Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y ĐỖ THÁI ĐIỀN PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH SỰ NHẠY CẢM
Trang 1Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
ĐỖ THÁI ĐIỀN
PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH SỰ NHẠY CẢM VỚI KHÁNG
SINH CỦA VI KHUẨN Edwardsiella spp TRÊN CÁ TRA
TẠI QUẬN Ô MÔN - TP CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, 06/2008
Trang 2Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
ĐỖ THÁI ĐIỀN
PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH SỰ NHẠY CẢM VỚI KHÁNG
SINH CỦA VI KHUẨN Edwardsiella spp TRÊN CÁ TRA
TẠI QUẬN Ô MÔN - TP CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, 06/2008
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN TRẦN THỊ PHẬN
Trang 3Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Phân lập và xác định sự nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn
Edwardsiella spp trên cá tra tại quận Ô Môn Tp Cần Thơ; do sinh viên: Đỗ Thái
Điền thực hiện tại phòng thí nghiệm Vi Trùng và Miễn Dịch Bộ Môn Thú Y Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Cần Thơ, từ ngày 15 tháng 03 năm 2008 đến ngày 15 tháng 05 năm 2008
Trang 4Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô Trường Đại Học CầnThơ, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tạitrường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Thầy Lưu Hữu Mãnh, Thầy Phạm Hoàng Dũng, người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tôi và tập thể lớp THÚ Y 02 K29 trong suốt 5 năm học
Tôi xin chân thành biết ơn cô Trần Thị Phận đã tận tình hướng dẫn, yêu thương, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại phòng thí nghiệm và thực hiện
đề tài
Xin gởi lời cảm ơn đến:
Ban Giám Đốc Công Ty TNHH TM & DV SONG MINH đã giúp đỡ, tạo điềukiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Chị Nguyễn Thu Tâm đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.Các bạn lớp Thú Y K29 đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Sau cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn đến Hội Đồng Đánh Giá Luận Văn đã đọc vàxem xét đề tài này
Xin chân thành cảm ơn!
Đỗ Thái Điền
Trang 5Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH - BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ v
TÓM LƯỢC vi
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 Lịch sử nghề nuôi cá tra 3
2.2 Đặc điểm sinh học của cá tra 4
2.2.1 Hình thái 4
2.2.2 Sinh lý 5
2.2.3 Phân bố 5
2.3 Điều kiện và nguyên nhân phát sinh bệnh 6
2.4 Một số nghiên cứu về vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh trên cá da trơn 8
2.4.1 Những nghiên cứu ngoài nước 8
2.4.2 Những nghiên cứu trong nước 9
2.5 Sơ lược về bệnh nhiễm trùng máu trên cá da trơn 9
2.5.1 Lịch sử bệnh 10
2.5.2 Tác hại của bệnh 9
2.5.3 Tác nhân gây bệnh 10
2.5.3.1 Phân loại 10
2.5.3.2 Đặc tính sinh hoá 11
2.5.3.3 Sức đề kháng 12
2.5.4 Một số đặc điểm dịch tễ 13
2.5.4.1 Mùa vụ xuất hiện bệnh 13
2.5.4.2 Đường lây lan 14
Trang 6Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.5.4.3 Đường xâm nhiễm vào ký chủ 14
2.5.4.4 Đối tượng nhiễm bệnh 15
2.5.4.5 Triệu chứng 15
2.5.4.6 Bệnh tích 16
2.5.4.7 Chẩn đoán 16
2.5.4.8 Điều trị 16
Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 17
3.1 Phương tiện thí nghiệm 17
3.1.1 Địa điểm 17
3.1.2 Thời gian 17
3.1.3 Hoá chất 17
3.1.4 Môi trường nuôi cấy vi khuẩn 17
3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 17
3.1.6 Thiết bị thí nghiệm 17
3.1.7 Các loại kháng sinh 18
3.2 Phương pháp thí nghiệm 18
3.2.1 Cách lấy mẫu 18
3.2.2 Cách bảo quản mẫu 18
3.2.3 Thời gian và số lượng thu mẫu 18
3.2.4 Phương pháp phân tích vi khuẩn 18
3.2.4.1 Phương pháp lấy bệnh phẩm 18
3.2.4.2 Làm thuần vi khuẩn 18
3.2.4.3 Kiểm tra các đặc tính sinh hoá 18
3.2.5 Phương pháp kiểm tra tính nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh .22
3.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 22
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
Trang 7Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4.1 Kết quả khảo sát cá bệnh có biểu hiện bệnh tích trên thận theo địa điểm
nuôi 23
4.2 Kết quả khảo sát cá bệnh có biểu hiện bệnh tích trên thận theo giai đoạn nuôi 24
4.3 Kết quả phân lập vi khuẩn Edwardsiella spp trên cá tra bệnh 25
4.4 Kết quả phân lập vi khuẩn Edwardsiella spp dựa vào bệnh tích trên thận 26
4.5 Kết quả kiểm tra sự nhạy cảm đối với kháng sinh 27
4.6 Kết quả kiểm tra tính đa kháng kháng sinh của các chủng E ictaluri 29
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31
5.1 Kết luận 31
5.2 Đề nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ CHƯƠNG 36
Trang 8Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Sản lượng cá bột vớt ngoài tự nhiên theo năm 4
Bảng 2.2 Các loài cá được báo cáo là nhạy cảm đối với Edwardsiella ictaluri .15
Bảng 3.1 Đặc tính sinh hoá của E ictaluri 20
Bảng 3.2 Bảng tiêu chuẩn phân tích đường kính vòng vô khuẩn (Trường Đại Học Y Dược Tp HCM, 2002) 37
Bảng 4.1 Tỉ lệ cá bệnh có biểu hiện bệnh tích trên thận theo địa điểm nuôi 23
Bảng 4.2 Tỉ lệ cá bệnh có biểu hiện bệnh tích trên thận theo giai đoạn 25
Bảng 4.3 Tỉ lệ nhiễm Edwardsiella spp trên cá tra bệnh theo giai đoạn 26
Bảng 4.4 Tỉ lệ nhiễm Edwardsiella spp trên cá Tra theo bệnh tích trên thận 26
Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra sự nhạy cảm đối với kháng sinh của các chủng E ictaluri phân lập được 27
Bảng 4.6 Tính đa kháng kháng sinh của các chủng E ictaluri 29
Trang 9Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC HÌNH - BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ
Trang
Hình 2.1 Sự phân bố của cá tra (Pangasius hypophthalmus) 6
Hình 2.2 Mối quan hệ giữa mầm bệnh - ký chủ - môi trường 7
Hình 1.Thử nghiệm lysine decarboxylase của E ictaluri 39
Hình 2 Thử nghiệm oxy hoá – lên men của E ictaluri 39
Hình 3 Thử nghiệm khả năng biến dưỡng citrate 39
Hình 4 Thử nghiệm TSI của E ictaluri 39
Hình 5 Thử nghiệm sinh Indol của E ictaluri 40
Hình 6 Thử nghiệm Voges – Proskauer 40
Hình 7 Thử nghiệm lên men đường Maltose 40
Hình 8 Thử nghiệm lên men đường Manitol 40
Hình 9 Vi khuẩn E ictaluri dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại E 100 40
Hình 10 Kết quả kiểm tra sự nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh 41
Hình 11 Bệnh tích xuất huyết ở mặt bụng trên cá tra nhiễm E ictaluri 41
Hình 12 Bệnh tích trên thận cá nhiễm E ictaluri 41
Hình 13 Bệnh tích xuất huyết mặt bên của cá tra nhiễm E ictaluri 41
Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ cá có biểu hiện thận mủ theo địa điểm nuôi 25
Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ nhạy cảm của các chủng E ictaluri đối với kháng sinh 29
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ phân lập vi khuẩn 20
Trang 10Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM LƯỢC
Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là một trong những đối tượng nuôi trồng
thủy sản có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, trong thời gian gần đây xuất hiện một số bệnh gây hại trên cá tra làm ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng của đối tượng
này, đặc biệt là bệnh gan thận mủ do Edwardsiella spp gây ra Bằng phương pháp
lấy mẫu ngẫu nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài thu thập được 60 mẫu cá Trong
đó có 26/60 mẫu có biểu hiện bệnh tích thận mủ (43,33%) Trong 26 mẫu cá có biểu
hiện bệnh tích thận mủ thì có 20/26 (77%) mẫu nhiễm Edwardsiella ictaluri, không
có mẫu cá nào nhiễm Edwardsiella tarda Các mẫu cá bệnh không có biểu hiện bệnh tích thận mủ qua phân lập không thấy có sự hiện diện của Edwardsiella spp
Tỉ lệ nhiễm Edwardsiella ictaluri trên tổng số mẫu thu được là 20/60 (33,33%).
Trang 11Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là một trong những đối tượng nuôi trồng
thủy sản đang được phát triển với tốc độ nhanh tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), với các đặc tính như: dễ nuôi, tăng trọng nhanh, kích thước lớn, thịt thơm ngon, được nhiều người ưa chuộng… Do đó, cá tra có giá trị xuất khẩu rất cao Trong năm 2007, cả nước xuất khẩu được 380.000 tấn cá thành phẩm (tương đương 1 triệu tấn cá nguyên liệu) đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỉ USD, tăng hơn 34%
so với năm 2006 Về diện tích, theo số liệu thống kê đến tháng 8 năm 2007 toànvùng có diện tích nuôi cá tra, basa trên 5.600 ha, so với năm 2000 diện tích tăng gấp
10 lần và còn tiếp tục tăng trong những năm tới (Chu Mã, Thạch Phùng, 2007) Theo trình bày của Phân Viện Thủy Sản Phía Nam, mục tiêu đến năm 2010, ĐBSCL có 10.200 ha nuôi cá tra, basa và tăng lên 16.000 ha vào năm 2020 Nếutrước đây, cá tra được nuôi tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, thì nay Trà Vinh, Bến Tre cũng đang phát triển diện tích ao nuôi cá tra với tốc độ rất nhanh
Tuy sản lượng đều tăng qua các năm, song điều đáng lưu tâm nhất hiện nay làtình trạng ô nhiễm môi trường và sử dụng thuốc, hoá chất tràn lan làm ảnh hưởngđến sức khoẻ con người, chất lượng sản phẩm và làm cho dịch bệnh thường xuyên xảy ra Nguyên nhân có thể kể đến là trong quá trình nuôi thâm canh, cá được nuôi với mật độ cao, lượng thức ăn dư thừa lớn (1 ha nuôi cá tra cần lượng thức ăn 450-
600 tấn thức ăn/vụ nuôi), quản lý chất lượng nước chưa tốt, trình độ kỹ thuật cònthấp, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, sử dụng hoá chất không hợp lý Đặc biệt là cáckhâu như: quản lý chất lượng con giống, quản lý dịch bệnh, các biện pháp an toànsinh học chưa được quan tâm đúng mức, cộng với ý thức của người dân chưa cao
về việc bảo vệ môi trường xung quanh
Các bệnh thường xuyên xảy ra trên cá tra như: đốm đỏ, trắng da, vàng da, phùđầu, phù mắt trong đó phải kể đến bệnh gan thận mủ gây ra do vi khuẩn
Edwardsiella ictaluri (Hawke, 1979) là phổ biến, gây thiệt hại kinh tế đáng kể Khi
cá nhiễm bệnh tỉ lệ chết cao từ 10-90%, tùy thuộc vào cách quản lý và cỡ cá nuôi (Từ Thanh Dung, 2005) Đầu năm 2006 các tỉnh An Giang, Đồng Tháp cá chết dobệnh gan thận mủ lên đến 60% (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Việt Nam, 2006)
Vì vậy, xác định được tác nhân cụ thể gây ra sự bộc phát bệnh và sau đó tìm ra thuốc điều trị hữu hiệu là quan trọng Xuất phát từ thực tế trên, được sự phân công
Trang 12Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
của Bộ Môn Thú Y, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học
Cần Thơ, tôi thực hiện đề tài “PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH SỰ NHẠY CẢM VỚI
KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN Edwardsiella spp TRÊN CÁ TRA TẠI
QUẬN Ô MÔN - TP CẦN THƠ” Với mục tiêu đề tài:
- Xác định tỉ lệ nhiễm Edwardsiella spp trên cá tra.
