1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại một số vấn đề KHI áp DỤNG HÌNH PHẠT đối với NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM tội THEO LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM HIỆN HÀNH

87 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hậu quả pháp lý của việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ...50 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH

Trang 1

BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA 2009 - 2013

Đề tài:

MSSV: 5095464 Lớp: Luật Thương mại 3 – K35

Cần Thơ, tháng 5 năm 2013

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHI ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

HIỆN HÀNH

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH PHẠT VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 4

1.1 Vài nét về hình phạt 4

1.1.1 Khái niệm hình phạt 4

1.1.2 Đặc điểm của hình phạt 5

1.1.3 Mục đích của hình phạt 8

1.1.4 Các loại hình phạt 10

1.2 Khái quát về người chưa thành niên phạm tội 11

1.2.1 Khái niệm người chưa thành niên 11

1.2.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội 12

1.2.3 Đặc điểm tâm – sinh lý của người chưa thành niên phạm tội 16

1.2.3.1 Đặc điểm về sinh lý của người chưa thành niên phạm tội 16

1.2.3.2 Đặc điểm về tâm lý của người chưa thành niên phạm tội 17

1.4 Lịch sử phát triển của chế định người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam 18

1.5 Quy định về người chưa thành niên phạm tội ở một số nước trên thế giới 25

Trang 5

CHƯƠNG 2 HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 30

2.1 Nguyên tắc xử lý khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 30

2.2 Các loại hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội .36

2.2.1 Hình phạt cảnh cáo 36

2.2.2 Hình phạt tiền 37

2.2.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ 39

2.2.4 Hình phạt tù có thời hạn 41

2.3 Vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên pham nhiều tội 43

2.4 Vấn đề giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội 48

2.5 Hậu quả pháp lý của việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 50

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 54

3.1 Tình trạng chưa thành niên phạm tội ngày càng gia tăng 54

3.2 Một số bất cập về việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 58

3.2.1 Vấn đề áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa được Bộ luật Hình sự hiện hành quy định 58

3.2.2 Hình phạt tù áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội tại Điều 74 Bộ luật Hình sự hiện hành vào thực tiễn còn nhiều điều phải bàn luận 61

3.2.3 Sự bất lợi đối với người chưa thành niên phạm tội khi Bộ luật Hình sự hiện hành chưa có quy định riêng về quyết định hình phạt nhẹ hơn đối với họ 64

Trang 6

3.2.4 Bộ luật Hình sự hiện hành chưa có quy định về tổng hợp hình phạt trongtrường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội, trong đó tất cả các tội phạm đềuđược thực hiện khi chưa đủ 18 tuổi và tổng hợp mức hình phạt chưa phù hợp với cáctội phạm mà người chưa thành niên thực hiện 65 3.2.5 Sự chênh lệch giữa các hình phạt khi áp dụng đối với người chưa thành niênphạm tội 66

3.3 Một số kiến nghị để hoàn thiện vấn đề áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 67

3.3.1 Bộ luật Hình sự cần quy định vấn đề giảm nhẹ hình phạt đối với người chưathành niên phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt 673.3.2 Khắc phục hạn chế về hình phạt tù có thời hạn tại Điều 74 683.3.3 Giải pháp hoàn thiện về quyết định hình phạt nhẹ hơn cho người chưa thànhniên phạm tội 713.3.4 Bộ luật Hình sự hiện hành cần có quy định về tổng hợp hình phạt trongtrường hợp họ phạm tội, trong đó tất cả các tội phạm đều được thực hiện khi chưa đủ

18 tuổi và quy định hợp lý hơn về mức hình phạt khi tổng hợp hình phạt đối vớingười chưa thành niên phạm tội 723.3.5 Hình phạt cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ cần được áp dụngnhiều hơn đối với người chưa thành niên phạm tội 74

KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế hệ trẻ, thế hệ thanh thiếu niên hay cụ thể hơn là những người chưa thành niênchính là chủ nhân tương lai của đất nước Họ nắm giữ vẫn mệnh của đất nước trong tay,hành động của họ quyết định sự phát triển hay suy thoái của một quốc gia Để một quốcgia phát triển giàu mạnh với một nền xã hội văn minh thì ngay từ đầu phải tạo cho ngườichưa thành niên có những suy nghĩ, hướng đi và mục tiêu đúng đắn

Từ khi gia nhập Liên Hiệp quốc, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động tham gia cácCông ước quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em như Công ước về Quyền trẻ em 1989, Nguyêntắc tối thiểu chuẩn về quản lý người chưa thành niên (Nguyên tắc Bắc Kinh) 1985…Đồng thời nội luật hóa, xây dựng chính sách pháp luật phù hợp như Luật Bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em; Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Bộ luật Hình sự; Bộ luật Dânsự; Luật hôn nhân và gia đình…với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em cũngnhư quy định trách nhiệm của cha mẹ, gia đình và các tổ chức xã hội

Tuy nhiên, một hiện tượng đang xảy ra phổ biến tại các nước trên thế giới là tìnhhình người chưa thành niên phạm tội ngày càng gia tăng Các nước đang nỗ lực tìm cáchđảm bảo hệ thống tư pháp đối với người chưa thành niên phải tuân thủ theo đúng phápluật quốc tế về quyền con người Để tính công bằng và nghiêm khắc của pháp luật hình

sự cũng như yêu cầu bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất, thì vấn đề xử phạt người chưathành niên phạm tội luôn là yêu cầu cấp thiết đặt ra với mỗi quốc gia Đặc biệt vấn nạnngười chưa thành niên phạm tội ngày càng có xu hướng tăng nhanh qua mỗi năm VàViệt Nam cũng nằm trong tình trạng đó

Thấy được điều này, các nhà làm luật từ đầu đã đề ra những quy định riêng biệtđược áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm giúp họ sửa chữa sai lầm và

có hướng đi đúng đắn về sau, cụ thể là Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam năm 1985

đã dành hẳn một chương (Chương XVII – Những quy định đối với người chưa thành niênphạm tội) để quy định về vấn đề người chưa thành niên phạm tội và kế thừa những quyđịnh đó Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng đã tiếp thu và phát huy tại Chương X Bộ luậtHình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 cũng dành một chương giống như Bộ luậtHình sự năm 1999, với mục đích phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng phạm tội do ngườichưa thành niên gây ra Tuy nhiên, những chính sách pháp luật đó khi được áp dụng lại làmột vấn đề cần phải bàn, có những quy định không còn phù hợp với thực tế hiện nay,nhiều quy định chưa rõ ràng dẫn đến việc áp dụng không thống nhất đặc biệt là vấn đề áp

Trang 8

dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Chính vì vậy, người viết chọn đề

tài “Một số vấn đề khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo

luật hình sự Việt Nam hiện hành” nhằm mục đích tìm hiểu vấn đề trên Từ đó người

viết đưa ra các giải pháp khắc phục những bất cập vấp phải và góp phần hoàn thiệnnhững quy định của pháp luật hình sự hiện về người chưa thành niên phạm tội

2 Mục tiêu nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu đề tài là người viết sẽ tìm hiểu những kiến thức chungnhất về người chưa thành niên phạm tội và những quy định đối với người chưa thànhniên phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành; tìm hiểu chínhsách xử lý của Đảng và Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội, đặc biệt làviệc áp dụng hình phạt đối với họ Đồng thời, tìm hiểu việc áp dụng những quy định nàytrong thực tiễn Từ đó, người viết đưa ra một số kiến nghị cụ thể để góp phần hoàn thiệnpháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội, tìm ra các giải pháp nhằm cải thiệntrong vấn đề áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, luận văn có phạm vi nghên cứu những vấn đề lýluận và thực tiễn xoay quanh việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạmtheo Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành Cụ thể nội dung nghiên cứu bao gồm: Lý luậnchung về hình phạt và người chưa thành niên phạm tội, những quy định của Bộ luật Hình

sự hiện hành đối với người chưa thành niên phạm tội và phân tích, đánh giá những bấtcập của việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Từ đó đề xuấtnhững giải pháp thiết thực để khắc phục những bất cập và góp phần hoàn thiện nhữngquy định của pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được những mục đích đã đặt ra, người viết đã sử dụng một số phương phápnghiên cứu như: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp phân tích tổng hợp,phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu lý luận trên sách

vở, phương pháp sưu tầm và phân tích số liệu

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dungchính của đề tài gồm 3 chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Lý luận chung về hình phạt và người chưa thành niên phạm tội

Trang 9

Chương 2: Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sựViệt Nam hiện hành.

Chương 3: Một số bất cập và kiến nghị để hoàn thiện việc áp dụng hình phạt đốivới người chưa thành niên phạm tội theo luật Hình sự Việt Nam hiện hành

Trang 10

Pháp luật bao trùm lên mọi mặt của đời sống, nó tác động ít nhiều đến mọi người,các hành vi của họ đều chịu sự chi phối của pháp luật Nếu có hành vi nguy hiểm làm gâyhại đến các quan hệ xã hội sẽ được pháp luật bảo vệ và trừng trị những hành vi đó Diễnbiến về tình hình tội phạm luôn được sự quan tâm sâu sát của Nhà nước ta khi mà đấtnước đang thay đổi từng ngày Trong các chủ thể của tội phạm, có một chủ thể đặc biệt

đó là người chưa thành niên, khi chủ thể này phạm tội sẽ có những hình thức xử lý khácnhau đó là các biện pháp tư pháp và mang tính nghiêm khắc hơn đó là những hình phạtđược pháp luật hình sự điều chỉnh bằng những quy định riêng Những quy định riêng đónhư thế nào mà chỉ có người chưa thành niên phạm tội mới được áp dụng, để hiểu rõ hơn

trước tiên phải tìm hiểu về nền móng cơ bản của của vấn đề đó là “Lý luận chung về

hình phạt và người chưa thành niên phạm tội”.

