóa nguồn thu đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng nhưng cũng đi kèm nhiều rủi ro và chi phí cho ngân hàng như phải cải cách công nghệ, rủi ro đầu tư vào bất đ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-oOo -
NGUYỄN THỊ NGỌC NHI
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA NGUỒN THU VÀ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐẾN LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ Hoàng Hải Yến
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của
TS Hoàng Hải Yến Số liệu thống kê là trung thực, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay.
TP HCM, ngày 30 tháng 09 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Nhi
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC NGÂN HÀNG
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
Chương 1: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu: 4
1.6 Ý nghĩa đề tài 5
1.7 Kết cấu của bài 5
Kết luận chương 1 6
Chương 2: Cơ sở lý luận về thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng 7
2.1 Thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, các hình thức sở hữu, đa dạng hoá nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng 7
Thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi 7
2.2 Tổng kết lý thuyết về tác động của đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến rủi ro và thu nhập ngân hàng 13
2.2.1 Đa dạng hóa nguồn thu làm tăng lợi nhuận của ngân hàng 13
2.2.2 Đa dạng hóa nguồn thu làm giảm doanh thu và tăng rủi ro ở ngân hàng16 2.2.3 Sở hữu nhà nước ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng 19
2.3 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu 20
Kết luận chương 2 25
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 26
Trang 53.2 Phương pháp nghiên cứu 26
Dữ liệu bảng 26
Phương pháp ước lượng tác động cố định: 27
Phương pháp ước lượng tác động ngẫu nhiên 27
Kiểm định Hausman 28
3.3 Biến nghiên cứu 28
Biến đo lường lợi nhuận ngân hàng: 28
Biến đo lường rủi ro ngân hàng: 29
Biến đo lường đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng: 29
Biến đo lường ảnh hưởng nhà nước (OWN): 30
Các biến kiểm soát: 30
3.4 Mô hình nghiên cứu: 31
Kết luận chương 3 33
Chương 4: Kết quả nghiên cứu 34
4.1 Sở hữu nhà nước tại các NHTM 34
4.2 Đa dạng hóa nguồn thu ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng 35
4.3 Thống kê mô tả 37
4.4 Kết quả kiểm định giả thuyết và mô hình nghiên cứu 40
4.4.1 Kiểm định đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng 40
4.4.2 Kiểm định đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước ảnh hưởng đến rủi ro ngân hàng 43
Kết luận chương 4 47
Chương 5: Kết luận và đóng góp của đề tài nghiên cứu 48
5.1 Kết luận chung 48
5.2 Đóng góp của kết quả nghiên cứu 49
5.3 Hạn chế và định hướng nghiên cứu 52
Kết luận chương 5 53
KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ATM Máy rút tiền tự động
GMM Phương pháp hồi quy tổng quát
NHTM Ngân hàng thương mại
Trang 7DANH MỤC NGÂN HÀNG
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp phát triển và Nông thôn Việt Nam BIDV Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt
Nam CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
CB Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Xây dựng Việt Nam EAB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á
GPBank Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu khí toàn cầu
MBB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội
Oceanbank Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại dương
STB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín
VCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước đây 22 Bảng 4.1 Thống kê mô tả các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập từ lãi và ngoài lãi 35 Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến sử dụng trong mô hình (1), (2),(3),(4) 38 Bảng 4.3 hệ số ma trận tương quan giữa các biến độc lập 39 Bảng 4.4 Hệ số nhân tử phóng đại VIF của mô hình nghiên cứu 39 Bảng 4.5 Kết quả kiểm định tác động đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến lợi nhuận của ngân hàng ROA 40 Bảng 4.6 Kết quả kiểm định tác động đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến lợi nhuận của ngân hàng ROE 41 Bảng 4.7 Kết quả kiểm định tác động đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến rủi ro của ngân hàng qua chỉ số Z-score 43 Bảng 4.8 Kết quả kiểm định tác động đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến rủi ro của ngân hàng qua chỉ số NPLOAN 45
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình các hình thức sở hữu ngân hàng tại Việt Nam 10 Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện số lượng các ngân hàng theo hình thức sở hữu tại Việt
năm từ năm 2006-2016 11 Hình 4.1 Tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các 4 ngân hàng TMCP nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ qua các năm 34 Hình 4.2 Tỷ trọng thu nhập từ lãi và ngoài lãi so với tổng thu nhập 37
Trang 10Chương 1: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu
1.1 Lý do chọn đề tài
Việc mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay cho phép các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước được hoạt động kinh doanh, cạnh tranh và lớn mạnh trong một sân chơi công bằng và bình đẳng đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại trong nước thâm nhập thị trường quốc tế và mở rộng hoạt động kinh doanh Hội nhập đem lại cho ngành ngân hàng Việt Nam những cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạch định chính sách tài chính, tiền tệ, quản lý ngoại hối, thanh tra, giám sát phòng ngừa rủi ro và thanh toán, từ đó nâng cao vị thế và uy tín của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong các giao dịch tài chính ngân hàng quốc tế “Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ chính là hướng đi tất yếu giúp các NHTM nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập” (Hạ Thị Hải Lý, 2016) Từ những năm gần đây, ngoài nguồn thu từ hoạt động kinh doanh cho vay thuần, nguồn thu ngoài lãi đóng góp một phần không nhỏ vào lợi nhuận của các ngân hàng
Đối với hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam, nguồn thu từ lãi của các NHTM chiếm 70 – 85% nguồn thu và với điều kiện khó khăn như hiện nay thì các NHTM đang đẩy mạnh tìm nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ (Thùy Vinh, 2012) Năm 2015 và đầu năm 2016, tăng trưởng tín dụng tiếp tục khó khăn với các NHTM Trước tình hình này, các NHTM tìm cách đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, gia tăng nguồn thu như dịch vụ phát hành thẻ (ATM, trả trước, tín dụng), phát triển dịch vụ ngân hàng trực tuyến, liên kết công ty bảo hiểm để bán chéo sản phẩm bảo hiểm (bancassurance) Cuối năm 2016, theo quyết định số 2545/QĐ – TTg trong phê duyệt đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016
