1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay (Luận văn thạc sĩ)

131 260 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay(Luận văn thạc sĩ)Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay(Luận văn thạc sĩ)Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay(Luận văn thạc sĩ)Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay(Luận văn thạc sĩ)Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay(Luận văn thạc sĩ)Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay(Luận văn thạc sĩ)Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay(Luận văn thạc sĩ)Quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay(Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Đức Cảnh

Trang 2

Đề thực hiện đề tài này tác giả đã trải qua hai năm học tập tại Học viện Quản lý Giáo dục trong sự quan tâm của cơ sở đào tạo, của cơ quan công tác, gia đình và bạn bè

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các Tập thể Lãnh đạo, các giảng viên, chuyên viên của Học viện Quản lý Giáo dục đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong suốt

thời gian qua Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TSKH Nguyễn Mạnh Hùng đã định hướng vấn đề nghiên cứu, chỉ dẫn các phương pháp triển khai các

nhiệm vụ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thiện luận văn đúng thời hạn và đảm bảo yêu cầu

Tác giả xin chân thành cảm ơn Phòng GD&ĐT huyện An Lão - TP Hải Phòng, Ban giám hiệu, giáo viên các trường THCS trong huyện đã nhiệt tình, trách nhiệm trong cung cấp những thông tin xác thực để giúp tác giả thu được những minh chứng quan trọng trong phân tích đánh giá thực trạng quản lý hoạt động quản

lý đội ngũ giáo viên THCS của Phòng GD&ĐT huyện An Lão phục vụ nghiên cứu

đề xuất các biện pháp quản lý trong luận văn

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến những người thân trong gia đình và các đồng nghiệp và bạn bè đã luôn động viên, chia sẻ công việc để tác giả có thời gian tập trung học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn khó tránh khỏi những hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô, các nhà khoa học và những người quan tâm để giúp luận văn thêm hoàn thiện và có giá trị thiết thực, cũng như giúp tác giả có được các bài học quí báu trong chặng đường tiếp theo

Tác giả xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, thán g 10 năm 2015

Học viên

Ngô Đức Cảnh

Trang 3

STT Chữ viết tắt Cụm từ viết tắt

7 ĐNGV THCS Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở

8 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Giả thuyết khoa học 5

8 Cấu trúc của luận văn: 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 7

1.1 Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Ở Việt Nam 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản 15

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 15

1.2.2 Quản lý nhà trường 18

1.2.3 Giáo viên, đội ngũ giáo viên 20

1.2.4 Quản lý đội ngũ giáo viên 22

1.3 Vị trí của Giáo dục THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân 25

1.3.1 Vị trí, vai trò của cấp THCS 25

1.3.2 Mục tiêu của giáo dục THCS 25

1.3.3 Đặc điểm của đội ngũ giáo viên THCS 27

1.4 Quản lý đội ngũ giáo viên THCS 28

1.4.1 Quan điểm về quản lý đội ngũ giáo viên theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực 28

1.4.2 Yêu cầu về quản lý đội ngũ giáo viên THCS hiện nay 31

1.4.3 Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên 32

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lí đội ngũ GV THCS 39

1.5.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước: 39

1.5.2 Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương 40

Trang 5

1.5.5 Chất lượng của các trường THCS 41

Tiểu kết chương 1 42

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN AN LÃO - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 44

2.1 Khảo sát thực trạng 44

2.1.1 Mục tiêu khảo sát 44

2.1.2 Nội dung khảo sát 44

2.1.3 Đối tượng khảo sát 44

2.1.4 Công cụ khảo sát 44

2.1.5 Phương pháp khảo sát 45

2.1.6 Tổ chức khảo sát 45

2.1.7 Xử lý kết quả 46

2.2 Khái quát về giáo dục và đào tạo huyện An Lão, thành phố Hải Phòng 46

2.3 Tình hình GD&ĐT THCS huyện An Lão - thành phố Hải Phòng 48

2.4 Thực trạng về công tác quản lý đội ngũ viên THCS huyện An Lão - TP Hải Phòng 54

2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão - TP Hải Phòng 62

Tiểu kết chương 2 64

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN AN LÃO - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐẾN NĂM 2020 66

3.1 Nguyên tắc đề xuất xây dựng biện pháp 66

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 66

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 66

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 67

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 67

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 67

3.2 Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão - TP Hải Phòng đến năm 2020 68

3.2.1 Biện pháp 1 Lập quy hoạch, kế hoạch quản lý đội ngũ giáo viên THCS; 68

Trang 6

hợp lý về cơ cấu 72

3.2.3 Biện pháp 3 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên 76

3.2.4 Biện pháp 4 Xây dựng, phát huy ảnh hưởng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn và giáo viên cốt cán trong phát triển nghề nghiệp giáo viên 90

3.2.5 Biện pháp 5 Tăng cường đánh giá giáo viên và thanh tra, kiểm tra chuyên môn ở các trường THCS 99

3.2.6 Biện pháp 6 Sử dụng đi đôi với thực hiện chính sách khuyến khích, động viên đội ngũ giáo viên 105

3.3 Điều kiện thực hiện các biện pháp 107

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 108

3.5 Thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 109

3.5.1 Quy trình thăm dò 109

3.5.2 Kết quả thăm dò 109

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114

1 Kết luận 114

2 Khuyến nghị 115

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC

Trang 7

Hình 1.1: Mô hình phát triển nguồn nhân lực theo Leonard Nadle (Mĩ, 1980) 30

Biểu đồ 2.1 Sự phát triển đội ngũ CBQL, giáo viên THCS huyện An Lão từ năm 2010-2015 51

Bảng 2.1 Thống kê số lượng truờng, lớp, học sinh THCS từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 48

Bảng 2.2 Kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS THCS huyện An Lão 49

Bảng 2.3 Kết quả xếp loại học lực học sinh 49

Bảng 2.4 Sự phát triển số lượng GV THCS huyện An Lão 51

Bảng 2.5 Biến đổi cơ cấu giáo viên THCS huyện An Lão 52

Bảng 2.6 Trình độ chính trị đội ngũ GV THCS huyện An Lão 53

Bảng 2.7 Trình độ đào tạo của đội ngũ GVTHCS huyện An Lão 53

Bảng 2.8 Giáo viên dạy giỏi THCS huyện An Lão 54

Bảng 2.9 Bảng tổng hợp khảo sát về thực trạng quản lý Đội ngũ giáo viên các trường THCS huyện An Lão 54

Bảng 3.1 Kết quả thăm dò tính cấp thiết của các biện pháp đã đề xuất 110

Bảng 3.2 Kết quả thăm dò tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất 111

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, thông qua chức năng dạy học và giáo dục, đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong xã hội mới, coi họ là lớp người vẻ vang của đất nước, vì nếu

“không có thầy giáo thì không có giáo dục” Từ đó Người cũng chỉ rõ: vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được một đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh…