1.1 Vài nét về hình phạt

1.1.1 Khái niệm hình phạt

Những vấn đề lý luận về khái niệm hình phạt trong luật hình sự, khi tiếp cận cầnphải phân biệt khái niệm hình phạt trong cả hai lĩnh vực thể hiện của nó – trong pháp

luật hình sự thực định và trong lý luận luật hình sự.

Trong pháp luật hình sự thực định của Việt Nam thời kì từ sau Cách mạng thángTám đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai (1945 – 1999), thì định nghĩa pháp lý củakhái niệm hình phạt chưa được ghi nhận về mặt lập pháp Chỉ có sau khi pháp điển hóalần thứ hai, với việc thông qua bộ luật hình sự năm 1999 thì định nghĩa pháp lý của kháiniệm hình phạt lần đầu tiên mới được nhà làm luật chính thức ghi nhận trong pháp luậthình Việt Nam

Trang 11

Trong lý luận luật hình sự, từ trước đến nay, khoa học luật hình sự của các nước

và của Việt Nam xung quanh khái niệm hình phạt, giữa các nhà hình sự học vẫn còn tồntại nhiều ý kiến khác nhau mà vẫn chưa có một quan điểm thống nhất, chẳng hạn:

- Trong khoa học luật hình sự Liên Xô trước đây và hiện nay là Liên bang Nga cócác quan điểm coi luật hình sự là : a) Biện pháp cưỡng chế tòa án do Tòa án nhân danhNhà nước áp dụng với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm nhằm mục đích ngănngừa chung và ngăn ngừa riêng; b) Sự trừng trị, tức là gây thiệt hại cho người có tộinhững sự đau đớn và những sự tước đoạt do luật định mà người đó phải chịu; c) Mộttrong những biện pháp đấu tranh chống tội phạm mà nội dung của nó là kết hợp thuyếtphục với cưỡng chế.1

- Trong khoa học luật hình sự Việt Nam có một số quan điểm coi hình phạt là : a)Biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong luật hình sự doTòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và mụcđích nhất định với mục đích là cải tạo giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm,bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (Đỗ NgọcQuang); b) Biện pháp cưỡng chế do Tòa án quyết định trong bản án đối với người có lỗitrong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền,lợi ích do luật quy định đối với người bị kết án (Võ Khánh Vinh); c) Theo Nguyễn Ngọc

Hòa và Lê Thị Sơn “ Biện pháp cưỡng chế nhà nước được luật hình sự quy định và do

Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm trừng trị, giáo dục họ, cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”.2

Tổng kết tất cả các quan điểm trên đây về khái niệm hình phạt, Bộ luật Hình sựnăm 1999 được sửa đổi, bổ sung 2009 đã đưa ra khái niệm hình phạt được quy định cụthể tại đoạn 1 Điều 26 như sau:

“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ

quyền hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội

1.1.2 Đặc điểm của hình phạt

Từ định nghĩa khoa học nói trên về khái niệm hình phạt cho thấy, hình phạt cónhững đặc điểm dấu hiệu cơ bản dưới đây:

1 Lê Cảm, Hình phạt và hệ thống hình phạt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14,2007,

http://tholaw.wordpress.com/2009/07/26/hinhphatvahethonghinhphat/, [truy cập ngày 22/12/2012]

2 Lê Cảm, Hình phạt và hệ thống hình phạt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14,2007,

http://tholaw.wordpress.com/2009/07/26/hinhphatvahethonghinhphat/, [truy cập ngày 22/12/2012]

Trang 12

- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất so với tất cả các biện phápcưỡng chế về hình sự khác của Nhà nước.

Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện qua sự tước bỏ các quyền và lợi ích củangười bị kết án như quyền tự do, quyền chính trị, quyền sở hữu, thậm chí cả quyền sống.Bên cạnh đó, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án hậu quả pháp lý là án tíchtrong một thời gian do luật định

Xét về nội dung, thì bất cứ hình phạt nào cũng chứa đựng trong đó là sự tước bỏ

và hạn chế nhất định (về thể chất, về tinh thần) cho người bị áp dụng Thuộc tính tồn tại

tự nhiên của hình phạt là sự trừng trị

Khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, Nhà nước, một mặt trừng trị họ;mặt khác, lên án họ cùng với hành vi phạm tội đã thực hiện và thông qua đó nhằm đạtmục đích của hình phạt Ở các chế độ xã hội khác nhau thì tính chất của hình phạt cũngkhác nhau

- Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự

Nhiệm vụ quan trọng nhất của luật hình sự là đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm mà công cụ để thể hiện nhiệm vụ này là hình phạt Vì vậy, hình phạt là một trongnhững chế định quan trọng nhất của luật hình sự và được quy định trong Bộ luật Hình sự.Hình phạt khi được áp dụng nghĩa là tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của ngườiphạm tội, ảnh hưởng rất lớn đến số phận của họ Để là cơ sở pháp lý vững chắc, tránh tùytiện trong áp dụng, hình phạt cũng như tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự, cógiá trị pháp lý chỉ sau Hiến pháp, quy định Điều 26 Bộ luật Hình sự hiện hành nêu rõ:

“Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự…” Quy định này biểu hiện sinh động

sự quán triệt tinh thần của chính sách hình sự nước ta trong việc quy định và áp dụnghình phạt Tinh thần đó thể hiện ở chỗ ngoài những hình phạt được quy định trong Bộluật Hình sự, không một biện pháp cưỡng chế nào được áp dụng với tính chất là hìnhphạt Đó chính là sự biểu hiện của sự tuân thủ triệt để nguyên tắc pháp chế trong xâydựng và áp dụng luật hình sự

Hình phạt được luật hình sự quy định ở cả phần chung và phần các tội phạm cụthể Phần chung quy định khái niệm, mục đích, hệ thống hình phạt và các vấn đề có liên

Trang 13

quan đến việc quyết định hình phạt Phần các tội phạm cụ thể quy định các loại và mứchình phạt cụ thể cho từng hành vi phạm tội.3

- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế được áp dụng theo trình tự riêng Cơ quan duynhất có quyền nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là Tòa án

Các dấu hiệu nguy hiểm cho xã hội của hành vi; tính trái pháp luật hình sự và tính

có lỗi của người phạm tội luôn gắn liền với tính chịu hình phạt Do vậy, cùng với việcxác định hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm thì cũng đòi hỏi phải quy định loại vàmức hình phạt cho người có hành vi phạm tội trong đó

Trong mọi trường hợp không được áp dụng hình phạt đối với những hành vikhông được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm và tất nhiên cũng không được áp dụngmột loại hình phạt nào đó nếu hình phạt ấy không được quy định trong hệ thống hìnhphạt hoặc không được quy định trong chế tài của điều luật mà hành vi bị xử phạt thỏamãn

Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Toà án nhân dân tối cao, các Toà án

nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đây là những cơ quan có

quyền nhân danh Nhà nước tuyên một người là có tội và áp dụng hình phạt đối với họ.Ngoài Tòa án không có cơ quan nào khác có thẩm quyền quyết định hình phạt 4 Hìnhphạt phải và chỉ được quy định trong pháp luật hình sự, đồng thời được Tòa án áp dụngtheo một trình tự đặc biệt do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định

- Hình phạt nhằm mục đích tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do của người bị kết án.Tuy nhiên, việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do ấy không thể chung chung mà phảiđược ghi nhận một cách cụ thể trong pháp luật Hình sự và được thể hiện rõ ràng trongbản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án

- Hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội Với tínhchất là một dạng của trách nhiệm hình sự và một hình thức để thực hiện trách nhiệm hình

sự, hình phạt chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội

3 Phạm Văn Beo, Giáo trình luật Hình sự Việt Nam quyển 1 (Phần Chung), NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009,

Trang 336, 337

4 Nguyễn Ngọc Hòa, Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập 1), NXB công an nhân dân, Hà Nội, 2006 Trang 220,

221

Trang 14

Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam là trách nhiệm hình

sự chỉ đặt ra đối với cá nhân người phạm tội Do đó, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối vớingười đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm

Dựa trên đặc điểm này có thể thấy hình phạt không thể áp dụng cho các thành viêntrong gia đình cũng như những người thân khác của người phạm tội, kể cả trong trườnghợp người phạm tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Cũng theo đặc điểm này, luậthình sự Việt Nam không cho phép chấp hành hình phạt thay cho người phạm tội cho dù

sự chấp hành thay này là hoàn toàn tự nguyện

1.1.3 Mục đích của hình phạt

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc biệt đảm bảo cho luật hình sự thựchiện được nhiệm vụ đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi sựxâm hại được pháp luật bảo vệ Nhưng hình phạt không thể ảnh hưởng trực tiếp đếnnhững điều kiện và nguyên nhân làm phát sinh tội phạm Hình phạt với nội dung là sựtước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích của người phạm tội có những ảnh hưởng,những tác động nhất định đến người phạm tội cũng như những người khác trong xã hộitheo những hướng khác nhau, tùy thuộc vào việc hình phạt được quy định cũng như được

áp dụng như thế nào Luật hình sự cần có những tác động như vậy của hình phạt phải đạtđược những kết quả trực tiếp hay những mục đích nhất định Và khái quát vấn đề mục

đích của hình phạt Điều 27 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định như sau: “Hình phạt

không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho

xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”.

