Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ "Yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng của người đến nội soi tại Khoa Thăm dò chức năng- Bệnh viện Bạch Mai, năm 2016" là công trình nghiên cứu của riên
Trang 1NGUYỄN QUANG HIỂN
YẾU TỐ NGUY CƠ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG CỦA NGƯỜI ĐẾN NỘI SOI TẠI KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG,
BỆNH VIỆN BẠCH MAI, NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
Hà Nội - 2017
Trang 2NGUYỄN QUANG HIỂN
YẾU TỐ NGUY CƠ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG CỦA NGƯỜI ĐẾN NỘI SOI TẠI KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG,
BỆNH VIỆN BẠCH MAI, NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
PGS.TS Lã Ngọc Quang
Hà Nội- 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin gửi lời cám ơn chân thành đến tới các thầy cô giáo trường Đại học y tế công cộng, người đã trực tiếp giảng dạy và đem lại cho em những kiến thức vô cùng bổ ích trong hơn hai năm học vừa qua Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến PGS TS Lã Ngọc Quang và TS Phạm Cẩm Phương đã hướng dẫn em
thực hiện hoàn thành nghiên cứu của mình
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Phòng Đào tạo sau đại học, thầy cô Chủ nhiệm Khóa cao học y tế công cộng khóa 18 - Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập
Xin cám ơn tập thể lãnh đạo cơ quan, cán bộ viên chức Khoa Thăm dò chức năng- Bệnh viện Bạch Mai đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi tham gia học tập và
hỗ trợ tích cực cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những người
đã luôn bên tôi, động viên, khuyến khích và giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2017
Nguyễn Quang Hiển
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Nguyễn Quang Hiển, học viên lớp cao học Y tế công cộng – Khóa
18, định hướng nghiên cứu, niên khóa 2014 – 2016 tại trường Đại học Y tế công
cộng Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ "Yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng của người đến nội soi tại Khoa Thăm dò chức năng- Bệnh viện Bạch Mai, năm 2016" là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong
luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu nghiên cứu thu được từ thực nghiệm và không sao chép, kết quả trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Học viên
Nguyễn Quang Hiển
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đại cương về ung thư đại trực tràng 4
1.2 Dịch tễ về ung thư đại trực tràng 5
1.2.1 Tình hình mắc ung thư đại trực tràng trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình mắc ung thư đại trực tràng ở Việt Nam 7
1.3 Các yếu tố nguy cơ 10
1.3.1 Các yếu tố nguy cơ không phòng ngừa được 10
1.3.2 Các yếu tố nguy có có thể phòng ngừa được: 12
1.4 Triệu chứng ung thư đại trực tràng trên lâm sàng 15
1.5 Các phương pháp phát hiện ung thư đại trực tràng 16
1.6 Các chương trình sàng lọc ung thư trên Thế giới và Việt Nam 18
1.6.1 Trên Thế giới: 18
1.6.2 Tại Việt Nam 19
1.7 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về ung thư đại trực tràng 20
1.7.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 20
1.7.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam về ung thư đại trực tràng 22
1.7.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 23
1.8 Khung lí thuyết 25
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27
2.4.1 Cỡ mẫu 27
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 27
2.5 Phương pháp thu thập thông tin 30
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 30
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.6 Xử lý và phân tích số liệu 30
2.7 Các biến số nghiên cứu 31
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu: 31
2.9 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá 32
2.9.1 Các khái niệm 32
2.9.2 Tiêu chuẩn đánh giá 33
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 34
2.10.1 Hạn chế: 34
2.10.2 Sai số có thể gặp và các biện pháp khắc phục: 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 36
3.2 Tiền sử bản thân và gia đình liên quan tới bệnh ung thư đại trực tràng 39
3.3 Các triệu chứng lâm sàng của người tới khám 40
3.4 Đặc điểm lâm sàng bệnh ung thư đại trực tràng 42
3.5 Đặc điểm các yếu tố hành vi nguy cơ 43
3.6 Các yếu tố liên quan tới tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng 47
3.6.1 Mối liên giữa các yếu tố nhân trắc học và tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng 47
3.6.2 Mối liên quan giữa hành vi nguy cơ và bệnh ung thư đại trực tràng 49
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 53
4.1 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 53
