Nghiên cứu tình hình gây hại của nguyên sinh động vật nosema apis zander (dissociodihaplophasida nosematidae) trên ong mật apis mellifera linnaeus
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hà Quang Hùng
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng
để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ7 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ7 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hồ Kim Anh
Trang 3Lời cảm ơn
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đ' nhận
được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ và động viên của bạn bè và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
GS TS Hà Quang Hùng, người đ' dành cho tôi sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ, hợp tác và tạo điều kiện của các thầy cô giáo, các đồng chí l'nh đạo, các anh, chị và bạn đồng nghiệp ở các cơ quan, đơn vị:
Trung tâm Nghiên cứu ong, Công ty ong Trung ương;
Bộ môn Sinh học, Bệnh và Giống ong-Trung tâm Nghiên cứu ong;
Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học, Trường ĐH Nông Nghiệp I;
Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông Nghiệp I;
Trung tâm chẩn đoán bệnh Thú y, Cục Thú y; Phòng kính hiển vi điện tử, Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ
Các đồng chí l'nh đạo XN Giống ong Hòa Bình, Nghệ An và người nuôi ong tại tỉnh Bắc Giang đ' giúp đỡ tôi trong việc thu thập mẫu và tiến hành thí nghiệm
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự chỉ dẫn khoa học tận tình của thầy giáo hướng dẫn; sự giúp đỡ, hợp tác và động viên quí báu của các anh chị, các bạn đồng nghiệp, bạn bè trong lớp Cao học BVTV khoá 14 và người thân trong việc hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, ngày 18tháng 9 năm 2007
Tác giả luận văn: Hồ Kim Anh
Trang 4Mục lục
Danh mục các ảnh viii
1 Mở đầu 1 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Yêu cầu 3
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.2.1 Giới thiệu chung về bệnh Nosema apis 4
2.2.2 Nosema apis tác nhân gây bệnh cho ong mật 5
2.2.3 Tác hại của bệnh Nosema apis 6
2.2.4 Triệu chứng bệnh Nosema apis trên ong mật 8
2.2.4.1 Chẩn đoán lâm sàng 8 2.2.4.2 Chẩn đoán bằng kính hiển vi 8 2.2.5 Con đường lan truyền bệnh Nosema apis trên ong mật 9
2.2.6 Đặc điểm sinh học và chu kỳ phát triển của Nosema apis 12
2.2.7 Phòng ngừa bệnh Nosema apis trên đàn ong mật 14
2.2.8 Điều trị bệnh Nosema apis trên đàn ong mật 15
2.2.8.1 Xử lý bằng nhiệt 16 2.2.8.2 Xử lý bằng xông hơi 16 2.2.8.3 Sử dụng thuốc kháng sinh 16 2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
2.3.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh Nosema apis trên ong mật ở Việt Nam 17
2.3.2 Điều trị bệnh Nosema apis trên đàn ong mật 18
Trang 53 Đối tượng, địa điểm, thời gian, nội dung và
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 19
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
3.1.3.1 Địa điểm nghiên cứu 19 3.1.3.2 Thời gian nghiên cứu 20 3.2 Nội dung nghiên cứu 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh Nosema apis ở một số tỉnh của Việt Nam 20
3.3.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình nuôi ong ở các điểm điều tra 20 3.3.1.2 Điều tra tình hình nhiễm bệnh Nosema apis 20 3.3.1.3 Điều tra mức độ nhiễm bào tử Nosema apis trên các cấp ong và sản phẩm trong đàn ong bị bệnh 23 3.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của Nosema apis 23
3.3.2.1 Chuẩn bị nguồn bào tử Nosema apis để tiến hành các thí nghiệm 23 3.3.2.2 Khả năng xâm nhiễm và phát triển của bào tử Nosema apis trên ong thợ trưởng thành 23 3.3.2.3 Khả năng xâm nhiễm và phát triển của bào tử Nosema apis trên đàn ong 25 3.3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh Nosema apis đến tuổi thọ của ong thợ 26 3.3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của Nosema apis 27
3.3.3.1 ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của Nosema apis 27 3.3.3.2 ảnh hưởng của tuổi ong thợ đến mức độ nhiễm bệnh Nosema apis 28 3.3.4 Thử nghiệm một số loại axít hữu cơ phòng trị bệnh Nosema apis 29
3.3.4.1 Thí nghiệm trên cá thể ong thợ 29 3.3.4.2 Thí nghiệm trên đàn ong 30 3.4 Xử lý số liệu 31
4.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh Nosema apis ở một số tỉnh của Việt Nam 32
Trang 64.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên tại các điểm điều tra 32 4.1.1.2 Thành phần một số cây nguồn mật, phấn chính tại các địa điểm
4.1.1.3 ảnh hưởng của nguồn thức ăn đến sự phát triển của đàn ong Apis
4.1.2 Kết quả điều tra tình hình bệnh Nosema apis trên ong ngoại Apis
mellifera tại các vùng nghiên cứu 38
4.1.3 Kết quả điều tra mức độ nhiễm bào tử Nosema apis trên các cấp ong và sản phẩm trong đàn ong bị bệnh 41
4.2 Một số đặc điểm sinh học của Nosema apis 43
4.2.1 Khả năng xâm nhiễm và phát triển của Nosema apis trên cá thể ong thợ trưởng thành 43
4.2.2 Khả năng xâm nhiễm của bào tử Nosema apis trên đàn ong 50
4.2.3 ảnh hưởng của bệnh Nosema apis tới tuổi thọ ong thợ 52
4.3 Một số đặc điểm sinh thái của Nosema apis 55
4.3.1 ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của Nosema apis 55
4.3.2 ảnh hưởng của tuổi ong thợ tới mức độ nhiễm bệnh Nosema apis 58
4.4 Thử nghiệm phòng trị Nosema apis 59
4.4.1 Kết quả thử nghiệm hiệu lực của một số loại axit hữu cơ trên cá thể ong thợ trong phòng thí nghiệm 59
4.4.2 Kết quả thử nghiệm một số loại Axit hữu cơ và thuốc kháng sinh Fumagillin trong điều trị bệnh Nosema apis trên đàn ong 62
5 Kết luận và đề nghị 67 5.1 Kết luận 67
5.2 Đề nghị 68
Tài liệu tham khảo 69 Tài liệu tiếng Việt 69
Tài liệu tiếng Anh 70
Tài liệu tiếng Đức 74
Trang 7Danh mục các bảng