Mục đích của hình phạt có ý nghĩa quan trọng không chỉ về lý luận mà đặc biệt cả

về thực tiễn Với những quan điểm khác nhau về mục đích của hình phạt có thể sẽ cónhững quy định khác nhau về hệ thống hình phạt, về quyết định hình phạt trong quy địnhcủa luật cũng như quan điểm khác nhau về áp dụng hình phạt trong thực tiễn

Mục đích của hình phạt là trừng trị, hình phạt trước hết là nhằm trừng trị ngườiphạm tội Nếu hình phạt không có mục đích trừng trị, thì cũng không còn là hình phạtnữa Tuy nhiên, nội dung của việc trừng trị không phải luật nội dung nào cũng quy địnhnhư nhau mà tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước mà các biện pháp trừngtrị có thể khác nhau Giáo trình đại học của các cơ sở đào tạo khác nhau, các tác giả đều

Trang 15

thống nhất coi trừng trị là mục đích của hình phạt5 Ngược lại, hiện nay, khi bàn đến mụcđích của hình phạt, có một số luật gia, một số nhà khoa học pháp lý không thừa nhận hìnhphạt trong luật hình sự nước ta có mục đích trừng trị mà chỉ thừa nhận trừng trị là bảnchất, là thuộc tính tất yếu của hình phạt.

Khẳng định mục đích của hình phạt “không chỉ trừng phạt người phạm tội…”

theo Bộ luật Hình sự hiện hành thì không thể không thừa nhận mục đích trừng trị củahình phạt Tất nhiên, nội dung trừng trị đã khác và tiến bộ hơn so với nội dung trừng trịcủa hình phạt trong luật hình sự của các nhà nước bóc lột và nội dung này còn được thayđổi theo sự phát triển của xã hội

Theo tinh thần Điều 27 Bộ luật Hình sự hiện hành, mục đích của hình phạt là ngănngừa tội phạm theo hai hướng với cơ chế và nội dung khác nhau: Ngăn ngừa người bị ápdụng hình phạt phạm tội lại và ngăn ngừa người khác phạm tội

-Mục đích ngăn ngừa người bị áp dụng hình phạt phạm tội lại (ngăn ngừa riêng)bao gồm: răn đe người bị áp dụng hình phạt, giáo dục người bị áp dụng hình phạt và hạnchế (có thể là loại trừ) điều kiện phạm tội lại Với nội dung là sự hạn chế, là sự tước bỏnhững quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng hình phạt, là biện pháp đặc biệt đểrăn đe và để giáo dục (bằng tác động cưỡng chế nhà nước) người bị kết án, ngăn ngừa họphạm tội lại Hình phạt còn là biện pháp đặc biệt để hạn chế (có thể đến loại trừ) điềukiện phạm tội lại của người bị kết án Răn đe bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêmkhắc nhất được hiểu là nội dung của trừng trị- một trong những mục đích của hình phạtđược luật quy định Trừng trị là mục đích nhưng đồng thời cũng là phương tiện để đạtđược mục đích khác, mục đích cuối cùng và chủ yếu của hình phạt đối với người phạmtội là giáo dục họ Trừng trị và giáo dục người phạm tội là hai mục đích không tách rờinhau mà có quan hệ mật thiết với nhau Trừng trị là tạo cơ sở để giáo dục; giáo dục là sựphát huy tính tích cực của trừng trị

- Mục đích ngăn ngừa người khác phạm tội (ngăn ngừa chung) được đặt ra trướchết đối với những người “không vững vàng” trong xã hội Hình phạt khi được quy định

và khi được áp dụng cho người phạm tội cụ thể không chỉ tác động đến chính bản thân họ

mà còn tác động đến cả những người khác trong xã hội Đối với họ hình phạt có mục đíchrăn đe, kiềm chế không để họ phạm tội Qua sự răn đe như vậy, hình phạt nhằm mục đíchthức tỉnh, giáo dục những người này thấy được sự cần thiết tuân theo pháp luật và các

5 Trường Đại học luật Hà Nội, Hình phạt và hệ thống hình phạt, NXB công an nhân dân, Hà Nội, 2008, trang 30

Trang 16

quy tắc của cuộc sống xã hội, từ bỏ ý định phạm tội và thận trọng hơn trong xử sự đểtránh hành vi của mình trở thành hành vi phạm tội.

Mục đích của hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm Nội dung của mục đích này không nhằm vào ngườiphạm tội mà nhằm vào cộng đồng xã hội, có tính chất răn đe phòng ngừa Mọi ngườinhìn vào hình phạt để có những hành động đúng đắn, tôn trọng pháp luật, nếu không họcũng có thể bị xử phạt như những người phạm tội, đồng thời nhắc nhở mọi người trongcộng đồng xã hội không nên phạm tội

Tóm lại, các mục đích nêu trên của hình phạt được đặt ra cho hình phạt nói chungcòn đối với hình phạt cụ thể cũng như các trường hợp cụ thể yêu cầu của mục đích này cóthể khác nhau Các mục đích này của hình phạt đã phải được chú ý tới khi xây dựng luật.Nhưng mục đích này có thể đạt được hay không cơ bản còn phụ thuộc vào việc áp dụnghình phạt Hình phạt đã tuyên, một mặt phải thể hiện được đó là sự trừng phạt cần thiếtcủa Nhà nước đối với người đã có hành vi phạm tội, để có thể đủ răn đe được ngườiphạm tội và qua đó đủ răn đe những đối tượng khác, đặc biệt là những người có nguy cơphạm tội cao Mặt khác, hình phạt đã tuyên cũng phải đảm bảo được tính chất là biệnpháp, là phương tiện giáo dục người phạm tội có ý thức tuân thủ pháp luật cũng như giáodục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Như vậy,hình phạt đã tuyên phải thể hiện là sự kết hợp hợp lý giữa trừng trị và giáo dục cũng nhưgiữa ngăn ngừa chung và ngăn ngừa riêng

1.1.4 Các loại hình phạt

Trong luật hình sự Việt Nam nói riêng cũng như luật hình sự các nước nói chung,hình phạt luôn luôn tồn tại với ý nghĩa là hệ thống các hình phạt cụ thể Hệ thống đó phảnánh chính sách hình sự của Nhà nước cũng như thể hiện quan niệm của Nhà nước về bảnchất và mục đích của hình phạt Các hình phạt được sắp xếp theo một trật tự nhất địnhtùy thuộc vào mức độ nghiêm khắc của mỗi loại hình phạt và theo thứ tự từ nhẹ đếnnặng Xuất phát từ quan niệm về hình phạt cũng như mục đích của hình phạt, luật hình sựViệt Nam đã xây dựng hệ thống hình phạt bao gồm 12 loại hình phạt khác nhau, trong đó

có bảy hình thuộc hình phạt chính và bảy hình phạt thuộc hình phạt bổ sung

Hình phạt chính là hình phạt được tuyên độc lập, không phụ thuộc vào hình phạtvào bổ sung Mỗi tội phạm chỉ có thể bị tuyên một hình phạt chính, các hình phạt chínhhiện nay bao gồm:

- Cảnh cáo;

Trang 17

- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định;

- Cấm cư trú;

- Quản chế;

- Tước một số quyền công dân;

- Tịch thu tài sản;

- Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

- Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính

Hình phạt chính và hình phạt bổ sung tuy cùng là hình phạt nhưng là hai bộ phậncấu thành khác nhau của hệ thống hình phạt Hình phạt chính là bộ phận cơ bản có tínhchất quyết định của hệ thống hình phạt Hình phạt bổ sung chỉ là bộ phận kèm theo, phụthuộc hoàn toàn vào hình phạt chính, nhằm tăng cường, củng cố tác động của hình phạtchính

1.2 Khái quát về người chưa thành niên phạm tội

1.2.1 Khái niệm người chưa thành niên

Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhâncách, chưa có đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân Pháp luật ở mỗi quốc gia quyđịnh cụ thể về độ tuổi của người chưa thành niên

Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiếnpháp năm 1992, Bộ luật Hình sự hiện hành, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Bộ luật Dân sự

2005, Bộ luật Lao động, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy

Trang 18

phạm pháp luật khác Tất cả các văn bản pháp luật trên đều quy định tuổi của người chưathành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưathành niên trong từng lĩnh vực cụ thể.

- Trong Bộ luật Hình sự hiện hành, tại Điều 68 quy định: “Người chưa thành niên

từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”.

- Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, tại chương XXXII: Quy định về thủtục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội, cũng đề cập hai nhóm: Từ đủ 14 tuổiđến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

- Trong Bộ luật Dân sự năm 2005 , tại Điều 18 nói rõ: “Nguời từ đủ 18 tuổi trở lên

là nguời thành niên Nguời chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên.”

- Theo Điều 119 Bộ luật Lao động hiện hành thì: “Người lao động chưa thành

niên là người dưới 18 tuổi”.

- Tại Điều 7 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành quy định: “Người

chưa đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì phạt cảnh cáo Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính có thể bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này”.

Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng trên sự phát triển về mặtthể chất và tinh thần của con người được cụ thể hóa bằng giới hạn độ tuổi trong các vănbản pháp luật của từng quốc gia Theo đó, mỗi nước quy định những quyền và nghĩa vụ

cụ thể của người chưa thành

Như vậy, có thể đưa khái niệm về người chưa thành niên như sau: Người chưathành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa

có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người thành niên

1.2.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạmcác quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Về mặt nguyên tắc, mọi người phạm tội đềubình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thànhphần, địa vị xã hội Tuy nhiên, đối với trường hợp người phạm tội là người chưa thànhniên, Nhà nước có chính sách xử lý riêng, căn cứ vào đặc điểm đặc thù của sự phát triển

Trang 19

tâm sinh lý con người ở độ tuổi này cũng như đường lối, chính sách, pháp luật về bảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Để một người chưa thành niên được xem là người phạm tội thì trước hết họ phải làngười từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và thực hiện ít nhất một hành vi mà hành vi đó làhành vi trái pháp luật hình sự thì mới xem xét đến vấn đề họ có phải là người phạm tội

hay không theo như như quy định tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 1999: “Chỉ người nào

phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Tuy nhiên, không phải hành vi nào của người chưa thành niên vi phạm pháp luậthình sự thì đều được xem là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ có nhữngngười chưa thành niên thỏa điều kiện được quy định tại Điều 68 Bộ luật Hình sự năm

1999 thì mới xem xét có phải là người phạm tội hay không Điều 68 quy đinh: “Người

chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này.”.