- 2020 tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp hơn 10% đến cuối năm 2020 Và cũng theo đề án này, 100% siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có thiết bị chấp nhận thẻ và cho phép người tiêu dùng thanh toán không dùng tiền mặt khi mua hàng; 70% các đơn vị cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông và truyền thông chấp nhận thanh toán hóa đơn của các cá nhân, hộ gia
Trang 11đình qua các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt… Nắm bắt được xu thế này, hàng loạt các ngân hàng đã đầu tư vào dịch vụ công nghệ hiện đại và gia tăng nguồn thu từ dịch vụ một cách đáng kể như cơ cấu lợi nhuận của CTG (Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam) tỷ trọng thu ngoài lãi chiếm 20% năm 2016, của VCB (Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam) là 26% và của STB (Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín) là 24% trong khi tỷ lệ này năm 2015 ở CTG là 17%, ở VCB là 25%, ở STB là 20%) Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính tới thời điểm 31/12/2016, tỷ lệ sở hữu nhà nước trung bình tại bốn Ngân hàng CTG, BIDV, VCB và Agribank (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam) là 84% Theo quyết định số 51/2014/QĐ-TTg về một số nội dung liên quan đến việc thoái vốn, bán cổ phần và đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp nhà nước, các ngân hàng sở hữu nhà nước từng bước cổ phần hóa và giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước ở mức không thấp hơn 51% với mục tiêu tái cơ cấu nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng thương mại xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính và tăng trưởng tín dụng
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng tại nhiều nước khác nhau ở Châu Á, Châu Phi cùng các nền kinh tế mới nổi và đưa ra những nhận định trái chiều nhau Các nghiên cứu của Stiroh và Kevin J (2002), Lee và các cộng sự (2014), Sanya và Wofle (2010) đều đồng tình với quan điểm đa dạng hóa nguồn thu mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho các ngân hàng Tuy nhiên, DeYoung và Roland (2001), Ceboyan và Straham (2004), Maudos (2017) lại có kết luận sự gia tăng tỷ trọng các nguồn thu ngoài lãi ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng và thậm chí còn gia tăng rủi ro cho ngân hàng Ngoài ra, P Sapienza (2002), M Cornett và các cộng sự (2005) còn tìm ra sở hữu nhà nước đối với ngân hàng thực
sự làm gia tăng rủi ro và ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của ngân hàng Ở Việt Nam, việc nghiên cứu đa dạng hóa ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro các ngân hàng cũng rất được quan tâm và được nhiều tác giả nghiên cứu và có một số kết luận
Trang 12khác nhau khi sử dụng phương pháp hồi quy để xem xét tuy nhiên vẫn chưa xem xét đến ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến kết quả nghiên cứu
Có thể thấy, việc đa dạng hóa nguồn thu đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng nhưng cũng đi kèm nhiều rủi ro và chi phí cho ngân hàng như phải cải cách công nghệ, rủi ro đầu tư vào bất động sản và chứng khoán (DeYoung, 2004) và câu hỏi đặt ra là liệu rằng với các tiêu chí đề ra trong việc đa dạng hóa nguồn thu từ các hoạt động kinh doanh khác ngoài cho vay, liệu các NHTM cổ phần có tỷ lệ sở hữu nhà nước có đem lại nhiều lợi nhuận hay gặp nhiều rủi ro hơn khi đa dạng nguồn thu nhập của mình so với các NHTM cổ phần khác hay không? Nghiên cứu của tác giả với mục đích dựa trên số liệu thực tiễn để xem xét, đánh giá ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến lợi nhuận và rủi ro các ngân hàng tại Việt Nam như thế nào? Bên cạnh đó, bài nghiên cứu sẽ cho thấy xu hướng cơ cấu nguồn thu nhập của các NHTM tại Việt Nam tăng thu nhập ngoài lãi và tác động làm giảm thiểu rủi ro phá sản để từ đó, các nhà quản lý đưa các chính sách phù hợp
để gia tăng hiệu quả cho ngân hàng một cách tốt nhất
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết những câu hỏi sau đây:
1 Xu hướng cơ cấu các nguồn thu nhập của các NHTM Việt Nam là gì?
2 Tình hình sở hữu nhà nước tại các NHTM Việt Nam những năm gần đây ra sao?
3 Đa dạng hóa nguồn thu ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro của các NHTM Việt Nam như thế nào?
4 Sở hữu nhà nước tại các NHTM Việt Nam ảnh hưởng như thề nào đến rủi ro
và thu nhập ngân hàng?
Trả lời được những câu hỏi trên để bổ sung thêm các phần chưa được nêu lên trong các nghiên cứu trước và cung cấp thông tin chỉ dẫn cho các nhà quản trị ngân hàng có mục tiêu và chiến lược phù hợp trong bối cảnh hội nhập
Trang 131.3 Mục tiêu nghiên cứu
Từ nhu cầu cấp thiết của việc tìm hiểu ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu và
sở hữu nhà nước tới lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng, bài nghiên cứu được thực hiện với 3 mục tiêu cụ thể là:
- Cơ cấu nguồn thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi của các NHTM tại Việt Nam diễn biến trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016
- Sự thay đổi tỷ lệ sở hữu nhà nước của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016
- Xác định ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước tới lợi nhuận và rủi ro của các NHTM Việt Nam
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện với các NHTM Việt Nam với
tỷ lệ sở hữu nhà nước khác nhau Hai nhóm NHTM được lựa chọn nghiên cứu (nhóm NHTM có vốn Nhà nước trên 50% và nhóm NHTM có vốn sở hữu Nhà nước dưới 50%) Nghiên cứu cũng tập trung xác định về việc đa dạng hóa nguồn thu của các NHTM lựa chọn và tác động của đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến lợi nhuận và rủi ro các ngân hàng tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu và hình thức sở hữu ngân hàng đến lợi nhuận và rủi ro của 29 NHTM cổ phần tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016 (phạm vi nghiên cứu trong 11 năm)
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu định lượng được sử dụng để xử lý bộ dữ liệu thứ cấp Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Báo cáo tài chính hàng năm của 29 NHTM cổ phần tại Việt Nam trong đó bao gồm 4 NHTM sở hữu Nhà nước trên 50% và 25 NHTM cổ phần sở hữu Nhà nước dưới 50% được niêm yết công khai đã được kiểm toán cùng với dữ liệu vĩ mô được khai thác từ nguồn IMF, bankscope
- Để xử lý dữ liệu, bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata với phương pháp ước lượng thông qua hồi quy dữ liệu bảng, sử dụng kiểm định Hausman test để lựa
Trang 14chọn phương pháp ước lượng cố định (Fixed effects) hay ước lượng ngẫu nhiên (Radom Effects) là phù hợp với dữ liệu và mô hình nghiên cứu