4.3 Một số yếu tố khí hậu chính ảnh hưởng đến sự phát triển của
4.5 So sánh mức độ nhiễm bệnh trong từng tháng tại các điểm
4.8 ảnh hưởng của số lượng bào tử lây nhiễm ban đầu đến sự phát
4.12 So sánh ảnh hưởng của các ngưỡng nhiệt độ đến sự phát triển
4.14 Hiệu quả điều trị của một số loại axit hữu cơ trên cá thể ong
4.15 Kết quả điều trị một số loại Axit hữu cơ và thuốc kháng sinh
Trang 8Danh mục các hình
4.2 Mức độ nhiễm bào tử Nosema apis trên các cấp ong và sản
4.3 Biến động số l−ợng bào tử Nosema apis trên cá thể ong thợ
4.4 Biến động số l−ợng bào tử Nosema apis sau lây nhiễm trên đàn
4.8 Biến động số l−ợng bào tử Nosema apis sau khi xử lý một số
4.9 Biến động số l−ợng bào tử Nosema apis sau khi điều trị một
Trang 9Danh môc c¸c ¶nh
Trang 101 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nhiệt đới có thảm thực vật và nguồn hoa phong phú; các sản phẩm thu hoạch từ đàn ong có giá trị cao và được coi là chất bổ cho sức khoẻ con người, là tiền đề cho nghề nuôi ong mật
Ong mật cũng như nhiều loại côn trùng khác có vai trò quan trọng trong
hệ sinh thái tự nhiên, duy trì sự đa dạng sinh học, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là khả năng thụ phấn cho cây trồng
Nghề nuôi ong là một ngành thu gom tài nguyên sẵn có trong thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống gia đình và x7 hội, góp phần phát triển kinh tế Hiện nay, nuôi ong đ7 trở thành một ngành sản xuất nông nghiệp sinh l7i, tạo công
ăn việc làm và giải quyết lao động nông nhàn, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, góp phần tăng năng suất cây trồng nhờ vai trò thụ phấn của ong
Hiện nay ở Việt Nam có 6 loài ong mật có ngòi đốt, trong đó có 5 loài bản địa đó là: ong nội (Apis cerana); ong khoái (Apis dorsata); ong ruồi đen (Apis andreniformis); ong ruồi đỏ (Apis florea); ong đá (Apis laboriosa) và loài ong ngoại (Apis mellifera) Trong số đó thì ong ngoại và ong nội là hai loài ong được nuôi rộng r7i trong sản xuất của ngành ong Việt Nam
Ong ngoại Apis mellifera L thuộc họ ong Mật (Apidae), bộ cánh màng (Hymenoptera), lớp côn trùng (Insecta), ngành chân đốt (Arthropoda) Loài Apis mellifera gồm 24 phân loài có nguồn gốc từ Châu Âu và Châu Phi (Ruttner F., 1988) [42]
Ong ngoại Apis mellifera (cụ thể là phân loài Apis mellifera ligustica S hay gọi là ong ý) được nhập nội vào Việt Nam từ những năm 1960 Giống ong này thích nghi tốt với điều kiện nguồn hoa và khí hậu nước ta, ong ngoại
Trang 11được nuôi di chuyển, nuôi theo quy mô lớn với trình độ kỹ thuật và vốn đầu tư cao Ong ngoại chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phía Nam nơi có nguồn hoa phong phú và tập trung Năm 2003 ước tính cả nước có trên 450.000 đàn ong ngoại, lượng mật sản xuất ra khoảng trên 10.000 tấn (chiếm hơn 80% tổng sản lượng mật toàn quốc ) và chiếm gần 100% lượng mật xuất khẩu (Phùng Hữu Chính và Đinh Quyết Tâm, 2004) [2]
Việc nuôi ong di chuyển theo nguồn hoa và không được quy hoạch tổng thể nên trong một thời điểm tại những vùng có điều kiện nguồn hoa thuận lợi tập trung mật độ ong quá cao cộng với ý thức, hiểu biết của người nuôi ong về dịch-bệnh chưa tốt nên đ7 kéo theo sự phát triển của dịch bệnh (các bệnh thối
ấu trùng, bệnh ong trưởng thành, ve ký sinh, sâu ăn sáp, ký sinh trùng ) Trong những năm gần đây nghề nuôi ong nước ta, đặc biệt ở những vùng nuôi ong tập trung, gặp phải loại bệnh do nguyên sinh động vật Nosema apis Zander (1907) gây hại nặng trên ong trưởng thành, tác hại của bệnh chủ yếu trên ong thợ ở lứa tuổi đi làm và ngày càng có xu hướng trầm trọng Nhiều nơi trên thế giới bệnh Nosema apis đ7 trở thành dịch trên diện rộng và gây ra những thiệt hại rất lớn cho các trại nuôi ong
Bệnh Nosema được N Koeninger phát hiện lần đầu tiên ở Việt Nam năm
1996 [5] Tuy nhiên, bệnh Nosema apis gây hại trên các đàn ong mật ở nước
ta chưa được nghiên cứu nhiều Bệnh không có triệu chứng điển hình, khó phát hiện, tốc độ lây nhiễm nhanh, mức độ có thể ở thể m7n tính ảnh hưởng
đến tuổi thọ ong, sự phát triển của đàn ong hoặc gây chết ong trưởng thành Tác hại của ký sinh trùng dai dẳng, gây hại lâu dài, trong khi người nuôi ong chỉ phát hiện được khi thấy ong chết hàng loạt, lúc này bệnh đ7 nhiễm nặng,
và người nuôi ong gặp nhiều khó khăn trong việc chữa trị Hiện nay bệnh Nosema apis đang là một thách thức lớn với ngành ong Việt Nam
Trang 12hình gây hại của loài nguyên sinh động vật Nosema apis trong điều kiện khí hậu Việt Nam sẽ là cơ sở khoa học để tiến hành nghiên cứu, đề xuất những biện pháp phòng và trị bệnh Nosema apis một cách hiệu quả, giúp nghề nuôi ong phát triển bền vững, tăng thu nhập cho người dân và đáp ứng nhu cầu sản phẩm tiêu thụ nội địa và xuất khẩu trong nền nông nghiệp hữu cơ hiện nay Xuất phát từ những yêu cầu của khoa học, thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: "Nghiên cứu tình hình gây hại của nguyên sinh động vật Nosema apis Zander (Dissociodihaplophasida: Nosematidae) trên ong mật Apis mellifera Linneaus ở một số tỉnh của Việt Nam và biện pháp phòng chống"
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và tình hình gây hại của loài nguyên sinh động vật Nosema apis ký sinh trên ong ngoại Apis mellifera, bước đầu đề xuất biện pháp phòng trừ chúng một cách hợp lý 1.2.2 Yêu cầu
- Điều tra, đánh giá tình hình gây hại của Nosema apis trên các đàn ong ngoại (Apis mellifera) nuôi ở một số tỉnh của Việt Nam như Bắc Giang, Hoà Bình, Nghệ An
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái của loài Nosema apis ký sinh ong ngoại Apis mellifera
- Bước đầu đề xuất biện pháp phòng chống Nosema apis đạt hiệu quả kinh tế và môi trường
Trang 132 Tổng quan tình hình nghiên cứu