Từ quy định trên, người chưa thành niên phạm tội là người thỏa các điều kiện dướiđây:

- Họ là người chưa thành niên, có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi;

- Đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự;

- Đã thực hiện hành vi mà luật hình sự quy định là tội phạm;

- Có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội

Trước hết, họ phải là người chưa thành niên Vấn đề này đã được người viết phântích ở mục 1.2.1 Để xem xét người chưa thành niên có phải là người phạm tội haykhông, cần xem xét thêm về độ tuổi Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được Bộ luật Hình sựhiện hành quy định tại Điều 12 là:

“Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định người chưa thành niên phạm tội thành hainhóm tuổi: nhóm thứ nhất, từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và nhóm thứ hai, nhóm từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi Ở nhóm tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm này phải chịu

Trang 20

trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm mà không cần biết họ phạm tội cô ý hay vô ý Vấn

đề cố ý phạm tội và vô ý phạm tội được quy định tai Điều 9 và Điều 10 Bộ luật Hình sựnăm 1999.6

Còn nhóm từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy địnhkhác hơn, theo đó người trong nhóm tuổi này phải chịu trách nhiệm hình sự với tội phạmrất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (bao gồm cố ý phạm tội và

vô ý phạm tội) Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng căn cứ vào lỗi và mức độ nguy hiểm củatội phạm để quyết định có tội hay không có tội đối với người chưa thành niên ở độ tuổi từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự

Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009, các quy định vềtuổi chịu trách nhiệm vẫn được giữ không thay đổi

Với mức độ nguy hiểm của tội phạm, Bộ luật Hình sự hiện hành quy định có sựphân định với những mức độ khác nhau cụ thể tại khoản 3 Điều 8 như sau:

“Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội

ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc

tử hình.”

6“Điều 9 Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra;

2 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Điều 10 Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1 Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.”

Trang 21

Điều kiện tiếp theo đồng thời với điều kiện đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự làngười chưa thành niên phạm tội phải có năng lực trách nhiệm hình sự Điều 13 Bộ luậtHình sự hiện hành quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như sau:

“Điều 13 Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2 Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Từ quy định trên, có thể rút ra được người có năng lực trách nhiệm hình sự làngười không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặckhả năng điều khiển hành vi của mình

Sau khi đáp ứng được các điều kiện trên (là người chưa thành niên, đủ tuổi chịutrách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự) và người đó phải có hành vi màhành vi đó được luật hình sự quy định là tội phạm thì mới được xem là người chưa thànhniên phạm tội Tức là người đó đã thực hiện ít nhất một hành vi nguy hiểm cho xã hội,xâm phạm đến các khách thể được Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành bảo vệ

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người chưa thành niên là người dưới 18tuổi Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, đã thựchiện hành vi phạm tội, thỏa mãn các điều kiện chủ thể của tội phạm, tức là họ phải cónăng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với trường hợp phạmtội rất nghiêm trọng do cố ý, đặc biệt nghiêm trọng hoặc từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

đối với mọi tội phạm Điều 68 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định: “Người chưa thành

niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” Như thế, theo tinh thần của điều luật và

những phân tích trên có thể đúc kết khái niệm về người chưa thành niên phạm tội với nộidung :

Trang 22

“Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi,

có năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm.”

Bàn về tội phạm do người chưa thành niên gây ra, Bùi Thành Chung đưa ra khái

niệm với nội dung như sau: “Tội phạm do người chưa thành niên gây ra là hành vi nguy

hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người dưới 18 tuổi và người đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi và lỗi của mình theo phán xét của cơ quan tiến hành tố tụng” 7 Ở đây, cần phân rõ hai khái niệm người chưa thành niên phạm tội và tộiphạm do người chưa thành niên gây ra

Hai khái niệm trên là hai khái niệm không đồng nhất Khái niệm người chưa thànhniên phạm tội là khái niệm để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên) thựchiện hành vi phạm tội, còn khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra là kháiniệm dùng để chỉ tội phạm đã được thực hiện bởi một dạng chủ thể đặc biệt (người chưathành niên)

1.2.3 Đặc điểm tâm – sinh lý của người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi và đang ở trong quá trình pháttriển để trở thành người lớn Dù thuộc giới tính nào, diễn biến tâm - sinh lý cũng cónhững điểm giống nhau do lứa tuổi, tất nhiên ở mỗi giới có thể có các biểu hiện ít nhiềukhác nhau

1.2.3.1 Đặc điểm về sinh lý của người chưa thành niên phạm tội

Về mặt sinh lý, người chưa thành niên thấy mình đã lớn bởi sự thay đổi các bộphận cơ thể dần được hoàn thiện, đặc biệt là họ đang ở giai đoạn mà ai cũng phải trãi quakhi trở thành người lớn – giai đoạn “dậy thì”, đang trong giai đoạn chuyển hóa từ trẻ emtrở thành nguời lớn Họ chú tâm vào bề ngoài của mình hơn trước, nên họ nói chung cảmthấy mình “người lớn hơn” Bởi vậy, họ luôn tìm cách tự khẳng định mình

Tư duy của người chưa thành niên cũng phát triển dần theo thời gian, lúc còn béthì họ tư duy theo đồ vật, các sự kiện cụ thể, cái đang tồn tại truớc mắt trong thực tại

7Truờng đại học cảnh sát nhân dân, Khái niệm nguời chưa thành niên và khái niệm tội phạm do nguời chưa thành

niên gây ra - cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí nguời chưa thành niên phạm tội, Bùi Thành Chung, http://www.pup.edu.vn/dien-dan-phap-luat/tim-hieu-phap-luat/20090312346.12, [truy

cập ngày 18/12/2012]

Trang 23

Càng về sau, họ được dẫn dắt tới một cách tư duy hoàn toàn mới mẻ Chẳng hạn , họ cókhả năng thực nghiệm được tư duy trừu tượng.

1.2.3.2 Đặc điểm về tâm lý của người chưa thành niên phạm tội

Hành vi phạm tội của người chưa thành niên luôn chịu sự chi phối của đời sốngtâm lý, đặc điểm cá nhân trong hoàn cảnh xã hội của họ Đối với con người, đặc trưng cơbản là hoạt động có ý thức, có mục đích Tội phạm được thực hiện do cố ý hoặc vô ýnhưng vẫn là hành vi của một chủ thể là con người có ý thức

Những phát triển mạnh mẽ về thể chất và sự hoàn thiện cơ bản của các chức năngsinh lý làm cho người chưa thành niên có ấn tượng sâu sắc rằng “mình không còn là trẻcon nữa” Đặc điểm tâm lý nổi bật, đặc trưng mà ta thường thấy ở lứa tuổi này là sự biểuhiện nhu cầu độc lập Nhu cầu độc lập là mong muốn tự hành động, tự đưa ra quyết địnhtheo cách phù hợp với nhận thức của bản thân hơn là để thỏa mãn đòi hỏi của xã hội, môitrường hay người khác Nhu cầu độc lập có thể được hiểu là việc cá nhân tự hành động vàquyết định theo ý kiến riêng mà không muốn bị ảnh hưởng của người khác

Sự hình thành và phát triển nhu cầu độc lập ở lứa tuổi này là sự phát triển tâm lý

có tính tất yếu của người chưa thành niên Họ muốn khẳng định những sự thay đổi rõ rệtcủa mình về nhân cách trên con đường trở thành người lớn Trong nhiều lĩnh vực của đờisống, họ không muốn phụ thuộc vào người lớn, trước hết là cha mẹ, ông bà và nhữngngười khác Người chưa thành niên suy nghĩ và hành động theo cách thức riêng củamình

Tìm hiểu, khám phá cái mới là một trong những nhu cầu của lứa tuổi này Họmuốn khám phá thế giới tự nhiên, khám phá cuộc sống xã hội xung quanh mình Họmuốn tiếp thu kinh nghiệm sống, kiến thức của những người lớn tuổi và những bạn bècùng lứa tuổi Trong bối cảnh phương tiện thông tin đại chúng phát triển mạnh mẽ vàhiện đại như ngày nay thì khao khát hiểu biết của người chưa thành niên không chỉ trongphạm vi của cuộc sống quanh mình, phạm vi của đất nước mình mà còn khám phá cuộcsống của các quốc gia khác Khám phá cái mới giúp người chưa thành niên nâng caonhận thức, hiểu biết của mình Đây là điều quan trọng đối với việc phát triển nhân cáchcủa họ Điều đáng lưu ý là họ không chỉ có nhu cầu khám phá cái mới mà còn tìm tòi, thửnghiệm cái mới, trong đó có cả những cái thiếu lành mạnh, trái với các chuẩn mực xã hội

Có thể nói, lứa tuổi chưa thành niên là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về mặt sinhhọc nhưng lại thiếu cân đối về mặt trí tuệ Đó là lứa tuổi mà kinh nghiệm trong cuộc sốngcòn quá ít ỏi, đặc biệt là khả năng nhận thức về pháp luật còn hạn chế Thực tế cho thấy,

Trang 24

những người chưa thành niên còn rất non nớt về kiến thức xã hội và kiến thức pháp luật.Nhận thức và quan điểm về pháp luật chưa hình thành đầy đủ hoặc bị lệch lạc theo cáchhiểu chủ quan của họ Vì vậy, nhiều người chưa thành niên thường thờ ơ, lãnh đạm đốivới các quy định của pháp luật và từ đấy dễ bước vào con đường phạm tội.8

Tóm lại, ở lứa tuổi này tâm - sinh lý của người chưa thành niên vô cùng phức tạp.