1.6 Ý nghĩa đề tài
Bài nghiên cứu với mục tiêu xác định đa dạng hóa nguồn thu có ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận và rủi ro của các NHTM tại Việt Nam và xem xét kết hợp với yếu tố sở hữu nhà nước thông qua tỷ lệ sở hữu của nhà nước tại các NHTM trong
bộ dữ liệu nghiên cứu từ đó có cái nhìn khách quan về việc đa dạng hóa nguồn thu bằng các hoạt động kinh doanh ngoài lãi để gia tăng lợi nhuận và làm giảm rủi ro tại các NHTM hay không và đồng thời xem xét việc cổ phần hóa giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại NHTM Việt Nam trong lộ trình như thế nào thì hợp lý
1.7 Kết cấu của bài
Nghiên cứu được trình bày trong 05 chương Cấu trúc từng chương như sau: Chương 1: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài và mục đích, đối tượng, phạm vi và phuơng pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng Ở chương này, tác giả đưa ra các lý thuyết về các nguồn thu nhập của ngân hàng, các hình thức sở hữu ngân hàng và tổng kết lý thuyết về tác động của
đa dạng hoá thu nhập đến lợi nhuận, rủi ro ngân hàng
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương này tác giả trình bày chi tiết về bộ dữ liệu cùng phương pháp nghiên cứu và cuối cùng xây dựng mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Ở chương này, tác giả trình bày kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu dựa trên bộ dữ liệu đã trình bày ở chương 3
Chương 5: Kết luận và đóng góp của đề tài nghiên cứu
Trang 15Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày lý do chọn đề tài cùng với mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Tiếp theo chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết về các nguồn thu nhập của ngân hàng, các hình thức sở hữu ngân hàng và tổng kết lý thuyết về tác động của đa dạng hoá thu nhập đến lợi nhuận, rủi ro ngân hàng
Trang 16Chương 2: Cơ sở lý luận về thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng
Chương hai sẽ giới thiệu các khái niệm nghiên cứu về thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hoá nguồn thu, sở hữu nhà nước tác động đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng Đồng thời tổng kết lý thuyết về tác động của đa dạng hoá thu nhập đến lợi nhuận, rủi ro ngân hàng Các giả thuyết nghiên cứu cũng được xây dựng ở chương này dựa vào cơ sở lý thuyết tổng kết được
2.1 Thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, các hình thức sở hữu, đa dạng hoá nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng Thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi
Báo cáo tài chính của các ngân hàng thể hiện cơ cấu quy mô tài sản, nguồn vốn, lợi nhuận của ngân hàng Trong đó thu nhập bao gồm thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi Thu nhập từ lãi còn được gọi là thu nhập thuần bao gồm các hoạt động cấp tín dụng như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh… Thu nhập từ lãi được tính bằng lãi thu được từ các hoạt động cấp tín dụng trừ cho chi phí lãi huy động trả cho khách hàng
Thu nhập ngoài lãi bao gồm các nguồn: thu nhập từ hoạt động uỷ thác, thu từ phí dịch vụ, thu từ dịch vụ kinh doanh ngoài lãi của ngân hàng, thu từ các khoản hoa hồng và phí khác (Stiroh, 2004) Theo báo cáo tài chính các tại các ngân hàng, thu nhập ngoài lãi là thu nhập đến từ các hoạt động kinh doanh không liên quan đến thu nhập lãi gồm thu từ dịch vụ, thu từ kinh doanh ngoại hối, thu từ kinh doanh chứng khoán, thu từ góp vốn mua cổ phần và thu từ hoạt động khác
Trong bài nghiên cứu này của tác giả, thu nhập ngoài lãi sẽ bằng tổng thu từ các nguồn: lãi thuần từ hoạt động dịch vụ, lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, lãi thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh, lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, lãi thuần từ các hoạt động khác, thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần
Trang 17Đa dạng hóa nguồn thu
Theo Mercieca (2007), đa dạng hóa ngân hàng bao gồm 3 khía cạnh: đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, đa dạng hóa địa lý, kết hợp đa dạng hóa địa lý và ngành nghề kinh doanh Đa dạng hóa nguồn thu trong ngân hàng là việc gia tăng tỷ lệ phí, tăng lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh và các thu nhập ngoài lãi khác của ngân hàng Do vậy, tỷ trọng thu nhập ngoài lãi so với tổng thu nhập càng cao, ngân hàng
có mức độ đa dạng hoá thu nhập càng cao và ngược lại
Đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng thường kéo theo sự tăng lên của chi phí, lợi nhuận kinh doanh rỏng và thu nhập ngoài lãi khác trong thu nhập ròng từ hoạt động của một ngân hàng vì thế đa dạng hóa nguồn thu không mang lại lợi nhuận đáng kể Với lý thuyết tài chính thì đa dạng hóa các nguồn thu nhập trong một ngân hàng thường dẫn đến một mức độ rủi ro thấp hơn và hiệu suất của việc điều chỉnh rủi ro cao hơn Bên cạnh đó đa dạng hóa nguồn thu nhập tại ngân hàng làm cho ngân hàng
có thêm thu nhập và từ đó có thêm lợi nhuận cho ngân hàng Động cơ của việc đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng trong các nghiên cứu có thể tóm lược như sau:
- Đa dạng hóa là cách phòng vệ để chống lại rủi ro vỡ nợ và giảm sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng (Froot và Stein, 1998)
- Đa dạng hóa là cơ chế để tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động, nhất là quy
mô và phạm vi hoạt động gia tăng (Landskroner và các cộng sự, 2005)
- Đa dạng hóa nguồn thu củng cố vai trò của ngân hàng do các ngân hàng có thể hạn chế thông tin bất cân xứng bằng cách sử dụng các thông tin cần thiết từ các mối quan hệ ngân hàng cho vay và làm gia tăng các dịch vụ tài chính khác (Stiroh, 2004)
- Cũng theo Stiroh (2004) thu nhập ngoài lãi có thể giảm các biến động lợi nhuận, ổn định doanh thu và gia tăng thu nhập
Một số nghiên cứu của DeYoung và Roland (2001) cho rằng nguồn thu từ hoạt động ngoài lãi như phí dịch vụ thường là ổn định hơn thu nhập từ lãi vay nên rủi ro ngân hàng sẽ giảm xuống Còn theo Lee và các cộng sự (2014) thì rủi ro ngân
hàng có thể được giảm thông qua sự đa dạng hóa nguồn thu
Trang 18Hình thức sở hữu ngân hàng
Theo luật các TCTD năm 2010 thì các NHTM Việt Nam có thể được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần
Theo Phan Thị Thu Hà (2013), phân loại ngân hàng theo hình thức sở hữu bao gồm:
- Ngân hàng sở hữu tư nhân: Là ngân hàng do một cá thể thành lập bằng vốn
cá nhân Phạm vi hoạt động của ngân hàng sở hữu tư nhân thường tập trung ở từng địa phương mà thôi
- Ngân hàng sở hữu của các cổ đông: Ngân hàng cổ phần được thành lập thông qua phát hành cổ phiếu ra công chúng Việc nắm giữ cổ phiếu cho phép người sở hữu quyền được tham gia quyết định vào các hoạt động của ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập cũng như phải chịu tổn thất có thể xảy ra Các ngân hàng cổ phần thường có quy mô lớn và có phạm vi hoạt động rộng, đa năng với nhiều chi nhánh hoặc công ty con