trong và ngoài nước 2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1 Giới thiệu chung về bệnh Nosema apis
Nosema apis là bệnh gây hại chủ yếu trên ong trưởng thành của loài Apis mellifera Vi bào tử trùng Nosema apis là nguyên sinh động vật có dạng sinh trưởng bào tử gọi là Microspora
Theo Fries I [19] có hơn 1.500 loài Nosema đ7 được tìm thấy Tuy nhiên
đó chỉ là một số lượng nhỏ mới xác định được tên loài chính xác
ở những loài côn trùng thụ phấn, người ta mới chỉ phát hiện có bốn loài
vi bào tử trùng Nosema Chúng bao gồm:
- Antonospora scoticae (Fries, 1999) [26] ký sinh trên loài Andrena scotica
- Nosema cerane (Fries ,1996) [25] ký sinh trên loài ong mật Apis cerana
- Nosema bombycis (Fantham & Porter, 1914) [17] ký sinh trên loài Bombus spp
- Nosema apis (Zander, 1907) [58] ký sinh trên loài ong mật Apis mellifera Bệnh phân bố rộng ở nhiều nước theo khu vực trên thế giới (Nixon M 1982) [40] Năm 1919, White đ7 cho thấy sự xuất hiện của bệnh Nosema ở nhiều nước trên thế giới như: Anh, Mỹ, Australia (White, 1919) [45] Theo Mussen E C thì 43% các nước nuôi ong trên thế giới bị bệnh Nosema apis (Mussen E C., 2002) [39] Mức độ xuất hiện của bệnh rất khác nhau ở mỗi vùng và mỗi nước, từ dưới 2% tổng số đàn ở Italia cho đến hơn 60% tổng số đàn ở Đức (Bailey and Ball, 1991) [13]
Nosema apis lan truyền giữa các ký chủ bằng bào tử Bào tử xâm nhiễm vào tế bào chất của tế bào ký chủ qua ống xâm nhiễm Chúng có khả năng ký sinh trên các loài bò sát, cá, chim, các loài động vật có vú nhưng chủ yếu vẫn
Trang 14Bào tử Nosema apis có thể tồn tại ở dạng tiềm ẩn, khi ở dạng tiềm ẩn bệnh Nosema apis có thể gây bệnh cho ký chủ ở thể m7n tính Khi bào tử nảy mầm và phát triển trong điều kiện thuận lợi thì bệnh ở dạng cấp tính làm suy yếu đàn ong, dẫn đến chết đàn ong, gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng (Farrar
C L., 1947) [18]
2.2.2 Nosema apis tác nhân gây bệnh cho ong mật
Nosema apis được nhà nghiên cứu Enock Zander (người Đức) mô tả lần
đầu tiên vào năm 1907 (Zander E., 1907) [58] Nosema apis là nguyên sinh
động vật đơn bào, thuộc loài Nosema apis Hệ thống phân loại của nguyên sinh động vật Nosema apis được biết là:
Ngành: Nguyên sinh động vật Protozoa
động và các bào tử đang phát triển ở nhiều giai đoạn khác nhau (Fries I., 1988) [20]
Trang 15Khi soi dịch ruột của ong dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 250-500 lần, người ta quan sát thấy bào tử có màu trắng, có thành bào tử dày, hình oval hoặc hình trứng có kích thước 4,5-7,5 x 2-3,5àm và phản quang (Adas, 1982) [9] Các bào tử Nosema có thể tồn tại trong xác ong từ 4-6 năm, trong phế thải tới 7 năm Bào tử Nosema apis không mất hoạt lực khi tồn tại cùng với
1988) [20]
Giai đoạn ong mật bị Nosema apis ký sinh nặng là ong trưởng thành và chủ yếu nó tác động lên đàn ong là do gây hại trên ong thợ Ong đực không có khả năng miễn dịch với sự xâm nhiễm của ký sinh song chúng chỉ tồn tại trong mùa giao phối (thời gian ít có sự lan truyền bệnh giữa các cá thể ong) nên đây không phải là nhân tố quan trọng trong chu kỳ hại của bệnh trên đàn ong (Adas, 1982) [9]
2.2.3 Tác hại của bệnh Nosema apis
Bệnh gây hại phổ biến trên các đàn ong nuôi ở nhiều nước trên thế giới, cả các nước ôn đới và ở các nước nhiệt đới Ong mật ở các nước ôn đới thường nhiễm bệnh Nosema apis khi các đàn ong vào vụ đông, không nuôi ấu trùng
và không có nguồn hoa tự nhiên (ong qua đông) ở các nước nhiệt đới có khí hậu nóng và nguồn hoa quanh năm, bệnh Nosema apis xuất hiện thường xuyên hơn vào các tháng trong năm
Sự mất cân bằng dinh dưỡng có thể là một trong những nguyên nhân thứ cấp tạo điều kiện cho bào tử Nosema apis nảy mầm trong ruột ong và dịch bệnh có thể bùng phát ngay sau đó [45]
Trang 16Bệnh nhiễm vào nhiều lớp ong (ong ở các lứa tuổi khác nhau) cho nên có tác động trên toàn đàn làm sự phân công lao động bị rối loạn, làm giảm sự phát triển và năng suất kém Khi ong bị nhiễm bệnh thường dẫn đến rối loạn trao đổi chất, già hoá sinh lý nhanh, rút ngắn tuổi thọ Tuổi thọ của ong trưởng thành có thể giảm từ 10-40% Số lượng ấu trùng cũng giảm mạnh (10-30%),
đôi khi ấu trùng không phát triển thành ong trưởng thành (Wang D., Moeller F E., 1970) [41]
Ong đ7 bị nhiễm bệnh Nosema apis thường phát triển kém, mất khả năng nuôi ấu trùng và ong chúa Những con ong thợ khi bị nhiễm bệnh có kích thước nhỏ, khả năng mớm thức ăn và tuổi thọ đều giảm so với các con ong khỏe (Furgala B., Mussen E C., 1978) [27]
Theo Lotmar, khi ong thợ bị nhiễm Nosema apis tuyến hạ hầu (tuyến chính tham gia tiết sữa nuôi ấu trùng và ong chúa) bị teo sớm và chức năng của chúng bị giảm sút so với những con không bị bệnh ở những ong không bị bệnh, tuyến này ở trạng thái tốt chiếm 62% các trường hợp, ở ong bị bệnh tỷ
lệ này chỉ chiếm 22% ở những ong bị Nosema apis ký sinh đến ngày tuổi thứ 9-15 nang tuyến hạ hầu bé hơn nhiều so với ong không mắc bệnh (bình thường là 205à nhưng giảm còn 107à và 76à) Lượng enzym do các tuyến khác tiết ra ở ong bị bệnh cũng thấp hơn so với ong không bị bệnh (Lotmar, 1943) [54]
Ong chúa bị nhiễm bệnh dẫn đến không giao phối được Nếu ong chúa
đ7 giao phối thì buồng trứng bị thoái hoá hoặc giảm khả năng sinh sản Khi bệnh phát triển nặng thì chúa ngừng đẻ, và chỉ chết sau vài tuần
Khi bị nhiễm bệnh Nosema apis, lượng mật thu được của các đàn ong có thể bị giảm đến 50% so với các đàn không bị bệnh (Fries I., Ekbohm G., Villumstad E., 1984) [22]
Trang 172.2.4 Triệu chứng bệnh Nosema apis trên ong mật
đó thế đàn không phát triển thì chúng ta có thể nghi ngờ đó là triệu trứng của bệnh Nosema apis Với ong bị bệnh nặng sự tiêu hoá không thể thực hiện