Ý thức bản thân rất non kém Ý thức đúng đắn giúp cho họ có những hành vi đúng đắn,cách cư xử hợp lý, tránh xa con đuờng phạm tội Hiểu được điều này, cần có nhữngngười dẫn đường giúp họ hình thành những hướng đi đúng đắn, phát huy những cái tốtđẹp và tranh xa cái xấu, cái sai từ đó tránh xa con đuờng phạm tội

1.3 Lịch sử phát triển của chế định người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam

Truớc những năm đầu thế kỷ XX thì vấn đề người chưa thành niên phạm tội chỉxuất hiện một cách mờ nhạt chưa được quy định trong một văn bản cụ thể nào

Ðến năm 1912 Bộ Hình luật canh cải ra đời áp dụng cho Nam phần Việt Nam.Theo Bộ luật này muốn quy định trách nhiệm của thiếu nhi từ 13 tuổi đến 18 tuổi, Tòa ánthụ lý trước hết phải đặt câu hỏi lương tri để biết bị can đã hành động có tri thức haythiếu tri thức Tất cả tùy thuộc vào câu hỏi này nếu Tòa xác nhận bị can đã hành động vôlương tri Tòa án sẽ miễn nghị và chỉ áp dụng biện pháp giáo hóa như giao trả cha mẹ haygiao cho một trại giáo hóa không vượt quá tuổi thành niên dân sự của bị can (Ðiều 66).Chỉ trong truờng hợp Tòa án xác nhận bị can hành động có lương tri, vấn đề áp dụng hìnhphạt mới đặt ra Nếu bị can thuộc loại tuổi từ 13 tuổi đến 16 tuổi thì họ được hưởng một

sự khoan miễn giảm tội nghĩa là được hưởng chế độ trách nhiệm giảm thiểu tính như sau:

a) Nếu hình phạt luật dự liệu cho tội phạm của bị can là tử hình hay khổ sai chung thân, thì họ chỉ phải chịu hình phạt giam từ 10 đến 20 năm, thi hành tại một trại trừng giới.

b) Nếu hình phạt luật dự liệu là khổ sai hữu hạn bị can thiếu nhi chỉ phải lãnh một hình phạt giam bằng 1/3 hay bằng một nữa hình phạt mà lẽ ra nguời đó phải lãnh nếu người đó đã thành niên (Ðiều 67)

8 Đặng Thanh Nga, Một số đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên phạm tội,

http://www.4-

shared.eu/download/eavciE9sAC3UjBV1Nrwm4h/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-%C4%91%E1%BA%B7c- th%C3%A0nh-ni%C3%AAn-ph%E1%BA%A1m-t%E1%BB%99i-ThS-Dang-Th.html, [truy cập ngày 6/2/2013]

Trang 25

%C4%91i%E1%BB%83m-t%C3%A2m-l%C3%AD-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ch%C6%B0a-c) Nếu bị can phạm một khinh tội 9 , hình phạt áp dụng cho y không quá một nữa hình phạt mà lẽ ra y phải lãnh nếu y đã trên 16 tuổi (Ðiều 69).

Những thiếu nhi từ 16 tuổi đến 18 tuổi nếu có hành động lương tri khi phạm pháp,không được hưởng sự khoan miễn giảm tội này chúng được đồng hóa với các can phạm

đã thành niên

Tại Trung phần Việt Nam, Bộ Hoàng Việt Hình luật (3/7/1933) Điều 85 quy định

có phần khác đôi chút về điểm b là trong trường hợp đứa trẻ hành động có lương tri vànếu hình phạt dự liệu là khổ sai hữu hạn hay cầm cố thì họ sẽ bị phạt giam từ 3 đến 10năm Các điểm a và c cũng giống Hình luật canh cải Tuy nhiên, tuổi vị thành niên hình

sự được tính đến 16 tuổi còn tại Trung phần (Điều 83) thay vì đến 18 tuổi như Nam phần

Ðến 1958 thì những vấn đề về tuổi chịu trách nhiệm hình sự được đề cập đến Ðạoluật ngày 3/7/1958 lập ra các tòa án thiếu nhi đã quy định một thủ tục xét xử có nhiều đặcđiểm khác thủ tục thường, nhằm mục đích bảo vệ bị can thiếu nhi Ðây là một thứ “đặcquyền tài phán” dành cho thiếu nhi về phương diện hình sự Ðạo luật 1958 đã chọn tuổi

13 làm tuổi tối thiểu để giới hạn tuổi chịu trách nhiệm hình sự của thiếu nhi Sự ấn địnhtuổi tối thiểu này được phòng theo luật đối chiếu, nhất là đạo chỉ vụ ngày 2/2/1954 củaPháp quốc

Nếu những người duới 13 tuổi đã được coi là hoàn toàn vô trách nhiệm truớc hìnhluật thì vấn đề trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra cho những nguời từ 13 tuổi đến 18 tuổi

Theo luật ngày 3/7/1958 (Ðiều 3 “Những người dưới 13 tuổi được coi là vô trách nhiệm

hoàn toàn về phương diện hình sự” Trong tất cả truờng hợp nào, dù họ phạm trọng tội

Tòa án cũng chỉ có thể áp dụng các biện pháp giáo hóa mà không thể phạt tù

Ðây là một điểm tiến bộ so với chế độ cũ Ðối với loại thiếu nhi từ 13 tuổi đến 18tuổi đạo luật 3/7/1958 không đá động gì đến câu hỏi lương tri và sự khoan miễn giảm tội

mà chỉ quy định như sau:“Nếu hoàn cảnh và cá nhân can phạm bắt buộc, tòa án thiếu

nhi có thể chiếu hình luật xét xử phạt tù vị thành niên trên 13 tuổi” (Ðiều 3)

Vấn đề về câu hỏi lương tri vì luật 1958 không sửa đổi các Điều 66 và Điều 67Hình luật canh cải, nên giai đoạn này xét xử nguời chưa thành niên phạm pháp vẫn đặtcâu hỏi lương tri và căn cứ vào đó mà định số phận của bị can Tòa phá án thời kì này

cho rằng: lý do là câu hỏi lương tri vẫn cần thiết “Vì luật 1958 không hề hủy bỏ Ðiều 66,

9Khinh tội là tội không đến nổi chết.

Trang 26

67 Hình luật canh cải” Nói tóm lại, đối với loại thiếu nhi từ 13 tuổi đến 18 tuổi đạo luật

11/1958 vẫn giữ nguyên chế độ cũ với thủ tục đặt câu hỏi lương tri

Giai đoạn này, cả trong trường hợp bị cáo có tội, Tòa án xét xử những người chưa

đủ 18 tuổi có thể áp dụng biện pháp giáo hóa Ðiều 15 luật 1958 có nêu:

“Nếu xét thiếu nhi có tội, Tòa án sẽ phán quyết có viện dẫn lý do, áp dụng một trong những biện pháp sau đây: giao cho cha mẹ hay người giám hộ, giao cho một hội phuớc thiện, giao cho một cơ quan giáo hóa hay đưa vào một trại hướng nghiệp”.

Như vậy, lẽ ra theo đúng tinh thần cải cách, hình phạt tù không phải còn áp dụngbắt buộc trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội ở giai đoạn này, và do đó thay

vì đặt câu hỏi lương tri như trước đây thì Tòa án chỉ đặt câu hỏi: “Có nên áp dụng cho bị

can một hình phạt theo hình luật hay không?” giống như các Tòa án thiếu nhi ở Pháp đã

làm Tinh thần của sự cải cách là muốn Tòa án áp dụng biện pháp giáo hóa trong đa sốtruờng hợp theo đúng quan niệm coi người chưa thành niên phạm pháp là những bệnhnhân cần chữa bệnh nhiều hơn là nguời phạm tội

Tuy có sửa đổi đôi chút so với luật cũ nhưng luật năm 1958 vẫn còn rất nhiềuđiểm thiếu sót cụ thể: đạo luật 1958 không sửa đổi các Điều 66, 67 và 69 Hình luật canhcải nên thời kỳ này các tòa án xét xử thiếu nhi vẫn phải tùy thuộc quyết định vào câu hỏilương tri, Tòa án buộc phải áp dụng hình phạt mà không thể chỉ áp dụng biện pháp giáohóa Nhìn chung, đạo luật cải cách năm 1958 không “cải cách” được gì về điểm này vì nókhông xóa bỏ mâu thuẫn giữa những nguyên tắc mới do hai Điều 3 và 15 của luật ấy đemlại và những quy tắc cũ nằm trong các Điều 66, 67, 69 Hình luật canh cải (câu hỏi lươngtri, hình phạt bắt buộc) Vì thiếu một định nghĩa rõ rệt cho khái niệm này, và vì sự khóxét đoán tâm lý của người chưa thành niên các Tòa án giai đoạn này đã chẳng theo cáchđịnh nghĩa nào cả mà chỉ trả lời câu hỏi này theo biện pháp muốn áp dụng cho bị can:khi muốn áp dụng hình phạt Tòa sẽ trả lời là có; khi muốn áp dụng biện pháp giáo hóaTòa sẽ trả lời là không

Ðến 1969 Bộ Hình luật Việt Nam ra đời nhưng mãi đến 1973 bộ luật này mới cóhiệu lực Những quy định của bộ luật này đã giải quyết được vấn đề về câu hỏi lương tri

và vấn đề về xác nhận nguyên tắc vô trách nhiệm hình sự của thiếu nhi duới 13 tuổi,nhưng đối với loại thiếu nhi từ 13 tuổi đến 18 tuổi chưa có những quy định cụ thể TạiÐiều 91 và Điều 92 của Bộ Hình luật Việt Nam có quy định nếu bị can thiếu nhi có tội,

Trang 27

Tòa án bắt buộc phải áp dụng hình phạt Quy định cứng rắn này đã khiến cho hình phạtđược áp dụng đối với thiếu nhi thời kỳ này được áp dụng một cách phổ biến.10

Ðến 09/07/1985, Quốc hội ban hành Bộ luật Hình sự đầu tiên của nuớc ta, bộ luậtnày có hiệu lực vào ngày 01/01/1986 Nhìn chung Bộ luật Hình sự 1985 đã quy định mộtcách cơ bản về nguời chưa thành niên phạm tội Câu hỏi lương tri của giai đoạn trước đãđược Bộ luật điều chỉnh bởi Ðiều 9 (cố ý phạm tội) , Ðiều 10 (Vô ý phạm tội) Bộ luậttrên cũng đã dành hẳn một chương (chương VII, Phần chung) để quy định về tráchnhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự của nguời chưa thành niên được quy định cụ thểtại Ðiều 58 của bộ luật:

“Ðiều 58 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

1- Nguời từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý.

