1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH xử lý VI PHẠM HÀNH CHÍNH đối với tổ CHỨC, cá NHÂN NUÔI TRỒNG THỦY sản gây ô NHIỄM môi TRƯỜNG

73 501 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung, nuôi trồng thủy sản nói riêng đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

- -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Kim Oanh Na Dương Thị Bé Thi

MSSV: 5095468 Lớp: Luật Thương mại 2- K35

Cần Thơ, 11/2012

Trang 2

Trải qua những năm cố gắng phấn đấu học tập trên giảng đường Đại học Đến hôm nay em đã được thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Đó là niềm

mơ ước của em

Để hoàn thành tốt luận văn này, em xin cảm ơn quý thầy cô Khoa Luật đã truyền đạt cho em những kiến thức hữu ích trên lý thuyết cũng như những kinh nghiệm thực tiễn trong học tập và hôm nay em vận dụng những kiến thức đã tích lũy được vào việc thực hiện đề tài

Em chân thành cảm ơn Thạc sĩ Kim Oanh Na- Bộ môn Luật Thương mại- Khoa Luật, Trường Đại học Cần thơ đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành tốt luận văn của mình

Trân trọng!

Tác giả

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN



Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG



Cần Thơ,… ngày… tháng… năm 2012

Trang 5

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 4

1.1 Các khái niệm liên quan 4

1.1.1 Thủy sản 4

1.1.2 Nuôi trồng thủy sản 4

1.1.3 Môi trường 5

1.1.4 Ô nhiễm môi trường 6

1.1.5 Bảo vệ môi trường 8

1.1.6 Xử lý vi phạm hành chính 8

1.2 Khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta và một số mô hình nuôi trồng thủy sản hiện nay 10

1.2.1 Khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta 10

1.2.2 Một số mô hình nuôi, loài nuôi hiện nay 11

1.3 Các nhân tố tác động tiêu cực đến môi trường trong nuôi trồng thủy sản và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường 14

1.3.1 Các nhân tố tác động tiêu cực đến môi trường trong nuôi trồng thủy sản 14

1.3.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản 16

1.4 Khái quát pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và trong nuôi trồng thủy sản 17

CHƯƠNG 2 XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 20

2.1 Dấu hiệu pháp lý vi phạm hành chính của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường 22

2.1.1 Về mặt chủ thể 22

2.1.2 Về mặt chủ quan 23

2.1.3 Về mặt khách thể 25

2.1.4 Về mặt khách quan 25

2.2 Xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường theo Nghị định số 117/2009/NĐ-CP 26

Trang 6

bảo yêu cầu bảo vệ môi trường 26

2.2.2 Xây dựng khu nuôi trồng thủy sản tập trung trên bãi bồi đang hình thành vùng cửa sông ven biển, phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản 30

2.2.3 Vi phạm các quy định về cam kết bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản 32

2.2.4 Vi phạm các quy định về lập, thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường trong nuôi trồng thủy sản 33

2.2.5 Vi phạm các quy định về xả nước thải 34

2.3 Xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường theo Nghị định số 31/2010/NĐ-CP 38

2.3.1 Địa điểm xây dựng cơ sở nuôi trồng thuỷ sản không theo quy hoạch hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép 38

2.3.2 Sử dụng các loại thức ăn nuôi thủy sản không theo quy định 40

2.4 Thực trạng về xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường tại một số địa phương 44

2.5 Những vấn đề tồn tại trong xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường 48

2.5.1 Những vấn đề tồn tại về mặt xã hội 48

2.5.2 Những vấn đề tồn tại về mặt pháp luật 49

2.6 Một số kiến nghị về xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường 52

2.6.1 Một số kiến nghị về mặt xã hội 52

2.6.2 Một số kiến nghị về mặt pháp luật 53

KẾT LUẬN 56 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU



1 Lý do chọn đề tài

Cũng như nhiều quốc gia khác trên Thế giới, Việt Nam đang đối mặt với mâu thuẫn giữa phát triển và bảo vệ môi trường, điển hình là nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam rất phát triển và trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam do đã có đóng góp quan trọng vào xóa đói giảm nghèo, tạo ra kim ngạch xuất khẩu cao và có tiềm năng phát triển mạnh trong thời gian tới Với lợi thế

so sánh lớn và tính năng động cao, nghề nuôi trồng thủy sản đang trên đà tăng trưởng Tuy nhiên, cùng với những thành tựu mà ngành nuôi trồng thủy sản mang lại cũng đã xuất hiện nhiều hệ lụy về vấn đề ô nhiễm môi trường Nuôi trồng thủy sản hiện đang phải đối mặt với các thách thức về môi trường có liên quan đến sự cạnh tranh ngày càng tăng về nguồn tài nguyên đất, nước ở những nơi diễn ra hoạt động nuôi trồng thủy sản, càng mở rộng quy mô và diện tích thì tác động của ngành này đến môi trường cũng không ngừng gia tăng Do đó, vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường nói chung và trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói riêng có một

vị trí đặc biệt quan trọng nhằm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường Môi trường bị hủy hoại chủ yếu là do sự phá hoại của con người, chính con người trong quá trình khai thác các yếu tố của môi trường đã làm mất sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường Trong đó, vấn đề kiểm tra, ngăn chặn, xử lý vi phạm hành chính đối với việc gây ô nhiễm môi trường từ nuôi trồng thủy sản đã được đặt ra nhằm ngăn ngừa, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường từ ngành này và được đông đảo nhân dân tôn trọng thực hiện Song, trên thực tế vẫn có những hiện tượng đi ngược lại, phá vỡ trật tự quản lý nhà nước, xâm hại đến lợi ích nhà nước, tập thể và cá nhân Do đó, công tác xử lý vi phạm hành chính trong thời gian qua bên cạnh một số kết quả đạt được vẫn còn có những hạn chế chưa khắc phục do việc am hiểu và chấp hành pháp luật của tổ chức,

cá nhân nuôi trồng thủy sản còn hạn chế Vì vậy, vấn đề cần thiết hiện nay là phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường, có như vậy thì mới hạn chế được vấn đề ô nhiễm môi trường trong hoạt động nuôi trồng thủy sản Chính vì lý do đó, người

viết chọn đề tài “Xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng

thủy sản gây ô nhiễm môi trường” làm đối tượng nghiên cứu của luận văn

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung, nuôi trồng thủy sản nói riêng đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản nhằm nâng cao hiểu biết về những quy định mà Nhà nước ta đề

ra đối với hoạt động này trong công tác bảo vệ môi trường Người viết sẽ tìm hiểu

về những hành vi của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường

và trước những hành vi này thì tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ chịu những hình thức

xử phạt và những biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Mục đích cuối cùng của quá trình nghiên cứu là người viết muốn trang bị cho mình những kiến thức hữu ích trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói riêng Để từ đó đề xuất, đóng góp một số ý kiến nhằm phục vụ công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản

3 Phạm vi nghiên cứu

Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005: Việc xử lý người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và trong lĩnh vực thủy sản nói riêng sẽ tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây ô nhiễm, suy thoái, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì còn phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Ngoài ra, người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm hoặc bao che cho người có hành vi vi phạm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm

mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, người viết sẽ đi vào tìm hiểu những quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Thủy sản năm 2003 và các quy định khác đối với hành

vi của tổ chức, cá nhân trong nước trực tiếp nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường và các hành vi này bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định

số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và Nghị định số 31/2010/NĐ-CP ngày

29 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh vực thủy sản Qua đó, người viết sẽ đề cập đến thực trạng về xử lý vi phạm hành chính trong nuôi trồng thủy sản tại một số địa phương

4 Phương pháp nghiên cứu

Người viết nghiên cứu đề tài bằng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê các quy định của pháp luật và tìm hiểu về mặt thực tiễn Bên cạnh đó,

Trang 9

người viết còn thu thập thông tin từ các tài liệu khác như giáo trình, tạp chí, báo và

các trang thông tin điện tử phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài

5 Bố cục luận văn: Luận văn bao gồm:

Mục lục

Lời nói đầu

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về môi trường và nuôi trồng thủy sản Chương 2 Xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ

về thủy sản nhưng Khoản 1 Điều 2 Luật Thủy sản năm 2003 có đưa ra khái niệm về

nguồn lợi thủy sản: “Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự

nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản”

Phân loại các loài thủy sản: sự phân loại các loài thủy sản được dựa theo đặc điểm cấu tạo của loài, tính ăn, môi trường sống và khí hậu2 Điển hình như:

Phân loại theo nhóm loài gồm có: nhóm cá (cá nước ngọt hay cá nước lợ

như cá tra, cá bống tượng, cá chình…), nhóm giáp xác (tôm càng xanh, tôm thẻ, tôm chân trắng, cua biển…), nhóm động vật thân mềm (là các loài có vỏ vôi bao bọc, nhiều nhất là nhóm hai mãnh vỏ và đa số sống ở biển như nghêu, sò huyết, ốc hương…)

Phân loại theo tính ăn gồm có ăn thực vật (cá mè trắng, cá trắm cỏ…), ăn

động vật (cá lóc, cá chẽm, lươn biển…) và ăn tạp (cá trê, cá rô phi, cá chép…)