được bình thường do các tế bào thượng bì của ruột giữa và sự bài tiết của nó bị phá hoại, ong tiêu tốn thức ăn quá mức (điều này có thể khó thấy ở một con ong riêng lẻ nhưng lại dễ dàng nhận thấy trên toàn đàn) Ong bị bệnh thải phân trắng, bay chậm, đây là triệu chứng dễ nhận nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài khi đàn ong bị bệnh đ7 quá nặng(Hassanein M H., 1953) [29]
2.2.4.2 Chẩn đoán bằng kính hiển vi
Đây là phương pháp có độ tin cậy cao để kiểm tra đàn ong có bị nhiễm bệnh Nosema apis hay không, cần kiểm tra quan sát phần ruột ong trưởng thành dưới kính hiển vi với độ phóng đại 250-500 lần (Fries I., 1993) [24] Khi rút ruột của ong mật để quan sát, ở ruột ong khoẻ thường có màu hồng trong khi ruột ong bị bệnh lại sưng to có màu trắng đục hoặc xám bẩn Theo Gross và Ruttner, để đánh giá mức độ nhiễm bệnh của đàn ong cần
đánh giá mức độ nhiễm bệnh của từng cá thể ong thợ, đánh giá tỷ lệ phần trăm
số ong bị nhiễm trên tổng số ong lấy mẫu, từ đó xác định mức độ nhiễm bệnh
Trang 18Ong thợ trưởng thành thường dễ bị nhiễm bệnh hơn ong đực và ong chúa
do ong thợ phải thực hiện tất cả các hoạt động, công việc của đàn ong từ khai thác, chế biến sản phẩm, cho ấu trùng và ong chúa ăn đặc biệt là hoạt động dọn vệ sinh nên nguy cơ tiếp xúc bệnh và lây nhiễm rất cao (Fyg W., 1945) [51] Khi các cá thể ong thợ bị nhiễm bệnh, chúng thường không tham gia vào các hoạt động mớm cho ong chúa nên ong chúa giảm nguy cơ mắc bệnh (Wang D., Moeller F E., 1971) [46] Ong chúa mắc bệnh thì buồng trứng bị thoái hoá, ống trứng giảm khả năng sinh trứng và nhiều no7n bào teo lại làm khả năng đẻ trứng giảm Chúa bị nhiễm bệnh trong mùa nuôi ấu trùng (vụ phát triển) dễ bị thay thế làm giảm chất lượng đàn ong và giảm lượng sản phẩm khai thác của người nuôi ong (Fyg W., 1945) [51]
2.2.5 Con đường lan truyền bệnh Nosema apis trên ong mật
Bệnh Nosema apis xâm nhiễm vào cơ thể ong duy nhất chỉ ở dạng bào
tử Có hai loại bào tử trong quá trình sinh sản: loại bào tử thứ nhất có thời gian tồn tại ngắn, có vai trò chủ yếu xâm nhiễm vào tế bào ký chủ, loại bào tử này thường tồn tại trong cơ thể ong; loại bào tử thứ hai thường tồn tại bên ngoài cơ thể ong, sống trong môi trường tự nhiên nên có thời gian tồn tại dài hơn, có vai trò chủ yếu lan truyền giữa các ký chủ (Fries I.,1989) [21]
Bào tử Nosema apis lan truyền trong tự nhiên giữa các trại ong bởi phân ong, xác ong bị bệnh, qua nguồn nước Trong trại ong bào tử lan truyền qua phân ong bài tiết quanh khu vực trại, nguồn nước có bào tử, người nuôi ong
đổi cầu giữa đàn bệnh và đàn không bị bệnh, ong ăn cướp và trôi dạt Trong
đàn ong bào tử lan truyền qua hoạt động dọn vệ sinh của ong thợ, hoạt động mớm thức ăn, phân ong có chứa bào tử Nosema apis rơi vào các lỗ tổ có chứa mật, tầng chân, thành tổ, cửa tổ.(Wang Der-l, Moeller F E., 1971) [46]
Theo Bailey(1955), những con ong trưởng thành dưới 3-4 ngày tuổi thường không bị nhiễm bệnh [11] Trong khi những con ong mật bắt trước cửa
tổ thường có tỷ lệ nhiễm bệnh cao (L’ Arrive’e,1963) [33]
Trang 19Gontarski và Mebs (1964) [52] đ7 đếm được trong ruột của một con ong
có trên 250 triệu bào tử Nosema apis còn trong ruột giữa gấp đôi số đó
Theo Steche (1965) [57] mật là nguồn truyền bệnh quan trọng, tuy nhiên bào tử mất sức sống khi tồn tại lâu trong mật Khi thời tiết xấu, thiếu mật ong không đi làm, thời gian này càng kéo dài và thường xuyên thì ong càng bị lây nhiều và nhanh nhất
Các bào tử của Nosema apis xâm nhiễm qua miệng ong và nảy mầm trong ruột ong Thường bắt đầu ở đoạn cuối của ruột giữa vì ở đó có những nếp gấp vòng ít hơn, thức ăn có độ đậm đặc hơn, có sự tiếp xúc mật thiết hơn
do thành ruột mỏng- so với diều mật (gần miệng) có thành dày hơn (Fries I., 1992) [23]
Sau nảy mầm bào tử bước vào một giai đoạn hoạt động và xâm nhiễm các tế bào niêm mạc ruột rồi tràn vào ruột giữa của ong Dịch ruột ong và các
tế bào niêm mạc ruột là thức ăn cung cấp cho Nosema apis cho đến khi sinh sản ngừng và số lượng bào tử rất lớn được hình thành Thành ruột của ong mật
bị tổn thương, vỡ ra, giải phóng bào tử vào ruột giữa rồi chúng được chuyển tiếp xuống ruột thẳng Sau đó, ong bài tiết bào tử ra ngoài lẫn với phân ong Chu kỳ kế tiếp của bệnh bắt đầu khi bào tử nhiễm vào thức ăn của con ong khác (Fries I., 1989) [21]
Cũng theo nghiên cứu của Fries I (1992), ký sinh có thể tồn tại ở dạng tiềm ẩn, lưu lại ở một giai đoạn nhất định trong vòng đời của chúng và xâm nhiễm vào cá thể mới chỉ bằng một vài bào tử [23]
Khi vào cơ thể con ong, gặp điều kiện thuận lợi chúng nảy mầm bắt đầu chu kỳ hoạt động mới của mình với sự bùng phát số lượng bào tử nhờ sinh sản vô tính, phá huỷ thành ruột ong Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường
mà bào tử bảo tồn khả năng mức độ nảy mầm khác nhau (Fries I., 1989) [21]
Trang 20* Cơ chế phát sinh bệnh
Mặc dầu bào tử Nosema apis có thể rất phổ biến trong các đàn ong, song
sự có mặt của nó không phải bao giờ cũng gây thành bệnh, nó có thể tồn tại ở thể m7n tính mà không gây hại, tức là sức chống đỡ của ong lớn hơn sự nhân lên của bào tử Nosema apis, đàn ong ở trạng thái này vẫn phát triển nhưng không bền vững (Fries I., 1988) [20]
Cũng theo Fries I (1988), nếu sức tái sinh tự nhiên của đàn không đủ thay những ong thợ mang ký sinh chết sớm thì mầm bệnh có thể thắng được vật chủ, hay nói cách khác sức chống đỡ của ong yếu hơn sự nhân lên của bào