- Xác định tính nhạy cảm của Edwardsiella spp với một số loại thuốc kháng
sinh
Trang 13Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Lịch sử nghề nuôi cá tra
Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng Nam Bộ và đối tượng nuôi chính là cá tra Tài liệu thống kê của tỉnh An Giang cho thấy năm 1985 có hơn 90% diện tích ao nuôi cá ở nông thôn của tỉnh lúc bấy giờ là nuôi cá tra Từ trước những năm 1970, kỹ thuật nuôi còn hạn chế, thì nghề nuôi cá còn mang tính chất đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, các đối tượng khác rất ít Hiện nay nuôi cá tra và basa đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ
ở Nam Bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi các đối tượng này Nuôi thương phẩm thâm canh cho năng suất rất cao, cá tra nuôi trong ao đạt tới 200-300 tấn/ha
Nghề nuôi cá tra bè được bắt nguồn từ Biển Hồ (Tonlesap) của Campuchia được một số kiều dân Việt Nam hồi hương áp dụng khởi đầu từ vùng Châu Đốc, Tân Châu thuộc tỉnh An Giang và Hồng Ngự thuộc tỉnh Ðồng Tháp vào khoảng cuối thập niên 50 của thế kỷ trước Dần dần nhờ cải tiến, bổ sung kinh nghiệm cũng như kỹ thuật nuôi mà nghề nuôi cá tra bè đã trở thành một nghề hoàn chỉnh và vững chắc Ðồng Bằng Sông Cửu Long có hơn 50% số tỉnh nuôi cá bè, nhưng tập trung nhất là hai tỉnh An Giang và Ðồng Tháp Cá tra và basa nuôi trong bè có thể đạt tới 100–300 kg/m3 bè
Nguồn giống cá tra và basa trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào vớt trong tự nhiên Hàng năm vào khoảng đầu tháng 5 âm lịch, khi nước mưa từ thượng nguồn sông Mekong bắt đầu đổ về thì ngư dân vùng Tân Châu (An Giang) và Hồng Ngự (Ðồng Tháp) dùng một loại lưới hình phễu gọi là “đáy” để vớt cá bột Cá tra bột được chuyển về ao để ương nuôi thành cá giống cỡ 7-10cm và được vận chuyển đi bán cho người nuôi trong ao và bè khắp vùng Nam Bộ Khu vực ương nuôi cá giống tập trung chủ yếu ở các địa phương như Tân Châu, Châu Đốc, Hồng Ngự, các cù lao trên sông Tiền như Long Khánh, Phú Thuận
Trong những thập niên 60-70 của thế kỷ 20, sản lượng cá bột vớt mỗi năm từ 500-800 triệu con và cá giống ương nuôi được từ 70-120 triệu con Sản lượng vớt cá bột ngày càng giảm do biến động của điều kiện môi trường và sự khai thác quá mức của con người
Tháng 5 năm 1995, áp dụng thành công công nghệ tạo giống nhân tạo cho cá tra và basa Từ đó, con giống với số lượng lớn và chi phí thấp được cung cấp
Trang 14Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thường xuyên cho nông dân Từ khi chúng ta mở rộng xuất khẩu và con cá tra, cá Basa tìm được thị trường thì nghề nuôi cá tra và basa như bước sang một trang mới Cùng với thành công sản xuất đủ nhu cầu giống cá tra và basa nhân tạo, nghề nuôi
cá tra và basa trong bè cũng như trong ao phát triển mạnh mẽ, sản lượng cá thịt tăng lên đột biến trong 3 năm trở lại đây
2.2 Đặc điểm sinh học của cá tra
Cá tra thuộc bộ cá Nheo Siluriformes, gồm khoảng 2.500 đến 3.000 loài cá
khác nhau, phân bố trong các thủy vực nước ngọt, mặn và lợ trên khắp thế giới Các loài cá này được xếp vào các họ cá khác nhau, trong đó có họ cá Nheo Mỹ
Ictaluridae và họ cá da trơn Châu Á Pangasiidae Cá tra (Pangasius hypophthalmus) và cá Basa (Pangasius bocourti) được nuôi phổ biến ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long là 2 trong 28 loài thuộc họ cá da trơn Châu Á Pangasiidae, trong
đó chiếm đa số là giống Pangasius Các loài cá thuộc họ Pangasiidae được tìm thấy
chủ yếu ở vùng nước ngọt, tập trung chủ yếu ở các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam
Theo Roberts và Vidthayanon (1991) cá tra thuộc:
Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae Giống: Pangasius Loài: Pangasius hypophthalmus
2.2.1 Hình thái
Đầu rộng, dẹp bằng, miệng giữa, rộng ngang, không co duỗi được, môi mỏng, mõm ngắn, có hai đôi râu, mắt lớn hình cầu, phần trán giữa hai mắt rộng, cong lồi Thân thon dài, dẹp bên, bụng thon, mặt sau của gai vi lưng và vi ngực có răng cưa
Bảng 2.1 Sản lượng cá bột vớt ngoài tự nhiên theo năm
Năm Vớt ngoài tự nhiên(triệu con) Ương nhân tạo(triệu con)
Trang 15Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Màu sắc: mặt lưng của thân và đầu màu xanh đen, mặt bụng có màu trắng đục, các vi màu trắng trong
2.2.2 Sinh lý
Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ,
có thể chịu đựng được nước phèn với pH >5, pH thích hợp cho cá từ 7-8, nhiệt độ thích hợp 26-30oC, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15oC, nhưng chịu nóng tới 39oC
Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác Cá có thể
hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan,
ao tù nước đọng, nhiều chất hữu cơ
Cá tra là loài cá ăn tạp, thức ăn chủ yếu là thực vật, rau quả, động vật thân mềm… Tuy nhiên, thức ăn có nguồn gốc từ động vật giúp cá sinh trưởng và phát triển nhanh hơn