Phân loại theo khí hậu: nhóm thủy sản nước lạnh (cá hồi, cá tầm…), nhóm

thủy sản nhiệt đới (cá chép, cá tra, cá rô phi, tôm sú…)

Phân loại theo môi trường sống: nhóm nước ngọt (cá tra, cá mè vinh, tôm

càng xanh…), nhóm nước mặn, lợ (tôm sú, tôm hùm, cá mú…) Ngoài ra, còn có một số loài sống được cả môi trường nước ngọt và nước lợ như cá rô phi, cá nâu…

1.1.2 Nuôi trồng thủy sản

Theo tổ chức nông lương Thế giới (FAO): “Nuôi trồng thủy sản là nuôi thủy

sinh vật trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất” Khái niệm về nuôi trồng thủy sản của

FAO gồm 3 yếu tố:

1

http://www.tlnet.com.vn/tu-dien-tieng-viet/?word=thu%CC%89y+sa%CC%89n&dictionary=vv&b.y=9 [Truy cập ngày 10/6/2012]

2

PGs TS Dương Nhựt Long, PGs TS Nguyễn Thanh Phương, TS Võ Nam Sơn- Giáo trình Nuôi trồng

thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ năm 2009

Trang 11

Thứ nhất: Các công việc nuôi trồng các loại sản phẩm, đối tượng thủy sản Thứ hai: Quá trình phát triển của các đối tượng này chịu sự can thiệp của con

Ngoài ra, còn một số khái niệm đơn giản về nuôi trồng thủy sản như: “Nuôi

trồng thủy sản” là nuôi hay canh tác động vật và thực vật dưới nước do xuất xứ từ

thuật ngữ aqua (nước) kết hợp với culture (nuôi)

Theo Khoản 2 Điều 2 Luật Thủy sản năm 2003 thì “hoạt động thủy sản” sẽ

bao gồm rất nhiều hoạt động như hoạt động khai thác, hoạt động chế biến, hoạt động mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, hoạt động nuôi trồng… trong lĩnh vực thủy sản Nuôi trồng thủy sản là quá trình lâu dài được khởi đầu từ việc quy hoạch vùng nuôi, cải tạo ao nuôi đến việc thả cá, cho ăn, phòng trừ dịch bệnh thủy sản, thay tháo nước ao nuôi… đến thu hoạch

1.1.3 Môi trường

“Môi trường” được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất Trong đó những

yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng hơn cả Những yếu tố này được coi là những thành phần cơ bản của môi trường Chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người và con người chỉ có thể tác động tới chúng ở trong chừng mực nhất định

Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo Những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ nhu cầu bản thân mình như: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, các công trình văn hóa kiến trúc mà con người từ thế hệ này sang thế hệ

khác dựng nên Ngoài ra còn có một số khái niệm khác về môi trường như sau:

“Môi trường” là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong

đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy4

Trang 12

“Môi trường” được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do

con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người5

“Môi trường” theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần

thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, cảnh quan… Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng sống của con người, ví dụ như: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của nhà trường, lớp học; môi trường gia đình; môi trường làm việc6…

Môi trường sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được hiểu như mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu

như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người Luật

Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 định nghĩa môi trường như

sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con

người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và

thì con người trở thành trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và dĩ nhiên mối quan hệ giữa con người với nhau tạo thành trung tâm đó chứ không phải mối liên hệ giữa các thành phần khác của môi trường

1.1.4 Ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ số hóa học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi Dưới góc

độ kinh tế, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lí, hóa học, sinh học, mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe của con người, các loài vật và các điều kiện sống khác8 Dưới góc

độ pháp lý, “ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường

5

Tuyên ngôn 1981 của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO)

6

ThS.Nguyễn Thanh Toàn- Giáo trình Luật Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản và Môi trường, Khoa Thủy sản,

Trường Đại Học Cần Thơ năm 2007

Trang 13

không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” 9

Có thể thấy điểm chung nhất giữa các định nghĩa nêu trên về ô nhiễm môi trường là chúng đều đề cập đến sự biến đổi của các thành phần môi trường theo chiều hướng xấu, gây bất lợi cho con người và sinh vật Sự biến đổi các thành phần môi trường có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu

là do các chất gây ô nhiễm Chất gây ô nhiễm được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm Thông thường chất gây ô nhiễm là các chất thải Tuy nhiên, chúng còn có thể xuất hiện dưới dạng nguyên liệu, thành phẩm, phế liệu, phế phẩm

Môi trường có thể bị ô nhiễm với nhiều mức độ khác nhau: ô nhiễm, ô nhiễm nghiêm trọng, ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng Mức độ ô nhiễm môi trường đối với một thành phần môi trường cụ thể thường được xác định dựa vào mức vượt tiêu chuẩn chất lượng môi trường của các chất gây ô nhiễm có trong thành phần môi trường đó10

Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT ngày 8 tháng 5 năm 2012 quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Thông tư này áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có hoạt động phát sinh chất thải trên lãnh thổ nước Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ sở) và các

cơ quan, tổ chức có liên quan đến các hoạt động xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Điển hình như việc xác định mức độ

vi phạm của hành vi xả nước thải gây ô nhiễm môi trường hay ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xác định trên cơ sở thải lượng nước thải và số lần vượt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường của các thông số môi trường đặc trưng có trong nước thải, ví dụ như thông số môi trường đặc trưng đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản là ammoniac (tồn tại trong ao nuôi với nồng độ cao gây độc hại đối với tôm cá, thức

ăn thừa, phân, chất bài tiết của vật nuôi sẽ sinh ra ammoniac) và coliform sử dụng trong quá trình sát trùng ao nuôi nhiễm bẩn11

Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính tự nhiên như: nước, đất, không khí, hệ thực vật, hệ động vật Tình trạng môi trường thay đổi theo chiều hướng xấu đang diễn ra trên phạm vi

toàn cầu cũng như trong phạm vi mỗi quốc gia

Trang 14

1.1.5 Bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch

đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển của các

quốc gia Đứng trước nguy cơ môi trường bị hủy hoại với những hậu quả nghiêm trọng của nó đã buộc các quốc gia chú ý hơn tới những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường

Nhiều quốc gia đã thực hiện việc giảm hoặc miễn thuế đối với kinh doanh trồng rừng, miễn thuế đối với các chi phí đầu tư vào các biện pháp bảo vệ môi trường, áp dụng việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, dự án sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân Nhiều trung tâm nghiên cứu môi trường được thành lập để nghiên cứu các tác động của môi trường và các biện pháp đối phó nhằm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực mà môi trường có thể mang lại

Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường,

có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường Luật

Bảo vệ môi trường 2005 của Việt Nam ghi rõ trong Khoản 2 Điều 4: “Bảo vệ môi

trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước,

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân” Vậy, có thể nói bảo vệ môi trường chính là việc thực

hiện những hoạt động bảo vệ môi trường Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi

trường 2005 thì “hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường

trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” Những hoạt động này có mối liên hệ mật thiết với nhau nên phải

tiến hành một cách đồng bộ và kết hợp chặt chẽ, có như vậy việc bảo vệ môi trường mới mang lại hiệu quả cao

1.1.6 Xử lý vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính là dạng vi phạm pháp luật rất dễ xảy ra với số lượng lớn

Vì vậy, việc xác định rõ khái niệm vi phạm hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam luôn có tính thời sự và cần thiết nhằm để phân biệt

vi phạm hành chính với tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác và cũng để xác định một hành vi vi phạm pháp luật cụ thể nào đó trên thực tế là vi phạm hành

Trang 15

chính Tuy nhiên, khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được nhắc đến trong Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước năm 1989 về xử phạt vi phạm hành chính nhưng đến khi Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 được ban hành để thay thế Pháp lệnh Xử phạt hành chính 1989 thì điều đáng tiếc là Pháp lệnh lại không có điều khoản nào quy định khái niệm về vi phạm hành chính, kể cả sau đó Pháp lệnh

xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 (sửa đổi bổ sung 2007, 2008) cũng không đề cập đến khái niệm này

Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay để nâng cao tính hiệu quả trong việc đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính và để đảm bảo tính hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và sự đa dạng hóa của các vi phạm hành chính trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải ngày càng hoàn thiện pháp luật hơn nữa Luật Xử lý

vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 Đây là một công cụ pháp lý quan trọng để cùng với pháp luật Hình sự góp phần tích cực vào việc giữ gìn trật tự, kỷ cương quản lý hành chính của đất nước, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng ngừa và chống có hiệu quả đối với vi phạm hành chính, tội phạm trong tình hình mới Hơn thế nữa, Luật Xử lý vi phạm hành

chính năm 2012 trở lại đề cập đến khái niệm về vi phạm hành chính: “Vi phạm hành

chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật

Xử lý vi phạm hành chính là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp dụng

đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung

2008): “xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện

pháp xử lý hành chính khác” Trong đó:

Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức

(sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính13 Bản chất của vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này không phải là tội phạm, tức là chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm

12

Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

13 Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008)

Trang 16

Các biện pháp xử lý hành chính khác áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi

phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các Điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp lệnh năm 200214 Tuy nhiên, đến Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh

xử lý vi phạm hành chính ngày 08 tháng 3 năm 2007 thì những quy định về quản chế hành chính theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 đều bị bãi bỏ