tử Nosema apis Đàn ong sẽ yếu dần, lúc đầu người nuôi ong chưa nhận thấy nhưng càng về sau càng rõ nếu các ảnh hưởng (môi trường, nguồn thức ăn, khí hậu bất thuận) gây hại trực tiếp, đàn ong có thể sẽ bị tiêu diệt khá nhanh và lúc này bệnh ở trạng thái m7n tính sẽ chuyển sang trạng thái cấp tính [20] Trong mùa ong, đời sống của đàn chịu nhiều loại ảnh hưởng cho sự phát triển và tồn tại của nó Những điều kiện không thuận lợi như nhiệt độ, độ ẩm, nguồn thức ăn sẽ làm tăng tác động phá hoại tế bào của Nosema apis trong cơ thể ong mật [32]
Bên cạnh sự phát sinh bệnh còn do kỹ thuật của người nuôi ong như chăm sóc, nuôi dưỡng kém, vệ sinh không đảm bảo
Ngoài ra còn do ảnh hưởng của khí hậu, như mùa đông kéo dài, những tuần lễ ẩm lạnh vào mùa xuân, thời tiết xấu đột ngột, nguồn mật kém hay bị gián đoạn, ong thợ ngừng hoạt động điều này rất thuận lợi cho việc lây lan bệnh Nosema apis (Fries I 1988) [20]
Về nhiệt độ, ngoài nhiệt độ của cơ thể con ong, đàn ong, nhiệt độ của môi trường cũng có ảnh hưởng tới sự phát triển bệnh Nosema apis
sự phát triển bệnh
Trang 21Cũng theo Lotmar (1944) khi nhiệt độ thấp hơn 300C hoặc cao hơn 350C làm bệnh phát triển chậm hay duy trì ở dạng tiềm ẩn trong cơ thể ong [55] Thế đàn ong cũng ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh Nosema apis, những
đàn có thế đàn mạnh thường ít mẫn cảm với bệnh Những đàn phát triển kém, quân đông nhưng quá già, không nuôi được một thế hệ mới khoẻ, sẽ rất thuận rất thuận lợi để bệnh phát triển [13]
ở những đàn bị mất chúa mà không được thay chúa kịp thời thì đàn sẽ bị giảm số lượng ấu trùng, số lượng ong non giảm sẽ rất mẫn cảm với bệnh (Liu T P., 1992) [35]
Doull (1961) [16] đ7 chỉ ra rằng Nosema apis có thể lây nhiễm ở tất cả các đàn ong trong trại và ở tất cả các thời điểm
Mức độ nhiễm bệnh của đàn ong thay đổi thường xuyên trong cả năm, thấp nhất vào mùa thu, tăng nhẹ vào cuối thu và đầu đông, tăng mạnh nhất là vào mùa xuân (Fries I; Granados R R, Morse R A., 1992) [23]
2.2.6 Đặc điểm sinh học và chu kỳ phát triển của Nosema apis
Nosema apis là một dạng vi bào tử trùng chuyên tính trên ruột ong mật trưởng thành Vòng đời của Nosema apis hoàn toàn diễn ra bên trong cơ thể con ong, ở tế bào biểu mô ruột (Jacobs F J., 1976) [30]
Bào tử có chứa nhân kép điển hình vào trong cơ thể ong qua thức ăn, nước uống Xuống đến ruột, dưới tác dụng của dịch ruột non bào tử nảy mầm Sự nảy mầm ở trong “ống nghiệm” được thực hiện dưới tác động của hàng loạt các chất hóa học nhưng với bào tử Nosema apis thì quá trình này không rõ ràng bởi nó hoàn toàn xảy ra trong tế bào biểu mô ruột của ong mật (Laere O V., 1977) [32]
Theo Fries (1988), hầu, thực quản, cuống diều mật có thể do cấu tạo
Trang 22bệnh tích rõ ràng nhất được quan sát ở ruột giữa của ong Chỉ một giờ rưỡi sau khi nhiễm bệnh nhân tạo đ7 có thể thấy những ổ Nosema apis đầu tiên ở trong
tế bào thượng bì ở đoạn sau của ruột giữa và trong một số trường hợp toàn bộ ruột bị xâm nhiễm, sau 2-3 ngày thấy nha bào thành thục [19]
Các ống Manpighi chỉ bị xâm nhiễm khi ruột bị xâm nhiễm nặng, Nosema apis không cư trú được ở trong trực tràng
Bào tử tiếp tục phát triển và nhân lên nhanh chóng, chúng sử dụng các cơ quan của tế bào làm thức ăn Một lượng lớn bào tử được sản sinh ra trong khoảng thời gian từ 6-10 ngày trong ruột ong và đây là thời gian xâm nhiễm cao độ, tức là toàn bộ ký sinh mạnh nhất vào ngày thứ 9 đến ngày thứ 11(Fries I., 1988) [20]
Bào tử nảy mầm kích thích các sợi cực tơ hình ống nằm bên trong thành
tế bào lộn ngược đâm thủng màng bao chất dinh dưỡng đi vào tế bào biểu mô
và tiêm bào tử chất vào biểu mô (Weidner E., Byrd W., Scarboroug A., Pleshinger J., Sibley D., 1984) [48] Sợi cực này có thể dài tới 400àm trong bào tử Nosema apis (Morgenthaler O., 1963) [56] Các thể cực tơ gồm hai nhân, chất bào tử và ống nhỏ mang đỉnh sợi chích Bào tử chất này phát triển, phân chia vô tính qua các giai đoạn 4 nhân trong tế bào ký chủ và kết dính nhau tạo thành chuỗi dài 4-6àm (merozoites), sau đó chúng sẽ phân chia thành các bào tử 2 nhân Cuối cùng là sự kết nang làm dày thành màng trong
và thành màng ngoài của bào tử (cho đến khi độ dày màng đạt cực đại tức là bào tử thành thục) và tập trung với số lượng lớn phá vỡ tế bào ký chủ và phóng thích các bào tử vào trong khoang để bài tiết ra theo phân hoặc lại nhiễm sang các tế bào bên cạnh (Iwano H., Ishihara R., 1989) [31] Chu kỳ mới của bệnh bắt đầu khi bào tử nhiễm vào thức ăn của con ong khác
Trang 23Hình 2.1 Vòng đời của Nosema apis trong ruột ong mật
(nguồn Springer,2005) [43]
* Ghi chú:
1: Bào tử Nosema apis thành thục bên ngoài thành tế bào
2: Bào tử nảy mầm xâm nhiễm qua thành tế bào ruột
3-10: Các bào tử ở giai đoạn phân chia vô tính
11-13: Bào tử phân cắt đơn tạo ra các bào tử Nosema apis 2 nhân với số lượng lớn 2.2.7 Phòng ngừa bệnh Nosema apis trên đàn ong mật
Do bệnh Nosema apis thường phát triển đột ngột từ thể m7n tính sang thể cấp tính lại không có triệu chứng điển hình, cho nên người nuôi ong dễ nhầm lẫn với các bệnh khác Vì vậy cần có sự theo dõi thường xuyên và có chế độ chăm sóc thích hợp, có biện pháp can thiệp kịp thời nhằm hạn chế tối đa các thiệt hại
Trang 24Theo Graaf D C., (1991) [28] cần loại trừ tất cả các yếu tố có thể làm xáo trộn sự phát triển của đàn ong:
+ Chỉ can thiệp vào đàn ong khi thật cần thiết và cấp bách vào những thời
kỳ nuôi ấu trùng cũng như những thời kỳ ngừng hoạt động bên ngoài
+ Thực hiện đúng các yêu cầu nuôi dưỡng đối với đàn ong khỏe, giữ cho thế
đàn mạnh, đảm bảo sức sống của chúa tơ tốt
+ Chỉ chia đàn khi thế đàn mạnh, vệ sinh đàn ong đảm bảo an toàn
+ Đảm bảo nguồn thức ăn tự nhiên, thức ăn dự trữ và thức ăn nhân tạo tránh ong ăn cướp
+ Cho ăn đầy đủ khi xây dựng tổ, bổ khuyết những thời gian thu hoạch gián
đoạn bằng cách cho ăn thêm
+ Lưu ý các điều kiện sinh thái vì nó đóng vai trò quan trọng trong quản lý