- Ngân hàng sở hữu nhà nước: Đây là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nước cấp, có thể là nhà nước trung ương hoặc tỉnh, thành phố Các ngân hàng thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhất định, theo chính sách của chính quyền trung ương hoặc địa phương quy định Với một số nước đi theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, nhà nước thường có chính sách quốc hữu hóa các ngân hàng tư nhân hoặc các ngân hàng cổ phần, hoặc tự cấp vốn hình thành nên các ngân hàng sở hữu nhà nước Những ngân hàng này được nhà nước hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát hành giấy nợ, do vậy rất ít khi bị phá sản, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các ngân hàng này phải thực hiện các chính sách của nhà nước vì thế có thể dẫn đến bất lợi trong hoạt động kinh doanh
- Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng này được hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên, thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng lợi thế của nhau
Trang 19Hình 2.1 Mô hình các hình thức sở hữu ngân hàng tại Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2016
Tính đến năm 2016, tổng số lượng ngân hàng tại Việt Nam là 51 ngân hàng, trong đó có 31 NHTM cổ phần, 3 NHTM cổ phần nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, và 4 NHTM nhà nước sở hữu 100% vốn cổ phần Số lượng các NHTM cổ phần tăng trong giai đoạn từ năm 2006 – 2013, sau đó theo đề án “Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” với mục tiêu là xây dựng một hệ thống tổ chức tín dụng vững mạnh số lượng các NHTM cổ phần giảm dần Cụ thể là việc sáp nhập của ba NHTM cổ phần Đệ Nhất, Tín Nghĩa và Sài Gòn vào tháng 12/2011 để hình thành nên Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn, tiếp theo là NHTM cổ phần phát triển nhà Hà Nội bị sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội vào tháng 8/2012 Tháng 12/2013 NHTM cổ phần Đại Á đã sáp nhập với NHTM cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh Tháng 5/2015, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long sáp nhập vào NHTM cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) Tháng 10/2015, NHTM cổ phần Phương Nam sáp nhập vào NHTM
cổ phần Sài gòn Thương tín Bên cạnh đó, số lượng NHTM nhà nước cũng tăng lên nguyên nhân là do việc NHTM cổ phần xây dựng Việt Nam bị chuyển đổi thành ngân hàng TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu tháng 01/2015 Đến tháng 04/2015, NHTM cổ phần Đại Dương tiếp tục được nhà nước mua lại với giá 0 đồng
Trang 20Tháng 07/2015, NHTM cổ phần Dầu khí toàn cầu chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động thành ngân hàng TNHH MTV do nhà nước làm chủ
Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện số lượng các ngân hàng theo hình thức sở hữu tại Việt năm từ năm 2006-2016
Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước ảnh hưởng đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng
Thu nhập ngoài lãi có thể ít phụ thuộc vào công việc kinh doanh ngân hàng nói chung hơn thu nhập lãi thuần (Sanya và Wofle, 2010) do đó sự gia tăng phụ thuộc vào thu nhập ngoài lãi sẽ làm giảm sự biến đổi lợi nhuận và doanh thu của ngân hàng theo chu kỳ trong điều kiện nền kinh tế Ngoài ra, các dòng sản phẩm mở rộng và các cơ hội bán chéo làm tăng thu nhập ngoài lãi và làm đa dạng hóa hơn trong danh mục đầu tư của ngân hàng Nếu thu nhập lãi thuần và tổng thu nhập có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực hoặc chỉ có tương quan yếu thôi, thu nhập ngoài lãi có thể đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng và từ đó cải thiện được thu nhập và giảm thiểu rủi ro Khả năng giảm rủi ro là một chủ đề quan trọng đối với các ngân hàng nói chung, cũng như các nhà điều hành và các cấp quản lý của ngân hàng nói
Trang 21riêng Nếu thu nhập ngoài lãi làm giảm tính bất ổn của lợi nhuận ngân hàng và giảm rủi ro, và do vậy làm giảm nhu cầu vốn đối với các ngân hàng trong danh mục đa dạng hóa doanh thu và người giám sát tái phân bổ nguồn lực khan hiếm một cách hợp lý hơn Tương tự, chi phí giám sát ngân hàng gắn liền với sự rủi ro cũng được giảm xuống, do đó các ngân hàng có thêm động lực để giảm rủi ro Các ngân hàng lớn sẽ đưa ra các mức ngại rủi ro và tất cả các yếu tố góp phần giữ lợi nhuận và giảm rủi ro ở các nhà điều hành (Siroh, 2004) Phí dịch vụ, lợi nhuận kinh doanh thuần và thu nhập ngoài lãi không tương quan hoàn hảo với thu nhập lãi ròng nên đa dạng hóa nguồn thu sẽ dẫn đến thu nhập thuần hoạt động ổn định hơn và tăng lợi nhuận điều chỉnh rủi ro Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm tác động của đa dạng hóa nguồn thu trong ngành ngân hàng không cho kết quả rõ ràng và đưa ra bằng chứng cụ thể về tác động của đa dạng hóa nguồn thu có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận và giảm rủi ro đối với ngân hàng Kết quả nghiên cứu mối quan hệ này đưa ra các kết luận rất khác nhau Trong khi một số nghiên cứu chứng minh đa dạng hoá nguồn thu cải thiện hiệu quả điều chỉnh rủi ro hoặc dẫn đến giảm rủi ro ngân hàng, một số nghiên cứu khác không tìm thấy bất kỳ mối quan hệ quan trọng hoặc tìm ra những ảnh hưởng tiêu cực của đa dạng hóa nguồn thu đối với hoạt động của ngân hàng cũng như rủi ro Ví dụ như Maudos (2017) phân tích xem xét tác động của cơ cấu thu nhập đối với rủi ro và lợi nhuận của các ngân hàng châu Âu và đưa ra kết luận rằng đa dạng hóa nguồn thu không ảnh hưởng tới thu nhập mà còn tăng rủi ro đối với ngân hàng
Bên cạnh đó, sở hữu nhà nước cũng rất được quan tâm trong việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng, đặc biệt trong hoạt động cho vay (P Sapienza, 2002) Ảnh hưởng đáng kể của sở hữu nhà nước đến rủi ro cho vay của các ngân hàng theo nghiên cứu của P Sapienza (2002) cho thấy trong cùng một điều kiện huy động vốn giữa ngân hàng sở hữu nhà nước và ngân hàng tư nhân thì ngân hàng nhà nước cho vay với lãi suất thấp hơn khu vực tư nhân đối với cùng một khách hàng Mặt khác, hoạt động tín dụng của ngân hàng nhà nước còn bị ảnh hưởng bởi hoạt động chính trị quốc gia Nghiên cứu của Nicolas và Loukoianova (2007) cho thấy tùy thuộc
Trang 22vào điều kiện cụ thể mà rủi ro của các ngân hàng sở hữu nhà nước sẽ cao hơn các ngân hàng sở hữu tư nhân
2.2 Tổng kết lý thuyết về tác động của đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến rủi ro và thu nhập ngân hàng