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, giai đoạn nhỏ cá tăng trưởng nhanh về chiều dài Cá ương trong ao, sau 2 tháng đạt chiều dài 10-12cm (14-15g) Trong ao nuôi sau một năm cá có thể đạt trọng lượng 1-1,5kg/con (Dương Nhựt Long, 2003)
Thời gian thành thục tính dục đối với cá tra nuôi khoảng 3 năm tuổi đối với
cá cái, 2 năm tuổi đối với cá đực, tuổi thành thục tính dục của cá ngoài tự nhiên chưa được biết rõ (Van Zalinge và cs., 2002) Cá tra cái mỗi lần đẻ khoảng 100.000 trứng/1kg thể trọng và đẻ trứng bốn lần trong năm Sau khi đẻ, trứng của cá tra trôi dạt theo dòng nước về vùng hạ lưu sông Mekong
2.2.3 Phân bố
Khu vực sinh sống tự nhiên của cá tra chủ yếu ở hạ lưu sông Mekong, bao gồm Campuchia, Lào, Việt Nam và sông Chao Praya Thái Lan, (Roberts vàVidthayanon, 1991; Poulsen và cs., 2004) Ở sông Mekong, sự di trú ngược dòng của cá trưởng thành bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 2 năm sau, khi mực nước sông giảm xuống thấp trong mùa khô Khi mùa mưa bắt đầu, sự di trú xuôi dòng bắt nguồn từ Khone Falls vùng biên giới giữa Lào và Campuchia xuống ĐBSCL (Poulsen và cs., 2004) Trong mùa khô, cá tra trưởng thành chủ yếu trú ngụ trong các ao Khi mùa lũ về cá tra có nguồn thức ăn phong phú và vùng sinh sống rộng lớn hơn (Poulsen và cs., 2004)
Trang 16Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cá tra đẻ trứng vào đầu mùa mưa, trên nhánh sông chính của sông Mekong, khu vực để tự nhiên của cá tra được biết bắt đầu từ Kratie đến Stung Treng phía Bắc Campuchia
2.3 Điều kiện và nguyên nhân phát sinh bệnh
Bệnh là sự thay đổi bất thường một bộ phận cơ quan nào đó của cơ thể hoặc sự xáo trộn tình trạng sức khoẻ của cá dẫn đến rối loạn chức năng sinh lý của chúng.Bệnh xuất hiện là do sự tác động của 3 yếu tố chính: mầm bệnh - ký chủ - môi trường Bệnh xảy ra khi có sự mất cân bằng của 3 yếu tố trên Trong mối quan hệ giữa 3 yếu tố này, yếu tố môi trường giữ vai trò quan trọng, nó điều khiển mối quan
hệ giữa vật chủ và mầm bệnh theo hướng có lợi hoặc bất lợi Khi môi trường sống
Hình 2.1 Sự phân bố của cá tra(Pangasius hypophthalmus)
Nguồn: Poulsen, 2004 Ghi chú: Màu đỏ thể hiện vùng phân bố
Trang 17Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
có những thay đổi bất lợi cho cá, cá sẽ bị suy yếu, sức đề kháng giảm Từ đó, các tác nhân gây bệnh có cơ hội phát triển, tấn công và gây bệnh cho cá
Cá tra phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường, những biến đổi môi trường trong ao nuôi thường gây shock cho cá, các yếu tố đó bao gồm: nhiệt độ, pH, lượng oxy hoà tan… Ngoài ra, các yếu tố khác cũng làm cho cá bị shock như: đánh bắt, vận chuyển, nhốt giữ cá… Tất cả các nguyên nhân trên đều có thể gây cho cá chậm lớn, tăng tính mẫn cảm đối với mầm bệnh thậm chí là làm cá chết
Bên cạnh đó, phải kể đến các nguyên nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng… luôn tồn tại trong môi trường sống của cá khi gặp điều kiện thuận lợi thì chúng phát triển về số lượng và gây bệnh cho cá
Bệnh do dinh dưỡng cũng cần được quan tâm Bởi vì, sự tăng trưởng chậm, tỉ
lệ chết cao, sức sinh sản kém… có thể là do nguyên nhân thiếu dưỡng chất, cũng như một số yếu tố vi lượng khác trong khẩu phần
Trong đó, vi khuẩn là một trong những tác nhân gây bệnh khá quan trọng Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh có trong môi trường nước, chúng có thể là tác nhân gây bệnh thứ cấp hoặc là tác nhân gây bệnh cơ hội Một số ít loài vi khuẩn là tác nhân khởi phát, gây bệnh khi có tác động các yếu tố môi trường Tỉ lệ chết do nhiễm khuẩn có thể lên đến 100%, bệnh có thể xảy ra dưới dạng mạn tính, bán cấp tính và cấp tính
Trang 18Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.4 Một số nghiên cứu về vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh trên cá da
trơn
2.4.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Hawke (1979) lần đầu tiên báo cáo về bệnh nhiễm trùng máu trên cá da trơn (Enteric Septicemia of catfish) tại Georgia và Alabama (Mỹ) Bệnh gây tỉ lệ chết lên đến 50% Đặc tính sinh hoá của vi khuẩn gây ra bệnh được Hawke và cs (1981) miêu tả lần đầu tiên, với những nghiên cứu sâu hơn được Waltman và cs (1986)thực hiện
Rogers (1981) sử dụng phản ứng enzyme-linked immunosorbant assay
(ELISA) để phát hiện vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
Plumb và Sanchez (1983) đã gây cảm nhiễm vi khuẩn với các loài cá khác
nhau như: cá nheo trắng (White Catfish, Ictalurus catur), cá kiếm xanh (Green Knifefish, Eigemannia virens), cá bống nâu (Brown Bullhead, Ictalurus nebulosus),
cá rô phi (Tilapia, Tilapia mossambica) và xác định Edwardsiella ictaluri có khả
năng gây bệnh cho các loài cá này Trong khi, cá mè hoa (Largemouth bass,
Micropterus salmoides), cá chép (Bighead carp, Aristichthys nobilis) đều có đề
kháng tự nhiên đối với Edwardsiella ictaluri.