đàn ong, tránh tiếp xúc trực tiếp với nắng, giữ cho đàn ong luôn khô thoáng
+ Không nên đặt ong với mật độ quá dầy, tránh chỗ gió mạnh, chỗ mà khí hậu thay đổi quá nhiều Đặt tổ sao cho ánh sáng mặt trời chiếu vào cửa tổ giúp làm tăng nhiệt độ thân thể những con ong mắc bệnh, ức chế ký sinh trùng
+ Thay thế định kỳ cầu ong, thùng ong cũ vì chúng có thể chứa bào tử
+ Chú ý quan sát hiện tượng ong thợ đi làm về muộn, khả năng tiêu tốn thức
ăn của đàn ong khi nguồn thức ăn khan hiếm
2.2.8 Điều trị bệnh Nosema apis trên đàn ong mật
Bệnh Nosema apis không chỉ do sự tồn tại của ký sinh trùng mà còn do nhiều nhân tố của môi trường nên những biện pháp điều trị cũng phải toàn diện
Trang 25Muốn xác định chính xác bệnh Nosema apis khi có hiện tượng nghi ngờ, cần xét nghiệm ruột ong để kiểm tra xem có bào tử Nosema apis hay không Nếu có bào tử Nosema apis cần bố trí các biện pháp điều trị phòng ngừa thích hợp Có thể sử dụng một số phương pháp:
2.2.8.1 Xử lý bằng nhiệt
Bào tử Nosema apis trên cầu ong hoặc thùng ong có thể bị tiêu diệt bằng
24h Phương pháp này thích hợp nhất trong phòng có nhiệt độ ổn định và điều khiển được Tránh nhiệt độ quá cao làm chảy bánh tổ (Cantwell G.E and Shimanuki H (1969) [15]
2.2.8.2 Xử lý bằng xông hơi
Xông hơi bánh tổ và thùng ong bằng axit axetic nồng độ 80% có hiệu quả cao khi phòng trừ bệnh Nosema, đặc biệt là ong được chuyển nhanh từ chỗ nhiễm bệnh đến chỗ được xử lý xông hơi Axit được hoà với nước theo tỷ
lệ 4: 1 Rót 150ml dung dịch xử lý, đặt vào phía trên đỉnh cầu, sau đó đóng cửa sổ trong một tuần để phát huy hết hiệu lực của thuốc Chú ý cần lấy hết mật trước khi sử dụng phương pháp này (Fries I., 1993) [24]
xông hơi các thùng ong và vật liệu nuôi ong, tuy nhiên phương pháp này còn
để lại dư lượng thuốc trong mật [36]
2.2.8.3 Sử dụng thuốc kháng sinh
Biện pháp hiệu quả nhất mà trên thế giới đ7 nghiên cứu áp dụng là sử
Aspergillus fumigatus để điều trị bệnh Nosema (Moffet, J O., Lackett J J.,Hitchcock, J D (1969) ) [37] Tên thương phẩm của thuốc là Fumidil-B,
Trang 26trong tế bào Nosema apis mà không ảnh hưởng đến tế bào ký chủ (Liu T P., 1973) [34] Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của Fumagillin là để lại dư lượng thuốc rất cao trong các sản phẩm ong, đặc biệt là phấn hoa Thêm vào đó
ngày) Hơn nữa ở nồng độ cao (0, 8mg/ml) có khả năng thay đổi số lượng nhiễm sắc thể, nếu những thay đổi đó diễn ra trong các tế bào sinh dục có thể gây ra nhiều rối loạn trong các quá trình sinh sản của ong chúa, ong đực và cả
ở người Chính vì lý do này mà Uỷ ban Châu Âu đ7 chính thức cấm sử dụng thuốc kháng sinh này trong nghề ong (Staniminorvic Z., Stevanovic J and Maladenovic M.,2001)[44]
Hiện nay để phòng trị an toàn, hiệu quả và bền vững đối với bệnh Nosema apis, một số nước trên thế giới đ7 và đang tập trung vào nghiên cứu
và sử dụng một số loại axit hữu cơ và các sản phẩm tách chiết có nguồn gốc thực vật để phòng trị bệnh Nosema apis Đồng thời đi cùng với nó là các giải pháp về giống ong và kỹ thuật quản lý trại ong để phòng trị tổng hợp bệnh này
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.3.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh Nosema apis trên ong mật ở Việt Nam Theo Nikolaus K (1996) [5] hiện tượng ong chết do tiêu chảy ở Sơn La vào tháng 8, tháng 9 là do Nosema apis gây ra
Tháng 9-2002, phòng Bệnh Ong thuộc Trung tâm nghiên cứu ong Trung
Ương tìm được bào tử Nosema trên ong ngoại Apis mellifera chết do tiêu chảy Điều đó khẳng định bệnh Nosema tồn tại trên ong mật ở Việt Nam Tuy nhiên mức độ nhiễm bệnh và thời gian bị nhiễm bệnh trong năm chưa được nghiên cứu [3]
Trang 27- Tháng 10 -2005, với sự trợ giúp về kỹ thuật di truyền của tiến sĩ Robert Paxton, khoa Sinh học và Hoá Sinh, Đại học tổng hợp Queen, Liên hợp Anh, Trung tâm nghiên cứu ong đ7 nhận dạng được tác nhân gây bệnh Nosema ở Việt Nam trên ong ngoại Apis mellifera là Nosema apis
Theo Đinh Quyết Tâm và cộng sự (2005), kết quả điều tra cho thấy mức độ nhiễm bệnh tại 5 tỉnh Bắc Giang, Nghệ An, Sơn La, Đồng Nai và Gia Lai trong 2 năm là rất khác nhau Các tỉnh phía Nam: Đồng Nai, Gia Lai nhiễm bệnh quanh năm và có mức độ nhiễm bệnh nặng hơn so với các tỉnh phía Bắc Các tỉnh phía Bắc nhiễm bệnh nhẹ hơn chủ yếu vào vụ Xuân hè và vụ Hè thu [8]
2.3.2 Điều trị bệnh Nosema apis trên đàn ong mật
Theo kinh nghiệm của người nuôi ong quen với việc phòng trị bệnh tiêu chảy ở ong, có thể sử dụng 10g gừng tươi gi7 nhỏ, lọc nước hoà trong 1lít siro
đường cho 10 cầu ong ăn cũng giảm tỷ lệ bệnh [1]
- Thuốc Fumagillin nhập ngoại có hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh Nosema Tuy nhiên thuốc Fumagilin có giá thành cao và để lại dư lượng trong sản phẩm ong Vì vậy EU đ7 cấm sử dụng thuốc này trong nghề nuôi ong
Trang 283 Đối tượng, địa điểm, thời gian, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyên sinh động vật Nosema apis gây bệnh trên đàn ong ngoại Apis mellifera L
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
* Hóa chất:
- Dung dịch Dulbeco's Modified Eagle Medium
* Vật liệu nghiên cứu:
- Các đàn ong ngoại Apis mellifera
- Kính hiển vi, tủ ấm, tủ định ôn, cân điện tử, buồng đếm hồng cầu
- Dụng cụ phòng thí nghiệm
- Dụng cụ nuôi ong
- Cồn và các loại hóa chất khác
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.3.1 Địa điểm nghiên cứu
- Trung Tâm Nghiên Cứu Ong - Ngõ 68 -Nguyên Hồng - Đống Đa - Hà nội
- Các trại nuôi ong tại Nghệ An, Bắc Giang, Hoà Bình
Trang 293.1.3.2 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian thực hiện đề tài từ 1/2007 đến tháng 6/2007
3.2 Nội dung nghiên cứu
ong ở một số tỉnh của Việt Nam (Hòa Bình, Nghệ An, Bắc Giang.)