Trong những năm vừa qua, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Cụ thể là: Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ và kĩ năng nghề nghiệp của người lao động; công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế  xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công tác quản lí giáo dục có bước chuyển biến tích cực; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình độ đào tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục; cơ sở vật chất  kĩ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng thêm và từng bước hiện đại hoá; xã hội hoá giáo dục và hợp tác quốc tế được đ y mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng Những thành tựu, kết quả quan trọng của giáo dục bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội;

sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục; sự ổn định về

Trang 9

chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế  xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì trong những năm vừa qua giáo dục và đào tạo còn tồn tại không ít những hạn chế, yếu kém, cụ thể là: Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế  xã hội của đất nước; chương trình giáo dục còn coi

nh thực hành, vận dụng kiến thức; phương pháp giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá lạc hậu, thiếu thực chất; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng làm việc; hệ thống giáo dục thiếu tính liên thông giữa các trình độ đào tạo và các phương thức giáo dục, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế; công tác quản lí giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém và đặc biệt là đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục Thực tiễn cho thấy sự bất cập của đội ngũ giáo viên hiện nay thể hiện ở việc không phù hợp giữa số lượng,

cơ cấu với chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển thực tiễn của xã hội Hiện nay sự bất cập đó đã trở thành mâu thuẫn gay gắt trước yêu cầu đổi mới của giáo dục để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia Vấn đề chu n hóa, đồng bộ cả về số lượng và cơ cấu, chất lượng, trong đó nâng cao chất lượng là trọng tâm đang trở thành một vấn

đề mang tính thời sự trong nghiên cứu giáo dục Tìm ra các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên phù hợp, đảm bảo tính cách mạng và khoa học và đưa vào

áp dụng thành công trong thực tế là một yêu cầu thực sự bức thiết trong giai đoạn hiện nay

Ngành giáo dục và đào tạo huyện An Lão luôn được cấp ủy và chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm, trong nghị quyết của đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015-2020 xác định rõ công tác quản lý giáo viên: "Xây dựng đội ngũ giáo viên bảo đảm về cơ cấu và chất lượng theo chu n hóa"

Trang 10

Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện An Lão và đặc biệt là bậc học THCS đã chỉ đạo, tổ chức nhiều đợt tập huấn bồi dưỡng nâng cao trách nhiệm, đạo đức nhà giáo và năng lực nghề nghiệp cho giáo viên, tập huấn về các nội dung đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh với những hình thức tổ chức giáo dục và dạy học tiên tiến, hiện đại; tập huấn về đổi mới hình thức sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học và ứng dụng CNTT trong sinh hoạt chuyện môn thông qua mô hình trường học kết nối Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế, bất cập về cơ cấu đội ngũ, về trình độ và năng lực còn một bộ phận chưa đáp ứng được yêu cầu Nguyên nhân của tình trạng trên là do ngành chưa xây dựng được quy hoạch, kế hoạch chiến lược, chưa dự báo được nhu cầu giáo viên và đề ra các biện pháp có căn cứ khoa học, làm cơ sở cho việc quản

lý đội ngũ giáo viên một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới và đặc biệt

là đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo Với những lý do trên tác

giả chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Quản lý đội ngũ giáo viên THCS

huyện An Lão - Thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay"

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện An Lão - Thành phố Hải Phòng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục THCS của huyện trong giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên trường THCS;

3.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên THCS

và việc quản lí đội ngũ giáo viên THCS ở huyện An Lão thành phố Hải Phòng

3.3 Đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên THCS ở huyện

Trang 11

An Lão, thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay

4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động quản lý đội ngũ GV trường THCS

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý đội ngũ giáo viên THCS của Phòng GD&ĐT huyện An Lão - thành phố Hải Phòng

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các nguồn tài liệu khoa học có liên quan đến công tác quản lý đội ngũ giáo viên THCS, bao gồm:

Các văn kiện, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước,

tư tưởng Hồ Chí Minh có liên quan đến đề tài

Các tác ph m về tâm lí học, giáo dục học trong và ngoài nước

Các công trình nghiên cứu khoa học quản lí giáo dục của các nhà lí luận, các nhà quản lí giáo dục, các nhà giáo có liên quan đến đề tài như luận văn, luận án, các báo cáo khoa học, các chuyên khảo, các bài báo

Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục vụ trực tiếp cho việc giải quyêt các nhiệm vụ của đề tài

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu các báo cáo thống kê hàng năm của các trường và báo cáo tổng hợp của Phòng GD&ĐT để nắm được số luợng, cơ cấu, trình độ đào tạo, thâm niên công tác của GV trên địa bàn huyện An Lão;

Tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi để đánh giá thực trạng QL đội ngũ GVTHCS trên địa bàn về các khía cạnh: nhu cầu, nội dung, phương pháp,

Trang 12

hình thức đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, sử dụng GV, thực hiện các chế độ chính sách, khen thưởng đối với GV, công tác thanh tra, kiểm tra và đánh giá GV;

Đối tượng điều tra, khảo sát là GV, CBQL của 17 trường THCS trên địa bàn huyện An Lão - TP Hải Phòng;

Kết quả điều tra, khảo sát được phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra những thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu của luận văn

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành trao đổi với các GV THCS, CBQL của các trường THCS để làm rõ thêm một số thông tin thực trạng

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tiến hành nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm trong việc xây dựng và quản lý đội ngũ giáo viên của các trường THCS

Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiên các chuyên gia bằng hình thức phiếu hỏi, gồm: Các nhà khoa học, các chuyên gia về giáo dục, tâm lí học,quản lí giáo dục; Các nhà quản lí của các trường THCS để xem xét một

số nhận định về thực trạng, đánh giá tính cần thiết, khả thi của các biện pháp được đề xuất

quản lý đến năm 2020

7 Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua, huyện An Lão - TP Hải Phòng đã có được những kết quả nhất định trong công tác quản lý phát triển giáo viên cấp THCS

Trang 13

trong các lĩnh vực: Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, đánh giá, rà soát đội ngũ giáo viên theo chu n Tuy nhiên trong công tác quản lý đội ngũ vẫn còn bộc lộ một số hạn chế trong công tác quy hoạch, công tác quản lý thiếu tính chiến lược, chưa làm tốt công tác dự báo nhu cầu đội ngũ

Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của huyện

An Lão - TP Hải Phòng bám sát thực trạng được phân tích và dựa trên những

cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ phù hợp với lý thuyết phát triển nguồn nhân lực thì sẽ đảm bảo tính khả thi và khắc phục được những hạn chế đã nêu, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV THCS huyện An Lão đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luậncó 3 chương