1.2 Khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta và một số mô hình nuôi trồng thủy sản hiện nay

1.2.1 Khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta

Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta đang phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm thủy sản và đã trở thành ngành sản xuất được ưu tiên phát triển hàng đầu của Chính phủ trong thời gian tới Ở các tỉnh ven biển và miền núi phía Bắc, nuôi trồng thủy sản được Chính phủ đặc biệt quan tâm phát triển vì nó có vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo ở những vùng sâu, vùng xa

Sản lượng và diện tích nuôi trồng thủy sản trong phạm vi cả nước tăng rất nhanh với các loài thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, đặc biệt là các loài thủy sản có giá trị xuất khẩu như tôm, cá basa, cá tra… ngành thủy sản còn góp phần cho nước ta mở rộng quan hệ thương mại với nhiều nước trên Thế giới, sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản được xuất khẩu có tính cạnh tranh ngày càng cao Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh không chỉ nuôi sông hồ, đầm phá… mà còn tiến ra biển Nghề nuôi trồng thủy sản không chỉ đóng góp cho sự tăng trưởng của nền kinh

tế đất nước, mà còn góp phần nâng cao và cải thiện đáng kể cuộc sống của người dân tham gia thực hành nuôi trồng thủy sản, góp phần giải quyết vấn đề lao động và việc làm Năm 2009, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản cả nước ước đạt 2.600.000 tấn, tăng 4,9% so với năm 2008 Đặc biệt, năm 2009, khoảng 80% số hộ nuôi tôm đều

có lãi, bình quân đạt từ 50 - 60 triệu đồng/ha15 Năm 2011, sản lượng nuôi trồng thủy sản của cả nước đạt 3.000.000 tấn Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 1.099.000 ha16 Chủng loại được nuôi ngày càng đa dạng và phong phú cũng như diện tích nuôi ngày càng mở rộng thì vấn đề về đối tượng nuôi luôn là mối quan tâm không nhỏ Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, việc ứng dụng những thành tựu nổi bật của công nghệ sinh học, trình độ sản xuất, kỹ thuật lai giống ngày càng cao đã

Trang 17

mang lại nhiều đối tượng nuôi rất có tiềm năng Ngoài việc nuôi những đối tượng

có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, cá tra… thì những năm trở lại đây xuất hiện nhiều đối tượng nuôi trồng mới rất có tiềm năng về hiệu quả kinh tế như ốc hương, cá mú, cá lăng, cá bống tượng, cua, ghẹ…

Đồng bằng sông Cửu Long đặc trưng là vùng đất ngập nước, rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản Vì vậy, các mô hình nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn tập trung ở một số tỉnh như Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp… với các mô hình nuôi trồng khác nhau như nuôi tôm thâm canh, nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm luân canh lúa với tôm, nuôi luân canh lúa với cá… Các mô hình nuôi thủy sản nước ngọt tập trung ở một số tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ… với các mô hình nuôi như nuôi tôm nước ngọt, nuôi canh tác lúa với cá, nuôi các loại cá đồng truyền thống như cá lóc, cá rô… nuôi thâm canh cá tra, cá basa Đặc biệt, các

mô hình nuôi cá vườn, ao, chuồng trong các hộ gia đình, các trang trại sản xuất ở nông thôn và các loại cá nuôi ao, hồ… rất phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long

1.2.2 Một số mô hình nuôi, loài nuôi hiện nay

1.2.2.1 Nuôi tôm ven biển

Giới thiệu mô hình nuôi: Hiện nay tôm là mặt hàng hải sản xuất khẩu lớn

nhất có nguồn gốc từ Việt Nam và có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam

Vùng nuôi: Quảng Ninh, Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Quảng Ngãi,

Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Kiên Giang…

Thiết kế hệ thống nuôi: Nhìn chung, có 3 hệ thống nuôi tôm được phát triển ở

ven biển đồng bằng sông Cửu Long Thứ nhất là hệ thống nuôi quảng canh cải tiến,

hệ thống nuôi này sử dụng phần lớn thức ăn tự nhiên, bao gồm: Kết hợp trồng rừng ngập mặn với nuôi tôm, được nuôi phổ biến ở các tỉnh ven biển, nhưng phổ biến hơn là ở Cà Mau, Bến Tre, Kiên Giang và nuôi luân canh tôm với lúa, hình thức này

được nuôi ở Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Kiên Giang Thứ hai là hệ

thống nuôi bán thâm canh, hệ thống này có mật độ thả cao, sử dụng thức ăn viên tổng hợp trong quá trình nuôi, quá trình thay tháo nước được hầu hết dùng bằng máy bơm, được nuôi phổ biến ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh và một số nơi thuộc

khu vực ven biển tỉnh Long An và Tiền Giang Thứ ba là hệ thống nuôi thâm canh,

phát triển mạnh ở các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bến Tre, hệ thống này

có mật độ thả dày và được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình nuôi

Các yếu tố đầu vào: Thứ nhất là nước: sử dụng diện tích mặt nước lợ ven

biển của đồng bằng sông Cửu Long, hệ thống nuôi quảng canh cải tiến sử dụng trực tiếp nước lợ từ sông hoặc kênh gạch xung quanh các trại nuôi Đối với hệ thống

Trang 18

nuôi bán thâm canh và thâm canh, nước lợ thường được bơm trực tiếp từ các con

sông và kênh mương vào ao lắng và xử lý trước khi được dùng cho nuôi tôm Thứ

hai là giống: diện tích nuôi cùng với mức độ thâm canh tăng lên đã dẫn đến sự phụ

thuộc ngày càng lớn vào nguồn giống tự nhiên và nguồn cung cấp giống nhân tạo từ các trại giống Tuy nhiên, trong những năm gần đây sản lượng tôm giống chưa đáp

ứng được nhu cầu xét về mặt sản lượng và chất lượng cho nghề nuôi tôm Thứ ba là

thức ăn và quản lý thức ăn: Quản lý thức ăn cho nuôi tôm được xem là kỹ thuật

quan trọng nhất đối với hoạt động nuôi tôm có hiệu quả ở Đồng bằng sông Cửu Long vì chi phí cho thức ăn chiếm khoảng 60% tổng chi phí nuôi tôm

1.2.2.2 Nuôi cá ruộng

Giới thiệu mô hình nuôi: Nuôi cá ruộng là một phương thức sản xuất kết hợp

giữa cấy lúa nước và nuôi cá trên cùng một thửa ruộng, thường lấy sản xuất lúa làm chính Trong ruộng nuôi cá, năng suất lúa tăng từ 5 đến 15%, đồng thời mỗi ha lúa thu thêm được từ 150 đến 500 kg cá thịt tùy theo điều kiện ruộng nuôi và kỹ thuật nuôi

Vùng nuôi: Việt Nam có nghề nuôi cá ruộng khá phát triển, nghề này phát

triển sớm nhất tại một số huyện của các tỉnh miền núi phía Bắc như Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Sơn La… Hiện nay, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai trung tâm phát triển mạnh nhất và có tiềm năng lớn về phát triển nuôi cá ruộng trong phạm vi cả nước

Thiết kế hệ thống nuôi: có hai hình thức nuôi chủ yếu là nuôi xen canh và

nuôi luân canh Nuôi xen canh là nuôi cá và cấy lúa trong cùng một thời vụ, lúa cấy

xong ít ngày mới thả cá giống vào ruộng, thu hoạch cá thường phải làm xong trước

khi gặt lúa Nuôi luân canh là cấy một vụ lúa và thu hoạch xong rồi mới nuôi một

vụ cá Cửa cấp nước và tháo nước đặt ở hai bờ đối diện đảm bảo nước chảy đều khắp ruộng khi cấp nước Bộ phận quan trọng nữa là mương và ao cá trong ruộng là nơi trú ẩn an toàn cho cá mỗi khi phải tháo cạn nước ruộng để làm cỏ, phun thuốc trừ sâu, bón phân; mương và ao đồng thời cũng là nơi trú nóng cho cá, nơi tập trung cho cá ăn, nơi thu hoạch cá Ruộng nhỏ đào một ao, ruộng to đào hai đến ba ao cá ở giữa ruộng hoặc bìa ruộng

Đối tượng nuôi: ở các tỉnh phía Bắc chủ yếu là nuôi cá chép, ở các tỉnh Nam

Bộ chủ yếu là nuôi cá mè vinh, cá sặc, cá lóc, cá rô phi, cá rô đồng, cá trắm cỏ, cá trê…

Các yếu tố đầu vào: Nước: ruộng kết hợp nuôi cá cần phải có các điều kiện

như nguồn cấp nước dồi dào, không bị ô nhiễm, cấp thoát nước thuận tiện cho cả

Trang 19

cây lúa và cá nuôi Khi đưa nước vào ruộng phải đưa từ từ để cá thích nghi với điều kiện tự nhiên Khi cần phun thuốc trừ sâu cho lúa thì phải tháo cạn mặt nước ruộng, dồn cá xuống mương ao đảm bảo an toàn cho cá Thuốc trừ sâu nên dùng loại ít độc

hại đối với cá Giống cá nuôi: nên chọn các đối tượng nuôi ngắn ngày, giá trị kinh

tế cao và phù hợp với giống lúa ngắn ngày nhằm đem lại năng suất, chất lượng cao

cho cả lúa và cá nuôi Thức ăn: hình thức nuôi này chủ yếu để cá tìm thức ăn tự

nhiên trong ruộng như cỏ dại, giun, ốc, tôm cá tạp nhỏ, côn trùng, sâu hại lúa, thóc rụng hoặc bổ sung thêm cho cá bằng thức ăn nhân tạo

1.2.2.3 Nuôi cá chép, cá rô phi trong ao nước ngọt và mô hình kết hợp vườn, ao, chuồng (VAC)

Giới thiệu mô hình nuôi: Cá chép là loài ăn thực vật, phù hợp với điều kiện

của người nông dân nên được thả để nuôi một cách nhanh chóng và phổ biến Bên cạnh những loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến như cá tra, basa thì cá rô phi cũng được coi là loài nuôi có triển vọng với quy mô nuôi và xuất khẩu lớn

Vùng nuôi: Vùng nuôi cá nước ngọt chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long,

trong đó sản lượng đạt cao nhất là An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp đứng hàng thứ hai và thứ ba Ngoài ra, Đồng bằng sông Hồng cũng là nơi nuôi cá nước ngọt với sản lượng lớn

Thiết kế hệ thống nuôi: Hiện nay, có nhiều hệ thống nuôi cá nước ngọt

Trong đó có 6 hình thức nuôi thủy sản nước ngọt phổ biến bao gồm nuôi ao hộ gia đình, hệ thống nuôi cá lúa, VAC, các khu vực nuôi chuyên môn hóa, nuôi cá hồ chứa và nuôi trong ao nước thải Trong đó, mô hình nuôi cá kết hợp VAC rất phổ biến tại Miền Bắc và Miền Trung Các ao trong hệ thống VAC thường đặt ngay ở

hộ gia đình hoặc được xây dựng trong các trại nuôi mới Chuồng lợn thường đặt tại

bờ ao, phân lợn hoặc các chất thải khác có thể thải trực tiếp vào ao nuôi cá

Các yếu tố đầu vào: Thứ nhất là nước, các nguồn nước cho các hoạt động

nuôi trồng thủy sản là khác nhau tùy theo vùng nuôi và hình thức nuôi và chủ yếu được cung cấp từ các con sông thông qua hệ thống kênh tưới Hoạt động nuôi cá nước ngọt ít khi thay nước trong suốt thời gian nuôi Mỗi khi cá được thu hoạch, nước thải chảy trực tiếp ra khu vực xung quanh chẳng hạn như kênh hoặc các ao mà

không qua xử lý Thứ hai là giống, cá nước ngọt bố mẹ ngày nay bắt nguồn từ cá

nuôi trong ao Mỗi trại giống có chương trình lựa chọn cá bố mẹ riêng của mình để

duy trì chất lượng và số lượng giống Thứ ba là thức ăn và quản lý thức ăn, việc

nuôi cá nước ngọt từ mô hình VAC hiếm khi bổ sung thức ăn vào ao nuôi ngoại trừ đối với nuôi thâm canh cá rô phi Thức ăn được sử dụng phổ biến là phân của động vật, gia cầm hay các sản phẩm từ nông nghiệp như rau, chuối, gạo vỡ, ngô… được

Trang 20

sử dụng làm thức ăn cho cá Khối lượng sử dụng các loại thức ăn này rất khó xác định vì nông dân thường dựa theo kinh nghiệm của họ Nhìn chung thì các hệ thống nuôi này tác động đến môi trường ở mức độ tương đối, bởi vì trong quá trình nuôi, thức ăn được sử dụng là từ thực vật và phân của động vật mà không sử dụng thức ăn

tự chế hay thức ăn công nghiệp Ao cá ít khi thay nước trong thời gian nuôi Tuy nhiên, nước thải trong đầm nuôi sẽ có khả năng bị nhiễm phân từ phân của gia súc, gia cầm là rất cao

Ngoài ra, còn rất nhiều mô hình nuôi, loài nuôi khác có giá trị kinh tế cao, tăng thu nhập cho người dân và cũng không ngừng gia tăng tác động xấu đến môi trường

1.3 Các nhân tố tác động tiêu cực đến môi trường trong nuôi trồng thủy sản và

sự cần thiết phải bảo vệ môi trường

1.3.1 Các nhân tố tác động tiêu cực đến môi trường trong nuôi trồng thủy sản

Sự phát triển nuôi trồng thủy sản mạnh mẽ lại kéo theo các tác động môi trường diễn ra ở quy mô ngày càng lớn và hết sức đa dạng Cụ thể kể đến một số tác động như sau:

Thứ nhất là địa điểm, vị trí ao nuôi: Lựa chọn địa điểm nuôi và hệ sinh thái

tại vùng nuôi có vai trò quan trọng trong quản lý môi trường và tác động tương hỗ giữa môi trường và nuôi trồng thủy sản Đây là vấn đề chung nhất trong nuôi trồng thủy sản ven biển và là vấn đề chung chi phối ngành nuôi trồng thủy sản

Các cơ sở nuôi trồng thủy sản được xây dựng tại những vùng không phù hợp như các đầm tôm trong các vùng ngập mặn hoặc ở các vùng cát đã làm nguy hại đến rừng ngập mặn, nền đáy, bãi cát, nguồn cung cấp nước ngọt và tài nguyên thiên nhiên Nuôi tôm là minh họa rõ nhất về tác động môi trường do chọn không đúng địa điểm nuôi, phá hủy rừng ngập mặn và các tác động môi trường khác có liên quan đến vị trí ao nuôi tôm, phần lớn là do quy hoạch phát triển ngành không phù hợp Tại các tỉnh Miền Trung như Ninh Thuận và Bình Thuận, việc xây dựng các ao tôm trong vùng cát gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực như làm cạn kiệt nguồn nước ngầm, sự xâm thực của nước mặn, ô nhiễm nguồn nước và hậu quả là bệnh dịch bùng phát, thiệt hại kinh tế

Ngoài ra quy hoạch không phù hợp sẽ làm cho các loại hình nuôi trồng thủy sản gây ảnh hưởng lẫn nhau do vị trí các trại nuôi không phù hợp Nuôi cá lồng trên biển ở Cát Bà, Hải Phòng đã gây suy thoái vùng nước xung quanh, sự nhiễm bẩn các chất thải hữu cơ và vô cơ từ các lồng nuôi đã trở nên cực kỳ nghiêm trọng do sự gia tăng về số lồng nuôi, kết quả là làm cho các loài tảo độc nở hoa, gây ra hiện tượng thủy triều đỏ Chọn địa điểm đặt lồng nuôi không phù hợp không những tác

Trang 21

động lên chất lượng vùng nước mà còn gây mâu thuẫn với các ngành du lịch, giao thông đường thủy và khai thác cá Nuôi trồng thủy sản trên đất liền cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực do quy hoạch kém và địa điểm trại nuôi không phù hợp Nuôi thâm canh cá tra, basa trong ao vẫn còn tình trạng tự phát, một số ao nuôi vẫn còn được xây dựng cạnh các chợ, các điểm xả nước thải, mật độ các lồng nuôi cao làm cho mức độ ô nhiễm nước cao và gây cản trở đến giao thông đường thủy và đánh bắt

Thứ hai là giống: Nhu cầu về con giống và giống bố mẹ để cung cấp cho sự

phát triển nhanh chóng của nghề nuôi trồng thủy sản Việt Nam đã thực sự gây nên nhiều mối quan ngại Hậu quả là các trại giống tận dụng con giống bố mẹ đến mức tối đa, cho đẻ nhiều lần qua nhiều đợt dẫn đến chất lượng không cao và ảnh hưởng xấu khi nuôi thương phẩm

Do nguồn cung không đủ cầu dẫn đến sự leo thang về giá, sự tăng lên về giá thường kéo theo gia tăng mức độ khai thác do lợi nhuận cao dẫn đến nguồn lợi tự nhiên bị cạn kiệt Con giống ngoài tự nhiên đã trở nên bị cạn kiệt trong mấy năm gần đây Kết quả khai thác của ngư dân vùng biển Cát Bà và Hạ Long giảm từ 100 con xuống còn 10 con đến 20 con giống trên một ngày17 Việc gia tăng nhu cầu về con giống không những làm tăng thêm áp lực cho nguồn lợi tự nhiên mà còn khiến cho người nuôi nhập giống từ các nước khác với hậu quả là làm tăng nguy cơ đưa tác nhân gây bệnh mới vào vùng nuôi, sự xâm nhập của sinh vật ngoại lai

một lượng nước lớn hay thường xuyên thay tháo nước như mô hình nuôi tôm, cá tra, basa, cùng với việc cho ăn thừa tạo ra lượng chất thải lớn làm ô nhiễm nguồn nước, bệnh dịch phát sinh dẫn đến sự thiệt hại tài chính cho người nuôi

Ở các khu vực xung quanh vùng nuôi, chất lượng nước xấu đi do tích tụ các chất thải, trong nước có hàm lượng nitơ và phốt phát cao có thể dẫn đến sự nở hoa của tảo gây thiếu ôxi ở bên dưới khu vực nuôi Ô nhiễm nguồn nước cũng làm tăng mâu thuẫn giữa các ngành sản xuất với nhau, thậm chí ngay trong chính nghề nuôi trồng thủy sản Bên cạnh ô nhiễm nguồn nước, sử dụng bất hợp lý nguồn nước cũng

có tác động tiêu cực đến môi trường và các nguồn tài nguyên khác, việc khai thác nước ngầm để khống chế mặn trong các ao nuôi tôm trên cát có ảnh hưởng cực kỳ bất lợi đến nguồn nước ngọt sử dụng cho con người và sản xuất nông nghiệp

Thứ tư là thức ăn: Mặc dù chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất trong các chi

phí cho một mô hình nuôi trồng thủy sản, cho ăn thừa vẫn còn rất phổ biến trong

17

Hướng dẫn quản lý môi trường trong đầu tư nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam- Viện Quản lý thủy sản, Viện

Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, Mạng lưới các Trung tâm nuôi trồng thủy sản Châu Á- Thái Bình Dương, Trường Đại học Cần Thơ, Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên, tháng 6 năm 2006

Trang 22

nhiều mô hình nuôi và là một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường nước, làm phát sinh dịch bệnh thủy sản và cuối cùng là tổn thất kinh tế

Việc cho ăn thừa xuất phát từ kiến thức và kỹ thuật nuôi kém của người nuôi, đặc biệt là ở những cơ sở nuôi quy mô nhỏ Sử dụng cá tạp làm thức ăn cũng là một vấn đề đáng lo ngại, vì giá rẻ nên loại thức ăn này được sử dụng rất phổ biến trong nuôi cá biển và là nguyên nhân khiến người nuôi cho ăn quá mức cần thiết gây ô nhiễm cao cho nguồn nước Thêm vào đó, việc sử dụng cá tạp góp phần làm cạn kiệt nguồn lợi thủy hải sản ven bờ và đây là việc làm không bền vững đối với ngành nuôi trồng thủy sản

Trong bối cảnh hiện nay, ngành nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển nhanh thì nguồn lợi có thể sử dụng được như đất, nước lại bị hạn chế, vì vậy sử dụng hiệu quả các nguồn này là vấn đề hết sức cần thiết

1.3.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản

Chính vì phát triển nhanh, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng trong những năm gần đây đang phải đối mặt với những thách thức lớn về ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng như việc cải tạo, sên vét ao đầm nuôi tôm; thải nước, bùn trực tiếp ra sông, rạch; sau khi tôm bị chết, nguồn nước ô nhiễm chưa được xử lý lại xả ra sông

Nguồn nước bị ô nhiễm không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người

và các sinh vật khác mà nó còn là nguyên nhân dẫn đến tình trạng dịch bệnh thủy sản bùng phát, lây lan qua các khu vực lân cận Ngoài ra, nghề nuôi tôm hùm, cá biển bằng lồng phát triển rộng rãi ở nhiều nơi như Quảng Ninh, Thanh Hoá, Quảng Bình, Ninh Thuận đã làm ô nhiễm môi trường do nước thải chưa xử lý cùng thức

ăn thừa đổ thẳng ra vùng nước; các rừng ngập mặn và các bãi triều đang liên tục bị phá hủy để lấy đất nuôi tôm, ngao, sò, cua

Sự phá hủy rừng không chỉ làm ảnh hưởng đến hệ động vật hoang dã nơi đây,

mà còn làm mất cân bằng khu hệ thực vật ven biển, từ đó ảnh hưởng đến cuộc sống người dân Vấn đề sử dụng hóa chất độc hại, thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy định cũng gây ô nhiễm môi trường và an toàn thực phẩm cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu, tiêu thụ trong nước

Việc nuôi trồng thủy sản với mật độ cao, năng suất lớn đã gây ra các tác động cho môi trường ngày càng nghiêm trọng Các vấn đề này nảy sinh từ ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng nhanh các cơ sở nuôi quy mô nhỏ ở vùng đất cằn cõi hoặc chuyển đổi một cách ồ ạt những vùng đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, phá rừng ngập mặn sang nuôi trồng thủy sản trong khi các điều kiện hỗ trợ cho nghề như kỹ thuật nuôi, hệ thống xử lý nước thải, quy hoạch vùng nuôi, giống thủy sản… chưa

Trang 23

đáp ứng được yêu cầu đã đe dọa đến sự phát triển bền vững của chính nghề nuôi trồng thủy sản và gây ra các tác động xấu đến môi trường Nếu không được xử lý triệt để, vấn đề ô nhiễm môi trường có thể gây mất cân bằng hệ sinh thái tự nhiên và ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thủy sản

Vấn đề môi trường đặc biệt nghiêm trọng tại những khu vực đầm phá kín, cửa sông và các hệ sinh thái rừng ngập mặn bị phá vỡ, nơi mà môi trường sống nhạy cảm và việc trao đổi nước bị hạn chế Hơn thế nữa, sự phát triển tự phát đã dẫn đến việc ảnh hưởng lẫn nhau và tự gây ô nhiễm, kết quả là dịch bệnh bùng phát liên miên dẫn đến thiệt hại lớn đối với người nuôi

Trước tốc độ ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng trong nuôi trồng thủy sản của cả nước nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, nếu những người nuôi trồng thủy sản không có ý thức bảo vệ môi trường thì hậu quả sẽ càng nghiêm trọng hơn, không những làm ô nhiễm môi trường mà còn làm cho dịch bệnh phát sinh, gây thiệt hại kinh tế cho chính người nuôi

Phát triển kinh tế là rất quan trọng, song bảo vệ môi trường cũng không kém phần quan trọng hơn Nuôi trồng thủy sản không thể giữ tốc độ phát triển như hiện nay nếu không có sự cải tiến lớn trong quản lý, phải kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ

môi trường và nuôi trồng thủy sản một cách lâu dài và bền vững

1.4 Khái quát pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và trong nuôi trồng thủy sản

Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường nói chung và trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng Nhiều quy phạm pháp luật về môi trường được ban hành trong văn bản pháp luật chung và cũng có nhiều văn bản quy phạm pháp luật môi trường được hệ thống hóa và ban hành trong văn bản pháp luật riêng về lĩnh vực môi trường, cụ thể như sau:

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền tảng của hệ

thống pháp luật Việt Nam, các quy định của Hiến pháp tùy thuộc vào những nội dung khác nhau và là nguồn của tất cả các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam và dĩ nhiên cũng là nguồn của luật môi trường, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi,

bổ sung 2001) là cơ sở cho việc ban hành các quy phạm pháp luật về môi trường

Có những đạo luật mà Nhà nước ban hành chỉ để điều chỉnh các vấn đề cụ thể về môi trường, song cũng có những đạo luật trong đó Nhà nước xác định nghĩa

vụ, trách nhiệm của chủ thể đối với việc bảo vệ môi trường trong một lĩnh vực cụ thể nào đó như thương mại, giao thông, xây dựng, khoáng sản…

Trang 24

Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định trách nhiệm hình

sự đối với những hành vi xâm hại các yếu tố của môi trường như tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, tội gây ô nhiễm không khí, tội gây ô nhiễm nguồn nước, tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản… tại chương XVII- Chương các tội phạm về môi trường

Bộ luật Dân sự năm 2005 điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong đó cũng đặc

biệt lưu ý đến các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường như: Điều 263 quy định

về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc bảo vệ môi trường; Điều 270 quy định nghĩa

vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải và đặc biệt hơn cả là quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường của Điều 624 Bộ luật Dân sự năm

2005 Trong quá trình khai thác, sử dụng các yếu tố khác nhau của môi trường, giữa các tổ chức, cá nhân có thể xảy ra những tranh chấp

Luật Thủy sản năm 2003 nhằm ngăn ngừa, hạn chế sự gia tăng ô nhiễm,

suy thoái môi trường trong quá trình phát triển ngành thủy sản; kết hợp chặt chẽ và hài hòa giữa nuôi trồng thủy sản với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững ngành thủy sản Quốc hội đã thông qua Luật Thủy sản ngày 26 tháng 11 năm 2003 (thay thế Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản năm 1989) quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản…

Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thay thế cho Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 Với 15 chương, 136 điều, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là nguồn cơ bản nhất của pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành, được giành riêng cho các vấn đề bảo vệ môi trường với những nội dung cơ bản như: Chính thức hóa một số khái niệm về môi trường và các yếu tố của nó, đưa

ra các nguyên tắc cơ bản về bảo vệ môi trường, chính sách bảo vệ môi trường, các hoạt động bảo vệ môi trường được Nhà nước khuyến khích và các hành vi bị nghiêm cấm; xác định trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với các ngành, lĩnh vực như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản, du lịch, nông nghiệp, thủy sản…

Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã

hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 6 năm

2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 Luật này quy định về quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra thuộc lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Trang 25

Luật tài nguyên nước số 08/1998/QH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực

Luật Biển Việt Nam số 18/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 21 tháng 6 năm 2012 Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương và 55 điều, Luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm

2013 Lần đầu tiên, Việt Nam có một văn bản luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng Công ước Luật Biển năm 1982 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo nước ta

Theo quy định tại Điều 43 Luật Biển Việt Nam 2012 thì nuôi trồng thủy sản

là một trong sáu ngành kinh tế biển được Nhà nước ta ưu tiên tập trung phát triển Tuy vậy, tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản trong vùng biển Việt Nam phải có trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển theo quy định tại Khoản

1 Điều 35 Luật Biển Việt Nam 2012: “Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu

thuyền, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ mọi quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan đến việc gìn giữ, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển”

 Nghị định của Chính phủ: Các văn bản của Chính phủ có liên quan đến

vấn đề môi trường được ban hành khá nhiều:

Nghị định số 27/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thủy sản 2003

Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản

Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường

Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ

về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như: vi phạm các quy định về xả nước thải, vi phạm các quy định về độ rung, vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường biển, vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản…

Nghị định số 31/2010/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản, cụ thể như: vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, vi phạm các quy định về khai thác

Trang 26

thủy sản và quản lý tàu cá, vi phạm các quy định về nuôi trồng thủy sản, vi phạm các quy định về chế biến thủy sản…

Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường

 Ngoài ra còn có rất nhiều Thông tư được ban hành trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản như:

Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17 tháng 3 năm 2009 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng

Thông tư số 44/2010/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 7 năm 2010 quy định

về điều kiện cơ sở, vùng nuôi tôm sú, tôm chân trắng thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Thông tư số 45/2010/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 7 năm 2010 quy định

về điều kiện cơ sở, vùng nuôi cá tra thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Thông tư số 03/2012/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 01 năm 2012 sửa đổi,

bổ sung Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17 tháng 3 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm

sử dụng, hạn chế sử dụng

Thông tư số 04/2012/TT-BNNPTNT, ngày 16 tháng 01 năm 2012 về việc đưa các sản phẩm có chứa CYPERMETHRIN, DELTAMETHRIN ra khỏi danh mục sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản; thuốc thú y thuỷ sản được phép lưu hành tại Việt Nam

 Bên cạnh các văn bản của Chính phủ, các Bộ và Cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh cũng ban hành nhiều văn bản về môi trường Tác dụng giải thích và định hướng của các văn bản này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện pháp luật môi trường

Trang 27

Trước đây, về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản đã có nhiều Nghị định quy định về vấn đề này như Nghị định số 128/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2005 quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản; Nghị định số 154/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2006 về việc sửa đổi, bổ sung Điều 17 Nghị định số 128/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2005 Ngày 29 tháng

3 năm 2010 Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2010/NĐ-CP quy định về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản: “Việc xử phạt vi phạm hành chính đối

với các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thủy sản nếu chưa quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” 18 Ngoài ra,

trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nếu gây ô nhiễm môi trường sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 về xử

lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Qua đó cho thấy, việc xử lý vi phạm hành chính trong nuôi trồng thủy sản không chỉ nằm trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 31/2010/NĐ-CP mà nó còn là đối tượng nằm trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 117/2009/NĐ-CP Trong đó, vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là những hành vi vi phạm các quy định quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân,

tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định tại Nghị định số 117/2009/NĐ-CP phải bị xử phạt vi phạm hành chính Đối với

cơ sở gây ô nhiễm môi trường, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bị áp dụng hình thức xử lý tạm thời đình chỉ hoạt động, buộc di dời, cấm hoạt động theo

quy định tại Chương III của Nghị định số 117/2009/NĐ-CP

18

Khoản 10 Điều 1 Nghị định số 31/2010/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2010 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản

Trang 28

2.1 Dấu hiệu pháp lý vi phạm hành chính của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường

2.1.1 Về mặt chủ thể

Theo quy định của pháp luật Hành chính Việt Nam, chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức trong nước và cá nhân, tổ chức nước ngoài (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức)

Chủ thể là cá nhân: Cá nhân chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành

chính khi có năng lực trách nhiệm hành chính Năng lực trách nhiệm hành chính là khả năng nhận thức của con người đối với hành vi vi phạm hành chính, có hai yếu

tố để xác định năng lực trách nhiệm hành chính của cá nhân là: thứ nhất là từ đủ 14 tuổi và thứ hai là không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức của hành vi19

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa chủ thể vi phạm hành chính với đối tượng vi phạm hành chính Cá nhân chỉ cần có năng lực trách nhiệm hành chính là

có thể trở thành chủ thể vi phạm hành chính, còn đối tượng vi phạm hành chính ngoài việc đảm bảo có năng lực trách nhiệm hành chính, còn phải thực hiện hành vi

vi phạm hành chính cụ thể trên thực tế20

Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi,

bổ sung năm 2008) thì đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là cá nhân bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra; quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với các công dân khác21

Đối với chủ thể là cá nhân theo quy định của Luật Thủy sản 2003 là người trực tiếp hoạt động thủy sản mà cụ thể là người trực tiếp tổ chức, tiến hành nuôi trồng thủy sản hoặc người đại diện của Hộ gia đình đăng kí kinh doanh hoạt động nuôi trồng thủy sản và khi cá nhân này có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản thì họ sẽ trở thành đối tượng của vi phạm hành chính trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản và đều bị xử phạt theo các quy định tại Nghị định số 31/2010/NĐ-CP Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân nuôi trồng thủy sản có hành

vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản và gây ô nhiễm môi trường trong quá trình nuôi sẽ bị xử lý theo Nghị định số 117/2009/NĐ-CP

Trang 29

Đối với người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản thì bị xử phạt theo quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung 2008)

Chủ thể là tổ chức: Pháp luật hành chính Việt Nam coi tổ chức là chủ thể vi

phạm hành chính bao gồm: các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế,

tổ chức nước ngoài

Theo điểm b Khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002

(sửa đổi, bổ sung năm 2008) quy định: “Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi

phạm hành chính do mình gây ra Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị

xử phạt xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm pháp lý của người đó theo quy định của pháp luật”

Đối với chủ thể là tổ chức nuôi trồng thủy sản có thể là pháp nhân, hợp tác

xã Đối với pháp nhân thì phải được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ,

có năng lực pháp luật của một pháp nhân… Với chủ thể là hợp tác xã nuôi trồng thủy sản, đây là chủ thể được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác về đất để nuôi trồng thủy sản, vốn, kinh nghiệm… có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã; hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2003 để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động nuôi trồng thủy sản và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế

xã hội của đất nước22

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết đề cập đến chủ thể vi phạm hành chính cụ thể là cá nhân, tổ chức trong nước (có đủ năng lực trách nhiệm hành chính đối với cá nhân và được thành lập hợp pháp đối với tổ chức) trực tiếp nuôi trồng thủy sản và có hành vi gây ô nhiễm môi trường

2.1.2 Về mặt chủ quan

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những quan hệ tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm hành chính, bao gồm: lỗi, mục đích, động cơ Trong đó, dấu hiệu tập trung cơ bản nhất của mặt chủ quan là yếu tố lỗi

Dưới góc độ Luật Hành chính Việt Nam yếu tố lỗi có điểm đặc thù so với yếu tố lỗi trong tội phạm hình sự Cụ thể là yêu cầu về yếu tố lỗi không khắt khe như xác định lỗi trong tội phạm Bởi vì, nếu khi xác định tội phạm, lỗi cần phải được xem xét một cách chính xác và xác định cho được hình thức và mức độ lỗi thì

22 Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 2003

Trang 30

khi xử phạt hành chính chỉ cần xác định lỗi theo nghĩa người vi phạm biết hoặc có thể biết tính chất sai trái của mình là đủ để xác định có hành vi vi phạm hành chính xảy ra Hành vi đó phải là kết quả của sự lựa chọn, tự quyết định của đối tượng vi phạm trong khi có đủ điều kiện để quyết định cách xử sự theo đúng yêu cầu của pháp luật nhưng trên thực tế người đó đã thực hiện hành vi trái pháp luật, xâm hại đến quan hệ xã hội được Luật Hành chính Việt Nam bảo vệ và duy trì Chính vì vậy

mà đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói riêng dù là cố ý hay vô ý vi phạm các quy định quản lý của Nhà nước thì phải bị xử phạt vi phạm hành chính Đa số lỗi trong vi phạm hành chính là do thiếu thận trọng, vô tình hay coi nhẹ nghĩa vụ pháp lý

Đối với người nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường do lỗi cố ý như hành vi trực tiếp xả nước thải ra môi trường xung quanh, sử dụng hóa chất, thuốc thú y ngoài Danh mục cho phép, phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản… trong khi họ nhận thức được đó là việc làm mà pháp luật không cho phép, gây ảnh hưởng tới môi trường, tới đời sống sinh hoạt của mọi người xung quanh nhưng họ có thái

độ xem thường và vẫn thực hiện hành vi vi phạm Người nuôi trồng thủy sản thực hiện hành vi với lỗi cố ý thì mức độ vi phạm sẽ lớn hơn so với lỗi vô ý, những hành

vi với lỗi cố ý thường ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và gây ô nhiễm lớn

Đối với lỗi vô ý, người nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường có thể

do họ thiếu sự thận trọng hoặc vô tình gây ra mà họ vẫn không biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật cũng như nghĩa vụ pháp lý mà họ phải gánh chịu khi thực hiện hành vi, chẳng hạn như xả nước thải không qua xử lý do thói quen nuôi trồng ở địa phương, ý thức bảo vệ môi trường kém, họ cứ nghĩ tài nguyên nước là vô tận và không nhận thức được tầm quan trọng, vai trò của hệ thống xử lý nước thải trong nuôi trồng thủy sản Thậm chí, nhiều hộ còn thải nước sinh hoạt xuống ao nuôi cá hoặc nuôi trong ao nước tù đọng, sử dụng phân gia súc, gia cầm chưa qua xử lý làm thức ăn cho cá khi đến thời kỳ thu hoạch thì xả nước trong ao nuôi ra môi trường xung quanh rồi lại đưa nước từ đó vào ao để nuôi tiếp… dẫn đến hệ lụy của những việc làm này là không những làm ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cá, thậm chí làm cá chết hàng loạt, thiệt hại về kinh tế Chính

vì vậy, dù với lỗi cố ý hay vô ý thì người nuôi trồng thủy sản vẫn gây ô nhiễm môi trường và họ phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình

Ngoài ra, mục đích, động cơ cũng là những dấu hiệu của mặt chủ quan của

vi phạm hành chính Tuy nhiên, những dấu hiệu này không có ý nghĩa quyết định như dấu hiệu lỗi và không được coi là dấu hiệu cơ bản có tính bắt buộc trong mọi

Trang 31

cấu thành vi phạm hành chính Một thực tế hiện nay là người nuôi thủy sản chỉ quan tâm đầu tư nâng cao năng suất nhưng chưa chú ý bảo vệ môi trường, họ chỉ hướng tới mục tiêu là mang lại lợi ích kinh tế từ việc nuôi trồng thủy sản, sẵn sàng cắt giảm chi phí nuôi như việc xử dụng cá tạp làm thức ăn, không đầu tư hệ thống xử lý nước thải, không sử dụng thuốc thú y theo quy định do có giá thành cao… và để có lợi nhuận cao hơn, họ sẵn sàng phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, nuôi cá, ào ạt bỏ lúa lập vuông nuôi, nuôi một cách tự phát không theo quy hoạch… mặc dù biết đó

là những hành vi bị cấm nhưng họ vẫn làm, còn việc lập và thực hiện cam kết bảo

vệ môi trường trong hoạt động nuôi trồng thủy sản thì họ lại không làm theo

Có thể nói, động cơ và mục đích hầu như chỉ tồn tại ở lỗi cố ý và nó có thể

là nguyên nhân góp phần thúc đẩy hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động

nuôi trồng thủy sản

2.1.3 Về mặt khách thể

Khách thể vi phạm hành chính là các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Đó chính là các trật tự quản lý hành chính Nhà nước được ghi nhận tại các quy phạm pháp luật Hành chính Việt Nam Trong nuôi trồng thủy sản, hành vi gây ô nhiễm môi trường chính là hành vi phá vỡ, đảo lộn các trật tự quản lý hành chính nhà nước về bảo vệ môi trường được duy trì và xác định trong các văn bản quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam, cụ thể là các quy định của Luật Thủy sản

2003, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản Người thực hiện hành vi này đã xâm hại khách thể là trật tự quản lý hành chính Nhà nước

về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản Thành phần môi trường bị ảnh hưởng từ việc nuôi trồng thủy sản gồm có môi trường đất, nước… Người viết

sẽ đề cập đến đối tượng là người nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm môi trường nói

cũng được coi là nguyên tắc khi xử lý vi phạm hành chính: “Cá nhân, tổ chức chỉ bị

xử lý vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy

Trang 32

định”23 Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết sẽ tìm hiểu về các hành vi của tổ chức, cá nhân trực tiếp nuôi trồng thủy sản vi phạm các quy định về nuôi trồng thủy sản và hành vi đó gây ô nhiễm môi trường

2.2 Xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản gây

ô nhiễm môi trường theo Nghị định số 117/2009/NĐ-CP

2.2.1 Khu nuôi trồng thủy sản tập trung có một trong các hành vi không đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường

Cá nhân, tổ chức khu nuôi trồng thủy sản tập trung có một trong các hành vi sau đây thì xử lý theo Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 117/2009/NĐ-CP:

“Thứ nhất, chất thải không được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải;

Thứ hai, không phục hồi môi trường ngay sau khi ngừng hoạt động nuôi trồng thủy sản;

Thứ ba, không bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường, sử dụng hóa chất độc hại hoặc tích tụ độc hại”

Chất thải trong nuôi trồng thủy sản hầu hết là chứa phân của các loài thủy sản tôm cá, xác thủy sản chết, các nguồn thức ăn dư thừa thối rửa bị phân hủy, các chất tồn dư của các loại vật tư sử dụng trong quá trình nuôi như: hóa chất, vôi và các loại thuốc thú y nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi trồng thủy sản thải ra hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi

Một trong những hành vi bị cấm trong hoạt động thủy sản là:“Xả thải nước,

chất thải từ cơ sở sản xuất giống thuỷ sản, cơ sở nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở bảo quản, chế biến thuỷ sản mà chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn quy định

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản thương phẩm - điều kiện vệ sinh thú y theo quy định của pháp luật là: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) 01- 80: 2011/BNNPTNT

QCVN 01- 80: 2011/BNNPTNT quy định về chất thải trong nuôi trồng thủy:

“Các chất thải rắn, chất thải hữu cơ trong quá trình nuôi phải thu gom, phân loại và xử lý trước khi đưa vào các thùng chứa Các thùng chứa phải đảm bảo

Trang 33

an toàn, đặt đúng vị trí quy định, thuận tiện cho các hoạt động nuôi, không gây ô

“Đối với cơ sở nuôi thủy sản lồng, bè: Mỗi cơ sở phải lắp đặt thùng rác và chuyển đến nơi thu rác tập trung Nếu chưa có tổ chức thu gom rác tập trung thì các cơ sở phải có biện pháp xử lý đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến nguồn nước Không tùy tiện xả rác, thức ăn ôi thiu xuống khu vực

Luật Tài nguyên nước năm 2012 nghiêm cấm hành vi: “Đổ chất thải, rác

thải, đổ hoặc làm rò rỉ các chất độc hại vào nguồn nước và các hành vi khác gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước” 27 Ngoài ra, Khoản 1 Điều 34 Luật Tài

nguyên nước 2012 còn quy định: “Tổ chức, cá nhân hoạt động trên biển phải có

phương án, trang thiết bị, nhân lực bảo đảm phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm nước biển”

Với các mô hình nuôi có quy mô lớn như nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp thì nguồn thải càng lớn và tác động gây ô nhiễm môi trường càng cao Nguồn nước bị ô nhiễm cũng dẫn đến sự gia tăng nguồn bệnh cho người và thủy sản Vì vậy, việc thu gom, xử lý chất thải trong quá trình nuôi trồng thuỷ sản có ý nghĩa rất quan trọng

Việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước là vô cùng cần thiết Nguồn nước hiện nay đang bị tác động bởi rất nhiều ngành, không chỉ trong nuôi trồng thủy sản mà còn trong sản xuất công nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt… Chính vì vậy, một trong những nguyên tắc về quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra của Luật Tài nguyên

nước 2012 quy định: “Khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải tiết kiệm, an toàn,

có hiệu quả; bảo đảm sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu, công bằng, hợp lý, hài hòa lợi

Trong nuôi trồng thủy sản các hoạt động bón vôi, phun thuốc để cải tạo đất phèn; sử dụng thuốc thú y; thức ăn dư thừa còn tồn đọng trong ao; bùn… tích tụ lại dưới đáy ao lâu ngày làm biến đổi, suy thoái đất, nước trong ao nuôi gây ô nhiễm môi trường

Trang 34

QCVN 01- 80: 2011/BNNPTNT đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản thương

phẩm- điều kiện vệ sinh thú y quy định: “Ao, bể, lồng, bè nuôi phải được tẩy dọn,

phơi trước và sau khi nuôi theo quy trình kỹ thuật hiện hành của Bộ Nông nghiệp và

tra thâm canh quy định việc chuẩn bị ao như sau: “Trước khi thả giống, cơ sở nuôi

cá tra phải cải tạo nền đáy, xử lý chất thải rắn, tác nhân gây bệnh tiềm ẩn với các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường ao nuôi, bảo đảm thời gian

thâm canh: “Trước khi thả giống, cơ sở nuôi tôm phải cải tạo ao nuôi với các biện

pháp phù hợp nhằm giảm thiểu mầm bệnh và cải thiện chất lượng đáy ao, bảo đảm

Lợi ích lâu dài của người tham gia vào nuôi trồng thủy sản là phải hoạt động theo hướng bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường Do đó, người nuôi trồng thủy sản phải đảm bảo thực hiện những điều kiện về bảo vệ môi trường ngay từ khi chuẩn bị ao nuôi, thả cá, thay tháo nước, thu hoạch… đến khi ngừng hoạt động nuôi trồng cũng phải có trách nhiệm phục hồi và cải tạo môi trường ao nuôi, bùn thải trong quá trình nuôi phải thu gom và đổ vào nơi quy định để xử lý tránh gây ô nhiễm cho vùng nuôi Nếu tổ chức, cá nhân trực tiếp nuôi trồng thủy sản sau khi ngừng hoạt động nuôi trồng mà không khôi phục, cải tạo ao nuôi thì chất độc hại còn tồn đọng trong ao không những ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh mà còn là nguyên nhân dẫn đến tình trạng dịch bệnh bùng phát, gây thiệt hại kinh tế cho chính người nuôi

Trong nuôi trồng thủy sản, việc sử dụng thức ăn, thuốc thú y, hóa chất xử lý

ao nuôi… đều phải đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, vừa đảm bảo an toàn cho đối tượng nuôi vừa bảo vệ được môi trường Việc sử dụng những hóa chất độc hại hoặc tích tụ độc hại không chỉ làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thủy sản, sức khỏe người tiêu dùng mà những hóa chất độc hại này sẽ trở thành nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường khi những dư lượng của chúng tích tụ trong đất hay hòa lẫn vào nguồn nước

Tình trạng người dân sử dụng một số loại thuốc, hóa chất, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản không nằm trong Danh mục sản phẩm xử lý, cải tại môi

Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 45/2010/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 7 năm 2010 quy định về điều kiện cơ

sở, vùng nuôi cá tra thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

31

Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 44/2010/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 7 năm 2010 quy định về điều kiện cơ

sở, vùng nuôi tôm sú, tôm chân trắng thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Trang 35

trường nuôi trồng thủy sản, thuốc thú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam

do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định ngày càng gia tăng, trong đó phổ biến có chất Trifluralin, Cypermethrin, Deltamethrin là những chất được sử dụng nhiều trong nuôi trồng thủy sản có nguồn gốc từ thuốc bảo vệ thực vật

Trong bài viết “Ảnh hưởng của Trifluralin đến đời sống thủy sinh vật và con

người” của PGS-TS Trương Quốc Phú, Khoa Thuỷ Sản, Trường Đại học Cần

Thơ có viết:“Trifluralin rất độc cho sức khỏe của người và động vật, dư lượng

vì vậy, không nên sử dụng loại hóa chất này trong nuôi trồng thủy sản Tổ chức,

cá nhân nuôi trồng thủy sản nên sử dụng các sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản được phép lưu hành tại Việt Nam Thông tư số 37/2012/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 7 năm 2012 ban hành Danh mục sửa đổi, bổ sung sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản được phép lưu hành tại Việt Nam bao gồm 311 sản phẩm sản xuất trong nước và 43 sản phẩm nhập khẩu33 Riêng đối với các chất độc hại như Trifluralin, Cypermethrin, Deltamethrin đều được quy định cụ thể Điển hình là Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17 tháng 3 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng và Thông tư số 20/2010/TT-BNNPTNT ngày 02 tháng 4 năm 2010 bổ sung hoạt chất Trifluralin vào Danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 15/2009/TT-BNN34

Do mức độ nguy hại của các chất này mà Thông tư số: 03/2012/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 01 năm 2012 tiếp tục sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2009/TT-BNN về việc đưa các chất Cypermethrim, Deltamethrin và Enrofloxacin ra khỏi Danh mục hoá chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản tại Phụ lục 3 vào Danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản tại Phụ lục 1 ban hành kèm Thông tư số 15/2009/TT-BNN35

Về phòng ngừa dịch bệnh thủy sản, Điều 36 Luật Thủy sản 2003 quy định:

“Khi dịch bệnh thuỷ sản phát sinh phải kịp thời có biện pháp xử lý và phải thông

35

Điều 1 và Điều 2 Thông tư số 03/2012/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 01 năm 2012 sửa đổi, bổ sung Thông

tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17 tháng 3 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng

Trang 36

báo cho chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn” và cấm việc“Thả thuỷ sản nuôi trồng bị nhiễm bệnh vào nơi nuôi trồng hoặc vào các vùng nước tự nhiên” 36

QCVN 01- 80: 2011/BNNPTNT quy định về việc sử dụng thuốc thú y trong nuôi trồng thủy sản:

“ Thuốc phòng trị bệnh, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hoá chất sử dụng trong nuôi trồng thủy sản phải có trong Danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam”

Thông tư số 25/2012/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 6 năm 2012 ban hành

Danh mục thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hoá chất dùng trong thú y thuỷ sản được phép lưu hành tại Việt Nam Thông tư quy định về tên thuốc, hoạt chất chính trong thuốc, dạng đóng gói, quy cách đóng gói, công dụng và số đăng ký Các sản phẩm được phép lưu hành bao gồm: sản phẩm sản xuất trong nước có 662 sản phẩm và sản phẩm nhập khẩu có 113 sản phẩm37

Thông tư số 38/2012/TT-BNNPTNT ngày 02 tháng 8 năm 2012 ban hành Danh mục các bệnh thuỷ sản phải công bố dịch Danh mục này được bổ sung khi có các bệnh nguy hiểm khác mới xuất hiện và cần phải công bố dịch

2.2.2 Xây dựng khu nuôi trồng thủy sản tập trung trên bãi bồi đang hình thành vùng cửa sông ven biển, phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản (Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 117/2009/NĐ-CP)

Tổ chức, cá nhân trực tiếp nuôi trồng thủy sản phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Khoản 5 Điều 47 Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy

định: “Không được xây dựng khu nuôi trồng thủy sản tập trung trên bãi bồi đang

hình thành vùng cửa sông ven biển; phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản”

Luật Thủy sản 2003 cấm các hành vi khai thác, huỷ hoại trái phép rừng ngập mặn và hệ sinh cảnh khác; phá huỷ, cản trở trái phép đường di chuyển tự nhiên của các loài thuỷ sản ở sông, hồ, đầm, phá, eo, vịnh và lấn, chiếm, xâm hại các khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển đã được quy hoạch và công bố để nuôi trồng thủy sản

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
30. Hướng dẫn quản lý môi trường trong đầu tư nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam- Viện Quản lý thủy sản, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, Mạng lưới các Trung tâm nuôi trồng thủy sản Châu Á- Thái Bình Dương, Trường Đại học Cần Thơ, Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên, tháng 6 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lý môi trường trong đầu tư nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
1. Vũ Văn Hậu- Thay đổi nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường- Số 14, kỳ 2 tháng 7/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường
2. PGs. TS. Dương Nhựt Long, PGs. TS. Nguyễn Thanh Phương, TS. Võ Nam Sơn- Giáo trình Nuôi trồng thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nuôi trồng thủy sản
3. Ths.Kim Oanh Na, Võ Hoàng Yến- Giáo trình Luật môi trường, Khoa Luật trường Đại Học Cần Thơ năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật môi trường
4. Minh Quang - Bảo vệ môi trường từ cơ sở, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường - Số 4, kỳ 2 tháng 2/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường từ cơ sở
6. ThS. Nguyễn Thanh Toàn- Giáo trình Luật Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản và Môi trường, Khoa Thủy sản, Trường Đại Học Cần Thơ năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản và Môi trường
7. TS. Nguy ễn Thị Thủy- Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam năm 2010
8. Giáo trình Luật môi trường- Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an Nhân dân năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật môi trường
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân năm 2006
9. Bình luận khoa học Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Nxb Tư pháp năm 2005. Danh mục các trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
Nhà XB: Nxb Tư pháp năm 2005.  Danh mục các trang thông tin điện tử
1. Thuận An- Suy thoái môi trường từ nghề thủy sản: http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2005/03/3b9dcb57/ [truy cập 29/9/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy thoái môi trường từ nghề thủy sản
2. Nguyễn Chung- Nuôi trồng thủy sản ở vịnh Cam Ranh: Nhiều tổ chức, cá nhân sai phạm:http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120722/nuoi-trong-thuy-san-o-vinh-cam-ranh-nhieu-to-chuc-ca-nhan-sai-pham.aspx [truy cập 22/10/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi trồng thủy sản ở vịnh Cam Ranh: Nhiều tổ chức, cá nhân sai phạm
3. Phúc Danh- Cấp bách bảo vệ môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản: http://thuyhaisan.net [truy cập 10/8/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấp bách bảo vệ môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản
4. Danh Lê- Yêu cầu tháo dỡ lồng bè tại Vũng Rô: http://m.tuoitre.vn/tin-tuc/Chinh-tri-Xa-hoi/Chinh-tri-Xa-hoi/163013,Yeu-cau-thao-do-long-be-tai-Vung-Ro.ttm [truy cập 04/10/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu tháo dỡ lồng bè tại Vũng Rô
5. Huỳnh Ngọc- Cà Mau: Bức xúc xả thải nuôi tôm công nghiệp: http://thuysanvietnam.com.vn/index.php/news/details/index/2236.let[truy cập 15/05/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cà Mau: Bức xúc xả thải nuôi tôm công nghiệp
6. Nam San- Nuôi trồng thủy sản phải gắn với bảo vệ môi trường:http://thanhtra.com.vn/tabid/77/newsid/51069/Default.aspx [truy cập 28/05/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi trồng thủy sản phải gắn với bảo vệ môi trường
7. Đình Tú - Q. Trọng- Nhan nhản thức ăn chăn nuôi ngoài danh mục, tại sao: http://www.fistenet.gov.vn/b-tin-tuc-su-kien/a-tin-van/nhan-nhan-thuc-an-chan-nuoi-ngoai-danh-muc-tai-sao [truy cập 23/05/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhan nhản thức ăn chăn nuôi ngoài danh mục, tại sao
19. Thông tư số 20/2010/TT-BNNPTNT ngày 02 tháng 04 năm 2010 về bổ sung, sửa đổi Thông tư số 15/2009/TT-BNNPTNT ngày 17 tháng 3 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng Khác
20. Thông tư số 44/2010/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 7 năm 2010 quy định về điều kiện cơ sở, vùng nuôi tôm sú, tôm chân trắng thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Khác
21. Thông tư số 45/2010/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 7 năm 2010 quy định về điều kiện cơ sở, vùng nuôi cá tra thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Khác
22. Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trưòng, cam kết bảo vệ môi trường Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w