Kasornchandra và cs (1986) đã phân lập được vi khuẩn Edwardsiella
ictaluri trên cá trê (Clarias batrachus) tại Thái Lan.
Ainsworth và cs (1986) sử dụng phản ứng kháng thể huỳnh quang
(Flourescent antibody) để phát hiện vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.
Francis-Floyed (1987) cho rằng vi khuẩn gây nhiễm trên cá nheo đốm(Channel catfish) với tỉ lệ chết cao nhất ở 25oC, tỉ lệ thấp hơn ở 23oC và 28oC, không gây chết ở 17oC, 21oC và 32oC Mức độ chết do vi khuẩn gây ra khác nhau từ 10-50% tùy vào điều kiện nuôi, kích cỡ cá, cách quản lý và mật độ nuôi
Shott và Waltman (1990) phát triển một môi trường phân lập chọn lọc vi
khuẩn có tên Edwardsiella ictaluri Agar (EIA).
Booth (2006) đã nghiên cứu vai trò quan trọng của enzyme urease giúp vi khuẩn tồn tại và phát triển trong môi trường có tính acid và giải thích tại sao trong các phản ứng sinh hoá chuẩn của vi khuẩn lại cho kết quả kiểm tra urease âm tính
Trang 19Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.4.2 Những nghiên cứu trong nước
Ferguson và cs (2001) đã báo cáo bệnh gây ra do Edwardsiella ictaluri trên
cá tra xuất hiện ở ĐBSCL vào thời điểm cuối năm 1998 và không tìm thấy bệnh xuất hiện trên cá Basa
Từ Thanh Dung và cs (2003) đã xác định nguyên nhân gây bệnh gan thận
mủ trên cá tra nuôi thâm canh ở các tỉnh ĐBSCL Tác giả kết luận, nguyên nhân
chính gây ra bệnh là do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
Crumlish và cs (2006) đã điều tra mức độ nhiễm Edwardsiella ictaluri trên
cá tra nuôi tại tỉnh An Giang Kết quả có đến 55% số hộ nuôi có cá tra bị nhiễmbệnh
Nguyễn Đình Thu và cs (2007) đã nghiên cứu sản xuất vaccine bằng vi
khuẩn Edwardsiella ictaluri được làm bất hoạt bằng formalin.
Trương Thy Hồ và cs (2007) đã tiến hành phân lập và kiểm tra sự nhạy cảm đối với các loại kháng sinh Tác giả thấy rằng vi khuẩn nhạy cảm đối với 6 loại kháng sinh gồm: Ciprofoxacine, Amoxicillin, Ampicillin, Florfenicol, Doxycline và Oxytetracicline
2.5 Sơ lược về bệnh nhiễm trùng máu do Edwardsiella spp trên cá da trơn
2.5.1 Lịch sử bệnh
Bệnh nhiễm trùng máu trên cá da trơn (Enteric Septicemia of catfish), ở các
tỉnh ĐBSCL thường gọi với tên bệnh gan thận mủ Bệnh do vi khuẩn Edwardsiella
ictaluri gây ra, lần đầu tiên phân lập vi khuẩn trên cá nheo đốm (Channel catfish) và
trở thành bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên cá da trơn đặc biệt là vùng Đông Nam nước Mỹ (Hawke, 1979) Ở Việt Nam, bệnh đã được ghi nhận lần đầu tiên ở ĐBSCL vào cuối 1998 tại các tỉnh nuôi cá tra thâm canh phát triển như An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ Bệnh có tên là Bacillary Necrosis of Pangasius (BNP) Sau
đó, bệnh lan truyền đến các vùng có nuôi cá tra lân cận Đặc biệt, những năm gần đây bệnh này cũng xuất hiện ở các tỉnh mới phát triển nuôi cá tra như Trà Vinh, Bến Tre và Sóc Trăng (Từ Thanh Dung, 2005) Cedric Komar và Zilong Tan (2003) đã
phân lập được vi khuẩn Edwardsiella ictaluri trên cá tra nuôi bè ở Việt Nam, cá với
những dấu hiệu bệnh lý như có nhiều nốt mủ trắng trên gan (Từ Thanh Dung, 2005)
Trang 20Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.5.2 Tác hại của bệnh
Bệnh nhiễm trùng máu của cá da trơn (Enteric septicaemia of catfish) là bệnh có tính truyền nhiễm cao ở cá nuôi thương phẩm miền Đông Nam nước Mỹ và cũng là nguyên nhân gây ra những vụ dịch bệnh với tỉ lệ chết từ 10-50% (Valerie Inglis và cs., 1993)
Bệnh gan thận mủ cũng gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế đối với cá tranuôi thâm canh ở Việt Nam, khi cá mắc bệnh tỉ lệ chết có thể lên đến 90% (Từ Thanh Dung, 2005) Đầu năm 2006 ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp cá chết do bệnh gan thận mủ lên đến 60% (Tài nguyên và môi trường Việt Nam, 2006) Kết quả điều tra tại tỉnh An Giang có đến 55% hộ nuôi cá tra bị nhiễm bệnh gan thận
mủ, không tìm thấy tác nhân gây bệnh nào khác trong quá trình bệnh bùng phát trong ao và bè nuôi (Crumlish và cs., 2006)
2.5.3 Tác nhân gây bệnh
2.5.3.1 Phân loại
Giống Edwardsiella có liên quan yếu với các thành viên khác trong họ
Enterobacteriaceae Sự khác biệt này bao gồm từ các đặc tính sinh hoá, các đặc