Một số nghiên cứu trước đây có kết luận rằng đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng từ thu nhập ngoài lãi mang lại lợi nhuận cao hơn Ví dụ như các nghiên cứu của Stiroh (2004), Lee và các cộng sự (2014), Gurruz (2013)… Tuy nhiên cũng có nghiên cứu cho rằng đa dạng hóa nguồn thu không mang lại lợi nhuận cao mà lại còn có nhiều rủi ro hơn trong các bài nghiên cứu của R.DeYoung và P Roland (2001), Ceboyan và Straham (2004), Maudos (2017) Nhiều nghiên cứu cũng đều cho thấy sở hữu nhà nước cũng mang lại rủi ro cao hơn cho ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng: M Cornett (2005), P Sapienza (2002)
2.2.1 Đa dạng hóa nguồn thu làm tăng lợi nhuận của ngân hàng
Stiroh (2004) nghiên cứu sự biến động giảm doanh thu thuần phản ánh sự biến động giảm của thu nhập lãi thuần, chứ không phải là từ thu nhập ngoài lãi và thực sự là có liên quan đến lãi suất cũng như biến động lãi suất Tỷ lệ tăng trưởng của thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi cũng có tương quan lẫn nhau Vì hoạt động cho vay đi kèm với bán chéo sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng nên khi cho vay tăng thì ngân hàng cũng tăng về doanh thu dịch vụ đối với khách hàng đó, tuy nhiên khi khách hàng gặp khó khăn về tài chính thì cả hai nguồn thu nhập này đều giảm Tương quan thu nhập ngoài lãi tăng sẽ làm tăng mức rủi ro và giảm lợi nhuận điều chỉnh rủi ro Bên cạnh đó, Stiroh cũng tìm ra được đa dạng hóa nguồn thu đến từ nguồn thu nhập ngoài lãi Qua nguồn dữ liệu các ngân hàng ở Mỹ từ Quý
I năm 1984 đến quý III năm 2001 từ công ty Bảo hiểm Ký thác Liên Bang Hoa Kỳ (FDIC) Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa biến động thu nhập ngoài lãi ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Từ bộ dữ liệu ngân hàng và các bằng chứng tổng hợp đều cho thấy đa dạng hóa nguồn thu sẽ làm ổn định hơn doanh thu và lợi nhuận Thu nhập ngoài lãi biến động nhiều hơn so với thu nhập từ lãi Mặc dù doanh thu thuần cũng đã ít biến động nhiều hơn từ năm 1990 nhưng thu nhập ngoài lãi ngày
Trang 23càng đóng góp nhiều hơn vào cấu phần tổng thu nhập Thu nhập từ hoạt động kinh doanh nói riêng lại có nhiều biến động Hơn thế nữa mức tăng trưởng thu nhập từ lãi và ngoài lãi ngày càng có tương quan nhiều hơn Phí dịch vụ và các loại phí chung có tương quan cao với thu nhập từ lãi, trong khi thu nhập từ kinh doanh và ủy thác thì ít hơn Về rủi ro và lợi nhuận, có mối tương quan âm rõ ràng giữa thu nhập ngoài lãi trên mỗi cổ phần và lợi nhuận trên mỗi đơn vị rủi ro Hoạt động kinh doanh tác động lớn nhất trên thu nhập cho mỗi đơn vị rủi ro và việc mở rộng cuối cùng có thể làm giảm lợi nhuận điều chỉnh rủi ro, trong khi thu nhập từ hoạt động nhận ủy thác trên mỗi đơn vị rủi ro cao hơn và tăng trưởng thu nhập ổn định hơn
Do vây, đa dạng hóa nguồn thu đến từ thu nhập ngoài lãi sẽ làm sẽ làm ồn định doanh thu và gia tăng thu nhập cho ngân hàng
Cùng nhận định trên, Lee và các cộng sự (2014) nghiên cứu tác động của sự
đa dạng hóa nguồn thu lên hoạt động của ngân hàng thông qua một loạt các cải cách tài chính, bao gồm kiểm soát tín dụng, kiểm soát lãi suất, rào cản gia nhập, giám sát ngân hàng, tư nhân hóa và hạn chế tài khoản tài chính Điều này là bước đầu tiên để tìm ra các cấu trúc tài chính (hệ thống ngân hàng hay thị trường) thay đổi sẽ ảnh hưởng hiệu quả của việc đa dạng hóa trong hoạt động của từng ngân hàng Bài nghiên cứu sử dụng một mẫu dữ liệu bảng gồm 29 nước châu Á Thái Bình Dương trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2009, tổng cộng 2,372 ngân hàng Nghiên cứu này khẳng định giả thuyết về hiệu quả đa dạng hóa danh mục đầu tư cho ngành ngân hàng các nước Châu Á - Thái Bình Dương Đối với các tập đoàn ngân hàng, hiệu quả ngân hàng có thể được cải thiện thông qua việc đa dạng hóa, hỗ trợ cho giả thuyết "ngân hàng dựa trên quan điểm"(bank – based view) Dưới các hệ thống tài chính khác nhau, mối quan hệ giữa sự đa dạng hóa doanh thu, cải cách tài chính, và hiệu quả ngân hàng có mối quan hệ nhiều chiều Bài viết áp dụng cách tiếp cận dữ liệu bảng được đề xuất bởi Arellano và Bover (1995), Blundell và Bond (2000) và
sử dụng phương pháp hồi quy tổng quát GMM (generalized method of moments) Hiệu quả của ngân hàng có thể được cải thiện thông qua một chiến lược đa dạng, xác định giả thuyết về đa dạng hóa danh mục đầu tư là có ảnh hưởng đến lợi nhuận
Trang 24ngân hàng Trong số 4 loại doanh thu, bao gồm: thu nhập từ lãi, thu nhập từ kinh doanh, và tất cả các khoản thu nhập ròng khác có tương quan dương đến lợi nhuận
và tương quan âm tới rủi ro của ngân hàng Điều này có nghĩa là lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng lên và rủi ro sẽ giảm Lee cũng thấy rằng doanh thu hoa hồng lại không
có ý nghĩa Do đó, một ngân hàng không thể đạt được mục tiêu đa dạng hóa chỉ bằng cách tăng thu nhập hoa hồng mà thôi
Sanya và các cộng sự (2010) đã nghiên cứu về tác động của sự đa dạng hóa doanh thu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng như rủi ro qua dữ liệu 226 ngân hàng (1810 quan sát) tại 11 quốc gia có nền kinh tế mới nổi qua phương pháp GMM Nhóm tác giả tìm thấy bằng chứng đa dạng hóa lợi nhuận tồn tại đối với các ngân hàng ở các nền kinh tế mới nổi Cụ thể hơn, đa dạng hoá trong và ngoài phạm
vi kinh doanh sẽ làm tăng lợi nhuận điều chinh rủi ro và giảm nguy cơ phá sản được
đo bằng chỉ số Z - score Những kết quả này cho thấy mối tương quan cao giữa đa dạng hóa và lợi nhuận điều chỉnh rủi ro đối với độ nhạy với thu nhập ngoài lãi Việc giảm thiệt hại đối với kinh tế vĩ mô và những cú sốc hệ thống khác là một lý do khác tại sao các ngân hàng ở các nền kinh tế mới nổi lại ít phụ thuộc vào thu nhập lãi Bên cạnh đó, không có mối quan hệ giữa độ nhạy của thu nhập ngoài lãi với lợi nhuận của ngân hàng Từ đó hạn chế trong việc các ngân hàng đưa ra một chiến lược đa dạng hóa bừa bãi để làm tăng lợi nhuận và thu nhập từ phí làm tăng lợi nhuận và giảm rủi ro của ngân hàng
Guruz (2013) nghiên cứu về mối liên hệ giữa thu nhập ngoài lãi (trong hoạt động đa dạng hóa nguồn thu) tới hiệu suất điều chỉnh rủi ro 26 ngân hàng ở Thổ Nhĩ
Kỳ từ năm 2005 – 2011 Đa dạng hóa nguồn thu đối với ngân hàng có tác dụng cùng chiều với hiệu suất điều chỉnh rủi ro và do đó làm tăng thu nhập của ngân hàng hoặc giảm chi phí hoạt động của ngân hàng Do thu nhập từ hoạt động kinh doanh, thu nhập từ phí và thu nhập ngoài lãi khác nói chung không tương quan hoàn toàn với thu nhập lãi thuần, sự tăng đa dạng hóa nguồn thu làm giảm độ lệch chuẩn thu nhập
Trang 25Tóm lại, qua các bài nghiên cứu các tác giả đều đưa ra kết luận thu nhập ngoài lãi (đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi) có tác động làm tăng lợi nhuận và giảm rủi ro của ngân hàng Bên cạnh đó, đa dạng hóa nguồn thu còn làm giảm chi phí, giảm nguy cơ phá sản và tăng lợi nhuận điều chỉnh rủi ro
2.2.2 Đa dạng hóa nguồn thu làm giảm doanh thu và tăng rủi ro ở ngân hàng