2- Nguời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”.

Từ điều luật ta có thể thấy rõ giới hạn thấp nhất về tuổi chịu trách nhiệm hình sựcủa nguời chưa thành niên là “từ 14 tuổi”, mức này đã thay đổi hoàn toàn so với luật cũ là

“từ 13 tuổi” Do đó theo Bộ luật Hình sự 1985 thì người dưới 14 tuổi hoàn toàn không cótrách nhiệm hình sự

Ðiểm tiến bộ của điều luật trên là quy định cụ thể người từ 14 tuổi nhưng chưa đủ

16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý, quy địnhnày đã giúp Tòa án giải quyết nhanh chóng các vụ án hình sự do người chưa thành niênphạm tội dưới 16 tuổi Chỉ cần Tòa án xác định được tuổi và ý thức phạm tội của ngườidưới 16 tuổi là có thể giải quyết được vụ án

Các nguyên tắc cơ bản xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật cũđược nằm rải rác ở nhiều điều luật thì nay được Bộ luật Hình sự 1985 tổng hợp thành mộtđiều luật cụ thể (Ðiều 59) gồm 5 nguyên tắc cơ bản:

“Ðiều 59 Những nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người

chưa thành niên.

10Nguyễn Quang Quýnh, Hình luật Tổng quát, NXB Sài Gòn, Sài Gòn, năm 1973.

Trang 28

1- Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của

họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây

ra tội phạm.

2- Ðối với người chưa thành niên phạm tội, Viện kiểm sát và Toà án áp dụng chủ yếu những biện pháp giáo dục, phòng ngừa; gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm tham gia tích cực vào việc thực hiện những biện pháp ấy.

3- Viện kiểm sát có thể quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu đuợc gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục.

Chỉ đưa người chưa thành niên phạm tội ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ trong những trường hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa.

4- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội Khi phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên.

Người chưa thành niên phạm tội phải được giam riêng.

Không xử phạt tiền và không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

5- Án đã tuyên đối với người phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.”

Nhìn chung thì các nguyên tắc này đều kế thừa các nguyên tắc đối với người chưathành niên phạm tội theo luật cũ Tất cả đều thể hiện tinh thần nhân đạo của Nhà nuớc đốivới người chưa thành niên phạm tội, nhằm tạo cho họ có một môi trường tốt để sửa chữalỗi lầm và sống hòa nhập trở lại cộng đồng

Về các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niênphạm tội được quy định cụ thể tại Ðiều 60 bao gồm 2 biện pháp và 3 hình phạt

Trang 29

“Ðiều 60 Các biện pháp tư pháp và hình phạt đối với người chưa thành niên

phạm tội.

1- Các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa do Toà án quyết định gồm có:

- Buộc phải chịu thử thách;

- Ðưa vào trường giáo dưỡng.

- Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mứchình phạt cao nhất áp dụng đối với nguời chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạmtội là hai mươi năm tù và đối với người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi khiphạm tội là mười lăm năm tù (Khoản 1 Ðiều 64)

- Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là hai mười năm tù thì mức hình phạtcao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là không quá mười hai năm tù(Khoản 2 Ðiều 64)

Bộ luật Hình sự 1985 còn có quy định về vấn đề tổng hợp hình phạt đối với ngườichưa thành niên phạm nhiều tội Tại Ðiều 65 quy định như sau:

Trang 30

Theo như quy định trên thì người chưa thành niên phạm nhiều tội chỉ nhận được

sự khoan hồng của pháp luật khi họ phạm tội nặng nhất lúc họ chưa đủ 18 tuổi Còn nếu

họ phạm tội nặng nhất lúc họ đã đủ 18 thì họ sẽ không được hưởng bất cứ sự khoan hồngnào

Ðến ngày 21/12/1999 Bộ luật Hình sự 1999 được ban hành và bắt đầu có hiệu lực

kể từ ngày 01/07/2000 Bộ luật này đã có những thay đổi hơn về chế định nguời chưathành niên phạm tội hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1985

Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội thì Bộ luậtHình sự năm 1999 có những quy định cụ thể tại Ðiều 12:

“Ðiều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1 Nguời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2 Nguời từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Và Ðiều 68 (Áp dụng Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội :

“Ðiều 68 Áp dụng Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Nguời chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này.”

Như vậy, về tuổi chịu trách nhiệm hình sự của nguời chưa thành niên phạm tộiquy định tương tự như Bộ luật Hình sự năm 1985

Về biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạmtội nhìn chung có thay đổi về tên gọi nhưng về bản chất Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫnquy định dựa trên những quy định của Bộ luật Hình sự 1985 Ngoài ra, Bộ luật Hình sựnăm 1999 còn có quy định thêm hình phạt “phạt tiền” đây là hình phạt mới được áp dụngcho người chưa thành niên phạm tội vì trong Bộ luật Hình sự năm 1985 chưa có quy định

áp dụng hình phạt phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội

Ðến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 1999 ra đời vàongày 19/06/2009 thì chỉ sửa đổi một phần tại khoản 5 của Ðiều 69 về nguyên tắc xử lýđối với người chưa thành niên phạm tội, những phần còn lại được giữ nguyên Phần sửa

đổi tại điều này là thêm quy định như sau: “Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa

thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù” vào đoạn 2 khoản 5 của Ðiều 69.

Trang 31

Việc thêm quy định này thể hiện rõ thái độ, chính sách khoan hồng của Nhà nước dànhcho nguời chưa thành niên phạm tội đó là hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với họ.

1.5 Quy định về người chưa thành niên phạm tội ở một số nước trên thế giới

Ở mỗi quốc gia có nền kinh tế, xã hội cũng như hệ thống pháp luật khác nhau nên

về vấn đề quy định về người chưa thành niên cũng có sự khác biệt

- Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hiệp Quốc về việc áp dụng pháp luật đốivới người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng Liên Hiệp

Quốc thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít

tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" (Quy tắc số 2.2 mục a).

- Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liệp Hiệp quốc về bảo vệ người chưa thành niên

bị tước quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 nêu cụ thể: "Người chưa thành niên là

người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên" (Quy tắc 2.1 mục a).

Như vậy, có thể thấy rằng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người chưa thànhniên, trong pháp luật quốc tế không dựa vào đặc điểm tâm - sinh lý hay sự phát triển thểchất, tinh thần mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi Kể cả kháiniệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thờiđưa ra khả năng mở cho các quốc gia tuỳ điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, truyền thốngcủa mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn Nội dung các quy tắc trên có tính đến sự

đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư phápngười chưa thành niên, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản

lý những người chưa thành niên vi phạm pháp luật Quy tắc Bắc Kinh chỉ ra những mụcđích của việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên và đảm bảo rằng bất cứ sự xử

lý nào đối với người chưa thành niên phạm tội phải luôn xem xét tới điều kiện hoàn cảnhcủa người chưa thành niên và mức độ của tội phạm Trong quy tắc này, bao gồm nhữngquy định cụ thể điều chỉnh nhiều giai đoạn khác nhau của việc áp dụng tư pháp với ngườichưa thành niên Các quy định này nhấn mạnh rằng việc đưa các em vào cơ sở quản lý,giáo dục tập trung chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, chỉ nên áp dụng trong một thờigian tối thiểu, cần thiết Quy tắc của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bịtước quyền tự do quy định các nguyên tắc cụ thể áp dụng đối với tất cả các hình thứcgiam giữ ở bất cứ cơ sở giam giữ nào Tách riêng những người chưa thành niên ra khỏingười lớn trong cùng các cơ sở giam giữ và phân loại các em là một yêu cầu cần thiết

Trang 32

được nhắc đến trong quy tắc này Đồng thời nhấn mạnh việc bảo vệ người chưa thànhniên bị tước quyền tự do không chỉ xác định các quyền của họ mà còn quy định cách đối

xử khi các em phạm tội Sự tôn trọng các quyền của người chưa thành niên cũng là một

bộ phận khăng khít của công tác quản lý, giáo dục người chưa thành niên phạm tội Cácquy định đặc biệt nhấn mạnh sự liên hệ giữa người chưa thành niên với gia đình, tôntrọng nhân phẩm của các em và quyền người chưa thành niên được đối xử công bằng

Dựa trên những quy định của luật pháp quốc tế về người chưa thành niên, cácquốc gia trên thế giới đã đưa ra các quy định về người chưa thành niên nói chung, ngườichưa thành niên phạm tội nói riêng, các chế tài xử lý người chưa thành niên phạm tội phùhợp với điều kiện kinh tế- văn hoá – xã hội, phong tục, tập quán, pháp luật của mỗi nước.Chẳng hạn như :

-Ở Thái Lan, ngày 28-1-1952, Thái Lan đã thành lập Toà án người chưa thànhniên trung ương Mục đích của việc thành lập Toà án này là dành cho trẻ em và nhữngngười chưa thành niên dưới 18 tuổi một biện pháp xử lý đặc biệt khi họ vi phạm phápluật hình sự Tuy nhiên, thẩm quyền của Toà án người chưa thành niên còn được phépgiải quyết một số trường hợp tranh chấp gia đình liên quan tới hạnh phúc và lợi ích củatrẻ em và người chưa thành niên