điểm sinh lý, môi trường sống ngoài tự nhiên và các đặc tính sinh bệnh học Loài
phổ biến nhất của giống Edwardsiella là Edwardsiella tarda, đã được miêu tả năm
1965 (Ewing và cs., 1965) Edwardsiella tarda được phân lập nhiều nhất trên môi trường nước ngọt và trên cá, con người thỉnh thoảng bị nhiễm Edwardsiella tarda
nhưng thường gặp những trường hợp bệnh nghiêm trọng Thường thấy nhất
Edwardsiella tarda gây viêm ruột dạ dày dạng cấp tính, tiêu chảy dạng phân lỏng,
kiết lỵ cũng thường xảy ra Đối với bệnh nhân bị tổn thương hệ miễn dịch, người
lớn tuổi, trẻ em thường bị nhiễm Edwardsiella tarda Nhiễm bệnh dạng bên ngoài
đường tiêu hoá như nhiễm trùng máu với tỉ lệ tử vong tương đương 50% (Janda và
cs., 1993) Ngoại lệ, E tarda cũng được tìm thấy gây ra viêm màng não, viêm phúc mạc, viêm tủy và abscess ở gan (Janda và cs., 1993) Năm 1980, loài Edwardsiella thứ hai được công bố và được gọi tên là E hoshinae (Grimont và cs., 1980),
Edwardsiella hoshinae cũng được phân lập từ phân người, chim, bò sát và trong
môi trường nước, vai trò gây bệnh cho người và động vật thì chưa được xác định
Loài Edwardsiella thứ ba được công bố 1981 và được gọi tên là E ictaluri (Hawke
và cs., 1981) E ictaluri có các đặc tính, phát triển tốt ở nhiệt độ thấp, thường được
phân lập trên cá nheo đốm (channel catfish) (Farmer và cs., 1984) Trường hợp con
người bị nhiễm E ictaluri chưa được báo cáo Tuy nhiên, tính nguy hiểm liên quan đến một số đặc tính như, E ictaluri có thể xâm nhập, tồn tại và nhân lên bên trong
Trang 21Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đại thực bào của vật chủ trong nghiên cứu in vitro (Booth, 2006) Một thành phần quan trọng của màng vi khuẩn là O-polysaccharide (OPS), có khả năng đề kháng với miễn dịch qua trung gian tế bào (Lawrence và cs., 2001; Lawrence và cs., 2003)
là nguy cơ tìm tàng gây bệnh cho con người
Hai loài của giống Edwardsiella gây bệnh cho cá là: Edwardsiella tarda và
Edwardsiella ictaluri, chủ yếu ở cá nuôi vùng nước ngọt E tarda là tác nhân gây
nhiễm trùng máu ở cá Ngoài cá nheo đốm (Channel catfish, Ictalurus punctatus) và lương Nhật Bản (Japanese eel, Anguilla japonica) là hai loài cảm nhiễm nhất đối với Edwardsiella tarda còn có một số loài cá khác kể cả cá nước ngọt và cá biển, ở
một số vùng như: Bắc Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Châu Phi và một số vùng
khác Bệnh còn phổ biến ở nhiều loài thú sống dưới nước E tarda có khả năng tồn
tại trong nước ao nuôi và trong bùn, đây là nguồn gây tái nhiễm trở lại cho cá nuôi
Cá bệnh do E tarda được chế biến làm thức ăn cho con người đây là nguyên nhân
gây viêm ruột dạ dày và một số bệnh khác cho con người (Valerie Inglis và cs., 1993)
Edwardsiella ictaluri là tác nhân chính gây bệnh gan thận mủ trên cá tra ở
Việt Nam, chủ yếu ở các tỉnh ĐBSCL
2.5.3.2 Đặc tính sinh hoá
Đặc tính sinh hoá của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri, được Hawke và cs
(1981) miêu tả lần đầu tiên, với những nghiên cứu sâu hơn được Waltman và cs
(1986), Plumb và cs (1989) thực hiện E ictaluri Gram âm là thành viên của họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, có các đặc tính sinh hoá gần giống E tarda
và Yersinia ruckeri Edwardsiella ictaluri có kích thước vào khoảng 0,75 x 2,5 µm,
di động ở 26oC là nhờ vào lông rung Khuẩn lạc bóng, tròn phát triển trên brain heart infusion (BHI) agar hoặc Trypticase Soy Agar (TSA) sau 48 giờ ủ ở 25–30oC, khuẩn lạc có kích thước khoảng 2mm Nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn phát triển vào khoảng 25–30oC, khoảng nhiệt độ này trùng hợp với nhiệt độ của môi trường
mà cá thường xảy ra bệnh 22–28oC (Francis-Floyd, 1987) Cytochrome oxidase âm tính, khử nitrate thành nitrite, không sinh sắc tố Cho kết quả dương tính đối với lysine và ornithine decarboxylase và lên men glucose Cho kết quả âm tính đối với indole, citrate, protease, esterase, pectinase, chitinase, lipase, alginase, collagenase,
hyaluronidase và nhiều carbohydrate khác Ewardsilla ictaluri không có các
enzyme như: protease, lipase, esterase, pectinase, alginase, collagenase, chitinase,
hyaluronidase và hầu hết các enzyme ngoại bào Tuy vậy, E ictaluri có khả năng