R DeYoung và P Roland (2001) tiến hành kiểm tra với 472 ngân hàng ở Mỹ giai đoạn năm 1988 – 1995 để tìm ra mức độ ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu
có tác động thế nào đến ngân hàng Các ngân hàng thương mại thu được lợi nhuận
từ việc cung cấp các dịch vụ truyền thống như phát hành séc, thư tín dụng, bảo lãnh
và quản lý tiền mặt Nhưng gần đây các ngân hàng đã tạo ra thu nhập từ một số lượng lớn các dịch vụ mới Thứ nhất, các ngân hàng đã mở rộng sang mức phí thu dịch vụ truyền thống thấp hơn, và kèm thêm vào các dịch vụ như bảo hiểm và kinh doanh quỹ tương hỗ Thứ hai, các ngân hàng đang tính nhiều hơn các loại phí cho các dịch vụ tài chính đã từng được cung cấp miễn phí Khách hàng bán lẻ được hưởng lãi suất cao hơn trong số dư tài khoản của họ được giữ tại ngân hàng, nhưng đổi lại họ phải trả tiền cho các dịch vụ như séc du lịch và duy trì dịch vụ Thứ ba, sự tăng trưởng của chứng khoán hóa trong các khoản vay thế chấp, thẻ tín dụng và các thị trường cho vay khác đem đến thu nhập cho ngân hàng Và các ngân hàng tăng cường mở rộng các hoạt động mang lại nguồn thu này Kết quả cho thấy, sự gia tăng biến động các thành phần thu nhập tạo nên doanh thu chủ yếu là từ các hoạt động tạo phí Cụ thể hơn, khi quan sát thấy trung bình mẫu các ngân hàng giảm thu nhập lãi từ các hoạt động cho vay truyền thống, và thay thế bằng thu nhập tăng từ hoạt động dịch vụ có phí (một số có liên quan đến tín dụng), thu nhập của ngân hàng có thể sẽ biến động nhiều hơn và giảm đi Bằng cách tăng lợi nhuận của ngân hàng, ít nhất là một phần bù đắp ngân hàng cho bất kỳ rủi ro liên quan đến sự gia tăng lợi nhuận Cho vay ngân hàng truyền thống là một mối quan hệ kinh doanh - người vay và người cho vay phải tốn nhiều tiền để chuyển ra khỏi các mối quan hệ cho vay vì chi phí chuyển đổi và chi phí thông tin, vì vậy thu nhập từ kinh doanh cho vay có thể sẽ ổn định theo thời gian Khi mối quan hệ cho vay được thiết lập và
Trang 26chi phí cố định của việc định giá tín dụng đã có, chi phí đầu vào chủ yếu là chi phí lãi, và giảm đòn bẩy hoạt động Hơn nữa, ngân hàng phải nắm giữ một số vốn chủ
sở hữu đối với dư nợ cho vay trên bảng cân đối kế toán, làm giảm đòn bẩy tài chính Ngược lại, nhiều hoạt động có thu phí (ví dụ: doanh thu từ quỹ tương hỗ và bán bảo hiểm, phí tín dụng thẻ) có thể có mối quan hệ ngân hàng - khách hàng kém ổn định hơn, bởi vì chi phí thông tin thấp và cạnh tranh cao Cuối cùng, mức độ đòn bẩy liên quan đến các hoạt động có thu phí có thể cao do tỷ lệ chi phí hoạt động cố định trên chi phí biến đổi cao và yêu cầu về vốn chủ sở hữu thấp Tỷ lệ doanh thu của các ngân hàng thương mại đến từ các hoạt động có thu phí tiếp tục có xu hướng tăng, kết quả cho thấy thu nhập từ ngân hàng có thể trở nên bất ổn hơn Nguồn vốn chủ
sở hữu ngân hàng ổn định, sự biến động về thu nhập cao hơn (bất kể nguồn nào) cũng làm tăng khả năng một ngân hàng sẽ trở nên mất khả năng thanh toán Thêm vào đó tiêu chuẩn vốn dựa trên chuẩn mực Basel được thay đổi để yêu cầu các ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu, xác định tỷ lệ tài sản tương ứng dựa trên các hoạt động của ngân hàng
Ceboyan và Straham (2004) thì sử dụng dữ liệu của các ngân hàng tại Mỹ từ
1987 – 1993 để tìm ra sự đa dạng trong hoạt động ngân hàng sẽ gia tăng rủi ro và đòn bẫy tài chính hoạt động hơn các ngân hàng tập trung vào quản lý rủi ro tín dụng cũng như tìm ra cơ chế đối lập trong thanh khoản, lợi nhuận và rủi ro thanh toán đối với một ngân hàng Thanh khoản, khả năng chi trả, rủi ro phá sản dường như đan chéo và có mâu thuẫn lớn Các ngân hàng lớn liên kết với nhiều BHCs (theo Đạo luật Bank Holding Company (BHC Act) của Mỹ năm 1956 BHC là bất kỳ một công
ty nào trực tiếp hay gián tiếp sở hữu, kiểm soát hoặc có quyền biểu quyết 25 % hoặc hơn của bất kỳ loại cổ phiếu có quyền biểu quyết của một ngân hàng) thích tỷ lệ vốn thấp hơn và mức cho vay cao hơn Việc sử dụng một thị trường bán nợ bên ngoài để quản lý rủi ro tín dụng dẫn đến kết quả là hoạt động kinh doanh khoản vay cho phép một ngân hàng nắm giữ ít vốn hơn, đầu tư ít hơn vào các khoản vay có lãi suất thấp, tài sản thanh khoản cao, đồng thời tăng tỷ lệ nắm giữ các khoản nợ có độ rủi ro cao
Trang 27hơn, thu nhập cao hơn Mối quan hệ giữa rủi ro và hoạt động cho vay cho thấy rằng các hoạt động có thu nhập cao, trên thực tế sẽ dẫn đến rủi ro cao hơn
Theo Maudos (2017) phân tích xem xét tác động của cơ cấu thu nhập đối với rủi ro và lợi nhuận của các ngân hàng châu Âu đã thay đổi trong khủng hoảng và thay đổi theo hướng chuyên môn hoá cụ thể của từng ngân hàng Bài nghiên cứu ước tính thu nhập trong giai đoạn 2002-2012 với 29,623 quan sát, sử dụng dữ liệu các ngân hàng châu Âu Nghiên cứu cũng kiểm tra xem có sự khác biệt giữa các ngân hàng đầu tư và các ngân hàng chuyên sâu trong hoạt động trung gian tài chính
về hiệu quả của cơ cấu thu nhập đối với rủi ro và lợi nhuận Kết quả cho thấy sự gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi có tương quan âm đến lợi nhuận, mặc dù kết quả này chỉ có ý nghĩa trong cuộc khủng hoảng Tuy nhiên, phân tích tác động đến từng loại hình kinh doanh ngân hàng riêng biệt, các ngân hàng bán lẻ là có tương quan
âm và đáng kể, nhưng không đáng kể trong trường hợp các ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng hơn Tăng tỷ trọng của thu nhập ngoài lãi dẫn đến tăng rủi ro, mặc dù mức ảnh hưởng này giảm bớt trong cuộc khủng hoảng Nói chung, kết quả cho thấy sức mạnh thị trường ảnh hưởng theo hướng có lợi đến ổn định tài chính Kết quả cho thấy các ngân hàng có cơ cấu thu nhập đa dạng hơn có lợi ít hơn Ngoài
ra, các ngân hàng có vốn hóa thị trường có xu hướng thu được lợi nhuận cao hơn mặc dù hiệu quả về quy mô cũng đã bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng Tác động tiêu cực của cơ cấu thu nhập vẫn xảy ra trong trường hợp cả hai ngân hàng có cơ cấu thu nhập truyền thống hơn (với một phần thu nhập lãi) và các ngân hàng có phần thu nhập ngoài lãi Về mặt lợi nhuận, cơ cấu thu nhập không ảnh hưởng trong giai đoạn mở rộng, nhưng trở nên quan trọng trong thời kỳ suy thoái, khi trung gian tài chính truyền thống giúp làm dịu hơn tác động của cuộc khủng hoảng lên lợi nhuận ngân hàng Kết quả này có thể là do ảnh hưởng tiêu cực đến từ cuộc khủng hoảng đối với hoạt động của thị trường tài chính, và thu nhập ngân hàng liên quan đến các hoạt động này (phí và hoa hồng, cổ tức, thu nhập từ kinh doanh, lợi nhuận vốn ) Xét về ảnh hưởng đến rủi ro, các ngân hàng có cơ cấu thu nhập đa dạng hơn
có rủi ro cao hơn và có xác suất phá sản cao hơn Và tác động này càng lớn hơn khi