ong ngoại Apis mellifera
hiệu quả, an toàn nhất
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh Nosema apis ở một số tỉnh của Việt Nam
3.3.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình nuôi ong ở các điểm điều tra
Thu thập thông tin về nguồn thức ăn (nguồn mật, nguồn phấn), thế đàn ong, qui mô trại ong, điều kiện nhiệt độ, ẩm dộ, lượng mưa
3.3.1.2 Điều tra tình hình nhiễm bệnh Nosema apis
* Thu thập mẫu ong thợ
mellifera tại Bắc Giang, Hòa Bình, Nghệ An
30 ong thợ trong lứa tuổi đi làm (bắt những ong thợ đi làm ở cửa tổ) Mẫu
Trang 30* Phương pháp xét nghiệm bào tử Nosema apis
Mỗi đàn ong lấy ngẫu nhiên 10 ong thợ, mỗi con ong thợ chỉ rút ruột rồi cho ruột của cả 10 con vào cối sứ d7 nhỏ, nghiền nát Dùng pipet hút 10ml dung dịch sinh lý cho vào cối và hoà tan đều mẫu đ7 nghiền Hút 1ml dung dịch trên rồi nhỏ lên buồng đếm hồng cầu (nơi có các vạch kẻ ô vuông) [14]
ảnh 2.1 Buồng đếm hồng cầu
ảnh 2.2 Khu vực đếm bào tử Nosema trên buồng đếm
Trang 31ư Cách đếm
bộ số bào tử có trong khu vực chia ô
+ Mỗi mẫu đếm 03 lần
0,00025 x
m
1000 x V x N
Tbt =
Trong đó:
Tbt: Tổng số bào tử trung bình có trên ong thợ N: Số lượng bào tử TB/ô nhỏ (sau khi chia số lượng bào tử trung bình của 01 ô cho 16 ô nhỏ/ô to)
V: Thể tích pha lo7ng của dịch ruột ong m: Số lượng ong thợ đem phân tích (thường là 10 ong thợ)
Trang 323.3.1.3 Điều tra mức độ nhiễm bào tử Nosema apis trên các cấp ong và sản phẩm trong đàn ong bị bệnh
- Điều tra mức độ nhiễm bào tử Nosema apis trên: ấu trùng, ong trưởng thành (ong đực và ong thợ) và sự có mặt của bào tử trong mật ong, phấn hoa (hay lương ong), sáp ong ở những đàn ong bị nhiễm bệnh ở mức độ khá nặng
- Mỗi điểm điều tra chọn 10 đàn ong bị nhiễm bệnh ở mức độ khá nặng, lấy mỗi đàn một số mẫu sau:
+ 30 ấu trùng ong thợ
+ 30 ong thợ
+ 30 ong đực
+ 03 mẫu phấn (mỗi mẫu 10 gam)
+ 03 mẫu mật (mỗi mẫu 10 gam)
+ 3 mẫu sáp cầu (mỗi mẫu 10 gam)
3.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của Nosema apis
3.3.2.1 Chuẩn bị nguồn bào tử Nosema apis để tiến hành các thí nghiệm Bào tử được thu từ những mẫu ong bị bệnh, rút ruột sao cho còn nguyên vẹn, nghiền nát, hòa dịch ruột ong với nước cất Lọc sạch tạp bẩn dung dịch trên và kiểm tra lại số lượng bào tử Ly tâm dung dịch đến khi số lượng bào tử
đạt 10.000.000 bào tử /ml dung dịch Sau đó bảo quản trong dung dịch
nghiệm cần lọc rửa lại và lấy theo lượng thích hợp
3.3.2.2 Khả năng xâm nhiễm và phát triển của bào tử Nosema apis trên ong thợ trưởng thành
giống ong ngoại A mellifera để xác định thời gian xâm nhiễm và số lượng bào
tử lây nhiễm
Trang 33ảnh 3.3 Lây nhiễm bệnh Nosema apis trong phòng
(Người chụp: Hồ Kim Anh)
Bắt ngẫu nhiên 50 ong thợ ở tuổi đi làm (những ong thợ ở cửa tổ) trên đàn
50%) Thí nghiệm chia thành 4 công thức, mỗi công thức cho ăn syro đường có hoà lẫn với số lượng bào tử/ong thợ khác nhau (mỗi công thức 03 lồng):
+ Công thức 4: Chỉ cho ăn syro đường (Đối chứng)
Định kỳ sau 12h, 24h, 48h, 3 ngày, đến 20 ngày lấy mẫu xác định lượng bào tử Mỗi lần lấy 3 ong thợ của 1 mẫu, rút ruột ong và xác định số
Trang 343.3.2.3 Khả năng xâm nhiễm và phát triển của bào tử Nosema apis trên đàn ong
xâm nhiễm và khả năng gây hại của Nosema apis
+ Thí nghiệm tiến hành trên những đàn ong không bị nhiễm bệnh Nosema apis và có thế đàn đồng đều 6 cầu/đàn (tiến hành cân đối đồng đều thế đàn trước khi lây nhiễm 3 tuần)
+ Xác định số lượng ong thợ có trong đàn ong để định lượng số lượng bào tử Nosema apis lây nhiễm cho mỗi công thức thí nghiệm Do không thể
đếm toàn bộ số ong thợ có trong đàn nên chúng tôi sử dụng phương pháp gián tiếp, nguyên tắc của phương pháp là xác định trọng lương toàn bộ số ong có trong đàn rồi xác định trọng lượng trung bình của 1 ong sống để từ đó xác
định số lượng ong sống có trong đàn
Cách xác định số lượng ong trong đàn (phương pháp gián tiếp): Cân trọng lượng toàn bộ cả đàn ong (ong, cầu ong, thùng ong) vào buổi tối (khi toàn bộ ong thợ đ7 đi làm về), rồi rũ ong để cân riêng cầu và thùng từ đó ta có thể tính được trọng lượng của toàn bộ số ong trưởng thành của đàn ong Cân trọng lượng 100 ong sống (để xác định trọng lượng trung bình của 1 ong sống) rồi từ đó xác định số lượng ong sống có trong đàn
+ Sau khi xác định được số lượng ong thợ trong đàn và xét nghiệm không có bào tử Nosema apis thì tiến hành phân công thức thí nghiệm Thí nghiệm gồm 3 công thức, mỗi công thức chọn ngẫu nhiên 3 đàn, cho ăn syro
đường có hoà lẫn với số lượng bào tử/ong thợ như sau:
* Công thức 3: Syro đường không có bào tử (Đối chứng)
Trang 35ư Xét nghiệm bào tử:
Định kỳ sau 3, 5, 7, 10, 13, 17, 20 ngày bắt mỗi đàn 30 ong thợ để xác
định số lượng bào tử Nosema apis/ong thợ
3.3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh Nosema apis đến tuổi thọ của ong thợ