Chương 1 Cở sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên cấp THCS

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện

An Lão - thành phố Hải Phòng

Chương 3 Biện pháp quản lý ngũ giáo viên THCS huyện An Lão -

thành phố Hải Phòng đến năm 2020

Trang 14

và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ” [40] Đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về quản lí và phát triển ĐNGV trong khu vực và trên thế giới Có thể kể một số công trình của các tác giả tiêu biểu như Eleonora Vilegas-Reiers (1998); Glatthorn (1995); Ganser (2000); Felding và Schalock (1985); Cochran-Smith và Lytle (2001); Walling và Levis (2000); Cobb (1999); Kettle và Sellars (1996); Kalelestad và Olweus (1998); Youngs (2001); Grosso de Leon (2001); Guzman (1995); Mc Ginn và Borden (1995); Tattlo (1999); Darling-Hammond (1999); Loucks-Horsely và Matsumoto (1999); Borko và Putnam(1995) Ngoài ra, chúng ta còn gặp những kết quả nghiên cứu về GV phổ thông trong các báo cáo của Uỷ ban quốc gia về giáo dục và tương lai Hoa Kì các năm 1996, 1997 Tất cả các công trình trên có thể phân chia theo 4 hướng nghiên cứu chính:

- Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý, phát triển nghề nghiệp GV;

- Nghiên cứu cải tiến các kĩ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho GV Xu hướng này đang được các quốc gia trong khối APEC triển khai

Trang 15

thực hiện đào tạo, bồi dưỡng GV Theo xu hướng này, các quốc gia ở Châu Á Thái Bình Dương cũng coi đào tạo và bồi dưỡng GV là một trong những khâu then chốt để phát triển kinh tế ở các nước này Các nước này rất coi trọng nâng cao nghề nghiệp liên tục cho GV;

- Nghiên cứu quản lý và phát triển nghề nghiệp cho GV như là một yêu cầu của tiến trình cải cách giáo dục

Về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên

Trong nghiên cứu của mình về đào tạo GV, Michel Develay đã bắt đầu

từ lí luận về học đến lí luận về dạy để nghiên cứu về đào tạo GV Theo ông:

“Đào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, định lí, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [35] Ngoài ra, trong tác ph m này, ông còn đề cập đến nội dung, cách thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV

Báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1985 do UNESCO tổ chức,

đã đề cập đến vai trò của GV trong thời đại mới, cụ thể là người thiết kế, tổ chức, cổ vũ, canh tân Để GV thực hiện tốt các vai trò này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng GV như: Chương trình đào tạo GV cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học tốt nhất; GV phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là thợ dạy; việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học tuân theo những quy định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền [17]

Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra các yêu cầu của một GV bao gồm: kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và phạm vi bộ môn mình dạy; kĩ năng sư phạm; có tư duy phản ánh, năng lực tự phê; biết cảm thông và cam kết tôn trọng ph m giá của người khác; có năng lực quản lí

Trang 16

1.1.2 Ở Việt Nam

Quản lý đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục là biện pháp mang tính đột phá, là điều kiện cơ bản nhất quyết định đến sự phát triển giáo dục Trong tác

ph m “Việt Nam hướng tới nền Giáo dục hiện đại” của tác giả Nguyễn Đắc

Hương, đã viết: “Kinh tế thị trường và xã hội văn minh với môi trường trong

sạch phải được hòa quyện trong hệ thống giáo dục nước nhà trên con đường hiện đại hóa” [4], Để thực hiện được điều đó cần phải có một hệ thống chính

sách đồng bộ, một trong những chính sách đó là: “Đổi mới chính sách đào

tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV và CBQL giáo dục ”, “Chừng nào chúng ta coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng đội ngũ GV thì chúng ta mới có nhiều chuyên gia giỏi để đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước” [5], Vì vậy

mà nhiều nước trên thế giới khi tiến hành cải cách giáo dục, phát triển giáo dục thường bắt đầu bằng phát triển đội ngũ GV

Trong 25 năm đổi mới, nhiều biện pháp nhằm phát triển đội ngũ GV các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi Đặc biệt từ khi Đảng và nhà nước có chủ trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thì một số dự án, công trình nghiên cứu khoa học lớn có liên quan đến đội ngũ

GV đã được thực hiện: Dự án quốc gia nghiên cứu tổng thể về GD&ĐT và phân tích nguồn nhân lực, mã số VIE/89/022, năm 1991 - 1992 (gọi tắt là Dự

+ Đánh giá thực trạng về tình hình bồi dưỡng và đào tạo lại các loại

Trang 17

hình lao động hiện nay

+ Đề xuất với nhà nước một số nội dung chính sách và biện pháp nhằm thúc đ y việc bồi dưỡng và đào tạo lại các hình thức lao động có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho phù họp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới

Liên quan đến cấp học THCS đã có các nghiên cứu sau:

Dự án: “Tăng cường năng lực đào tạo GV” thuộc nội dung tài trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Mục tiêu của dự án nhằm củng cố năng lực các cơ sở đào tạo và tăng cường mối liên kết giữa các cơ quan trung ương

và chính quyền địa phương tham gia đào tạo GV THCS theo 4 lĩnh vực:

+ Xây dựng chương trình và viết giáo trình đào tạo GV THCS

+ Lập kế hoạch chiến lược cho đào tạo GV

+ Quản lý và tiến hành cải cách hệ thống đào tạo GV

+ Giám sát, đánh giá nhằm duy trì những nội dung cải cách trong đào tạo GVTHCS

Dự án Đào tạo giáo viên trung học cơ sở, thực hiện từ năm 2000 đến năm 2005 Mục đích của dự án là:

+ Nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả của hệ thống đào tạo giáo viên trung học cơ sở

+ Khắc phục một phần tình trạng phát triển không đều về số lượng và chất lượng trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở giữa các vùng

+ Nâng cao năng lực tổ chức quản lý của các cơ quan các cấp tham gia vào công tác đào tạo giáo viên trung học cơ sở

Dự án hỗ trợ kỹ thuật xây dựng kế hoạch tổng thể giáo dục trong giai đoạn 2001 - 2010 do ngân hàng thế giới tài trợ

Dự án hỗ trợ Bộ GD&ĐT do ủy ban Châu Âu tài trợ

Tùy từng mức độ khác nhau, tất cả các đề tài khoa học, các dự án trên

Trang 18

đều đề cập đến vấn đề xây dựng, phát triển và quản lý đội ngũ GV Ngoài ra, hàng năm các Sở GD&ĐT, các Phòng GD&ĐT đều có các nghiên cứu khoa học hay các biện pháp để thực hiện phát triển đội ngũ GV Tuy nhiên, vào thời điểm trước và sau năm 2000, do quy mô dân số, quy mô học sinh trong

độ tuổi tăng rất nhanh, dẫn đến tình trạng mất cân đối về cơ cấu đội ngũ GV Nhiều địa phương phải đối mặt với việc thiếu GV trầm trọng, buộc họ phải giải quyết bằng các biện pháp tình thế như: Đào tạo GV cấp tốc; đào tạo và đào tạo lại GV thêm trình độ chuyên môn 2 để tránh tình trạng thừa và thiếu cục bộ, không đồng bộ về cơ cấu đội ngũ; các trường sư phạm đào tạo một cách ồ ạt; đã làm cho chất lượng đội ngũ GV bị giảm sút nghiêm trọng Nhiều loại hình đào tạo, hình thức bồi dưỡng đã được mở rộng thiếu tính quy hoạch, kế hoạch làm sai lệch cơ cấu đội ngũ GV Điều này không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan QLGD mà còn là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục từ trung ương đến các địa phương

Thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức; công nghệ thông tin

và truyền thông được ứng dụng trên quy mô rộng lớn ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợi quốc gia Trong bối cảnh ấy, giáo dục trong thế

kỷ XXI đóng vai trò quan trọng trong việc chu n bị nguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất nước và tạo cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, đó gần như là một đòi hỏi tất yếu và cam kết của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia

Điều đó đặt ra cho Giáo dục Việt Nam có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội, vừa thỏa mãn nhu cầu phát triển của

Trang 19

mỗi cá nhân, mang đến niềm vui học tập cho mỗi người và tiến tới một xã hội học tập; Giáo dục phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều kiện chi phí còn hạn h p Để thực tốt vấn đề đó, một trong những biện pháp trọng tâm cần phải thực hiện là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục

Tại Hội thảo Khoa học Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo GV do Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tháng 4/2004, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Đặng Xuân Hải đã đề cập đến việc đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV trước yêu cầu mới [28]

Trong bài viết “Cải cách sư phạm và đổi mới mô hình đào tạo GV THPT” (2011), tác giả Trần Khánh Đức đã nêu rõ những yêu cầu mới của xã hội và nền giáo dục hiện đại đối với ĐNGV, mô hình tổng thể nhân cách người GV và các đề xuất nội dung chuyển đổi mô hình đào tạo GV ở các trường ĐHSP

Tại Hội thảo do 5 Sở GD&ĐT của 5 thành phố trực thuộc trung ương

tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2011, các đại biểu là cán bộ QLGD đã rất quan tâm đề cập đên vấn đề xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD Hội thảo đã thảo luận sôi nổi, đưa ra nhiều biện pháp để quản lý, xây dựng đội ngũ nhà giáo từ việc nâng cao tư tưởng, ph m chất chính trị, đạo đức, lối sống; đào tạo, bồi dưỡng; quy hoạch, sắp xêp, bổ nhiệm, sử dụng; thi tuyển đến việc thực hiện các chế độ chính sách, cơ chế quản lí, sử dụng

Trong bài viết “Chất lượng GV”, tác giả Trần Bá Hoành đã đưa ra cách tiếp cận chất lượng GV từ các khía cạnh như đặc điểm lao động của người

GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và ĐNGV Theo tác giả, có 3 yêu

tố ảnh hưởng đến chất lượng GV, đó là: quá trình đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng GV, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của GV, ý chí thói quen

Trang 20

và năng lực tự học của GV Đồng thời, tác giả cũng đưa ra 3 biện pháp cho vấn đề GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV [28]

Trong bài viêt: “Đổi mới mô hình đào tạo GV trong các trường đại học

sư phạm theo hướng tiêp cận năng lực” đăng trên Tạp chí Giáo dục (tháng 01/2012), các tác giả Bùi Minh Đức, Đào Thị Việt Anh, Hoàng Thị Kim Huyền đã nêu ra mô hình đào tạo GV ở các nước có nền giáo dục tiên tiến Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực, các chương trình đào tạo và bồi dưỡng GV cũng được cải tiến, điều chỉnh, thậm chí đổi mới toàn bộ theo chủ trương hình thành và phát triển các năng lực nghề nghiệp cho GV Các tác giả cũng đã đề xuất biện pháp đổi mới việc đào tạo GV như sau:

(1) Các trường sư phạm đào tạo GV cần đổi mới chương trình theo hướng tiêp cận năng lực;

(2) Chương trình đào tạo GV trước hết cần xác định được hệ thống các năng lực chung - những năng lực mà sinh viên của các ngành cần phải có và những năng lực riêng (năng lực môn học) cho sinh viên các ngành cụ thể;

(3) Đội ngũ giảng viên phải có những năng lực cần thiết và nhất là phải giỏi những năng lực môn học cụ thể, thay đổi nhận thức, kĩ năng, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá;

(4) Công tác quản lí, tổ chức đào tạo của các bộ phận chức năng trong trường cũng phải thay đổi theo hướng tiếp cận năng lực học sinh

Trong lĩnh vực quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên cũng đã được nhiều chuyên gia giáo dục trong nước nghiên cứu và đề cập đến qua các tài liệu khoa học, cụ thể như:

- Phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông Mê Linh, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị Hằng (LV-QLGD 45/2012);

Trang 21

- Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội theo chu n nghề nghiệp - Nguyễn Quốc Nam –(LV-QLGD 56/2012);

- Phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông thành phố Nam Định theo chu n nghề nghiệp - Trần Thị Thu Trang (LV-QLGD 74/2012);

- Phát triển đội ngũ giáo viên THPT thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay - Lê Trung Trinh - 2015

Từ các nghiên cứu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Quản lý, phát triển ĐNGV là vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD&ĐT, là vấn đề cần thiết, cần được quan tâm ;

- Quản lý, phát triển ĐNGV là vấn đề của thời đại, của các nước trong

xu thế hội nhập; GD&ĐT được xem là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư cho phát triển;

- Đội ngũ GV có vai trò quan trọng, quyết định chất lượng giáo dục Phát triển ĐNGV cần quan tâm thực hiện tốt việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thanh tra, xây dựng chu n nghề nghiệp GV, xây dựng các chế

độ, chính sách đối với GV;

- Nghiên cứu về quản lý ĐNGV được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lí giáo dục, được tập trung vào 2 mảng chính là nghiên cứu quản lý ĐNGV theo cấp học, ngành học và nghiên cứu quản lý ĐNGV cho từng cơ sở giáo dục

Ở huyện An Lão - thành phố Hải Phòng, từ nhiều năm nay đã có một

số nghiên cứu về đội ngũ GV phổ thông nhằm phục vụ công tác QLGD của huyện Các nghiên cứu trên mới đề cập đến một khía cạnh về thực trạng đội ngũ là cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Các đề tài trên chưa đề cập sâu về biện pháp phát triển đội ngũ

Trang 22

GV trong giai đoạn mới: Giai đoạn đổi mới giáo dục phổ thông Ở huyện An Lão - thành phố Hải Phòng, trong nhiều năm chưa có đề tài nghiên cứu sâu về công tác quản lý đội ngũ GVTHCS Vì vậy, tác giả chọn đề tài này, nằm nghiên cứu, đánh giá thực trạng về đội ngũ GV THCS trong huyện, qua đó đề xuất biện pháp quản lý đội ngũ GVTHCS đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục

1.2.1.1 Quản lý

Quản lý gắn liền với hoạt động của con người trong cuộc sống Quản lý

là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khi xã hội phát triển, quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã hội, xã hội loài người trải qua nhiều chế độ chính trị xã hội khác nhau, mỗi chế độ khác nhau có một phương thức sản xuất khác nhau, phương thức sản xuất sau phát triển hơn phương thức sản xuất trước, con người thế hệ sau tiến bộ và văn minh hơn con người thế hệ trước, nó kéo theo trình độ quản

lý ngày càng cao làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, làm cho xã hội ngày càng phát triển tiến bộ Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người Đó là một dạng lao động đặc biệt điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản ph m có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội

Quản lý còn là sự kết hợp giữa tri thức với lao động, quản lý còn được xem là tổ hợp cách thức, phương pháp tác động vào đối tượng để phát huy khả năng của đối tượng nhằm thúc đ y sự phát triển của xã hội

Theo quan điểm chính trị xã hội: Quản lý là các sự tác động liên tục có

tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, người tổ chức

Trang 23

quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường

và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”

Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra [26], như vậy

có thể xem quản lý là một quá trình tác động có mục đích có kế hoạch nhằm gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, thông qua cơ chế quản lý, nhằm đạt mục đích của quản lý

Tuy có nhiều cách diễn đạt khái niệm về quản lý khác nhau nhưng

chúng đều có sự thống nhất cơ bản, có thể khái quát là: Quản lý là một quá

trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở đây, chỉ đề cập tới khái niệm quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục mà hạt nhân của hệ thống là các cơ sở trường học

Về khái niệm quản lý giáo dục, theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm thúc

đ y công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với

sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác không chi giới hạn ở thế

hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành

hệ thống giáo dục quốc dân” [1]

Trang 24

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [23]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có

kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của xã hội cũng như các qui luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em ” [32]

Như vậy, những khái niệm về Quản lý giáo dục nêu trên tuy có những

cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý giáo

dục là hệ thống những tác động có chủ đích, phù hợp với qui luật khách quan của chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu giáo dục trong môi trường luôn biến động

Trong quản lý giáo dục chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản

lý giáo dục từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo Có thể hiểu một các cụ thể là:

Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đổi tượng bị quản lý

Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể GV, HS và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định

Hay quản lý giáo dục ở cấp độ quản lý trường học (cơ sở giáo dục): là

Trang 25

hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, nhân viên, người dạy, người học, cha m người học hay người đỡ đầu, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, và cơ hội nhằm thực hiện có chất

lượng mục tiêu giáo dục [24]

Từ các cách trình bày khái niệm quản lý giáo dục trên đây có thể thấy:

- Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội và nó mang đầy đủ các đặc điểm của quản lý nói chung và quản lý xã hội nói riêng;

- Tính chất quản lý nhà nước được thể hiện rõ nét trong quản lý giáo dục ngay cả với quản lý tác nghiệp tại trường học và các cơ sở giáo dục;

- Đối tượng chủ yếu của quản lý là con người nhưng quản lý con người trong quản lý giáo dục còn bao hàm cả sự huấn luyện, giáo dục, tạo cho họ có khả năng thích ứng với các vai trò xã hội mà họ đã và sẽ đảm nhận [24]

1.2.2 Quản lý nhà trường

Trong hệ thống GD, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu Đa phần các hoạt động GD đều được thực hiện trong nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (phổ thông, THCN, CĐ, ĐH và sau ĐH) Nhà trường

là “tế bào chủ chốt” của hệ thống GD từ trung ương đến cơ sở Theo đó quan niệm QLGD luôn đi kèm với quan niệm QL nhà trường; Các nội dung QLGD luôn gắn liền với QL nhà trường Quản lý nhà trường có thể được coi như là

sự cụ thể hoá công tác QLGD

Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng (the principal) đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, v.v ) hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.v ) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.”

Trang 26

Ngày nay nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết

kế sư phạm đơn thuần Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách - sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn con người (Human Capital), vốn tổ chức (Organizational Capital) và cả vốn xã hội (Social Capital)

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục Mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [23]

Bản chất quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tới mục tiêu giáo dục

Quản lý nhà trường là hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục

Quản lý nhà trường là quản lý việc đào tạo con người, việc hình thành và hoàn thiện nhân cách, việc tái sản xuất nguồn nhân lực Đối tượng quản lý ở đây là những ai thực hiện hoặc tiếp nhận sự giáo dục và đào tạo, các hoạt động giáo dục và đào tạo, các điều kiện để thực hiện hoạt động giáo dục và đào tạo [24]

Quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội khác, nó được quy định với bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng quản lý Sản ph m của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội

Quản lý nhà trường là một quá trình toàn v n với mục đích là để hình thành nhân cách học sinh

Trang 27

Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm

vi xác định đó là đơn vị giáo dục là nhà trường Do đó quản lý nhà trường là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đ y mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo

1.2.3 Giáo viên, đội ngũ giáo viên

1.2.3.1 Giáo viên

Giáo viên được hiểu là những người làm nhiệm vụ dạy học - giáo dục trong nhà trường hoặc trong các cơ sở giáo dục khác, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục là truyền tải tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, xây dựng, hình thành và phát triển nhân cách cho người đọc đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội

Điều 70 Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêu chu n của nhà giáo:

“(1) Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác

(2) Nhà giáo phải có những tiêu chu n sau:

a) Ph m chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

b) Đạt trình độ chu n được đào tạo về nghề chuyên môn, nghiệp vụ; c) Đủ sức khỏe yêu cầu nghề nghiệp;

d) Lý lịch bản thân rõ ràng”

Luật giáo dục cũng đã quy định rất cụ thể về tên gọi đối với từng đối tượng giáo dục theo cấp, bậc giảng dạy và công tác.Trong luận văn này nghiên cứu về quản lý đội ngũ nhà giáo ở cấp THCS nên gọi là giáo viên

Trình độ chu n được đào tạo của GVTHCS, theo điều 77 Luật giáo dục

2005 quy định: “Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm hoặc có bằng tốt

nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm ” [37]

Trang 28

1.2.3.2 Đội ngũ giáo viên

Để hiểu về đội ngũ GV, trước hết phải hiểu thế nào là đội ngũ Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ Ngày nay, khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đội ngũ tri thức, đội ngũ y, bác sỹ đều xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ

Khái niệm đội ngũ tuy có cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm, đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng,

để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều có chung một mục đích nhất định Đội ngũ phải đảm bảo

số lượng và cơ cấu phù hợp

Từ các cách hiểu trên, có thể hiểu: Đội ngũ là một tập hợp gồm số đông người cùng một chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng Hay có thể hiểu rằng đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng và đều có cùng một mục đích nhất định

Từ những quan điểm đã nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước ta

có thể hiểu đội ngũ GV như sau: Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tổ chức đó, học làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật, thể chế xã hội

Từ khái niệm đội ngũ GV nói chung ta còn có khái niệm đội ngũ GV riêng cho từng bậc học, cấp học, như: Đội ngũ GV Mầm non, đội ngũ GV Tiểu học, đội ngũ GVTHCS, đội ngũ giáo viên THPT, đội ngũ GV Dạy nghề, Đội ngũ giáo viên THCN

Đội ngũ GV không phải là một tập hợp rời rạc, đơn lẻ mà là một tập

Trang 29

hợp có tổ chức, có sự chỉ huy thống nhất, bị ràng buộc bởi trách nhiệm, quyền hạn của nhà giáo do luật pháp quy định và người tổ chức chỉ huy chung đó là

cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục của một quốc gia, ở Việt Nam là Bộ GD&ĐT, ở các tỉnh là Sở GD&ĐT

Đối với cấp THCS, đội ngũ GVTHCS là tập hợp những người làm công tác giảng dạy ở cấp THCS, phối hợp với nhau và phối hợp với lực lượng giáo dục khác để giáo dục học sinh, phát triển nhận thức, năng lực mà các em đã đạt được ở Tiểu học, hoàn thành học vấn THCS , để có đủ trình độ năng lực

để tiếp tục học lên học THPT hoặc vào học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Theo thông tư 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 ban hành điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học và thông

tư số 35/ 2006/TTLT- BGD ĐT - BNV, ngày 28 tháng 8 năm 2006 của Bộ GD&ĐT - Bộ Nội vụ thì đội ngũ giáo viên ở trường THCS bao gồm GV dạy

14 môn học, tổng phụ trách và cán bộ QLGD (HT, PHT) Tập hợp những GV trong một trường gọi là đội ngũ GV của trường đó Tập hợp GV toàn ngành của một thành phố, tỉnh, cả nước gọi là đội ngũ GV THCS của thành phố, tỉnh, nước [9]

Như vậy khi nói đến đội ngũ GV, phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện và hệ thống Nếu xét trên phương diện nguồn nhân lực thì đội ngũ

GV chính là nguồn nhân lực của Nhà trường

1.2.4 Quản lý đội ngũ giáo viên

Quản lý đội ngũ giáo viên chính là quản lý nguồn nhân lực của nhà trường

"Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực,

là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong

nư-ớc gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau

Trang 30

Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:" Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực

tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng"

Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ

Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn

mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [20]

Theo Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chu n bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [23]

Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển

Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá

Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể

Trang 31

chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội

Khái niệm "nguồn nhân lực" (Human Resoures) được hiểu như khái niệm "nguồn lực con người" Khi được sử dụng như một công cụ điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động

Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội

Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất

lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội

đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội

Quản lý đội ngũ giáo viên: Đội ngũ GV là nguồn nhân lực trong giáo dục Vì vậy, quản lý đội ngũ GV là quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD&ĐT, tạo ra một đội ngũ (tổ chức) GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu (chuyên môn, độ tuổi, giới tính, dân tộc) đảm bảo về chất lượng (ph m chất

Trang 32

đạo đức, trình độ đào tạo, năng lực sư phạm) để có đủ khả năng thực hiện tốt các yêu cầu phát triển GD&ĐT trong từng thời kỳ phát triển của đất nước Quản lý đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu mới mang đầy đủ các nội dung của công tác phát triển đội ngũ GV nói chung và gắn với yêu cầu cụ thể của cấp THCS trong giai đoạn hiện nay

Từ khái niệm quản lý đội ngũ giáo viên cho thấy thấy mục tiêu của quản lý đội ngũ là nhằm phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ giáo dục của cấp học

1.3 Vị trí của Giáo dục THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1 Vị trí, vai trò của cấp THCS

Điều 26, khoản a, b, Luật giáo dục năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) qui định: Giáo dục THCS được thực hiện trong 4 năm học, từ lóp 6 đến lớp 9 Học sinh vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có

độ tuổi là 11 tuổi” [37]

Có thể nói, trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp THCS có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng vì đây là cấp học nối tiếp bậc tiểu học với độ tuổi 11 đến 14, lứa tuổi bắt đầu bước vào độ tuổi lao động tối thiểu Đó cũng là bậc học tạo nên sự liên thông và đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống với các cấp, khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta

Giáo dục THCS là cấp học cơ sở của bậc THPT, nó có vị trí quan trọng

vì: “Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh

tương lai của một dân tộc, nó đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam XHCN, đồng thời chuẩn bị lực lượng lao động dự trữ và nguồn tuyển chọn để đào tạo công nhân và tăng cường quốc phòng”[37]

1.3.2 Mục tiêu của giáo dục THCS

Điều 27 Luật giáo dục năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) qui định

mục tiêu của giáo dục THCS như sau: “Giáo dục THCS nhằm giúp cho học

Trang 33

sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [37],

Mục tiêu của giáo dục phổ thông: “Giúp học sinh phát triển toàn diện

về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn

bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [37]

Mục tiêu của giáo dục THCS: “Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh

củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc song lao động” [37],

Như vậy, giáo dục THCS không chỉ nhằm mục tiêu học lên THPT mà phải chu n bị cho sự phân luồng sau THCS Sau khi tốt nghiệp THCS học sinh đã đứng trước sự lựa chọn của cuộc đời: Tiếp tục hoàn thiện học vấn phổ thông ở bậc THPT, hoặc theo các loại hình trường đào tạo chuyên nghiệp, hoặc trực tiếp ra lao động sản xuất Cho nên giáo dục THCS phải đảm bảo cho học sinh có những giá trị đạo đức, tư tưởng, lối sống phù hợp với mục tiêu, có những kiến thức phổ thông cơ bản về tự nhiên, xã hội là con người, gắn với cuộc sống cộng đồng và thực tiễn địa phương, có kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống, bản thân, gia đình và cộng đồng Giáo dục THCS là nhu cầu tất yếu của mỗi tầng lớp dân cư, đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên

Từ những đặc điểm trên ta thấy vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung của

Trang 34

giáo dục THCS trong chiến lược phát triển giáo dục là hết sức quan trọng, đặc biệt hiện nay việc phổ cập giáo dục THCS là nhu cầu tất yếu khách quan của nước ta trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước Trong giai đoạn hiện nay, khi

mà chúng ta đang thực hiện đổi mới nội dung chương trình, SGK, thực hiện phổ cập THCS thì vai trò, nhiệm vụ của cấp THCS càng trở lên quan trọng và nặng nề Yêu cầu phải quản lý đội ngũ GV một cách toàn diện, đổi mới mạnh

mẽ phương pháp giảng dạy, đổi mới các hoạt động để đáp ứng nhiệm vụ mới Giáo viên THCS phải được nhận thức đầy đủ về điều đó, phải có đủ tri thức, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, ph m chất đạo đức để thực hiện nhiệm vụ Làm cho họ hội đủ các điều kiện như vậy, chính là nội dung, nhiệm

vụ của việc quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên THCS

1.3.3 Đặc điểm của đội ngũ giáo viên THCS

Đội ngũ GV và đội ngũ CBQL giáo dục (quản lý các trường và quản lý các cơ quan trong hệ thống GD quốc dân) có vai trò quyết định đến chất lượng GD Sản ph m của họ khác với sản ph m của loại hình lao động khác ở chỗ: Sản ph m này tích hợp cả nhân tố vật chất và tinh thân, đó là “nhân cách

- sức lao động”

Đội ngũ GV và cán bộ QLGD có ý nghĩa cao cả đặc biệt Họ là một bộ phận lao động tinh hoa của đất nước Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đ y sự phát triển đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái bền vững

Do vị trí và vai trò của cấp học THCS có đặc điểm các cấp, bậc học khác Vì vậy, đội ngũ giáo viên THCS cũng có những đặc điểm khác với giáo viên Tiểu học và giáo viên THPT GVTHCS có thể có một môn và dạy kiêm thêm môn khác theo ban đào tạo: Toán - Lý, Lý - CN, Sinh - Hóa, Văn - Sử,

Sử - GDCD

Từ đặc điểm này đã hình thành nên hệ thống trường, lớp sư phạm để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên một cách khác nhau cho từng bậc học, cấp học

Trang 35

Các trường hoặc khoa sư phạm đào tạo GV Tiểu học: THSP, CĐSP tiểu học, ĐHSP tiểu học), trường CĐSP hoặc ĐHSP đào tạo GVTHCS, thường đào tạo dạy môn chính và một môn phụ (môn dạy phụ chiếm khoảng 30% thời lượng đào tạo)

1.4 Quản lý đội ngũ giáo viên THCS

1.4.1 Quan điểm về quản lý đội ngũ giáo viên theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực

Luận văn nghiên cứu các biện pháp quản lý đội ngũ GVTHCS nhằm phát triển đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Dưới đây xem xét thêm thuật ngữ "phát triển"

Phát triển

Thuật ngữ phát triển có nhiều cách định nghĩa, xuất phát từ những cấp

độ xem xét khác nhau Ở cấp độ chung nhất: “Phát triển được hiểu là sự thay

đổi hay biến đổi tiến bộ, là một phương thức của vận động, hay là quá trình diễn ra có nguyên nhân, dưới hĩnh thức khác nhau như tăng trưởng, tiến hóa, phân hóa, chuyển đổi, mở rộng, cuối cùng tạo ra biến đổi về chất".[25]

Theo từ điển triết học thì: “Phát triển là một phạm trù triết học dùng để

chỉ sự vận động của sự vật hiện tượng theo chiều hướng tiến lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cái mới cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu” [25] Tất cả các sự vật hiện tượng, con người và xã hội hoặc tự thân

biến đổi, hoặc do bên ngoài làm cho biến đổi tăng lên cả về số lượng hoặc chất lượng đó chính là sự phát triển Như vậy “phát triển” là một khái niệm rất rộng Nói đến “phát triển” là người ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật, hiện tượng, con người trong xã hội Sự đi lên đó thể hiện ở việc tăng lên về số lượng và số lượng, thay đổi về nội dung và hình thức

Nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Phương thức của sự “phát triển” là chuyển hóa những thay đổi về

Trang 36

lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại theo kiểu nhảy vọt Chiều hướng của sự “phát triển” là sự vận động theo hình xoáy trôn ốc

Theo tác giả David C.Korten, khi xét ở khía cạnh xã hội: “Phát triển là

một tiến trình qua đó các thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cả nhân và định chế của mình để huy động và quản lý các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững nhằm hoàn thiện chất lượng cuộc song hoàn thiện với nguyện vọng của họ" [19]

Theo quan điểm này thì “phát triển” là sự tăng trưởng, hoàn thiện được khả năng tạo ra sự phù hợp cho bản thân bằng cách sử dụng mới nguồn lực có thể có được Tiến trình đó không phải của riêng ai mà của các thành viên một

tổ chức, một xã hội - khái niệm này khá phù hợp với quan điểm phát triển đội ngũ GV, phát triển giáo dục

Thực tiễn chứng minh rằng trong xây dựng đã có phát triển, trong phát triển phải có xây dựng Chúng ta thường nói: Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy không có nghĩa là ta đã có một nền kinh tế thị trường chúng ta phải có thời gian, trong đó phải làm cho nền kinh tế luôn tăng trưởng, phát triển một cách bền vững, về mặt xã hội thì trong phát triển phải có quản lý, quản lý để phát triển Phát triển đội ngũ GVTHCS trong giáo dục không nằm ngoài quy luật của sự phát triển

Thuật ngữ phát triển theo nghĩa triết học là biến đổi hoặc làm cho biên đổi từ ít đến nhiều, h p đến rộng, đơn giản đến phức tạp Lí luận của phép biện chứng duy vật khẳng định: mọi sự vật, hiện tượng không phải chỉ là sự tăng lên hay giảm đi vê mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hóa từ sự vật, hiện tượng này đến sự vật, hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái

cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển mãi mãi Phát triển là quá trình nội tại, là bước chuyển hóa từ thấp đến cao, trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynh hướng dẫn đến cái

Trang 37

cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển Phát triển là quá trình tạo ra sự hoàn thiện của cả tự nhiên và xã hội

Nói về phát triển nguồn nhân lực cũng có những tiếp cận khác nhau Theo từ điển Giáo dục học định nghĩa về phát triển nguồn nhân lực là quá trình cung cấp những nguồn nhân lực cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của một ngành sản xuất, kinh doanh, một tổ chức, một dân tộc, một đất nước Định nghĩa này chưa thâu tóm đầy đủ nội hàm của phát triển nguồn nhân lực

Theo Leonard Nadle, phát triển nguồn nhân lực là sự tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về

môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chính sách

hợp lí, ), môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của

con người, để họ mang hết sức mình hoàn thành nhiệm vụ được giao

Hình 1.1: Mô hình phát triển nguồn nhân lực theo Leonard Nadle (Mĩ, 1980)

Trong lĩnh vực giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chính là sự phát triển đội ngũ nhân lực sư phạm (ĐNGV) để bảo đảm đủ về số lượng, đạt

Trang 38

chu n về trình độ và chất lượng, đồng bộ về cơ cấu đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác giáo dục Phát triển ĐNGV chính là làm cho ĐNGV đạt đến sự chu n hóa, hiện đại hóa; thực hiện các chế độ, chính sách tốt nhất đối với GV; tạo môi trường làm việc thuận lợi, đảm bảo tính hợp lí, tính xã hội hóa và tính đồng thuận trong nhà trường; tổ chức hoạt động giảng dạy, giáo dục một cách hợp lí, đồng bộ với các yếu tố về số lượng, cơ cấu đội ngũ; tăng cường dân chủ hóa trong các hoạt động để giúp GV tự phát triển bản thân Khi xem xét phát triển đội ngũ GVTHCS, cần phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện và hệ thống Đó không phải là một tập hợp rời rạc mà các thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, ràng buộc bởi những cơ chế, qui ước nhất định Như vậy, có thể hiểu phát triển đội ngũ GVTHCS là quá trình tăng tiến cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ trên cơ sở cái đã có,

đã được xây dựng nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa đầy đủ, phải tiếp tục nâng cao để đạt được mục tiêu đã đề ra

Với những nội dung đó việc nghiên cứu các biện pháp quản lý của Phòng GD&ĐT để phát triển đội ngũ giáo viên THCS dựa trên lý thuyết phát

triển nguồn nhân lực của Leonard Nadle là phù hợp

1.4.2 Yêu cầu về quản lý đội ngũ giáo viên THCS hiện nay

Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “Mục đích, yêu cầu về phát triển đội ngũ

giáo viên THCS là nhằm phát triển đội ngũ giáo viên THCS đảm bảo đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ c u và nâng cao được bản lĩnh chính trị, ph m chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của các nhà giáo góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục cơ sở đáp ứng yêu cầu của sự phát triển giáo dục THCS và đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương” [26]

Như vậy có thể xác định các yêu cầu cơ bản của quản lý đội ngũ giáo viên THCS hiện nay là:

Trang 39

- Xây dựng đội ngũ giáo viên đảm bảo đủ về số lượng, tức là: phải tính toán được số lượng giáo viên THCS cần có dựa trên quy mô học sinh phát triển theo thời gian để đảm bảo Mỗi lớp được bố trí biên chế không quá 1,90 giáo viên [9];

- Hợp lý về cơ cấu: Ở đây, hướng tới xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên THCS cân đối về cơ cấu bộ môn, cơ cấu lứa tuổi, …

- Đảm bảo đạt chu n về chất lượng: Tức là phải thực hiện việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đạt chu n cơ bản về trình độ đào tạo đối với giáo viên THCS, nâng dần tỉ lệ đội ngũ giáo viên trên chu n đào tạo, đạt chu n về

ph m chất năng lực theo yêu cầu của chu n nghề nghiệp giáo viên trung học, cập nhật về các yêu cầu đổi mới giáo dục;

- Đảm bảo chế độ chính sách đối với giáo viên THCS theo các quy định hiện hành, chú ý việc tạo động lực làm việc cho đội ngũ nhằm giúp họ an tâm công tác, phát huy được tính tích cực của mỗi giáo viên trong thực hiện nhiệm vụ

1.4.3 Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên

1.4.3.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên

- Dựa trên hiện trạng đội ngũ giáo viên hiện có, quy mô phát triển học sinh cấp THCS trên địa bàn để tính được yêu cầu bổ sung, thay thế đội ngũ giáo viên trong thời gian tiếp theo (từ 3 đến 5 năm);

- Quy hoạch đội ngũ giáo viên THCS còn thực hiện việc sắp xếp, phân

bố đội ngũ giáo viên của các trường THCS trên địa bàn;

- Quy hoạch đội ngũ giáo viên còn bao gồm quy hoạch về đào tạo (lập danh sách giáo viên thuộc các đối tượng để đưa đi đào tạo nâng cao trình độ…)

1.4.3.2 Tuyển dụng giáo viên

Việc tuyển chọn đội ngũ giáo viên là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm lựa chọn, quyết định xem trong số những người dự tuyển, ai là

Trang 40

người có đủ tiêu chu n làm việc trong nhà trường nhằm đảm bảo nhu cầu về

số lượng giáo viên như bản qui hoạch đã đề ra

Việc tuyển chọn GV vào biên chế phải đảm bảo được những yêu cầu đủ

về số lượng từng môn cấp THCS Giảm đến mức thấp nhất hiện tượng dạy chéo ban

Giáo viên được tuyển chọn phải đạt chu n về chất lượng, về trình độ chuyên môn sư phạm, về năng lực nghiệp vụ sư phạm, chu n về ph m chất đạo đức tư cách người thầy

Để đạt được các yêu cầu trên, phương thức tuyển chọn là sức quan trọng Tùy từng đơn vị, từng vùng mà có những phương thức tuyển chọn phù họp, có thể xét tuyển, thi tuyển và kết họp cả hai hình thức thi tuyển và xét tuyển Quy trình thực hiện phải đảm bảo được tính minh bạch rõ ràng, xây dựng, về hồ sơ, về thời gian nhằm đảm bảo công bằng trong tuyển chọn

Việc tuyển chọn cũng cần có những biện pháp, cách thức chế độ đãi ngộ với những GV tuyển dụng, nhằm khuyến khích động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho họ yên tâm công tác

Việc tuyển chọn, bổ sung đội ngũ giáo viên cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Xuất phát từ nhu cầu thực tế của nhà trường

- Căn cứ vào định biên số giáo viên theo qui định

- Dựa vào kết quả đánh giá thận trọng và toàn diện những người dự tuyển Dựa trên các nguyên tắc đó Phòng GD&ĐT phối hợp với phòng Nội vụ:

Ngày đăng: 22/04/2018, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6] Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004). Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp , Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2004
[12] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011). Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
[15] Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011). Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2011
[17] Vũ Đình Chu n (2008). Phát triển ĐNGV tin học trường THPT theo quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa, Luận án tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ĐNGV tin học trường THPT theo quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa
Tác giả: Vũ Đình Chu n
Năm: 2008
[19] David C.Korten (2003). Những thách thức của quản lí trong thế kỉ XXI, (Bản dịch của Vũ Tiến Phúc), Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức của quản lí trong thế kỉ XXI
Tác giả: David C.Korten
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
[20] David Begg (2002). Effective Staff Development - An Evaluation, Manual, the authos and Garant Pu blishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effective Staff Development - An Evaluation
Tác giả: David Begg
Năm: 2002
[27] Hồ Chí Minh (1990). Về vấn đề giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
[28] Trần Bá Hoành (2004), “Chất lượng GV” , Tạp chí Giáo dục, (16), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng GV” , "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2004
[29] Trần Bá Hoành (2010). “Những yêu cầu mới về nghiệp vụ sư phạm trong chu n nghề nghiệp GV trung học”, Hội thảo Khoa học nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho các trường ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu mới về nghiệp vụ sư phạm trong chu n nghề nghiệp GV trung học”, "Hội thảo Khoa học nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho các trường ĐHSP
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2010
[32] Trần Kiểm (2013), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2013
[34] Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Thị Bạch Mai (2009). Quản lí nguồn nhân lực Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Quản lí nguồn nhân lực Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Thị Bạch Mai
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
[35] Michel Develay (1994). Một số vấn đề về đào tạo GV (Bản dịch của Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đào tạo GV
Tác giả: Michel Develay
Năm: 1994
[40] V.I.Lê Nin (1976). Bàn về giáo dục, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về giáo dục
Tác giả: V.I.Lê Nin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
[1] Đặng Quốc Bảo (2010). Những vấn đề cơ bản về lãnh đạo, quản lý và sự vận dụng vào điều hành nhà trường - Tập bài giảng tại lớp Cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục, K9 (2009-2011). Trường ĐHGD- ĐHQG, Hà Nội Khác
[2] Đặng Quốc Bảo (2010). Để phát triển nguồn nhân lực, phát triển con người - Tâp bài giảng tại lớp Cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục, K9(2009- 2011). Trường ĐHGD -ĐHQG, Hà Nội Khác
[3] Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Lộc, Đặng Bá Lãm, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp (2010). Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Khác
[4] Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004). Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
[7] Bộ GD&ĐT. Điều lệ trường trung học. Nhà xuất bản GD, 2009 Khác
[8] Bộ GD&ĐT. Thông tư số 43/2006/TT-BGDDT ngày 20/1/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn thanh tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khá và thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo Khác
[11] Bộ GD&ĐT. Chu n nghề nghiệp giáo viên THCS, THPT. Nhà xuất bản Đại hoc sư phạm, 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w