Theo Điều 72 Bộ luật Hình sự Thái Lan, thì một đứa trẻ chưa đến 7 tuổi cũng bị

áp dụng hình phạt vì những tội đã được pháp luật quy định Trẻ em từ 7 đến 14 tuổi nếuphạm tội cũng bị xét xử và có thể chịu hình phạt tù nhưng Toà án sẽ quyết định biện pháp

xử lý đặc biệt bằng cách đưa vào một trường cải tạo hoặc gửi trẻ em đó cho một ngườihay một cơ quan nào mà Toà án thấy có khả năng thích hợp với việc cải tạo, giáo dục trẻ

em đó (Điều 74 Bộ luật Hình sự Thái Lan) Người chưa thành niên từ 14 đến 17 tuổi cóthể bị phạt và được hưởng hình phạt đặc biệt Trong trường hợp ở độ tuổi này, trước khixét xử, tuyên án, Toà án bao giờ cũng xem xét kỹ hoàn cảnh, nhân thân và môi trườngcủa người đó (Điều 75 Bộ luật Hình sự Thái Lan) Người chưa thành niên bị bắt phảiđược đưa ngay tới trại giam giữ trong vòng 24 giờ và trong vòng 30 ngày tạm giữ, công

tố viên phải hoàn thành thủ tục và đưa ra xét xử tại Toà án người chưa thành niên (Điều

50 và 51 Luật tổ chức Toà án người chưa thành niên và gia đình 1991) Trong quá trìnhgiam giữ người chưa thành niên vẫn được chăm sóc và bảo vệ tốt Hội đồng xét xử ngườichưa thành niên phạm tội gồm 2 thẩm phán chuyên nghiệp, 2 hội thẩm nhân dân và bắtbuộc một trong hai hội thẩm phải có một là nữ Phiên toà xét xử người chưa thành niênphải được xử kín, trong đó phải có mặt người bào chữa, cha mẹ hoặc người giám hộ Thủtục tố tụng của Toà án người chưa thành niên cũng đòi hỏi phải có cán bộ chuyên sâu hơn

Trang 33

như các nhà tâm lý, y tế, giám sát, công tác xã hội Mục đích tố tụng với người chưathành niên là tạo cho họ một cơ hội để sửa chữa, thay đổi hành vi và mong muốn saucùng là giúp họ trở thành những công dân tốt cho xã hội chứ không nhằm vào mục đích

xử phạt các em như xử phạt người lớn

- Ở Nhật Bản, có Luật người chưa thành niên, nhưng phân toà người chưa thànhniên của Toà án gia đình giải quyết các vụ việc liên quan đến người dưới 20 tuổi Mụcđích của Luật người chưa thành niên là không trừng phạt những người chưa thành niên

phạm tội mà "giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để thay

đổi tính cách của người chưa thành niên phạm tội và tạo ra một môi trường giáo dục để điều chỉnh người chưa thành niên đã chót mắc phải sai lầm" Bộ luật tố tụng hình sự của

Nhật Bản quy định việc điều tra thuộc chức năng của cảnh sát và cơ quan công tố.Nếu Toà án xét thấy cần có biện pháp chăm sóc, bảo vệ thì thẩm phán ra quyết định đưa

bị can, bị cáo vào trại giam chờ ngày xét xử Thời hạn tạm giam không quá 4 tuần Trongthời gian 4 tuần, Toà án phải hoàn tất những thủ tục cần thiết để đưa ra xét xử Ở NhậtBản không có thủ tục riêng cho việc truy tố và xét xử người chưa thành niên Theo Luậtngười chưa thành niên, thì công tố viên không có quyền tham gia xét xử tại các Toà ángia đình Tuy nhiên, Thẩm phán có thể cho phép công tố viên tham dự và khi cần thiết cóthể yêu cầu công tố viên tiến hành điều tra thêm

Luật người chưa thành niên của Nhật Bản cho phép người chưa thành niên khi bịđưa ra xét xử tại Toà án gia đình được có một hoặc hai người đại diện Người đại diệnkhông phải là luật sư bào chữa như trong phiên toà xét xử người đã thành niên Người đạidiện này không nhất thiết phải là luật sư, có thể là giáo viên hoặc người làm công tác xãhội Luật không quy định chi tiết các bước tiếp theo cần tiến hành như thế nào mà chỉ

đưa ra chung chung rằng Toà án gia đình phải tiến hành xét xử trên cơ sở "chân tình, có

lợi" cho người chưa thành niên và "cần có mọi cố gắng để bảo vệ cho được những thuộc tính cao đẹp nhất của người chưa thành niên và để cho người chưa thành niên có niềm tin" và việc xét xử cần tiến hành công khai.

- Ở Hà Lan, lịch sử phát triển của chế tài áp dụng đối với người chưa thành niêntrong Luật hình sự của Hà Lan đã góp phần tích cực vào việc hoàn thiện ngành luật hình

sự của Hà Lan Từ những yêu cầu thực tế của các cơ quan chức năng, cùng với nhữngbiến đổi của xã hội, việc nghiên cứu để tìm ra những chế tài thay thế là quan trọng và cầnthiết Khi người chưa thành niên phạm tội, người ta cân nhắc và áp dụng các chế tài thaythế, chỉ được phép tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự khi không còn cơ hội nào để cóthể áp dụng chế tài thay thế Trong vòng mười năm qua, chế tài thay thế đã được áp dụng

Trang 34

thường xuyên hơn đối với những vụ việc liên quan tới người chưa thành niên Các chế tàithay thế áp dụng đối với người chưa thành niên không chỉ thay thế hình phạt tù mà cònthay thế cả những hình phạt truyền thống đang tồn tại như hình phạt tiền hay án treo Cóhai loại chế tài thay thế khác nhau được áp dụng với người chưa thành niên, đó là các dự

án công tác (dịch vụ của cộng đồng đối với người chưa thành niên) và các dự án đào tạo

Mục tiêu chung của các chế tài thay thế là tăng cường hệ thống giáo dục và hệthống quản lý xét xử người chưa thành niên mà hệ thống này sẽ giúp cho các em hạn chếđược tái phạm Một mặt các chế tài thay thế hạn chế được việc áp dụng những chế tàitruyền thống Bởi lẽ, việc bỏ tù hay tống giam không đem lại sự thay đổi hành vi của các

em theo hướng tốt nếu không muốn nói là có tác động ngược lại do sự tách biệt tạm thờimôi trường tốt của gia đình, nhà trường và xã hội Mặt khác, chế tài thay thế còn góp mộtphần tích cực vào hệ thống giáo dục cải tạo đối với người chưa thành niên bởi nhữngnguyên tắc cụ thể đã được chú trọng tới trong quá trình giáo dục cải tạo của từng đốitượng vi phạm Chính bản thân các em, về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm cá nhân đốivới những hành vi của mình và cũng chính các em phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thểđem lại lợi ích không chỉ cho riêng mình mà còn mang lại lợi ích cho người khác Cácthủ tục hình sự chỉ được phép tiến hành áp dụng khi không còn cơ hội nào để có thể ápdụng chế tài thay thế Các chế tài thay thế có thể áp dụng thay thế cho tất cả các loại tộiphạm do người chưa thành niên gây ra và có thể áp dụng với bất cứ đối tượng ngườichưa thành niên nào vi phạm (từ vi phạm lần đầu hay tái phạm cho đến tội phạm là namhay nữ )

Như vậy có thể thấy rằng, ở mỗi quốc gia, tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xãhội, lịch sử lập pháp, truyền thống và các yếu tố về tâm - sinh lý của con người, cũng như

về tình hình phạm tội và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm ở người chưa thànhniên mà có những quy định về độ tuổi, mức độ chịu trách nhiệm hình sự, thủ tục, cáchthức xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên khác nhau Song không thể phủnhận một điều, đó là mục đích xem xét, xử lý hành vi phạm tội của người chưa thànhniên nhằm tạo điều kiện tốt nhất để các em sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người cóích cho xã hội Pháp luật của các nước đều hướng tới bảo vệ quyền con người của ngườichưa thành niên từ mọi góc độ.11 Qua việc tìm hiểu những quy định về người chưa thànhniên phạm tội ở các nước sẽ giúp cho việc nhìn nhận về chủ thể này mở rộng hơn, tiếpthu những quy định tiến bộ mang tính khả thi hơn, từ đó, đưa ra những những kiến nghị

11Trương Hồng Sơn, Học viện cảnh sát nhân dân, Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn

đề quyền của người chưa thành niên phạm tội,

http://hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Phap-luat/84/712/Mot-so-quy-dinh-cua-phap-luat-quoc-te-va-mot-so-quoc-gia-ve-van-de-quyen-cua-nguoi.aspx, [truy cập ngày 17/2/2013]

Trang 35

góp phần hoàn thiện pháp luật về người chưa thành niên mà cụ thể là vận dụng vào trongquá trình áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam.