làm thoái hoá chondroitin sulfate, nhờ vào enzyme chondroitinase Chondroitin
Trang 22Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
sulfate là một thành phần quan trọng trong cấu trúc của xương sụn Khả năng này được xem là nguyên nhân chính của bệnh tích “hole-in-the-head” (một lỗ thủng
giữa trán xuyên qua xương sọ) tìm thấy trên cá da trơn bị nhiễm E ictaluri Nghiên
cứu trên những bệnh tích này cho thấy, xung quanh khu vực viêm phát hiện có sự thoái hoá xương sụn và tế bào vi khuẩn (Blazer, 1985)
Edwardsiella ictaluri được báo cáo urease âm tính trong các phản ứng
sinh hoá chuẩn nhưng Booth (2006) đã mô tả một gen mã hoá urease của vi khuẩnđóng vai trò quan trọng trong sự phát sinh bệnh ở cá da trơn
Enzyme urease của E ictaluri có khoảng 67,1-91,2% acid amin gần giống với enzyme urease của Yersinia enterocolitica, là một acid được hoạt hoá với
pH tối hảo khoảng 3-4, điều này chứng minh được tại sao E ictaluri có urease âm
tính trong kiểm tra sinh hoá thông thường (Booth, 2006)
Edwardsiella ictaluri có khả năng gây dung huyết Nhưng dấu hiệu của
sự dung huyết chỉ xuất hiện một vùng hẹp xung quanh khuẩn lạc (Waltman và cs., 1985)
2.5.3.3 Sức đề kháng
Enzyme urease của Edwardsiella ictaluri có tác dụng tạo ra một đám mây
ammonia xung quanh tế bào Do đó, bảo vệ vi khuẩn trong môi trường có tính acid (Booth, 2006)
Enzyme urease xúc tác sự thủy phân của urea, thuộc nhóm enzyme cấutrúc, hiện diện thường xuyên trong tế bào, không phụ thuộc vào sự hiện diện hay không của cơ chất là urea Urease cũng đóng vai trò quan trọng trong tính sinh bệnh
học của một số vi khuẩn khác như: Helicobacter pylori, Klebsiella pneumoniae,
Proteus mirabilis và E coli O157:H7 (Booth, 2006) Urease của vi khuẩn có tác
dụng thủy phân urea tạo ra ammonia và carbamate Carbamate tự phân ly thànhammonia và acid carbonic Acid carbonic phân ly trong nước tạo thành ion H+ Khi
đó, có đến hai phân tử ammonia được tạo ra trong cả quá trình Kết quả của quátrình này làm cho pH môi trường tăng lên (Booth, 2006)
Trang 23Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Khoảng nhiệt độ thích hợp cho bệnh nhiễm trùng máu trên cá da trơn (Enteric Septicemia of catfish) thường xuất hiện là từ 22-28oC Cùng thời gian này,
sự phát triển của thực vật thủy sinh và quá trình hô hấp vào ban đêm làm cho pH nước ao nuôi dễ dàng giảm xuống pH = 5,5 hoặc thấp hơn đặc biệt vào lúc sángsớm bởi vì hàm lượng carbon dioxide được thải ra vào ban đêm Carbon dioxide đóng vai trò như là một acid trong nước theo quá trình sau
Sự ion hoá này diễn ra liên tục kết quả là tích tụ ion H+ làm cho pH giảm
Edwardsiella ictaluri được thải ra môi trường qua phân Vì vậy, vi khuẩn phải có
khả năng tồn tại ngoài môi trường đủ lâu để gây nhiễm cho cá thể khác Trong điềukiện pH acid nhẹ của ao nuôi có tác dụng kích thích hệ thống kháng acid của vi khuẩn như là enzyme urease
Trong dạ dày và ruột non của cá da trơn pH vào khoảng pH = 3-4 Cho
nên, Edwardsiella ictaluri phải có đủ khả năng tồn tại trong quá trình đi qua ống
tiêu hoá, nơi mà pH tương đối thấp
Booth (2006) đã chứng minh được E ictaluri có thể xâm nhập, tồn tại và
nhân lên bên trong đại thực bào của cá da trơn trong nghiên cứu in vitro (trong ốngnghiệm)
Tóm lại, khả năng đề kháng hoặc trung hoà môi trường acid có tác dụngrất lớn trong quá trình tồn tại của vi khuẩn trong môi trường acid của đại thực bàonơi mà pH từ 4-5 (Miyazaki và Plumb, 1985)
Edwardsiella ictaluri có khả năng phát triển trên các môi trường khác
nhau như MacConkey Agar và Salmonella-Shigella Agar, điều này chứng tỏ vi khuẩn có khả năng đề kháng với tác động của muối mật Tuy nhiên, khả năng chịu được nồng độ muối cao lại kém, vi khuẩn không thể phát triển được ở môi trường dinh dưỡng có nồng độ muối khoảng 2-3% Đây là một yếu tố thuận lợi cần được chú ý tận dụng để khống chế bệnh (Waltman và cs., 1985)
2.5.4 Một số đặc điểm dịch tễ
2.5.4.1 Mùa vụ xuất hiện bệnh
Nhiệt độ nước ở ĐBSCL dao động 26-28oC là điều kiện thích hợp cho vi
khuẩn Edwardsiella ictaluri phát triển (Trương Quốc Phú, 2004) Ở ĐBSCL bệnh
thường xuất hiện vào tháng 5 và phát triển mạnh nhất vào khoảng tháng 7 đến tháng
H2O + CO2 → H2CO3