Bố trí 4 công thức thí nghiệm, mỗi công thức 3 đàn, các công thức có thế
đàn đồng đều 4 cầu, được chăm sóc và quản lý như nhau Kiểm tra đánh giá mức độ nhiễm bệnh của mỗi công thức rồi tiến hành lây nhiễm bệnh theo các cấp để cho mỗi công thức bị nhiễm bệnh theo các mức độ như sau:
Công thức 1: Đàn ong bị nhiễm bệnh Nosema apis ở mức nhẹ
Công thức 2: Đàn ong bị nhiễm bệnh Nosema apis ở mức trung bình Công thức 3: Đàn ong bị nhiễm bệnh Nosema apis ở mức nặng
Công thức 4: Đối chứng: đàn ong không mắc bệnh
Sau khi đ7 lây nhiễm được đúng cấp độ bệnh theo các công thức thì tiến hành đánh dấu ong thợ với các màu sắc khác nhau, mỗi đàn đánh dấu 50 con,
cứ sau 3 ngày định kỳ kiểm tra 1 lần, kiểm tra trong vòng 60 ngày
- Tính tuổi thọ của ong [4]:
Trang 36ảnh 3.4 Theo dõi tuổi thọ của ong thợ
(Người chụp: Hồ Kim Anh) 3.3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của Nosema apis
độ, mỗi công thức lặp lại 3 lần, ở mỗi lần lặp có 3 lồng, mỗi lồng 50 ong thợ (ong thợ được bắt ngẫu nhiên trên 1 đàn sạch bệnh) Ong thợ ở tất cả các công
thợ Thí nghiệm tiến hành trên 3 tủ định ôn khác nhau, làm cùng thời điểm và
đều ở ẩm độ 50%
Trang 37+ Công thức 1: Nuôi ở ngưỡng nhiệt độ 250C - 280C
xét nghiệm 3 ong thợ/mẫu
trưởng thành thuộc giống ong A mellifera Các lứa tuổi thí nghiệm là: 1-2 ngày tuổi (mới nở), 3-5 ngày tuổi, 8-12 ngày tuổi và ong thợ đi làm (18-20 ngày tuổi)
+ Xác định tuổi ong thợ trưởng thành: Cầu nhộng ong thợ sắp nở được
đưa vào tủ định ôn để khi ong thợ nở ra đánh dấu xác định ngày tuổi rồi thả trở lại đàn sạch bệnh Đánh dấu trước khi tiến hành thí nghiệm 20 ngày để có các loại lứa tuổi như trên
+ Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm chia thành 4 công thức, mỗi công thức 3 lồng, mỗi lồng 30 ong thợ theo các công thức thí nghiệm như sau:
* Công thức 1: Ong thợ trưởng thành từ 1-2 ngày tuổi
* Công thức 2: Ong thợ trưởng thành từ 3-5 ngày tuổi
* Công thức 3: Ong thợ trưởng thành từ 8-12 ngày tuổi
* Công thức 4: Ong thợ trưởng thành từ 18-20 ngày tuổi
lặp lại 3 lần
Sau 7 ngày lây nhiễm bắt mẫu ong kiểm tra số lượng bào tử trên ong ở
Trang 383.3.4 Thử nghiệm một số loại axít hữu cơ phòng trị bệnh Nosema apis 3.3.4.1 Thí nghiệm trên cá thể ong thợ
Chọn đàn ong khỏe, sạch bệnh, bắt ong thợ ở lứa tuổi đi làm (khoảng 600
Sau 3 ngày xét nghiệm lại lượng bào tử (để có số lượng bào tử đồng đều trước
điều trị) rồi chia đều số ong thợ ra các lồng (mỗi lồng 50 con)
Bố trí 9 công thức thí nghiệm và 1 đối chứng (10 công thức), mỗi công thức lặp lại 3 lần (3 lồng):
+ Công thức 1: Syro đường trộn lẫn axít Acetic, nồng độ axít 0,5% + Công thức 2: Syro đường trộn lẫn axít Acetic, nồng độ axít 0,85% + Công thức 3: Syro đường trộn lẫn axít Acetic, nồng độ axít 1%
+ Công thức 4: Syro đường trộn lẫn axít Lactic: Nồng độ axít 0,3% + Công thức 5: Syro đường trộn lẫn axít Lactic: Nồng độ axít 0,4% + Công thức 6: Syro đường trộn lẫn axít Lactic: Nồng độ axít 0,5% + Công thức 7: Syro đường trộn lẫn axít Oxalic: Nồng độ axít 0,1% + Công thức 8: Syro đường trộn lẫn axít Oxalic: Nồng độ axít 0,2% + Công thức 9: Syro đường trộn lẫn axít Oxalic: Nồng độ axít 0,3% + Công thức 10: Đối chứng
xét nghiệm số lượng bào tử/ong thợ
Trang 39ư Hiệu quả điều trị (%): Tính theo công thức Abbott [6]:
Trong đó:
C: Số lượng bào tử/ong thợ của công thức đối chứng sau khi xử lý T: Số lượng bào tử/ong thợ của công thức thí nghiệm sau khi xử lý
3.3.4.2 Thí nghiệm trên đàn ong
+ Thuốc kháng sinh Fumagillin (tên thương phẩm là Fumidil-B): Đây là loại thuốc có hoạt chất Dicyclohexilamin, tách chiết từ loại nấm Aspegillus fumigatus, được chứng minh là có hiệu quả cao trong điều trị bệnh Nosema
+ Axít hữu cơ: Từ kết qủa thí nghiệm trong phòng chọn của mỗi loại axít (3 loại axit: Acetic, Lactic, Oxalic) một nồng độ hiệu lực và an toàn nhất
tương đương nhau để bố trí thí nghiệm Thí nghiệm có 5 công thức, mỗi công thức có 3 lần nhắc lại Các đàn ong ở mỗi công thức được cho ăn hỗn hợp axít (hoặc thuốc) với syro đường (đường: nước = 1: 1) như sau: + Công thức 1: Pha axít Acetic vào syro đường với nồng độ axít 0,85%, cho ong ăn với liều lượng 50 ml dung dịch pha axít/cầu ong
+ Công thức 2: Pha axít Lactic vào syro đường với nồng độ axít 0,5%, cho ong ăn với liều lượng 50 ml dung dịch pha axít/cầu ong
+ Công thức 3: Pha axít Oxalic vào syro đường với nồng độ axít 0,2%, cho ong ăn với liều lượng 50 ml dung dịch pha axít/cầu ong
+ Công thức 4: Pha 0,37 gam thuốc Fumagilin (Fumidil-B) vào 100 ml syro đường, cho ong ăn với liều lượng 50 ml dung dịch thuốc/cầu ong
Trang 40ảnh 3.5 Thí nghiệm điều trị bằng axit hữu cơ trên đàn ong
(Người chụp: Hồ Kim Anh)
xét nghiệm số lượng bào tử/ong thợ
100xT C
C T-(1(%)lựcHiệu
b a
b a
)
=
Trong đó:
3.4 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý trên bằng phần mềm Exel, IRRISTAT 4.0