Khi người chưa thành niên thực hiện một hành vi nguy hại đến các quan hệ xã hộiđược pháp luật hình sự bảo vệ và quy định là tội phạm thì có thể được gọi là người chưathành niên phạm tội Để xử lý hành vi phạm tội đó, Nhà nước ta có những công cụ thihành đó là hình phạt Với mục đích trừng trị và giáo dục người chưa thành niên phạm tội,hình phạt luôn được xem xét kỹ khi áp dụng đối với chủ thể này nhằm giúp họ có hướng

đi đúng đắn tránh xa vào những con đường phạm tội, trở thành người có ích cho cồngđồng

Trang 36

CHƯƠNG 2 HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Ngày nay, người chưa thành niên phạm tội là một vấn đề đáng quan tâm không chỉđối với Việt Nam mà còn là vấn đề hết sức nóng bỏng của tất cả các quốc gia trên thếgiới Tình hình phạm tội ở lứa tuổi này diễn ra ngày càng phức tạp, do đó, các quốc giaphải xây dựng nên các quy định riêng để điều chỉnh đối tượng này theo những mức độ,phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế cũng như xã hội của mỗi nước

Là một nước đang phát triển, với nền lập pháp còn non trẻ, Việt Nam đang từngbước hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình Với tình hình tội phạm hiện nay có nhiềubiến động về số lượng và tính nguy hiểm hơn trước, trong đó có tội phạm do người chưathành niên thực hiện, khi người ở lứa tuổi này phạm tội họ sẽ bị chế tài thông qua cáchình phạt, tùy vào mức độ phạm tội sẽ áp dụng hình phạt nào phù hợp với hành vi đó.Vậy những hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồmhình phạt gì, với tội phạm họ thực hiện thì sẽ áp dụng hình phạt nào, tổng hợp hình phạttrong trường hợp họ phạm nhiều tội ra sao, …vấn đề này sẽ được người viết đề cập tạiChương này

2.1 Nguyên tắc xử lý khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Những nguyên tắc cơ bản về xử lý các hành vi phạm tội của người chưa thànhniên phạm tội được quy định rõ trong Bộ luật Hình sư hiện hành, mà cụ thể là tại Điều

69, bao gồm những nguyên tắc :

- Nguyên tắc thứ nhất là “Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu

nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân

có ích cho xã hội.

Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của

họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây

ra tội phạm” (Khoản 1 Điều 69).

Đây là nguyên tắc bao trùm, mang tính chỉ đạo, thể hiện chính sách hình sự củaĐảng và Nhà nước ta trong quá trình xử lý vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thànhniên Nguyên tắc này đặt ra mục đích chủ yếu và trước hết của việc xử lý người chưa

Trang 37

thành niên phạm tội là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện cho họphát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Vì vậy việc áp dụng hìnhphạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải hướng tới mục đích giáo dục, giúp đỡ

họ sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện để họ hòa nhập với cộng đồng, phát triển lành mạnh vàtrở thành công dân có ích cho xã hội mà không nhằm mục đích trừng trị họ

Thể hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, các biện pháp áp dụng với ngườichưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ, làm cho họ thấy được tính chất củatội phạm, sự nghiêm minh của pháp luật, bản chất nhân đạo của các biện pháp áp dụng.Chỉ trong trường hợp phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao, ý thứcphạm tội của người chưa thành niên sâu sắc mới cần thiết phải áp dụng các biện pháptrừng trị họ

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử người chưa thành niên, các cơ quan tiếnhành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm tra, Tòa án) và các cơ quan hữu quan khác cóliên quan có trách nhiệm xác định không chỉ khả năng nhận thức của họ (tính bền vữngcủa ý thức phạm tội trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội rất khác nhau, nóảnh hưởng đến sự lựa chọn các biện pháp xử lý áp dụng đối với họ) về tính chất nguyhiểm cho xã hội của hành vi phạm tội (gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho

xã hội được luật hình sự bảo vệ) mà cả nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm (từ phía

xã hội, nhà trường, gia đình, gia đình hay từ bản thân họ) để áp dụng những biện phápđấu tranh, phòng ngừa chung và phòng ngừa cá biệt đối với người chưa thành niên phạmtội

- Nguyên tắc thứ hai là “Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách

nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục” (Khoản 2 Điều 69)

Đây là nguyên tắc miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạmtội So sánh với quy định về miễn trách nhiệm hình sự ở người thành niên được quy địnhtại Điều 25 Bộ luật Hình sự hiện hành12 cho thấy quy định về miễn trách nhiệm hình sựđối với người chưa thành niên phạm tội có phạm vi rộng hơn Theo quy định này thì

12“Điều 25 Miễn trách nhiệm hình sự

1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

2 Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

3 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định địa xá.”

Trang 38

người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn cácđiều kiện sau:

+ Phạm tội ít nghiêm trọng (tức là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội màmức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù) hoặc tội phạm nghiêmtrọng (tức là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạtcủa khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù);

+ Chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn cho xã hội (Chưa gây thiệt hại làtrường hợp hành vi phạm tội chưa kịp gây ra hậu quả - thiệt hại cho các quan hệ xã hội

mà pháp luật hình sự bảo vệ, ví dụ: Người phạm tội đang mang chiếc Tivi lấy cắp ra khỏinhà chủ sở hữu thì người dân xung quanh bắt giữ và thu lại chiếc Tivi trả cho chủ sở hữu.Còn gây thiệt hại không lớn là trường hợp hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả- thiệt hạicho quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ nhưng mức độ thiệt hại không đáng kể,

ví dụ: Sau khi lấy cắp chiếc Tivi thì qua ngày hôm sau kẻ trộm đã bị cơ quan điều tra bắtgiữ, thu lại chiếc Tivi bị mất cắp, chiếc Tivi vẫn trong tình trạng như cũ và trả lại cho chủ

sẽ áp dụng quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 46);

+ Được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục: quy định nàynhằm xác định trách nhiệm phối hợp giữa gia đình, cơ quan, tổ chức và xã hội trong việcgiáo dục người chưa thành niên phạm tội

- Nguyên tắc thứ ba là “Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên

phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết

và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”(Khoản 3 Điều 69).

Theo nguyên tắc này, chỉ trong trường hợp cần thiết mới tiến hành truy cứu tráchnhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Yêu cầu này

để đảm bảo đạt được mục đích “…chủ yếu là giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm…”

(khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự hiện hành) Để xác định thế nào là cần thiết phải truycứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội,phải căn cứ vào loại tội phạm mà họ thực hiện, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội

Trang 39

của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm củng những yếu tố khác (như nhân thân, sự

ăn năn hối cải của người phạm tội, yêu cầu của cuộc đấu tranh chống, phòng ngừa tộiphạm, chính sách hình sự của Nhà nước trong từng giai đoạn,…) và các tình tiết khác của

vụ án.13 Nguyên tắc thứ ba của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội thể hiện tínhnhân đạo sâu sắc Không phải mọi trường hợp người chưa thành niên phạm tội đều bịtruy cứu trách nhiệm hình sự Việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi nó thực sựcần thiết và xuất phát từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm Kể cả khi người chưa thành niênphạm tội và bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ vẫn có khả năng không bị áp dụnghình phạt

- Nguyên tắc thứ tư là “Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình

phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này” (Khoản 4 Điều 69).

Đây là một trong những nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tộithể hiện tính nhân đạo của luật hình sự nhằm bảo đảm để đạt mục đích giáo dục, giúp đỡ

họ sửa sai lầm Thay vào vị trí của hình phạt thì có thể áp dụng các biện pháp tư pháp nếubiện pháp này đủ tác dụng cải tạo họ thành công dân có ích cho xã hội Theo nguyên tắcnày, khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưathành niên phạm tội, thì Tòa án có thể lựa chọn một trong các biện pháp tư pháp (giáodục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng) được quy định tại Điều 70

Bộ luật Hình sự hiện hành

Việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ là biện phápcuối cùng khi áp dụng các biện pháp tư pháp không đạt được mục đích giáo dục, cải tạo

- Nguyên tắc thứ năm là “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với

người chưa thành niên phạm tội.

Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội”

(Khoản 5 Điều 69)

13 Đỗ Thị Ngọc Tuyết, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị

quốc gia, 2012, trang 222.

Trang 40

Hình phạt chung thân và tử hình là những hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệthống hình phạt được Bộ luật Hình sự hiện hành quy định và chỉ được áp dụng trongnhững trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Việc áp dụng các hình phạt này khôngchỉ trái với nguyên tắc nhân đạo mà còn không đạt được mục đích chủ yếu đặt ra đối vớiviệc xử lý người chưa thành niên phạm tội Vì vậy, pháp luật không được phép áp dụnghai loại hình phạt này đối với họ.

Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế ápdụng hình phạt tù: hình phạt tù là một hình phạt nghiêm khắc thể hiện việc tước tự do vàcách ly người phạm tội khỏi đời sống xã hội Vì vậy, chỉ áp dụng hình phạt này đối vớingười chưa thành niên phạm tội trong trường hợp cần thiết (phạm tội rất nghiêm trọng do

cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng) mà việc áp dụng các hình phạt khác không phải hìnhphạt tù (như cải tạo không giam giữ) sẽ không đảm bảo để giáo dục, cải tạo họ thànhngười có ích cho xã hội.14

Nếu như ở đoạn 1 Điều 59 Bộ luật Hình sự 1985 quy định: “Khi phạt tù có thời

hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên.” thì nay nguyên tắc này được Luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 sửa đổi hơi khác đi so với quy đinh của Bộ

luật hình sự 1985 như sau: “ Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm

tội cần hạn chế hình phạt tù Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội đuợc hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng” Như vậy, trong quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Bộ luật Hình sự năm 2009 quy định cụ thể hơn về việc hạn chế áp dụng hình phạt tù đốivới người chưa thành niên phạm tội, điều này thể hiện chính sách của Nhà nuớc đối vớingười chưa thành niên phạm tội, luôn tạo điều kiện tốt nhất cho người chưa thành niênphạm tội có thể sửa chữa những lỗi lầm của mình

Với người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thường là đang

“tuổi ăn tuổi lớn”, đa phần chưa có thu nhập cũng như là tài sản riêng, họ phụ thuộc vàogia đình mà chủ yếu là cha mẹ về kinh tế, khả năng lao động còn hạn chế Cho nên, nếuquy định áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội là chưa phù hợpvới thực tế và tạo ra gánh nặng về kinh tế cho gia đình Do đó, hình phạt tiền không được

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

14 Đỗ Thị Ngọc Tuyết, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị

quốc gia, 2012, trang 223

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm