Nghiên cứu được tiến hành tại các bệnh viện đa khoa BVĐK công lập tuyến tỉnh/thành phố và tuyến trung ương tại Việt Nam nhằm mô tả công tác ĐTLT của các BVĐK trong giai đoạn 2014-2016, p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ KIM NGỌC
NGHIÊN CỨU VỀ ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO CÁN BỘ Y
TẾ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG VÀ
TUYẾN TỈNH/THÀNH PHỐ TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2014 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ KIM NGỌC
NGHIÊN CỨU VỀ ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO CÁN BỘ
Y TẾ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG
VÀ TUYẾN TỈNH/THÀNH PHỐ TẠI VIỆT NAM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Phó Giáo Sư, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Hương, người giáo viên mẫu mực đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tại Trường
Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Phí Thị Nguyệt Thanh, người thầy đã hỗ trợ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học
và các Phòng ban chức năng của Trường Đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập và nghiên cứu tại nhà trường
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo tại trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến chồng tôi đã luôn động viên và
hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn Tôi xin cảm ơn con tôi, cha mẹ, anh chị em và bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vừa qua Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Thị Kim Ngọc
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Đào tạo liên tục 4
1.2.1 Sự cần thiết của công tác đào tạo liên tục 4
1.2.2 Tình hình đào tạo liên tục trên thế giới và Việt Nam 6
1.3 Dự án của Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế 22
1.4 Khung lý thuyết 22
Chương 2 2 24
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1 Nghiên cứu định lượng 24
2.2.2 Nghiên cứu định tính 24
Tiêu chuẩn chọn và tiêu chuẩn loại 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Cỡ mẫu 25
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng 25
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính 25
2.5 Phương pháp chọn mẫu 26
2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng 26
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính 26
Trang 62.6 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng 27
2.6.2 Thu thập số liệu định tính 28
2.7 Các biến số nghiên cứu 28
2.8 Các tiêu chuẩn đánh giá dùng trong nghiên cứu 31
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 32
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 32
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục sai số 33
Chương 3 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Mô tả công tác đào tạo liên tục tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/ thành phố và tuyến trung ương trong mẫu nghiên cứu 35
3.1.1 Một số thông tin về các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và trung ương tham gia khảo sát 35
3.1.2 Tổ chức, quản lý đào tạo liên tục của bệnh viện đa khoa 37
3.1.3 Giảng viên trong đào tạo liên tục 40
3.1.4 Kết quả về số lớp đào tạo liên tục đã được mở tại các bệnh viện đa khoa khảo sát 42
3.1.5 Kết quả chấm điểm các bệnh viện khảo sát về đào tạo liên tục 42
Phân bố bệnh viện đa khoa theo mức điểm đánh giá đào tạo liên tục 43
3.2 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác đào tạo liên tục tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và trung ương 43
3.2.1 Thuận lợi 44
3.2.2 Khó khăn 49
3.3 Phân tích trường hợp với bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và tuyến trung ương 52
3.3.1 Phân tích trường hợp tuyến tỉnh 53
3.3.2 Phân tích trường hợp tuyến trung ương 59
Chương 4 68
BÀN LUẬN 68
4.1 Đặc điểm chung của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và trung ương tham gia khảo sát và kết quả mô tả công tác đào tạo liên tục của cán bộ y tế ở các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/ thành phố và tuyến trung ương 68
Trang 74.2 Bàn luận về thuận lợi, khó khăn trong triển khai công tác đào tạo liên tục của bệnh
viện đa khoa 71
4.2.1 Thuận lợi 71
4.2.2 Khó khăn 72
4.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu trường hợp BVĐK tuyến tỉnh/ thành phố và bệnh viện đa khoa tuyến trung ương 74
4.3.1 Bài học kinh nghiệm chung cho cả 2 tuyến 76
4.3.2 Đặc thù riêng trong công tác đào tạo liên tục của bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên 77
4.3.3 Bài học đặc trưng cho bệnh viện tuyến tỉnh/ thành phố 78
4.3.4 Bệnh viện Chợ Rẫy có những điểm đặc biệt trong triển khai đào tạo liên tục 78
4.3.5 Bài học đặc trưng cho bệnh viện tuyến trung ương 80
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 80
KẾT LUẬN 82
KHUYẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 1
Phụ lục 1: Danh sách BVĐK theo khu vực 1
Phụ lục 2: Công cụ khảo sát thực trạng 3
Phụ lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu 11
Phụ lục 4: Hướng dẫn thảo luận nhóm 14
Phụ lục 5: Bảng kiểm nội dung thu thập thông tin thứ cấp 18
Phụ lục 6: Thông tin của bệnh viện có số điểm cao nhất tuyến tỉnh và tuyến trung ương 19 Phụ lục 7: Các văn bản quản lý do Sở Y tế tỉnh Vĩnh Phúc ban hành 21
Phụ lục 8: Bảng biến số nghiên cứu 22
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng đối tượng nghiên cứu tham gia cung cấp thông tin 26Bảng 3.1 Kết quả về kế hoạch hàng năm về ĐTLT được phê duyệt giai đoạn 2014 - 2016 37Bảng 3.2 Cán bộ chuyên trách quản lý ĐTLT giai đoạn 2014 - 2016 37Bảng 3.3 Tỷ lệ bệnh viện có tiêu chuẩn lựa chọn học viên cho các lớp ĐTLT giai đoạn
2014 - 2016 38Bảng 3.4 Kết quả về tình hình phân bổ kinh phí cho ĐTLT hàng năm giai đoạn 2014 - 2016 38Bảng 3.5 Kết quả về cơ sở vật chất trong ĐTLT của các bệnh viện giai đoạn 2014 - 2016 39Bảng 3.6 Tình hình hợp tác trong nước và quốc tế trong ĐTLT giai đoạn 2014 - 2016 39Bảng 3.7 Chương trình đào tạo tại bệnh viện khảo sát giai đoạn 2014 - 2016 40Bảng 3.8 Chương trình đào tạo được thẩm định theo quy định giai đoạn 2014 - 2016 40Bảng 3.9 Một số thông tin về giảng viên trong ĐTLT của các bệnh viện giai đoạn 2014
- 2016 41Bảng 3.10 Số lớp ĐTLT tại các BVĐK khảo sát giai đoạn 2014 - 2016 42Bảng 3.11 Kết quả chấm điểm (Điểm ĐTLT) giai đoạn 2014 - 2016 43Bảng 3.12 Phân nhóm bệnh viện của 2 tuyến theo 3 nhóm xếp loại tốt – đạt trung bình – chưa đạt giai đoạn 2014 - 2016 43Bảng 3.13 Chương trình ĐTLT 2014 - 2016 tại bệnh viện Chợ Rẫy 61Bảng 3.14 Kết quả từ hoạt động quản lý ĐTLT tại bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 2014 - 2016 64Bảng 3.15 Thông tin giảng viên trong ĐTLT tại bệnh viện Chợ Rẫy 66
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức các cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế 11
Hình 1.2 Mô hình công tác ĐTLT Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 3.1 Số lượng BVĐK tham gia nghiên cứu so với số lượng BVĐK tại VN theo khu vực 35Biểu đồ 3.2 Số lượng BVĐK tham gia nghiên cứu so với số lượng BVĐK tại Việt Nam theo hạng BV 36Biểu đồ 3.3 Số lượng BVĐK tham gia nghiên cứu so sánh với số lượng BVĐK tại VN theo tuyến 36
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đào tạo y khoa liên tục (ĐTLT) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân Nghiên cứu được tiến hành tại các bệnh viện đa khoa (BVĐK) công lập tuyến tỉnh/thành phố và tuyến trung ương tại Việt Nam nhằm mô tả công tác ĐTLT của các BVĐK trong giai đoạn 2014-2016, phân tích thuận lợi khó khăn và phân tích trường hợp BVĐK để đưa