Trang 28mở rộng dữ liệu năm Các ngân hàng có vốn hóa lớn hơn với tỷ lệ cho vay lớn hơn trong bảng cân đối tài sản của họ có nhiều rủi ro hơn Trong trường hợp của các ngân hàng có phần lớn thu nhập từ lãi lớn hơn, đa dạng hóa nguồn thu không có ảnh hưởng đến khả năng mất khả năng thanh toán mặc dù nó làm tăng lợi nhuận điều chỉnh rủi ro nhưng chỉ trong giai đoạn mở rộng, vì nó đã giảm trong cuộc khủng hoảng Trong trường hợp các ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng hơn, tác động của sự gia tăng thu nhập phi truyền thống khác nhau như vậy trong thời gian khủng hoảng ngân hàng có thu nhập đa dạng hơn sẽ có khả năng mất khả năng thanh toán
Tóm lại, qua các bài nghiên cứu trên, các tác giả kết luận đa dạng hóa nguồn thu không làm tăng lợi nhuận của các ngân hàng và còn làm tăng rủi ro phá sản và hiệu suất điều chỉnh lợi nhuận của ngân hàng
2.2.3 Sở hữu nhà nước ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng
Theo M Cornett (2005) xem xét ngân hàng tư nhân và ngân hàng nhà nước trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia ảnh hưởng như thế nào đến kết quả hoạt động của ngân hàng từ năm 1989 đến năm 2004 Và cho thấy sự khác biệt về hiệu suất giữa các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng tư nhân trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Các ngân hàng quốc doanh hoạt động kém hiệu quả, giữ ít vốn cơ sở hơn, và có rủi ro tín dụng lớn hơn các ngân hàng tư nhân, đặc biệt ở các quốc gia (Indonesia, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc và Thái Lan) Trước năm
2001, sự khác biệt về hiệu suất này là đáng kể hơn ở những nước có sự tham gia của chính phủ và các chính trị gia tham nhũng trong hệ thống ngân hàng Ngoài ra, từ năm 1997 đến năm 2000, giai đoạn 4 năm sau khi bắt đầu tài chính châu Á Khủng hoảng, sự suy giảm dòng tiền mặt, nguồn vốn chủ sở hữu, và chất lượng tín dụng của các ngân hàng quốc doanh lớn hơn đáng kể so với của các ngân hàng tư nhân, đặc biệt đối với các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cuộc khủng hoảng ở Châu Á Tuy nhiên, các ngân hàng quốc doanh đã thu hẹp khoảng cách với các ngân hàng tư nhân về dòng tiền mặt, vốn chủ sở hữu và các khoản cho vay không hiệu quả trong giai đoạn sau khủng hoảng 2001 - 2004 Và cho thấy rằng ngân hàng sở
Trang 29hữu nhà nước nên nắm giữ nhiều trái phiếu chính phủ hơn các ngân hàng tư nhân đối với các quốc gia mà chính phủ tham gia nhiều vào hệ thống ngân hàng Hiệu quả kém hơn của các ngân hàng nhà nước là do chi phí đại diện, tầm nhìn sai lầm về thị trường của các nhà quản lý, tính quan liêu, bao cấp Hoặc cũng có thể hiệu quả kinh doanh của ngân hàng nhà nước phải chịu ảnh hưởng bởi các doanh nghiệp địa phương hoặc công ty nhỏ trong suốt thời kỳ khủng hoảng và tham gia các chương trình hỗ trợ hộ nghèo, các chương trình mục tiêu cải thiện xã hội của chính phủ
Còn với P Sapienza (2002) đã tìm hiểu tác động của sở hữu nhà nước đối với hành vi cho vay ngân hàng Bài nghiên cứu sử dụng thông tin về 50.000 công ty
ở Ý, để so sánh mức lãi suất hai bộ của các công ty có đặc điểm giống nhau vay tương ứng từ 43 ngân hàng sở hữu nhà nước và 40 ngân hàng sở hữu tư nhân từ năm 1991 đến 1995 Các ngân hàng sở hữu nhà nước tính lãi suất thấp hơn các ngân hàng tư nhân với khách hàng tương tự hoặc đồng nhất, ngay cả khi công ty có thể vay nhiều hơn từ các ngân hàng tư nhân Các ngân hàng nhà nước chủ yếu ưu tiên các doanh nghiệp đặt trụ sở ở các khu vực suy thoái hoặc các doanh nghiệp lớn Các hành vi cho vay của các ngân hàng sở hữu cũng bị ảnh hưởng bởi các kết quả bầu
cử Các công ty vay từ ngân hàng nhà nước trả lãi suất ít hơn trung bình là 44 điểm
so với khi vay tư nhân Nguyên nhân là do các ngân hàng nhà nước chi trả phí đầu vào thấp hơn
Qua các bài nghiên cứu trên, các tác giả đều đưa ra kết luận, sở hữu nhà nước làm tăng rủi ro tín dụng và giảm lợi nhuận của các ngân hàng qua các năm
2.3 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu
Tổng kết nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu chủ yếu đi tìm ảnh hưởng của
đa dạng hóa nguồn thu đến thu nhập và rủi ro ngân hàng Các nghiên cứu về đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra các kết luận rất khác nhau Các nghiên cứu về đa dạng hóa nguồn thu chủ yếu tập trung xác định tác động đa dạng hóa đến lợi nhuận như: Theo nghiên cứu của Stiroh
và Kevin J (2002), sử dụng dữ liệu các ngân hàng Hoa Kỳ từ năm 1970 – 2001 để tìm kiếm bằng chứng rằng việc đa dạng hóa mang lại nguồn thu nhập ổn định hơn,
Trang 30bên cạnh đó, sự gia tăng thu nhập này liên quan đến nguồn thu từ dịch vụ và phí mà hoàn toàn không liên quan gì đến thu nhập từ lãi ròng Lee và các cộng sự (2014) cho rằng đa dạng hóa nguồn thu đối với hoạt động ngân hàng ảnh hưởng đến kết quả của ngân hàng Hiệu quả hoạt động của ngân hàng cải thiện thông qua đa dạng hóa về doanh thu, tái cơ cấu tài chính và hoạt động ngân hàng và làm giảm rủi ro ngân hàng Sanya và các cộng sự (2010) xem xét tác động của đa dạng hóa doanh thu đối với hoạt động và rủi ro của các ngân hàng và kết quả cho thấy lợi ích đa dạng hóa đến việc làm tăng hiệu suất điều chỉnh rủi ro và làm giảm xác suất mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thông qua chỉ số Z- score Cùng có kết quả tương tự, Aisha Mohammed Sissy và các cộng sự (2016) nghiên cứu tác động của
đa dạng hóa doanh thu và sở hữu ngân hàng ngoài thực sự có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng Trong khi đó, một nhóm các nhà nghiên cứu lại tìm kiếm ảnh hưởng của đa dạng hóa đến rủi ro của các ngân hàng, như DeYoung và Roland (2001) cho rằng một số lý do thu nhập ngoài lãi làm tăng sự biến động của nguồn thu nhập là do hoạt động cho vay đòi hỏi chi phí chuyển đổi cao hơn so với các hoạt động thu phí khác Các hoạt động cho vay cần đòn bẫy thấp hơn Bên cạnh đó, ông còn phân tích các ngân hàng có khả năng mất khách hàng khi tham gia các hoạt động tạo ra nguồn thu từ phí nhiều hơn hoạt động cho vay Ceboyan và Straham (2004) tìm thấy đa dạng trong hoạt động ngân hàng sẽ gia tăng rủi ro và hoạt động trong đòn bẫy tài chính hơn các ngân hàng tập trung vào quản lý rủi ro tín dụng cũng như tìm ra cơ chế đối lập trong thanh khoản, lợi nhuận và rủi ro thanh toán đối với một ngân hàng Maudos (2017) thấy rằng việc tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi
có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi, mặc dù chỉ có ý nghĩa đáng kể trong thời gian khủng hoảng thế giới Tuy nhiên, phân tích tác động của từng loại hình kinh doanh ngân hàng riêng biệt, tác giả cho thấy ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu đến lợi nhuận ngân hàng ở các ngân hàng bán lẻ là tiêu cực, nhưng lại không có ý nghĩa đối với các ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng hơn Việc tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi suất đã làm tăng rủi ro đối với các ngân hàng Đồng tình với kết quả đó, ở Việt Nam, Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) cũng
Trang 31tim thấy đa dạng hóa nguồn thu đem lại lợi nhuận cao hơn cho các ngân hàng nếu chỉ xét về lợi nhuận, nhưng khi xem xét thêm về rủi ro thì đa dạng hóa các hoạt động tạo lợi nhuận điều chỉnh cho rủi ro thấp hơn so với các hoạt động tạo thu nhập truyền thống Hay như bài nghiên cứu của Hoàng Hải Yến và Vũ Thị Lê Giang (2016) thì thu nhập từ hoạt động phi truyền thống đem lại rủi ro cao hơn rất nhiều
so với hoạt động tạo thu nhập truyền thống,
Bên cạnh đó, các tác giả P Sapienza (2002) và M Cornett (2005) còn nghiên cứu thấy sở hữu nhà nước ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận và đồng thời đem lại rủi ro lớn hơn so với các ngân hàng tư nhân Hay như Marcia Millon Cornett và các cộng sự (2005) đã tìm thấy thực sự các ngân hàng nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn và có rủi ro tín dụng cao hơn các ngân hàng thương mại cổ phần, sự suy giảm tiền mặt, lợi nhuận, vốn chủ sở hữu và chất lượng tín dụng của các ngân hàng quốc doanh hơn một cách đáng kể so với các ngân hàng tư nhân
Trong các nghiên cứu về đa dạng hóa đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng, đa dạng hóa nguồn thu được sử dụng bằng chỉ số HHI (Herfindahl Hirschman index)
để đo lường mức độ đa dạng hóa nguồn thu đến lợi nhuận qua chỉ số ROA và ROE, đến rủi ro qua chỉ số Z-SCORE, và ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến rủi ro tín dụng qua chỉ số nợ xấu
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước đây
Stiroh
(2004)
các ngân hàng ở Mỹ từ Quý I năm 1984 đến quý III năm 2001 từ công ty Bảo hiểm Ký thác Liên Bang Hoa Kỳ (FDIC)
Đa dạng hóa nguồn thu sẽ làm ổn định hơn doanh thu và lợi nhuận Hoạt động kinh doanh tác động lớn nhất trên thu nhập cho mỗi đơn vị rủi ro và làm giảm lợi nhuận điều chỉnh rủi ro
Hiệu quả của ngân hàng có thể được cải thiện thông qua một chiến lược đa dạng, xác định giả thuyết về đa dạng hóa danh mục
Trang 321995 đến 2009, tổng cộng 2,372 ngân hàng
đầu tư là có ảnh hưởng đến lợi nhuận Điều
đó dẫn đến lợi nhuận tăng và rủi ro giảm Sanya và
các cộng sự
(2010)
226 ngân hàng (1810 quan sát) tại 11 quốc gia
có nền kinh tế mới nổi
đa dạng hoá trong và ngoài phạm vi kinh doanh sẽ làm tăng lợi nhuận điều chinh rủi
ro và giảm nguy cơ phá sản được đo bằng chỉ số Z - score
Guruz
(2013)
26 ngân hàng ở Thổ Nhĩ
Kỳ từ năm 2005 – 2011
Đa dạng hóa nguồn thu đối với ngân hàng
có tác dụng cùng chiều với hiệu suất điều chỉnh rủi ro và do đó làm tăng thu nhập của ngân hàng hoặc giảm chi phí hoạt động của ngân hàng
1995
Tỷ lệ doanh thu của các ngân hàng thương mại đến từ các hoạt động có thu phí tiếp tục
có xu hướng tăng, kết quả cho thấy thu nhập
từ ngân hàng có thể trở nên bất ổn hơn Nguồn vốn chủ sở hữu ngân hàng ổn định,
sự biến động về thu nhập cao hơn (bất kể nguồn nào) cũng làm tăng khả năng một ngân hàng sẽ trở nên mất khả năng thanh toán
lý rủi ro tín dụng cũng như tìm ra cơ chế đối lập trong thanh khoản, lợi nhuận và rủi ro thanh toán đối với một ngân hàng
Maudos
(2017)
Sự gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi có tương quan âm đến lợi nhuận Các ngân hàng có cơ cấu thu nhập đa dạng hơn có rủi
Trang 33ro cao hơn và có xác suất phá sản cao hơn Theo M
P Sapienza
(2002)
43 ngân hàng sở hữu nhà nước và 40 ngân hàng sở hữu tư nhân từ năm 1991 đến 1995
Các ngân hàng nhà nước tính lãi suất thấp hơn các ngân hàng tư nhân và do đó hiệu quả hoạt động ít hơn
Dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này tiến hành phân tích định lượng để tìm ra mối quan hệ giữa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến lợi nhuận và đến rủi ro của các ngân hàng Việt Nam qua 2 vấn đề nghiên cứu sau: Vấn đề 1: Đa dạng hóa nguồn thu và yếu tố sở hữu nhà nước ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận của các ngân hàng
- Giả thuyết H1: Đa dạng hóa nguồn thu và yếu tố sở hữu nhà nước ảnh
hưởng tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng
- Giả thuyết H2: Đa dạng hóa nguồn thu và yếu tố sở hữu nhà nước ảnh
hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng
Vấn đề 2: Đa dạng hóa nguồn thu và yếu tố sở hữu nhà nước ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro của các ngân hàng
- Giả thuyết H3: Đa dạng hóa nguồn thu và yếu tố sở hữu nhà nước ảnh
hưởng tích cực đến rủi ro của các ngân hàng
- Giả thuyết H4: Đa dạng hóa nguồn thu và yếu tố sở hữu nhà nước ảnh
hưởng tiêu cực đến rủi ro của các ngân hàng
Trang 34Kết luận chương 2
Chương 2 đã trình bày lý thuyểt thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hoá nguồn thu, sở hữu nhà nước tác động đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng Bên cạnh đó, chương cũng tổng kết được các lý thuyết về tác động của đa dạng hoá thu nhập đến lợi nhuận, rủi ro ngân hàng Phần cuối chương 2 đã xây dựng 2 mô hình nghiên cứu Tiếp theo chương 3 sẽ trình bày bộ dữ liệu, phuơng pháp nghiên cứu
Trang 35Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Tiếp theo chương 2, chương 3 sẽ giới thiệu về phương pháp và mô hình nghiên cứu cùng các biến nghiên cứu
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 29 NHTM tại Việt Nam giai đoạn năm
2006 – 2016 Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ cơ sở dữ liệu Bankscope và báo cáo tài chính của các ngân hàng công bố Các NHTM 100% vốn nước ngoài, ngân hàng hợp tác xã Việt Nam, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng liên doanh, NHTM cổ phần Bản Việt, NHTM cổ phần Việt Nam thương tín không được chọn vào mẫu nghiên cứu vì số liệu của các loại ngân hàng này không được cập nhật trong dữ liệu bankscope và báo cáo tài chính công bố không cung cấp đầy đủ thông tin trong 05 năm liên tục Bài nghiên cứu loại bỏ dữ liệu của các ngân hàng: Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí toàn cầu, ngân hàng TNHH MTV Đại dương, ngân hàng TNHH MTV Xây dựng Việt Nam vì báo cáo tài chính các ngân hàng này sau khi được nhà nước mua lại thì đều không cung cấp thông tin dữ liệu cho bài nghiên cứu đồng thời các ngân hàng này đang trong giai đoạn tái cấu trúc nên dữ liệu đưa vào bài nghiên cứu sẽ bị sai lệch Dữ liệu 29 ngân hàng từ năm 2006 – 2016 được tổ chức dưới dạng dữ liệu bảng
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu được sử dụng phương pháp ước lượng thông qua hồi quy dữ liệu bảng, sử dụng kiểm định Hausman test để lựa chọn phương pháp ước lượng cố định (Fixed effects) hay ước lượng ngẫu nhiên (Radom Effects)
Dữ liệu bảng
Dữ liệu bảng là sự kết hợp của dữ liệu chéo và dữ liệu thời gian Để thu thập nên dữ liệu bảng thì cần phải thu thập nhiều đối tượng (units) giống nhau trong cùng một hoặc nhiều thời điểm Sử dụng dữ liệu bảng có hai ưu điểm lớn như:
- Dữ liệu bảng cho các kết quả ước lượng các của tham số trong mô hình tin cậy hơn;