H2CO3 → H+ + HCO-3
Trang 24Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
10 rồi giảm xuống ở các tháng còn lại Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây bệnh xuất hiện trên cá tra hầu như quanh năm (Từ Thanh Dung, 2005)
2.5.4.2 Đường lây lan
Những cá còn sống sau khi bị bệnh có thể mang vi khuẩn trong não, thận
và gan trong một thời gian dài hơn 200 ngày Edwardsiella ictaluri có thể sống hơn
95 ngày ở 25oC trong lớp bùn đáy ao nuôi (Hawke, 1998) Đây là nguồn vi khuẩngây bệnh trở lại cho cá nuôi
Cá bệnh thải mầm bệnh vào môi trường nước qua phân, những cá khỏe
ăn thịt những cá chết làm cho mầm bệnh dễ dàng lây lan từ cá thể này sang cá thểkhác
Loài chim có thể mang mầm bệnh trên cơ thể chúng do tiếp xúc vớinguồn bệnh trong quá trình kiếm ăn hoặc mang những con cá bệnh từ ao nuôi nàysang ao nuôi khác, bằng cách này mầm bệnh được lan truyền cho những vùng khác
mà chúng đi qua Edwardsiella ictaluri có thể lây lan qua dụng cụ đánh bắt cá được
mang từ ao này sang ao khác (Hawke, 1998)
Sự lây lan mầm bệnh có thể xảy ra thông qua việc thả thêm cá bị nhiễm bệnh vào ao nuôi cá khoẻ hoặc thả nuôi cá vào trong ao có những cá bệnh không phát hiện triệu chứng
2.5.4.3 Đường xâm nhiễm vào ký chủ
Edwardsiella ictaluri có thể lây nhiễm cho cá qua hai con đường Thứ
nhất, vi khuẩn trong nước có thể xâm nhập qua đường mũi, di trú vào trong thần kinh khứu giác và sau đó đến não (Miyazaki và Plumb, 1985) Từ màng não vi khuẩn đến xương sọ và da, gây nên bệnh tích “hole-in-the-head” (một lỗ thủng giữa trán xuyên qua xương sọ) Thứ hai, vi khuẩn được cá nuốt vào sau đó đi xuyên qua màng ruột và gây ra nhiễm trùng máu Bằng con đường này vi khuẩn định cư ở các mao mạch nằm dưới biểu bì, đây là nguyên nhân gây nên hoại tử và mất sắc tố da (Valeric Inglis và cs., 1993)
Edwardsiella ictaluri có khả năng lan truyền nhanh chóng từ lòng ruột
đến các cơ quan nội tạng là do chúng có khả năng di chuyển xuyên qua thành mạch như là một sinh vật tự do hoặc vi khuẩn di chuyển theo kiểu nằm bên trong bạch cầu (Shotts và Blazer., 1985)
Trang 25Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.5.4.4 Đối tượng nhiễm bệnh
Edwardsiella ictaluri có hạn chế về loài mẫn cảm hơn Edwardsiella tarda Bên cạnh cá nheo đốm (Channel catfish, Ictalurus punctatus), bệnh còn thấy
trên thấy trên cá nheo xanh (blue catfish, Ictalurus furcatus), cá nheo trắng (white catfish, Ictalurus melas) và các loài cá cảnh khác tại Mỹ (Waltman và cs., 1985)
Edwardsiella ictaluri cũng được phân lập trên cá trê (Clarias batrachus) tại Thái
Lan (Kasornchandra và cs., 1987)
Edwardsiella ictaluri chủ yếu gây bệnh trên cá tra, thỉnh thoảng xuất hiện
trên cá Basa, xuất hiện trên tất cả các giai đoạn phát triển của cá, tỉ lệ chết cao nhất
ở cá giống nhưng gây thiệt hại kinh tế cao nhất ở giai đoạn cá lứa cỡ 300-500g (Từ Thanh Dung, 2003)
2.5.4.5 Triệu chứng
Bệnh thể hiện ở 2 dạng, nhiễm trùng máu cấp tính và bệnh mạn tính Ởthể mạn tính điểm nổi bật của bệnh là bệnh tích “hole-in-the-head” (một lỗ thủng giữa trán xuyên qua xương sọ) (Shotts và Blazer, 1985; Valerie Inglis, 1993) Thông thường ở dạng cấp tính gây ra nhiễm trùng máu cấp tính Những yếu tố môi
trường thuận lợi cho sự phát triển nhanh của E ictaluri và các yếu tố gây stress tác
động đến cá là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây ra bệnh Dấu hiệu bệnh lý thay đổi tùy theo kích cỡ cá, mật độ nuôi và nhiệt độ nước (Hawke, 1979; MacMillan,1985) Cá nhiễm bệnh thường bơi lờ đờ trên mặt nước, bơi vòng tròn hoặc bơi theo kiểu thẳng đứng đầu phía trên đuôi phía dưới, những cá có biểu hiện trên đều chết Thông thường cá bỏ ăn trong một thời gian ngắn sau khi nhiễm bệnh (Jarboe và cs.,1984; Blazer và cs., 1985), điều này đã làm vô hiệu hóa cách triều trị bằng thức ăn trộn với thuốc đối với những cá bệnh
Bảng 2.2 Các loài cá được báo cáo là nhạy cảm đối với Edwardsiella ictaluri
Nguồn: Valerie Inglis và cs., 1993
Tên Thông Thường Tên Khoa Học
Cá nheo đốm Ictalurus punctatus
Cá bống nâu Ictalurus nebulosus
Cá nheo xanh Ictalurus furcatus
Danio Danio devario
Cá kiếm xanh Eigemannia virens
Cá trê Clarias batrachus
Cá nheo trắng Ictalurus catus