ra bài học kinh nghiệm cho công tác ĐTLT Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính thực hiện thu thập số liệu từ tháng
2 –5/2017 Số liệu định lượng được thu thập bằng phiếu phát vấn tự điền với 136 BVĐK công lập trả lời phiếu (82,3%) trong đó có 117 BVĐK tuyến tỉnh/thành phố và 19 BVĐK tuyến trung ương Số liệu định tính được thu thập tại 3 BVĐK tuyến trung ương và 3 BVĐK tuyến tỉnh/thành phố được chọn chủ đích từ 3 nhóm BVĐK xếp loại tốt, đạt trung bình và chưa đạt (số lượng BVĐK tương ứng trong từng nhóm là 46 tốt, 44 đạt trung bình và 46 chưa đạt), trong đó có 2 bệnh viện có số điểm cao nhất (trong số 136 bệnh viện) lựa chọn cho nghiên cứu trường hợp Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu (PVS) 6 cán bộ chuyên trách ĐTLT và tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm (TLN) của giảng viên và 6 cuộc TLN cán bộ y tế của 6 BVĐK, đồng thời PVS 2 lãnh đạo của bệnh viện tham gia vào nghiên cứu trường hợp
Kết quả triển khai công tác ĐTLT của BV cho thấy: có 95/136 (86,5%) bệnh viện
có kế hoạch ĐTLT riêng được phê duyệt, đáng lưu ý vẫn còn 3 BVĐK không có kế hoạch ĐTLT; Chỉ có 37/136 (27,2%) BV có cán bộ chuyên trách độc lập làm công tác ĐTLT và 11 BV (8,1%) không có cán bộ chuyên trách ĐTLT; 121/136 (88,9%) BV có
hồ sơ quản lý các khoá ĐTLT; Chỉ có 10/136 (7,3%) BV có nguồn kinh phí phân bổ riêng cho ĐTLT, đặc biệt đến 67 BV không có nguồn kinh phí nào cho hoạt động này (49,3%); Có 90,4% BVĐK (123/136) có chương trình đào tạo, trong đó 120 BVĐK có chương trình đào tạo được phê duyệt; 108 BVĐK có phòng học lý thuyết dành cho học viên và chỉ có 39 BVĐK có phòng thực hành Về đội ngũ giảng viên cho công tác ĐTLT:
có 111 (81,6%) BV có giảng viên cơ hữu, tuy nhiên chỉ có 55 BVĐK tất cả giảng viên đều có chứng chỉ sư phạm y học theo yêu cầu của Bộ Y tế; hầu hết các BVĐK có giảng viên với kinh nghiệm thực tiễn trên 3 năm (chiếm 97,1%)
Trang 11Thuận lợi chính trong ĐTLT của các BVĐK là được sự quan tâm của lãnh đạo cấp trên, lãnh đạo bệnh viện và các khoa phòng tạo điều kiện cho CBYT tham gia công tác ĐTLT, CBYT ở các BVĐK sẵn sàng tham gia ĐTLT Riêng đối với BVĐK tuyến trung ương, cán bộ chuyên trách quản lý ĐTLT và giảng viên giàu kinh nghiệm và đa phần có chứng chỉ sư phạm y học, cơ sở vật chất đáp ứng tốt cho ĐTLT Khó khăn chính: phần lớn giảng viên tham gia ĐTLT là kiêm nhiệm, các BVĐK chưa có kế hoạch bồi dưỡng giảng viên, hầu hết không có chế độ đãi ngộ giảng viên BVĐK tỉnh/thành phố còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, thiếu cán bộ chuyên trách và không được đào tạo nghiệp vụ quản
lý ĐTLT, thiếu kinh phí, thiếu chương trình đào tạo, giảng viên phần đông chưa có chứng chỉ sư phạm y học, học viên không hiểu về quyền và nghĩa vụ của CBYT trong ĐTLT Khó khăn chủ yếu của BVĐK trung ương là tình trạng quá tải dẫn đến CBYT không thu xếp được thời gian để đảm bảo công tác ĐTLT
Phân tích trường hợp điển hình Bệnh viện Chợ Rẫy và BVĐK khu vực Phúc Yên, nơi đã triển khai tốt công tác ĐTLT trong giai đoạn 2014-2016, chúng tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: cần có sự cam kết của lãnh đạo; cần có cán bộ chuyên trách cho ĐTLT; cần có kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm; chương trình đào tạo cần được biên soạn và thẩm định; cần có chế độ đãi ngộ cho giảng viên và bồi dưỡng năng lực giảng viên; cần quản lý học viên xuyên suốt quá trình ĐTLT Các BVĐK tuyến tỉnh phải có sự hỗ trợ và quan tâm của Sở Y tế, cần phổ biến các quy định về quyền và nghĩa
vụ cho CBYT về ĐTLT Với BVĐK trung ương, cần bố trí đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất, giảng viên cần cập nhật kiến thức trong nước và quốc tế, đẩy mạnh hợp tác trong ĐTLT
Kết quả nghiên cứu cho thấy, vẫn còn một số quy định trong thông tư TT22/2013/TT-BYT chưa được các BVĐK thực hiện đầy đủ Vì vậy, Cục KHCN&ĐT-
Bộ Y tế và các Sở Y tế nên tổ chức thêm các lớp bồi dưỡng, hướng dẫn triển khai đào tạo liên tục, tăng cường phổ biến quy định, hỗ trợ và theo dõi chặt chẽ hơn nữa việc triển khai hoạt động ĐTLT tại các bệnh viện trực thuộc
Trang 12
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị quyết số 46/NQ-TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ “Nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”, đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt nêu bật tính đặc thù trong quá trình đào tạo, sử dụng nhân lực y tế [3] Đào tạo y khoa bao gồm đào tạo y khoa chính quy và đào tạo y khoa liên tục (hay ĐTLT) Trong khi đào tạo y khoa chính quy được thực hiện trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y tế, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp được các cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập thì đào tạo liên tục lại được thực hiện trong suốt quá trình làm việc tại các cơ sở y tế ĐTLT đóng vai trò quan trọng đối với cán bộ y tế (CBYT) trong việc cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng kịp thời việc chăm sóc
và nâng cao sức khỏe cho người dân do sự thay đổi về mô hình bệnh tật, sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và sự thay đổi của hệ thống y tế và của bối cảnh kinh tế - xã hội [8] Vì nghề y là nghề liên quan trực tiếp đến tính mạng con người nên trong quá trình làm việc, hành nghề, CBYT được yêu cầu phải luôn luôn cập nhật các kiến thức mới, kỹ thuật mới, tiếp cận các thông tin, quy định mới liên quan đến chuyên môn của mình
Thông tư 22/2013/TT-BYT ban hành ngày 09/08/2013 về Hướng dẫn đào tạo liên tục cho CBYT quy định tất cả các CBYT đều phải tham gia học tập liên tục tối thiểu
48 tiết trong 2 năm đối với người hành nghề y và 120 tiết trong 5 năm đối với đối tượng khác như quản lý, y tế dự phòng, y tế công cộng ĐTLT là yêu cầu bắt buộc đối với người hành nghề y bao gồm cả bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh [6] Tính đến quý II/2017, hệ thống Y tế tại Việt Nam tế có trên 500.000 cán bộ y tế cần được đào tạo hàng năm, trong đó có khoảng 320.000 cán bộ y tế làm trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh [10] Hiện tại chưa có một thống kê của cơ quan quản lý hay một nghiên cứu nào mang tính hệ thống về ĐTLT tại các bệnh viện cho CBYT (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và hộ sinh)
Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo (Cục KHCN&ĐT) - Bộ Y tế là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý công tác đào tạo y khoa liên tục trên toàn quốc Cục KHCN&ĐT đang triển khai dự án “Điều tra, giám sát, đánh giá công tác quản lý điều hành và triển khai công tác ĐTLT của ngành giai đoạn 2014 – 2016” Mục tiêu của dự án là điều tra, giám sát công tác đào tạo y khoa liên tục của các bệnh viện trực thuộc sự quản lý của
Trang 13Bộ Y tế và các bệnh viện tuyến tỉnh thuộc quản lý của Sở y tế các tỉnh trên cả nước giai đoạn từ 2014 – 2016, sau 3 năm kể từ khi thông tư 22/2013/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 1/10/2013 nhằm phục vụ công tác quản lý của Cục KHCN&ĐT Thời gian dự triển khai
dự án vào cuối tháng 11 năm 2016
Được sự đồng ý của Cục KHCN&ĐT theo Công văn số 862/K2ĐT-SĐH ngày 03/10/2016 với vai trò là một thành viên của nhóm nghiên cứu, học viên đã thực hiện luận văn này, với mục đích trả lời cho các câu hỏi về thực trạng ĐTLT về tình hình triển khai, công tác tổ chức quản lý, chương trình, nguồn lực phân bổ đáp ứng ĐTLT của cán
bộ y tế tại các BVĐK tuyến trung ương và tuyến tỉnh tại Việt Nam giai đoạn 2014 –
2016 như thế nào? Bên cạnh thực trạng ĐTLT tại các bệnh viện, những khó khăn, thuận lợi khi triển khai đào tạo y khoa liên tục ra sao? Bài học kinh nghiệm trong triển khai công tác ĐTLT của các BVĐK là gì?
Để làm rõ những vấn đề nêu trên, “Nghiên cứu về đào tạo liên tục cho cán bộ y
tế tại một số bệnh viện đa khoa trung ương và tuyến tỉnh/ thành phố tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2016” được thực hiện
Trang 14
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả công tác đào tạo liên tục cho cán bộ y tế tại một số bệnh viện đa khoa tuyến trung ương và tuyến tỉnh trên cả nước giai đoạn 2014 – 2016
2 Phân tích thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai công tác đào tạo liên tục cho cán
bộ y tế tại một số bệnh viện đa khoa tuyến trung ương và tuyến tỉnh trên cả nước giai đoạn 2014 – 2016
3 Phân tích trường hợp bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và tuyến trung ương tốt nhất về đào tạo liên tục để rút ra bài học kinh nghiệm cho các cơ sở khác
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm
Đào tạo liên tục (ĐTLT): là các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi
dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục; phát triển nghề nghiệp liên tục; đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế CBYT mà không thuộc
hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân [6]
Cơ sở ĐTLT: là các bệnh viện, viện có giường bệnh; viện nghiên cứu, các cơ sở
giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành
thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm có đào tạo nhân lực y tế [6]
Cán bộ y tế (CBYT): là công chức, viên chức, người đang làm chuyên môn nghiệp
vụ trong các cơ sở y tế [6] Trong phạm vi luận văn này, CBYT được hiểu là bác sĩ, điều đưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên
1.2 Đào tạo liên tục
1.2.1 Sự cần thiết của công tác đào tạo liên tục
Hiện nay, tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật và thông tin ngày càng nhanh Sau khi tốt nghiệp trường y, kiến thức học được của cán bộ y, CBYT nếu không được
ôn tập, sử dụng sẽ mất dần theo thời gian Do đó, nếu không có những hoạt động học tập củng cố kiến thức đã được dạy và cập nhật các thông tin kiến thức mới, CBYT sẽ không đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân [8]
ĐTLT là một hoạt động đặc thù và chuyên biệt nhằm giúp phát triển năng lực nghề nghiệp của nhân viên y tế với mục tiêu cuối cùng là cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người bệnh ĐTLT bao gồm tất cả các hình thức học tập mà nhân viên y tế tham gia nhằm mục tiêu cải thiện kiến thức, kỹ năng, thái độ để thực hiện tốt hơn trách nhiệm chuyên môn Chính sự liên tục các hoạt động đào tạo này đã giúp định hình sự phát triển năng lực nghề nghiệp nhằm đáp ứng các chức năng và trách nhiệm của nhân viên y tế đối với xã hội [8]
Có nhiều phương pháp hiệu quả trong ĐTLT kiến thức y khoa bao gồm truyền đạt thông tin qua giảng dạy truyền thống, tài liệu giảng dạy, hướng dẫn thực hành trên lâm
Trang 16
sàng, tiếp cận phương pháp giáo dục mới như tiếp cận nhóm nhỏ theo từng chủ đề, việc
tiếp thu ý kiến của những người lãnh đạo, kiểm tra và phản hồi, tự nghiên cứu…[29]
Nghề Y là nghề đặc biệt, liên quan trực tiếp đến tính mạng con người Để hành nghề một cách hiệu quả trong suốt cuộc đời hoạt động chuyên môn của mình Người CBYT cần thường xuyên cập nhật những thông tin mới nhất, điều này liên quan đến một
số hình thức ĐTLT [8] ĐTLT chỉ được thực hiện có hiệu quả khi đáp ứng được 03 yếu
tố sau: (1) Có nhu cầu (lý do rõ ràng) cho việc thực hiện ĐTLT, việc học tập phải dựa trên cơ sở nhu cầu được xác định đó cùng với các hoạt động tiếp theo để giúp củng cố những nội dung đã học được sau khi việc học tập đã hoàn thành Thực hành y học nhiều khi được cho rằng mang tính đều đặn và có thể dự đoán trước, nhưng trên thực tế CBYT thường phải đưa ra các ý kiến của mình trong các tình huống phức tạp, không thể dự đoán trước, trong hoàn cảnh mà mức độ chắc chắn không cao và thường hay có những
ý kiến trái ngược nhau, vì vậy người CBYT phải biết làm gì là tốt nhất trong những tình huống cụ thể đó Nhìn chung, sự ứng biến và quyết định về chuyên môn là quan trọng nhất trong thực hành y học; (2) Kiến thức của người hành nghề được thu thập và trau dồi qua nhiều cách khác nhau Từ những hoạt động học tập chính quy tại trường, từ những kiến thức và kinh nghiệm thu nhận được qua quá trình làm việc và trao đổi kinh nghiệm của người đi trước, hay từ các khóa ĐTLT ngắn hạn, qua hội thảo, tập huấn…; (3) ĐTLT là một phần không thể tách rời trong quá trình làm việc của CBYT, hành nghề khám chữa bệnh Qua quá trình diễn biến liên tục và xuyên suốt của hành nghề khám chữa bệnh, CBYT có thể xác định được nhu cầu đào tạo của mình [8]
Nâng cao sức khỏe cho mọi người là mục tiêu cơ bản của giáo dục y học, đó cũng
là nhiệm vụ chung của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Liên đoàn Giáo dục Y học thế giới (World Federation Medical Education – WFME) Năm 1998, WHO và WFME phối hợp để khởi xướng chương trình về Các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học, với mục tiêu cung cấp cơ chế cho việc nâng cao chất lượng trong giáo dục y học phạm vi toàn cầu, được các cơ sở đào tạo y học áp dụng Các tiêu chuẩn toàn cầu của WFME được trình bày trong bộ 3 tập: Chuẩn giáo dục y học cơ bản (Standard in Basic Medical Education); Chuẩn giáo dục y học sau đại học (Standard in Postgraduate Medical Training) và Chuẩn phát triển nghề nghiệp chuyên môn liên tục (Standard for Continuing Medical/ Professional Development – CME/CPD) Các chuẩn của WFME
Trang 17về ĐTLT được xây dựng theo 9 lĩnh vực, 36 tiểu lĩnh vực trong đó bao gồm: nhiệm vụ
và kết quả đầu ra (4 tiêu chí), các phương pháp học tập (6 tiêu chí), lập kế hoạch và dẫn chứng bằng tư liệu (2 tiêu chí), cá nhân người học (4 tiêu chí), những người cung cấp (4 tiêu chí), môi trường học tập và nguồn lực (7 tiêu chí), đánh giá các phương pháp và năng lực (4 tiêu chí), tổ chức 4 tiêu chí) và đổi mới liên tục (1 tiêu chí) [12]
Ngành y khoa là một ngành nghề chuyên môn cần học tập suốt đời để đạt được mục tiêu thực hành chuyên môn thông thạo Kiến thức cần thiết để thực hành tăng lên với cấp số nhân trong môi trường luôn có sự thay đổi phức tạp và sự tái cơ cấu của các
mô hình chăm sóc sức khỏe Chính vì vậy, CBYT cần thiết phải ĐTLT trong suốt cuộc
đời hành nghề của mình
1.2.2 Tình hình đào tạo liên tục trên thế giới và Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình đào tạo liên tục trên thế giới
Tại một số nước trên thế giới, hệ thống giờ học hoặc tín chỉ của ĐTLT được các
cơ quan có thẩm quyền dùng làm căn cứ để đánh giá năng lực của CBYT trong việc cấp bằng, chứng chỉ và gia hạn Mức độ yêu cầu về tín chỉ ĐTLT trong quá trình gia hạn và cấp lại bằng hành nghề là khác nhau ở một số nước Phương pháp của ĐTLT là phương pháp truyền thống (các bài giảng, lên lớp Mặc dù có sự khác biệt về các phương pháp đào tạo ĐTLT, mô hình ĐTLT chủ yếu được chia làm 2 nhóm: mô hình đào tạo (tập trung vào nâng cao năng lực lâm sàng) và mô hình đánh giá (tập trung vào nâng cao năng lực và kết quả thực hiện) Phần lớn các nước chỉ áp dụng mô hình đào tạo như Áo, Pháp, Hà Lan, Anh có đánh giá năng lực của CBYT Một số nước trên thế giới có
phương thức đảm bảo năng lực cho CBYT được nêu ở bảng 1 dưới đây [12, 27]
ĐTLT và các yêu cầu của ĐTLT cũng có sự khác biệt giữa các nước về hệ thống quản lý, các yêu cầu phải tuân thủ như trong bảng 1 sau đây cho thấy, phần lớn các quốc gia, hoạt động ĐTLT là bắt buộc đối với CBYT, thậm chí được quy định trong luật Việc không tuân thủ sẽ dẫn đến các hậu quả như không cấp giấy phép hành nghề, không
cấp lại chứng chỉ
Trang 18
Bảng 1: Đào tạo y khoa liên tục – Yêu cầu của CME tại một số nước trên thế giới
Tên
nước
Thưởng/ phạt Cơ quan quản lý Yêu cầu
Áo Yêu cầu pháp luật Văn phòng y tế
Áo (Hội chuyên môn)
Yêu cầu luật pháp, 150 tín chỉ (1 tín chỉ = 1 giờ) trong 3 năm
Bỉ Thưởng tiền (tăng
lượng 4%)
Bộ Y tế công cộng (Chính phủ)
20 giờ mỗi năm hoặc chứng nhận (Yêu cầu 200 giờ tín chỉ trong 3 năm và tham gia 2 hội thảo chuyên môn/ năm)
Đức Giảm bớt khoản bồi
hoàn, không yêu
cầu chứng nhận
Văn phòng y tế vùng (Hội chuyên môn)
250 tín chỉ (1 tín chỉ = 45 phút) trong 5 năm
Bộ Y tế (Cơ quan chính phủ)
150 tín chỉ (1 tín chỉ = 1 giờ) trong 5 năm
Hà Lan Cấm hành nghề Các hiệp hội
Tây
Ban
Nha
Tùy vùng Hội Y học Tây
Ban Nha (Hội chuyên môn)
Tùy thuộc vào vùng
Anh Yêu cầu giám sát
bắt buộc
Bộ Y tế (Chính phủ)
Các yêu cầu đồng thời: (1) cấp lại chứng chỉ hành nghề sau 5 năm
và (2) cấp lại bằng (tùy thuộc vào trường)
Để triển khai công tác đào tạo liên tục, nhiều mô hình đã được xây dựng và áp dụng để có thể đánh giá chính xác năng lực CBYT một cách liên tục, ưu nhược điểm
của các mô hình và các nước áp dụng được thể hiện trong bảng 2
Trang 19Bảng 2: Tổng hợp mô hình đánh giá năng lực CBYT liên tục trên thế giới
Nguồn: Merkur và cộng sự (2008)
Có thể thấy rằng tất cả các nước hiện nay vẫn đang áp dụng mô hình đơn giản và tập trung vào nâng cao năng lực lâm sàng cho CBYT, đây cũng chính là nội dung chính của ĐTLT theo kiểu truyền thống
Mô hình đào tạo: nhằm cải
thiện năng lực lâm sàng
Nâng cao năng lực lâm sàng
Không xác định được CBYT thực hành chuyên môn kém
Zealand, Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ
Không thể xác định được tất cả những người hành nghề kém và cần
có hệ thống tập trung ghi nhận các khiếu nại
Không có nước nào
Đánh giá định kỳ: đánh giá
đầy đủ tất cả các lĩnh vực
năng lực của CBYT
Có khả năng xác định người hành nghề kém
Rất tham vọng và
có thể không thực hiện được
Không có nước nào
Đánh giá sàng lọc cho tất cả:
có thể xác định được những
năng lực còn thiếu thông
qua đánh giá chéo và bảng
câu hỏi dành cho bệnh nhân
Có khả năng xác định người hành nghề kém
Không thể có được một test duy nhất để đánh giá một cách chính xác và thực tế được năng lực còn thiếu
Hungary, Ai len,
Slovenia, Anh
Đánh giá sàng lọc đối với
nhóm có nguy cơ cao: đánh
giá các CBYT hành nghề
kém (ví dụ dựa vào kết quả
chữa bệnh hoặc khuynh
hướng kê đơn) hoặc nhóm
mục tiêu khác như nhóm
bác sĩ lớn tuổi
Có khả năng xác định người hành nghề kém
Có thể vi phạm luật riêng tư và yêu cầu phải có hệ thống dữ liệu về các phương pháp đánh giá thực hành của CBYT
Không có nước nào
Trang 20và hiện được cho là có giá trị cao hơn khi đào tạo cho người lớn
Úc và New Zealand:
Các chương trình ĐTLT được quản lý và thực hiện bởi các trường và khoa y Các
cơ sở này chịu trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên tham gia vào hoạt động ĐTLT và đảm bảo chất lượng đào tạo Các chương trình đào tạo đều có định hướng khuyến khích CBYT tự học và cho phép áp dụng linh hoạt các loại hình học tập và môi trường thực hành Chương trình đào tạo cho bác sĩ sản, phụ khoa bắt đầu vào năm 1986, bác sĩ đa khoa vào năm 1987 và tất cả các đối tượng khác từ năm 1992 Chu kỳ đào tạo
là 3 hoặc 5 năm, trừ cán bộ nghiên cứu bệnh học là 6 tháng Điểm đánh giá được phân
bổ cho cả hoạt động ĐTLT và hoạt động đảm bảo chất lượng, sử dụng hệ thống tín chỉ theo giờ và cũng có tính điểm đối với một số hoạt động như bài viết được xuất bản hay
bài trình bày Đảm bảo chất lượng cũng là một cấu phần của nhiều chương trình đào tạo
Tại New Zealand, tham dự các khóa ĐTLT được công nhận là điều bắt buộc Nếu không đáp ứng được yêu cầu này, CBYT có thể bị tạm thời rút giấy phép hành nghề
hoặc hành nghề có sự giám sát
Ở Úc, luật hiện hành không bắt buộc CBYT phải tham dự vào các chương trình phát triển chuyên môn chính thức, tuy nhiên trong những năm gần đây, khi ký lại hợp
Trang 21đồng làm việc tại bệnh viện công, đặc biệt ở khu vực Tây Úc, CBYT được yêu cầu chứng minh đã trải qua một số chương trình ĐTLT và đảm bảo chất lượng, trong một
số trường hợp phải thực hiện tại trường hoặc khoa y nhất định Đối với bác sĩ đa khoa, chính phủ cũng có áp đặt một số biện pháp về kinh tế đối với những người không tuân thủ các chương trình phát triển chuyên môn liên tục Trường y hoàng gia Úc cũng thường xuyên xem xét lại các chương trình đào tạo chuẩn để đảm bảo có thể đạt được mục tiêu đặt ra Việc này thúc đẩy hoạt động nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân và cung cấp bằng chứng chứng minh sự tham gia vào các hoạt động đào tạo và đảm bảo chất
lượng
Hong Kong và Singapore:
Tại Hong Kong, việc cấp chứng chỉ ĐTLT do Hội đồng y học Hong Kong chịu trách nhiệm ĐTLT là yêu cầu bắt buộc đối với các chuyên ngành nhưng lại là tự nguyện
đối với bác sĩ đa khoa Việc cấp chứng chỉ được thực hiện hàng năm và phải trả phí
Tại Singapore, khi xin cấp lại giấy phép hành nghề, CBYT bắt buộc phải chứng minh đã hoàn thành ĐTLT, Chu kỳ cấp lại giấy phép là 1 hay 2 năm tùy chuyên ngành
Yêu cầu về ĐTLT là 25 tín chỉ/ điểm cho mỗi năm
Trên phương diện quản lý của quốc gia, hầu hết các nước đều đã có quy định bắt buộc CBYT phải cập nhật, bổ sung kiến thức liên tục, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, bắt kịp những tiến bộ mới vì sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật
và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế [27]
1.2.2.2 Tình hình hệ thống đào tạo liên tục ngành y tế Việt Nam
Theo tài liệu “Quản ký công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế (2012)”, hệ thống tổ
chức ĐTLT tại Việt Nam được tổ chức theo sơ đồ sau [8]:
Trang 22Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức các cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế
Hệ thống các cơ sở ĐTLT hiện nay bao gồm: Cục KHCN&ĐT Bộ Y tế là cơ quan chủ quản, quản lý toàn bộ các hoạt động ĐTLT tại Việt Nam Các trường y dược thành lập theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; các viện, bệnh viện trung ương có nhiệm
vụ đào tạo, chỉ đạo tuyến; các cơ sở y tế thuộc tỉnh (bệnh viện, trung tâm) có đơn vị
ĐTLT dưới sự quản lý của Sở Y tế [8]
Tại các bệnh viện của Việt Nam nói chung và BVĐK công lập nói riêng, công tác ĐTLT được quy định thực hiện như sau:
Đối với các viện nghiên cứu và bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
Các đơn vị này tuy không phải là đơn vị đào tạo chính quy nhưng phần lớn đều là đơn vị phối hợp đào tạo, là cơ sở thực hành của các trường Y Dược, là nơi có nhiều đội ngũ bác sĩ, dược sĩ đại học, cán bộ nghiên cứu, kỹ thuật viên nhiều năm kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại, gắn bó mật thiết với nhiệm vụ thực tiễn của ngành Phần lớn các
BỘ Y TẾ CỤC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ ĐÀO TẠO
CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO LIÊN TỤC (Bệnh viện, viện nghiên cứu TƯ) (Mã B)
Các Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh
Trung tâm Y tế
dự phòng Tỉnh
Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm
Chi cục Dân số
và Kế hoạch hoá gia đình tỉnh
Đơn vị Y
tế khác
Trang 23cơ sở này đều được giao nhiệm vụ đào tạo, hỗ trợ tuyến dưới thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nên có kinh nghiệm trong việc tổ chức ĐTLT Đến nay có 72 đơn vị trực thuộc
Bộ, Hội nghề nghiệp (Mã B) thành lập các đơn vị ĐTLT và được cấp mã số đào tạo [10]
Đối với Sở Y tế
Việc tổ chức cơ sở ĐTLT tại các Sở Y tế có nhiều điểm khác biệt, phức tạp hơn so với các đơn vị trên Các cơ sở đào tạo thường đặt tại các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tỉnh, các trung tâm y tế như dân số, sức khỏe sinh sản, y tế dự phòng… Văn phòng
Sở Y tế cũng có thể tổ chức đào tạo các chương trình thích hợp như phương pháp lập kế hoạch, thống kê y tế, đạo đức hành nghề… Đến nay đã có 63/63 Sở Y tế và 333 đơn vị
trực thuộc Sở (Mã C) được Bộ Y tế cấp mã cơ sở ĐTLT
Theo thống kê của Cục KHCN&ĐT - Bộ Y tế, tính đến tháng 5/2017, đã có 510
cơ sở được cấp mã số ĐTLT Bộ Y tế cấp phép cho các đơn vị tham gia ĐTLT như các bệnh viện, Sở y tế, trung tâm y tế, các trường Hai trung tâm đào tạo cán bộ quản lý y tế nằm trong Trường Đại học Y tế công cộng và Viện y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh được thành lập và cũng được phép đảm nhận nhiệm vụ đào tạo về quản lý cho CBYT toàn ngành [9]
Đối với bệnh viện đa khoa tại Việt Nam
Quy chế bệnh viện (Ban hành kèm theo quyết định số 1895/QĐ-BYT ngày 19 tháng 09 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế) quy định về nhiệm vụ của bệnh viện, những nhiệm vụ đứng hàng thứ 2 sau công tác khám chữa bệnh là đào tạo cán bộ Trong đó, các bệnh viện hạng đặc biệt, hạng 1, hạng 2, hạng 3 đều có nhiệm vụ tổ chức ĐTLT cho các thành viên trong bệnh viện và các bệnh viện tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn [4]
Theo quy định hiện hành tại thông tư 23/2005/TT-BYT về xếp hạng bệnh viện, bệnh viện được chia thành 05 hạng: bệnh viện hạng I đến hạng IV và bệnh viện hạng
đặc biệt Bệnh viện đa khoa hạng I là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế
hoặc UBND Tỉnh và các ngành có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một
số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Bệnh viện đa khoa hạng II là cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh trực thuộc tỉnh thành phố trực thuộc trung ương hoặc khu vực các huyện
Trang 24trong tỉnh và các ngành Bệnh viện đa khoa hạng III là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
thuộc Sở y tế tỉnh, thành phố và các ngành có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một huyện hoặc một số huyện, quận trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương và các ngành Bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt là các bệnh viện được xếp hạng I
đạt 100 điểm và thỏa mãn các tiêu chí về chức năng nhiệm vụ, quy mô và tổ chức khoa phòng, trình độ cán bộ chuyên môn và quản lý, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và khả năng chuyên môn kỹ thuật Theo thống kê của Cục Khám bệnh Chữa bệnh, toàn quốc hiện nay có 03 bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt , 54 BVĐK xếp hạng 1, 84 BVĐK hạng 2 và
23 BVĐK xếp hạng 3 ở các tuyến tỉnh/ thành phố và trung ương [4, 5, 11]
Theo số liệu cập nhật từ Niên giám thống kê Y tế năm 2014, tổng số BVĐK tuyến tỉnh/ thành phố và tuyến trung ương là 164 bệnh viện, trong đó có 20 bệnh viện BVĐK tuyến trung ương, 144 BVĐK tỉnh bệnh viện Phân bố của BVĐK tỉnh theo, bao gồm 6 khu vực: Bắc Bộ và duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long khu vực được
thể hiện trong phụ lục 1 [7]
Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục
ĐTLT CBYT là hoạt động chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, từ các cơ quan quản
lý (Chính phủ, Bộ Y tế, Sở Y tế); cơ sở ĐTLT (BVĐK) đến giảng viên và học viên Cụ thể như sau:
Để triển khai Luật khám chữa bệnh, Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho CBYT được Bộ Y tế được ban hành [6]
Để hướng dẫn các đơn vị, đặc biệt là các đơn vị tuyến tỉnh trong việc thực hiện ĐTLT theo các hướng dẫn trong TT22/2013/TT-BYT, Bộ Y tế đã ban hành cuốn tài liệu
Trang 25“Quản lý công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế (2014)” Theo đó, phân cấp quản lý trong ĐTLT như sau: Bộ Y tế quản lý chương trình, tài liệu dạy học của những khóa học ở tuyến trung ương và những khóa học liên quan đến nhiều cơ sở y tế (từ 2 tỉnh/thành phố trở lên); những khóa học có kiến thức, kỹ thuật, thủ thuật thuộc lĩnh vực y học mới, lần đầu tiên được đưa vào áp dụng tại Việt Nam Các cơ sở y tế trung ương có nhiệm vụ chỉ đạo tuyến đã được Bộ Y tế ủy quyền chịu trách nhiệm về nội dung chuyên môn thuộc lĩnh vực, nhiệm vụ được giao và theo kế hoạch của Bộ Y tế; các Sở Y tế chịu trách nhiệm quản lý công tác ĐTLT trong địa phương mình và tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ thuộc phạm vi quản lý của Sở; các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Dạy nghề y tế thuộc tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tham mưu, phối hợp với Sở Y tế trong công tác quản lý, xây dựng kế hoạch ĐTLT [8]
Quản lý công tác ĐTLT cho CBYT bao gồm quản lý về trách nhiệm, thời gian, hình thức, chương trình, tài liệu, giảng viên ĐTLT cho CBYT và tổ chức, quản lý ĐTLT cho CBYT đang làm việc tại các cơ sở y tế trong toàn quốc và cho các cơ sở ĐTLT
CBYT
Cấp chứng chỉ, chứng nhận: Điều 14 thông tư 22/2013/TT-BYT quy định về việc
Bộ Y tế hoặc Sở Y tế thực hiện cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận cho CBYT đã tham gia ĐTLT thuộc thẩm quyền quản lý để xác nhận việc tham gia ĐTLT cho CBYT
Quản lý công tác ĐTLT: Điều 15 thông tư 22/2013/TT-BYT quy định trách nhiệm
của (1) Bộ Y tế thống nhất quản lý công tác đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế trên toàn quốc; (2) Cục KHCN&ĐTcó trách nhiệm: Tổ chức thẩm định phê duyệt, lưu trữ chương trình và tài liệu đào tạo của các cơ sở ĐTLT; Quản lý mã số đào tạo, triển khai công tác đảm bảo chất lượng, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đào tạo liên tục trong lĩnh vực
y tế; Quản lý công tác đào tạo liên tục, cấp chứng chỉ đào tạo liên tục do cơ quan Bộ Y
tế tổ chức đào tạo; (3) Sở Y tế có trách nhiệm: Giao phòng chức năng chịu trách nhiệm quản lý đào tạo liên tục của địa phương do lãnh đạo sở y tế phụ trách và có cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm; Quản lý chương trình và tài liệu đào tạo liên tục do sở
y tế thẩm định và phê duyệt; chương trình tài liệu dạy - học của các cơ sở đào tạo liên tục trực thuộc; Quản lý mã số chứng chỉ do sở y tế cấp cho các cơ sở đào tạo; Xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu đào tạo liên tục của tỉnh và tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia về
Trang 26đào tạo liên tục của ngành y tế; Quản lý hồ sơ khóa học và cấp giấy chứng chỉ cho các khóa học do sở y tế tổ chức
Quản lý chất lượng cơ sở ĐTLT: Điều 16 thông tư 22/2013/TT-BYT quy định Bộ
Y tế ban hành tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng cho ĐTLT, Sở Y tế tổ chức thực hiện các quy định này, các cơ sở đào tạo tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng ĐTLT do cơ sở thực hiện, Bộ Y tế thẩm định hàng năm chất lượng cơ sở ĐTLT
Kinh phí cho ĐTLT: Điều 18 thông tư 22/2013/TT-BYT quy định nguồn ngân sách
ĐTLT được lấy 1 phần từ nguồn ngân sách nhà nước [6]
v Cơ sở tổ chức, triển khai đào tạo liên tục cán bộ y tế (Bệnh viện đa khoa): Theo thông tư 22/2013/TT-BYT, một số quy định cho các cơ sở tổ chức triển khai công tác ĐTLT cho CBYT như sau:
Tổ chức các hình thức ĐTLT: Điều 6 quy định về các hình thức ĐTLT bao gồm:
(1) tập huấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn trong và ngoài nước theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến được cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận; (2) hội thảo, hội nghị, toạ đàm khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực chuyên môn y tế có xác nhận của đơn vị tổ chức căn cứ vào chương trình của hội thảo, hội nghị, toạ đàm; (3) thực hiện nghiên cứu khoa học, hướng dẫn luận án, luận văn, viết bài báo khoa học đã được công bố theo quy định; (4) biên soạn giáo trình
chuyên môn
Chương trình và tài liệu: Điều 7 quy định về chương trình và tài liệu ĐTLT do cơ
sở đào tạo xây dựng phải được thẩm định ban hành theo quy định của thông tư này trước khi triển khai đào tạo, nội dung chương trình đào tạo và tài liệu ĐTLT phải được cập
nhật liên tục đảm bảo tính khoa học phù hợp với nhu cầu thực tiễn
Cơ sở ĐTLT: Điều 11 quy định về cơ sở ĐTLT muốn cấp mã cơ sở ĐTLT thì phải
thuyết minh về tổ chức quản lý, chương trình đào tạo, tài liệu đào tạo, giảng viên, cơ sở
vật chất, cơ sở thực hành, trang thiết bị phục vụ ĐTLT
Kế hoạch ĐTLT: Điều 12 quy định về xây dựng và phê duyệt kế hoạch đào tạo liên
tục, theo đó các cơ sở ĐTLT có trách nhiệm xây dựng kế hoạch trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Trang 27Quản lý công tác ĐTLT: Điều 15 quy định về trách nhiệm quản lý công tác ĐTLT,
trong đó cơ sở ĐTLT có trách nhiệm cử cán bộ làm công tác tổ chức và quản lý ĐTLT của đơn vị do lãnh đạo đơn vị phụ trách và các nhân viên giúp việc, quản lý và lưu trữ chương trình, tài liệu, phôi chứng chỉ, hồ sơ khoá học
Kinh phí ĐTLT: Điều 18 quy định về kinh phí cho ĐTLT được lấy từ các nguồn
(1) đóng góp của người học, (2) ngân sách của nhà nước, (3) nguồn thu hợp pháp khác[6]
Ngoài ra, sự hỗ trợ của các cơ quan cấp trên và lãnh đạo của đơn vị cũng là yếu
tố ảnh hưởng đến công tác ĐTLT tại BVĐK
v Giảng viên tham gia giảng dạy ĐTLT
Trình độ, kinh nghiệm: Điều 9 thông tư 22/2013/TT-BYT quy định về giảng viên
ĐTLT của các khoá phải được bố trí đủ, trợ giảng đạt tiêu chuẩn về trình độ, kinh nghiệm, chuyên môn theo hướng dẫn của Bộ y tế để đảm bảo chất lượng đào tạo, giảng viên ĐTLT phải được đào tạo về phương pháp dạy – học y học, giảng viên dạy lâm sàng phải là người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và được đào tạo về phương pháp giảng dạy lâm sàng [6]
Các yếu tố liên quan đến phương pháp đào tạo, chế độ đào tạo, bồi dưỡng giảng viên của cơ sở ĐTLT và chế độ đãi ngộ cho giảng viên cũng là những yếu tố ảnh hưởng
lớn đến hoạt động ĐTLT tại các bệnh viện
v CBYT là người tham gia học các khoá ĐTLT
Trách nhiệm của CBYT trong ĐTLT: Điều 4 thông tư 22/2013/TT-BYT quy định
về trách nhiệm trong ĐTLT nêu rõ CBYT làm việc trong các cơ sở y tế phải có nghĩa
vụ tham gia các khoá ĐTLT nhằm đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ đang đảm nhiệm; CBYT là người hành nghề khám bệnh chữa bệnh không thực hiện đủ nghĩa vụ đào tạo trong 2 năm liên tiếp theo quy định tại thông tư này còn bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh [6]
Liên quan đến CBYT, yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ĐTLT là nhận thức của CBYT về tầm quan trọng, về quyền và nghĩa vụ của họ trong ĐTLT là rất quan trọng
Trang 28Sự sẵn sàng và tích cực tham gia ĐTLT của CBYT góp phần nâng cao chất lượng của
ĐTLT tại bệnh viện
Các nghiên cứu về đào tạo liên tục trên thế giới và tại Việt Nam
v Các nghiên cứu trên thế giới
Mục đích của ĐTLT cuối cùng là cập nhật và nâng cao năng lực chuyên môn của CBYT Qua tìm hiểu của chúng tôi, các nghiên cứu trên thế giới cho đến nay đa phần
tập trung vào đánh giá hiệu quả của ĐTLT đối với CBYT
Haynes và cộng sự (1984) đã đánh giá tính hiệu quả của ĐTLT thu thập và tổng hợp một cách có hệ thống kết quả trên 248 bài báo về can thiệp ĐTLT, các bài báo được xem xét về tính ứng dụng và tính khoa học bằng cách áp dụng phương pháp chọn lựa với các tiêu chuẩn rõ ràng Kết quả cho thấy, có 13% các bài báo mô tả thử nghiệm ngẫu nhiên, nhưng chỉ có 7% tất cả các bài báo và 20% các thử nghiệm ngẫu nhiên đánh giá tác động của ĐTLT trên bệnh nhân Những nghiên cứu này đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng ĐTLT có thể cải thiện hành vi của CBYT [26]
David và cộng sự (1992) đã thực hiện Nghiên cứu tổng quan để đánh giá tác động của việc can thiệp ĐTLT bằng nhiều cách khác nhau để thay đổi thực hành của CBYT
và đầu ra về sức khỏe của người bệnh, theo đó, nghiên cứu đã khẳng định sử dụng phương pháp giảng dạy kết hợp với thực hành một cách phù hợp trong ĐTLT cải thiện được khả năng thực hành của bác sĩ và trong một số trường hợp thì có cải thiện chăm sóc sức khỏe cho người bệnh [33] Nghiên cứu của David và cộng sự (1999) về “Tác động của các hình thức đào tạo liên tục: hội nghị, hội thảo và các hoạt động đào tạo liên tục truyền thống khác thay đổi hành vi của bác sĩ hay ảnh hưởng đến chăm sóc sức khoẻ như thế nào” cũng cho thấy các phương pháp giảng dạy trong ĐTLT đã tăng sự hoạt động của người tham gia và tạo ra cơ hội để thực hành các kỹ năng trong thực hành chuyên môn, nghề nghiệp Nghiên cứu này chỉ ra phần dạy học truyền thống không có
hiệu quả trong việc thay đổi thực hành của bác sĩ [23]
Nghiên cứu đánh giá tổng quan về hiệu quả của chiến lược ĐTLT đối với việc thay đổi chất lượng của CBYT, David và cộng sự (1995) đã kết luận có sự thay đổi trong hoạt động thực hành của bác sĩ và có sự thay đổi tích cực trong chăm sóc sức khỏe khi
sử dụng các phương pháp đào tạo thích hợp Phương pháp đào tạo làm thay đổi hiệu quả
Trang 29bao gồm nhắc lại, can thiệp bệnh nhân gián tiếp, tham khảo ý kiến từ lãnh đạo và các phương pháp khác Kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy phương pháp đào tạo thông qua hội thảo mang lại rất ít tác dụng trong cải thiện thực hành chuyên môn [21]
Nghiên cứu của tác giả Fox và cộng sự (1998) tại Bắc Mỹ và một số nơi khác về học tập có quan hệ mật thiết với ĐTLT, nghiên cứu chỉ ra rằng ĐTLT có ảnh hưởng rất lớn với quá trình học tập của người trưởng thành ĐTLT nên dựa trên quá trình tự nhiên đưa người học đến sự thay đổi, có 3 cách tiếp cận đưa đến sự thay đổi đó là chương trình giảng dạy tự nghiên cứu kiến thức mới kết hợp với kinh nghiệm làm việc thực tế, tương tác trong nhóm nhỏ và học tập có tổ chức Nghiên cứu đưa ra một số mô hình và các nguyên tắc quan trọng trong quá trình ĐTLT trong những năm của thập niên 90 bao gồm sự hiểu biết về thay đổi trong thực hành lâm sàng, hiểu biết bối cảnh của sự thay đổi và học tập, hiểu biết tầm quan trọng của nhu cầu và động lực học tập, hiểu cách học [25]
Bernard và cộng sự (2005) đã nghiên cứu về hiệu quả của các công cụ ĐTLT hiện tại và kỹ thuật trong thay đổi thực hành lâm sàng của bác sĩ và nâng cao sức khỏe của bệnh nhân Tác giả đã tìm kiếm nhiều dữ liệu từ tháng 1/1984 – 10/2004 về các chương trình ĐTLT làm thay đổi thái độ của bác sĩ và sức khoẻ của bệnh nhân Các kỹ thuật tương tác (kiểm tra/ phản hồi, và gợi nhớ) là những phương pháp hiệu quả nhất cho cả việc thay đổi chăm sóc của bác sĩ đối với sức khoẻ bệnh nhân Hướng dẫn thực hành lâm sàng và tham khảo ý kiến của cấp trên ít hiệu quả hơn Thuyết trình truyền thống và phát tài liệu chỉ có ít hoặc không mang lại kết quả nào trong thay đổi thực hành của bác
sĩ [18]
Nghiên cứu của Elizabeth và cộng sự (2008) về “Rào cản đổi mới giáo dục y khoa liên tục” thực hiện trên 755 bác sĩ thực hành được chọn để khảo sát về loại hình cung cấp đào tạo liên tục và phương pháp giảng dạy tại tiểu bang Oragon - Mỹ, 376/755 cuộc điều tra được phản hồi, trong đó 91% điều tra cho biết các phương pháp hướng dẫn và giảng dạy truyền thống được đa số các bác sĩ ưa thích [19]
Nghiên cứu của Jalil và cộng sự (2007) về “Thách thức trong đào tạo liên tục điều dưỡng: một nghiên cứu định tính” đã phát hiện các yếu tố chính gây ảnh hưởng đến ĐLTL điều dưỡng ở Bệnh viện Đại học Y khoa Đại học Isfahan như sau: các yếu tố liên quan đến người học, các yếu tố liên quan đến giáo viên, các yếu tố liên quan đến quá
Trang 30trình giáo dục, cơ sở vật chất không đầy đủ Về cơ sở vật chất, nghiên cứu này cho thấy việc các thiết bị hỗ trợ giáo dục và các cơ sở điều trị trong bệnh viện, cũng như thiếu ngân sách đầu tư cho đào tạo là một trong những thách thức đối với người tham gia [28]
Theo nghiên cứu của Venkataraman và cộng sự (2014), nghiên cứu quan sát tìm hiểu về nguồn kinh phí cho đào tạo liên tục tại Ấn Độ với 2235 đối tượng tham gia 40 các hoạt động ĐTLT khác nhau, kết quả cho thấy phần lớn các chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ tham dự các hoạt động ĐTLT với nguồn kinh phí tự túc hoặc có
tổ chức tài trợ (có thể là viện nghiên cứu hoặc là các công ty dược) Các chuyên gia y tế
có xu hướng tự đi học những khoá cấp chứng chỉ quốc tế và họ mong muốn tự túc kinh phí để đi tham gia hoạt động ĐTLT [32]
Nghiên cứu của Chungpin và cộng sự (2014) về “Đào tạo liên tục đối với Điều dưỡng tại Trung Quốc: Một nghiên cứu trên bệnh viện đa khoa với 2727 điều dưỡng của bệnh viện được chọn vào nghiên cứu trên 10 bệnh viện Kết quả cho thấy các yếu tố chính thúc đẩy các y tá tham gia vào ĐTLT là mong muốn đạt được và cập nhật kiến thức của họ về sự phát triển và thủ tục mới nhất của việc chăm sóc, nâng cao kỹ năng thực hành và phẩm chất toàn diện, duy trì tình trạng chuyên nghiệp và nhận được bằng cấp Các yếu tố cản trở sự tham gia của các y tá trong ĐTLT bao gồm những khó khăn
về thời gian, cam kết làm việc, thiếu cơ hội, chi phí của các khóa học và kinh nghiệm tiêu cực trước đó với các chương trình ĐTLT [20]
Nghiên cứu của Nadas và cộng sự (2015) tại Haiti về “Đánh giá nhu cầu và nguồn lực của đào tạo liên tục ở Haiti” hoàn thành khảo sát trên 62 bác sĩ, kết quả cho thấy có 16% các bác sĩ đã xác nhận là có thư viện y khoa tại nơi làm việc, 31% có tiếp cận máy
vi tính tại mơi làm việc Hội nghị, hội thảo về đào tạo tại nơi làm việc có khoảng 27%
và 50% bác sĩ tham gia bên ngoài nơi làm việc Họ xác nhận không đủ nguồn lực để làm việc, thiếu sự hỗ trợ của đồng nghiệp và thiếu các phương thức đào tạo chuyên môn và nghề nghiệp [30]
Theo nghiên cứu định tính của Alkhazim và cộng sự (2015) về “Hiệu quả trong việc cung cấp đào tạo liên tục ở Ả Rập Xê Út: một số vấn đề quan trọng” thực hiện tại
25 bệnh viện lớn ở Riyadh với 17 người đại diện tham gia nghiên cứu trả lời cho 4 nhóm vấn đề (1) chức năng của phòng ĐTLT và mối quan hệ của phòng này với các phòng
Trang 31hành chánh khác, (2) mức độ và tính chất của việc đánh giá nhu cầu và kết quả của ĐTLT (3) nhà tài trợ của ĐTLT (4) các phương pháp giảng dạy mới cho ĐTLT Kết quả cho thấy hầu hết các bệnh viện công lập có phòng ĐTLT, các bệnh viện tư không tập trung vào việc ĐTLT và có xu hướng phòng ĐTLT là 1 phần của phòng thương mại Hầu hết các đối tượng tham gia vào nghiên cứu đều đồng ý rằng các phương pháp khoa học để đánh giá nhu cầu ĐTLT là thiếu tại các bệnh viện; đối tượng tham gia cũng cho biết không có một hệ thống đánh giá kết quả đầu ra, khoá học chỉ cung cấp giấy chứng nhận tham dự cho người tham gia, chỉ có một vài khoá học có kỳ thi cuối khoá Về mặt kinh phí, có nhiều hình thức kinh phí cho hoạt động ĐTLT như kinh phí của bệnh viện, nguồn thu từ các hoạt động của bệnh viện, các nhà tài trợ là công ty dược… chưa có chính sách rõ ràng để nhận ra được sự xung đột về đạo đức trong cách làm này [16] Theo kết quả của nghiên cứu của Zohreh và cộng sự (2015) về “Các yếu tố thúc đẩy và rào cản đối với điều dưỡng trong việc tham gia chương trình đào tạo liên tục: Một phương pháp nghiên cứu kết hợp giải thích theo trình tự” tại Iran, nhóm nghiên cứu
đã phát hiện ra các rào cản cho công tác ĐTLT bao gồm thiếu sự hỗ trợ của đồng nghiệp, nguồn kinh phí cho ĐTLT bị hạn chế và yêu cầu đáp ứng công việc của người điều dưỡng, ấn tượng không tốt từ các khoá ĐTLT trước đây, chi phí cao cho những khoá học, thiếu thông tin về các lớp ĐTLT là những yếu tố gây trở ngại cho việc tham gia ĐTLT Đối tượng tham gia nghiên cứu hiểu rằng ĐTLT là để nâng cao năng lực chuyên môn và cập nhật kiến thức mới [31]
v Các nghiên cứu về đào tạo liên tục tại Việt Nam
Qua hiểu biết của chúng tôi, hiện nay chưa có nghiên cứu nào mang tính hệ thống
về ĐTLT tại Việt Nam Tuy nhiên, một số nghiên cứu thực hiện trong nước về ĐTLT tại một số địa phương trên cả nước được tham khảo như sau:
Theo nghiên cứu của tác giả Trịnh Yên Bình (2013) về “Tình trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp” ở các bệnh viện y học cổ truyền ở tuyến tỉnh trên toàn quốc, một trong những khó khăn đối với các lớp ĐTLT là thiếu kinh phí, do vậy, nhiều CBYT có nhu cầu đào tạo nhưng lại không tham gia Chất lượng của ĐTLT chưa cao, chủ yếu là về giảng dạy
lý thuyết, ít có điều kiện thực hành, vì vậy CBYT cũng không có hứng thú khi tham gia
Trang 32ĐTLT Thiếu cán bộ quản lý đào tạo, thiếu cơ sở vật chất đặc biệt là thiếu phòng thực
hành, thư viện ở cơ sở cũng là một khó khăn của đơn vị [2]
Theo tác giả Trần Thanh Bình, Nguyễn Thanh Hương và cộng sự (2014) tại BVĐK Đăk Nông, nghiên cứu “Thực trạng nhân lực của bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông và một số yếu tố liên quan” đã kết luận rằng công tác ĐTLT gặp một số khó khăn và hạn chế Số lượng các khóa ĐTLT giảm do các dự án với nguồn tài trợ quốc tế đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức các khóa ĐTLT bị giảm đi Chất lượng nhiều khóa ĐTLT chưa bảo đảm Nhiều khóa học cấp chứng chỉ đươc các cơ sở y tế cử người đi học đánh giá là kém hiệu quả Nhiều CBYT ở các tuyến cơ sở không được ĐTLT do thiếu kinh phí, các khóa học tổ chức quá xa, thiếu khóa học đúng nhu cầu Một số nơi do thiếu nhân lực y tế nên không thể cử CBYT đi học nâng cao trình độ, nhất là với các khóa đào tạo kéo dài [1]
Theo nghiên cứu của tác giả Triệu Văn Tuyến (2015) về “Mô tả thực trạng đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã tại tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013 – 2014”, công tác xây dựng kết hoạch đào tạo của trạm y tế xã tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ Y tế, việc triển khai kế hoạch hàng năm đã được thực hiện tốt Các chương trình đào tạo và tài liệu được giao cho các đơn vị ĐTLT biên soạn và được phê duyệt qua Hội đồng của Sở Y tế trước khi thực hiện Học viên tham gia ĐTLT có tiêu chí rõ ràng, học đúng theo chỉ tiêu phân bổ và không được lựa chọn khoá học Giảng viên đã được lựa chọn đúng quy định của Bộ y tế, có trình độ chuyên môn nhưng phương pháp sư phạm vẫn còn hạn chế Tài chính cho ĐTLT tốt và lấy từ ngân sách, học viên chưa phải đóng góp Đa số CBYT được hỏi cho rằng đã được phổ biến đầy đủ quy định về ĐTLT nhưng
có đến 80,3% trả lời không đúng về số giờ quy định, từ đó cho thấy CBYT chưa nắm được nội dung cơ bản của quy định ĐTLT [15]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Trung (2016) về “Nhu cầu và khả năng cung cấp các loại hình đào tạo liên tục về y học cổ truyền cho nhân viên y tế huyện tải tỉnh Thanh Hoá”, chương trình tài liệu cho CBYT tại tỉnh Thanh Hoá do đơn vị đào tạo phối với với các đơn vị chuyên môn xây dựng và đã được Sở y tế phê duyệt Các đơn vị ĐTLT đã có tiêu chí lựa chọn học viên cụ thể; đa số giảng viên có kỹ năng giảng dạy tốt nhưng phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết trình, nguồn tài chính sử dụng từ
Trang 33ngân sách của đơn vị và các chương trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ từ các dự án và đóng góp của học viên [14]
1.3 Dự án của Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế
“Điều tra, giám sát, đánh giá công tác quản lý điều hành và triển khai công tác ĐTLT của ngành giai đoạn 2014 – 2016” là dự án do Cục KHCN&ĐT-Bộ y tế là cơ
quan chủ quản tiến hành trong thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 6/2017
Mục tiêu của dự án là điều tra, giám sát, đánh giá công tác ĐTLT của các bệnh viện công lập trên cả nước giai đoạn từ 2014 – 2016, sau 3 năm kể từ khi Thông tư
22/2013/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 1/10/2013 nhằm phục vụ công tác quản lý
Được phép của Cục KHCN&ĐT thông qua Công văn số 862/K2ĐT-SĐH ngày 03/10/2016, học viên tham gia nghiên cứu và sử dụng một phần kết quả, được phép bổ sung một số nội dung thu thập số liệu phục vụ cho làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Chúng tôi đã xây dựng công cụ thu thập số liệu (Phụ lục 2: Công cụ khảo sát thực trạ), thêm vào đó, học viên thực hiện thêm nội dung riêng cho luận văn này về 02 trường hợp bệnh viện thực hiện tốt nhất công tác ĐTLT tại tuyến tỉnh và tuyến trung ương, đây
là nội dung mà dự án của Cục KHCN&ĐT đã không triển khai
1.4 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết trong luận văn được xây dựng dựa trên nền tảng ĐTLT có đạt hiệu quả và chất lượng hay không là phụ thuộc vào sự đóng góp và ảnh hưởng bởi các bên tham gia vào quá trình này, bao gồm: cơ quan quản lý, cơ sở tổ chức, triển khai ĐTLT và sự tham gia của các CBYT và giảng viên vào ĐTLT
Trang 34ĐÀO TẠO Y KHOA LIÊN TỤC (ĐTLT)
- Thực trạng Hoạt động ĐTLT tại bệnh viện (Kết quả đào tạo, số lượng, chất lượng)
- Thuận lợi, khó khăn
- Bài học kinh nghiệm
CAM KẾT CỦA LÃNH ĐẠO
Cam kết của cơ quan quản lý cấp trên
Cam kết của lãnh đạo tại đơn vị
Nguồn: tại chỗ (cơ hữu, thỉnh giảng)
Chất lượng giảng viên (chứng chỉ sư
phạm, thâm niên)
Chế độ bồi dưỡng, đào tạo giảng viên
Chế độ đãi ngộ giảng viên
CÁN BỘ Y TẾ
Có mong muốn tham gia
Hiểu về quyền và nghĩa vụ
Hiểu tầm quan trọng của ĐTLT
Trang 35Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
- Cán bộ được Lãnh đạo bệnh viện phân công đại diện các BVĐK tuyến Trung
ương và tuyến Tỉnh/ Thành phố điền phiếu tự điền về thông tin của bệnh viện 2.2.2 Nghiên cứu định tính
- Cán bộ chuyên trách ĐTLT của 06 BVĐK tham gia nghiên cứu định tính
- Giảng viên (CBYT tham gia công tác giảng dạy) của 06 BVĐK tham gia nghiên cứu định tính
- Cán bộ y tế (Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên, Hộ sinh) của 06 BVĐK tham gia nghiên cứu định tính
(06 BVĐK tham gia nghiên cứu định tính bao gồm: Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện E Trung Ương, BVĐK Lâm Đồng, Bệnh viện Xanh Pôn
và BVĐK Khu vực Phúc Yên)
2.3.4 Nghiên cứu trường hợp
- Cán bộ chuyên trách ĐTLT của 02 BVĐK tham gia nghiên cứu trường hợp
- Giảng viên (CBYT tham gia công tác giảng dạy) của 02 BVĐK tham gia nghiên cứu định tính
- Cán bộ y tế (Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên, Hộ sinh) của 02 BVĐK tham gia nghiên cứu định tính
(02 BVĐK tham gia nghiên cứu định tính bao gồm: Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh BVĐK Khu vực Phúc Yên)
Tiêu chuẩn chọn và tiêu chuẩn loại
- Tiêu chuẩn chọn:
Bệnh viện đa khoa công lập thuộc quản lý của tuyến trung ương (Bộ Y tế) và bệnh
viện đa khoa tuyến tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương thuộc quản lý của Sở y tế của
63 tỉnh thành của Việt Nam
Trang 36- Tiêu chuẩn loại:
Các bệnh viện đa khoa tư nhân và bệnh viện đa khoa ngành
Những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2017
- Địa điểm nghiên cứu: 164 BVĐK (trong đó có 136 BVĐK trả lời, bao gồm 117 BVĐK tuyến tỉnh/ thành phố và 19 BVĐK trung ương); 06 BVĐK tuyến trung ương và tuyến tỉnh/ thành phố (trong đó có 2 BVĐK thực hiện nghiên cứu
trường hợp)
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu, nghiên cứu sẽ áp dụng thiết kế
mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và phương pháp định tính bao gồm cả tiếp cận nghiên cứu trường hợp
Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính theo trình tự cụ thể định lượng tiến hành trước, định tính thực hiện sau nhắm giải quyết mục tiêu thứ nhất và thứ hai, mô tả thực trạng về công tác tổ chức quản lý ĐTLT CBYT của các BVĐK tuyến tỉnh/ thành phố và tuyến trung ương và phân tích những thuận lợi khó khăn trong công tác này Phương pháp định tính áp dụng tiếp cận nghiên cứu trường hợp nhằm giải quyết mục tiêu thứ ba đó là tìm hiểu BVĐK tuyến tỉnh/ thành phố và bệnh viện đa khoa tuyến trung ương triển khai tốt công tác ĐTLT cho CBYT từ đó rút ra được các bài học cho các BVĐK khác và đề xuất cho cơ quan quản lý
2.4 Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng
- Cỡ mẫu gồm 136 BVĐK tuyến tỉnh/ thành phố và tuyến trung ương
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
- 6 cán bộ chuyên trách ĐTLT
- 6 nhóm (24 cán bộ y tế) tham gia giảng dạy (Giảng viên)
Trang 37- 6 nhóm (40 cán bộ y tế - trong đó có 4 nhóm gồm 6 cán bộ/ nhóm và 2 nhóm của nghiên cứu trường hợp là 8 CBYT/ nhóm) học viên
2.4.3 Cỡ mẫu cho nghiên cứu trường hợp:
- 2 cán bộ chuyên trách ĐTLT
- 2 nhóm (12 cán bộ y tế) tham gia giảng dạy (Giảng viên)
- 2 nhóm (12 cán bộ y tế) tham gia các lớp ĐTLT (Học viên)
- 2 lãnh đạo Bệnh viện
2.5 Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng
Chọn mẫu toàn bộ: 136 bệnh viện gửi phiếu tự điền, trong đó có 19 BVĐK tuyến trung ương và 117 BVĐK tuyến tỉnh/ thành phố (Tổng số BVĐK theo Niên giám thống
kê là 164 bệnh viện, trong đó số bệnh viện trả lời phiếu tự điền là 136 bệnh viện, có 28 bệnh viện không trả lời phiếu tự điền)
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu: chọn chủ đích cán bộ chuyên trách ĐTLT tại 6 bệnh viện thực hiện khảo sát (6 cán bộ); chọn chủ đích lãnh đạo phụ trách ĐLTL của 2 bệnh viện (1 tuyến tỉnh và 1 tuyến trung ương)
Thảo luận nhóm: chọn chủ đích cán bộ y tế tham gia công tác giảng dạy và cán bộ
y tế là học viên của các lớp đào tạo liên tục tại 6 bệnh viện khảo sát (24 giảng viên và
40 học viên) Trong đó các nhóm đảm bảo: (1) Sự có mặt của các đối tượng bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và hộ sinh; (2) cân đối về giới; (3) đa dạng về tuổi nghề
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng đối tượng nghiên cứu tham gia cung cấp thông tin
STT PP thu
thập thông tin
Công cụ Đối tượng
cung cấp thông tin
Số lượng Tổng BVĐK
TƯ Tỉnh/ TP BVĐK
điền
Công cụ thu thập số liệu (PL2)
(PL3a)
Trang 382.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng
Công cụ thu thập số liệu
Phiếu tự điền (Phụ lục 3): được thiết kế để gửi tới đối tượng nghiên cứu bệnh viện nhằm thu thập các thông tin chung của bệnh viện về nhân lực, tổ chức, quản lý, giảng viên, chương trình và tài liệu đào tạo, quản lý học viên Phiếu tự điền được xây dựng trên cơ sở tham khảo Quy định về tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đơn vị ĐTLT cán bộ
y tế ban hành kèm theo quyết định số 493/QĐ-BYTBYT, ngày 17/02/2012 và Thông tư 22/2013/TT-BYT ban hành ngày 9/8/2013 Khi xây dựng phiếu tự điền, chúng tôi đã lấy ý kiến của chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo liên tục về nội dung của Phiếu tự điền
để sử dụng Phiếu tự điền được áp dụng thử tại 03 bệnh viện và được chuẩn hoá trước khi gửi về các bệnh viện để thu thập thông tin
Phương pháp thu thập số liệu:
Danh sách của các Bệnh viện tham gia nghiên cứu và địa chỉ của các bệnh viện trung ương và Sở Y tế của các bệnh viện tuyến tỉnh/ thành phố được ghi nhận (Trên cơ
sở tham khảo số liệu của Cục Quản lý khám chữa bệnh và Niên giám thống kê 2014) Soạn thảo công văn về việc thu thập số liệu bằng phiếu tự điền, gửi Cục KHCN&ĐT xem xét, phê duyệt ban hành công văn Công văn được gửi kèm Phiếu tự điền (Công cụ khảo sát thực trạng) và Hướng dẫn điền phiếu theo đường văn thư cho các đơn vị có trong danh sách đính kèm Đồng thời, chúng tôi đã tổng hợp danh sách email và điện thoại của các đơn vị để theo dõi tình trạng công văn đến các nơi cần nhận Bản mềm của Công văn, phiếu tự điền và Hướng dẫn điều phiếu cũng được gửi qua các hòm thư điện
tử của các đơn vị Quá trình thu thập lại phiếu được thực hiện sau khi phát phiếu 2 tuần,
Trang 39thực hiện nhắc nhở điền phiếu và gửi phiếu, giải đáp các thắc mắc trong khi điền phiếu qua điện thoại Các bệnh viện được yêu cầu gửi lại phiếu tự điền qua 2 cách: công văn chính thức và hộp thư điện tử của chúng tôi Việc rà soát lại các phiếu tự điền và hỏi những thông tin còn thiếu hoặc chưa hợp lý được thực hiện để bổ sung/ hoàn chỉnh thông qua điện thoại cho cán bộ chuyên trách của bệnh viện
2.6.2 Thu thập số liệu định tính
Công cụ thu thập dữ liệu định tính
Hướng dẫn PVS để phỏng vấn Lãnh đạo bệnh viện (Phụ lục 3a) cán bộ chuyên trách ĐTLT (Phụ lục 3b); Hướng dẫn TLN để thảo luận nhóm Cán bộ y tế (Phụ lục 4a)
và Hướng dẫn TLN để thảo luận nhóm Giảng viên (Phụ lục 4b) được xây dựng để thu thập dữ liệu định tính; Bảng kiểm nội dung thu thập thông tin thứ cấp (Phụ lục 5)
Phương pháp thu thập dữ liệu định tính
Đặt lịch hẹn với bệnh viện nơi nhóm nghiên cứu đến để thực hiện PVS và TLN trước 2 tuần so với kế hoạch đi thực tế Các cuộc PVS và TLN được thực hiện theo thời gian trong lịch hẹn tại 6 bệnh viện đến khảo sát Thời gian trung bình là 35 phút/cuộc PVS và 50 phút/cuộc TLN Đối với PVS, học viên trực tiếp phỏng vấn, ghi âm và có 1 thư ký trong nhóm nghiên cứu ghi chép lại biên bản Đối với TLN, học viên chủ trì, thư
ký trong nhóm nghiên cứu ghi chép lại diễn biến của cuộc thảo luận và ghi âm cuộc thảo luận
Thu thập số liệu thứ cấp từ bệnh viện: Các văn bản, hướng dẫn bệnh viện đang áp dụng thực hiện ĐTLT
2.7 Các biến số nghiên cứu
Có 3 nhóm biến chính sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
Nhóm 1: Nhóm biến mô tả các thông tin chung về công tác ĐTLT của các bệnh
viện đa khoa tuyến Tỉnh và Trung ương tham gia nghiên cứu Các thông tin cần được thu thập như Hạng bệnh viện; Quy mô giường bệnh; Tuyến
Nhóm 2: Nhóm biến mô tả thực trạng công tác ĐTLT của các bệnh viện đa khoa
tuyến Tỉnh và Trung ương tham gia nghiên cứu Cụ thể gồm:
Trang 40(1) Các biến mô tả công tác tổ chức quản lý ĐTLT: kế hoạch hàng năm về ĐTLT
được duyệt, phân công cán bộ chuyên trách quản lý ĐTLT, hồ sơ quản lý các khoá ĐTLT, thực hiện quản lý phôi chứng chỉ/ giấy chứng nhận ĐTLT, sổ theo dõi và cập nhật chứng chỉ/ giấy chứng nhận ĐTLT, kinh phí dành cho ĐTLT được phân bổ hàng
năm
(2) Các biến mô tả chương trình và tài liệu đào tạo sử dụng trong quá trình ĐTLT:
Đơn vị có chương trình đào tạo hay không, chương trình đào tạo được thẩm định và ban hành theo quy định trước khi mở lớp, chương trình đào tạo được cập nhật thường xuyên,
tài liệu được thẩm định trước khi mở lớp
(3) Các biến mô tả các đặc trưng về đội ngũ giảng viên: Kế hoạch phát triển và
bồi dưỡng giảng viên, giảng viên cơ hữu, giảng viên thỉnh giảng có trình độ chuyên môn phù hợp, giảng viên có chứng chỉ sư phạm y học theo quy định của BYT, giảng viên có
kinh nghiệm thực tiễn
(4) Các biến mô tả công tác quản lý học viên trong ĐTLT: Tiêu chuẩn lựa chọn học viên, tổ chức tiếp thu ý kiến phản hồi, giải quyết khuyến nghị của học viên
(5) Các biến mô tả thực trạng về cơ sở vật chất đáp ứng ĐTLT: Có đủ phòng học
lý thuyết cho học viên, có labo thực hành, trang thiết bị, vật tư, hoá chất cho học tập, có
thư viện hay không, có người quản lý thư viện
(6) Các biến về hợp tác trong đào tạo: Hợp tác trong nước, hợp tác quốc tế
(7) Các biến mô tả chất lượng, kết quả hoạt động ĐTLT: Số lớp đã mở; Số học
viên đã theo học; Số học viên được cấp chứng chỉ
Nhóm 3: Nhóm biến dùng phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quá trình
triển khai ĐTLT tại của các bệnh viện đa khoa tuyến Tỉnh và Trung ương tham gia nghiên cứu bao gồm các chính sách quy định, cam kết lãnh đạo, đánh giá của cấp trên, tài chính, nhận thức của cán bộ y tế, bài học kinh nghiệm…