4.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: 53
4.1.2 Tiền sử bản thân và gia đình liên quan tới bệnh ung thư đại trực tràng 56
4.1.3 Các triệu chứng lâm sàng 57
Trang 74.1.4 Đặc điểm lâm sàng bệnh ung thư đại trực tràng 57
4.1.5 Đặc điểm các hành vi nguy cơ và các yếu tố liên quan tới tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng 59
4.2 Bàn về phương pháp nghiên cứu: 70
KẾT LUẬN 72
KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Phụ lục 1: Giấy đồng ý tham gia trả lời nghiên cứu 85
Phụ lục 2 Bảng các biến số nghiên cứu 85
Trang 8UTTT Ung thư trực tràng
WHO World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới UICC Union International Centre Cancer
Hiệp hội phòng chống ung thư quốc tế AJCC American Joint Commission on Cancer
Liên hiệp Hoa kỳ về ung thư IARC cancer research agency world
Cơ quan nghiên cứu ung thư thế giới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Ước tính tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và tỷ lệ ung thư đại trực tràng trên thế
giới năm 2012 6
Bảng 1.2: Bảy loại ung thư phổ biến 8
Bảng 1.3 Tỉ lệ người mắc bệnh ung thư giữa các nước giàu và nước nghèo 9
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 3.2 Tiền sử gia đình và bản thân mắc các bệnh liên quan tới ung thư đại trực tràng 39
Bảng 3.3 Bảng các triệu chứng lâm sàng của người tới khám 40
Bảng 3.4 Bảng các đặc điểm lâm sàng 42
Bảng 3.5 Thói quen tiêu thụ thực phẩm hàng ngày 43
Bảng 3.6 Thói quen uống rượu bia 44
Bảng 3.7 Thực trạng hút thuốc lá/ thuốc lào 45
Bảng 3.8 Thực trạng hoạt động thể dục thể thao và hoạt động ngồi 45
Bảng 3.9 Thói quen sử dụng thuốc 46
Bảng 3.10 Kiến thức của người dân về bệnh ung thư đại trực tràng 47
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa yếu tố nhân trắc học và mắc ung thư đại trực tràng 47 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa bệnh ung thư đại trực tràng và các hành vi nguy cơ (phân tích đơn biến) 49
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa bệnh ung thư đại trực tràng và các hành vi nguy cơ (phân tích hồi quy logistic) 51
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thực trạng phân bố nhóm đối tượng nghiên cứu theo lứa tuổi 375 Biểu đồ 3.2 Thực trạng phân bố nhóm đối tượng nghiên cứu theo giới tính 386 Biểu đồ 3.6 Thực trạng phân bố đối tượng nghiên cứu theo học vấn 386
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
YẾU TỐ NGUY CƠ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một ung thư đường tiêu hóa khá phổ biến ở Việt nam, đứng hàng thứ hai sau ung thư dạ dày Đây là loại ung thư tiến triển chậm và
di căn muộn hơn so với các loại ung thư khác, nếu phát hiện sớm và xử lý kịp thời thì
tỷ lệ sống trên 5 năm là rất cao (80 – 90%) Tuy vậy ở Việt Nam, bệnh nhân thường đến bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, khi mà khối u đã phát triển vượt qua các lớp của thành đại trực tràng di căn đến hạch hoặc các tạng lân cận
Tại Việt Nam, người dân có kiến thức về bệnh ung thư đường tiêu hóa, khám sàng lọc phát hiện sớm UTĐTT còn nhiều hạn chế, chưa có tính hệ thống, chưa được sự quan tâm đúng mực của cộng đồng, xã hội và ngay cả với nhân viên y tế Nghiên cứu của chúng tôi nhằm xác định các yếu tố liên quan đến bệnh ung thư đại trực tràng của người đến nội soi với các mục tiêu: (1) Một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của người đến nội soi và (2) Xác định yếu tố liên quan đến bệnh ung thư đại trực tràng của người đến nội soi tại Khoa Thăm dò chức năng - Bệnh viện Bạch Mai, năm 2016 Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 1/2016 đến tháng 5/2016
Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu bệnh- chứng, phương pháp phỏng vấn bộ câu hỏi có cấu trúc để thu thập thông tin và sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu
Kết quả cho thấy có tỷ lệ những người phát hiện ung thư sớm đại trực tràng
là rất ít, đa số người bệnh đến nội soi khi bệnh ở giai đoạn muộn và rất muộn với tổn thương ung thư chiếm từ 1/2 chu vi trở lên hoặc tổn thương đã di căn tới các vị trí khác như hạch và gan Những người có học vấn thấp (dưới THPT), những người trên 50 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại trực tràng tăng cao Những thói quen làm tăng nguy cơ UTĐTT cần thay đổi như thói quen uống thuốc không theo đơn (tự uống), uống nhiều rượu/bia, hút thuốc, ít vận động, ăn nhiều chất béo Tăng cường các yếu tố bảo vệ như đủ rau quả, tăng hoạt động thể lực, uống chè/cà phê và hạn chế chất béo
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, gặp nhiều ở các nước phát triển và có xu hướng ngày càng tăng các nước đang phát triển Ung thư có thể tấn công bất cứ ai, không phân biệt tuổi tác, giới tính, môi trường và hoàn cảnh xã hội Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm
2012, ước tính có hơn 14 triệu người mắc bệnh ung thư (nam có hơn 7,4 triệu và nữ
có hơn 6,6 triệu người),8,2 triệu người chết vì bệnh ung thư và 84 triệu người sẽ chết trong 10 năm tiếp tới, trong đó UTĐTT ở nam 746.000 (chiếm 10%) và nữ 614.000 (chiếm 9,2%) trường hợp mắc mới [81] Hơn 70% các ca tử vong ung thư xảy ra ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, nơi mà nguồn lực sẵn có để phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị ung thư là hạn chế hoặc không tồn tại Năm
2012, ghi nhận 8.2 triệu người chết do ung thư, 60% ca mắc thường niên thuộc các khu vực Châu Phi, Châu Á, khu vực Trung và Nam Mỹ [24, 36] Hiệp hội ung thư
Mỹ ước tính trong năm 2008, hơn 148.000 người được chẩn đoán mắc bệnh UTĐTT và gần 50.000 người chết vì căn bệnh này [77]
Ở Việt Nam, theo nhiều tại liệu cho thấy tỷ lệ mắc theo tuổi của ung thư đại trực tràng là 7,5/100.000 dân, đứng thứ hai sau ung thư đường tiêu hóa, đứng thứ năm trong các bệnh các bệnh về ung thư Theo số liệu thống kê ung thư tại Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, ước tính mỗi năm ở nước ta có khoảng 150.000 trường hợp mới mắc và 75.000 người chết vì ung thư gấp 7 lần số trường hợp tử vong do tai nạn giao thông, con số này có xu hướng ngày càng gia tăng, bệnh ung thư trở thành nguyên nhân hàng đầu đe dọa sức khỏe cộng đồng trong nhóm bệnh không lây nhiễm Dự báo tới năm 2020, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 200.000 trường hợp mới mắc và 100.000 trường hợp chết do ung thư [37] Việt Nam là quốc gia thu nhập trung bình thấp, các nguyên nhân gây ung thư rất nhiều như ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm kém, đặc biệt
là dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong thực phẩm không kiểm soát được Mặt khác bệnh lí tổn thương ung thư đại trực tràng thường diễn ra âm thầm trong một thời gian dài với những triệu trứng như đau bụng, rối loạn tiêu hóa kéo dài Cộng với tâm lí chủ quan của người dân hoặc sợ phải đi khám bệnh do ngại tiếp xúc với
Trang 13nhân viên y tế, sợ xếp hàng chờ đợi, sợ bệnh viện vì nhiều lí do khác nhau mà người dân khi đến bệnh viện với những triệu chứng nặng như đau bụng ngày càng tăng, đi ngoài nhiều lần trong ngày, gầy sút cân, thậm chí bán tắc ruột hoặc tắc ruột, lúc này khi phát hiện ra ung thư thì đã là ung thư giai đoạn muộn Ung thư giai đoạn muộn điều trị rất tốn kém và khó điều trị, điều trị ung thư giai đoạn này thường phải kết hợp với phẫu thuật với điều trị hóa chất và xạ trị [38]
Ở Việt Nam, khám và phát hiện sớm UTĐTT còn có nhiều hạn chế, chưa có tính hệ thống, các phương tiện chẩn đoán còn chưa được áp dụng rộng rãi và triệt
để Vấn đề này chưa được sự quan tâm của cộng đồng và ngay cả đối với nhân viên
y tế Nên đại đa số bệnh nhân đến bệnh viện ở giai đoạn muộn, khi tổ chức ung thư
đã xâm lấn, di căn hạch và thậm chí di căn tới các cơ quan khác như gan, phổi Theo thống kê kết quả nội soi ĐTT tại khoa Thăm dò chức năng, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2015 có hơn 300 trường hợp phát hiện UTĐTT có hơn 90% người được phát hiện ung thư giai đoạn muộn Qua thực tế nhiều năm công tác, học viên thấy nhiều người khi đến Bệnh viện kiểm tra thì bệnh ở giai đoạn muộn và khó điều trị như phẫu thuật, điều trị hóa chất kéo dài và khả năng tái phát ung thư cao Mặt khác, các công trình nghiên cứu trong bệnh viện chỉ quan tâm tới lĩnh vực điều trị ung thư chứ chưa chú trọng tới công tác dự phòng, khám và phát hiện ung thư sớm, chưa có nhiều các nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ tiềm tàng
của bệnh UTĐTT Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Yếu tố nguy
cơ ung thư đại trực tràng của người đến nội soi tại Khoa Thăm dò chức năng- Bệnh viện Bạch Mai, năm 2016", kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra các yếu tố nguy cơ
tiềm tàng của bệnh ung thư đại trực tràng làm cơ sở khuyến cáo cộng đồng phòng chống ung thư đại trực tràng
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của người đến nội soi tại Khoa Thăm dò chức năng- Bệnh viện Bạch Mai, năm 2016
2 Xác định yếu tố liên quan đến bệnh ung thư đại trực tràng của người đến nội
soi tại Khoa Thăm dò chức năng - Bệnh viện Bạch Mai, năm 2016
Trang 15CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về ung thư đại trực tràng
Trong thời đại ngày nay mặc dù khoa học đã có những tiến bộ vượt bậc đặc biệt là trong lĩnh vực sinh học phân tử, tuy nhiên để định nghĩa bệnh ung thư là gì vẫn không dễ dàng Tuy nhiên chúng ta có thể định nghĩa ung thư như là quá trình bệnh lý trong đó một số tế bào thoát ra khỏi sự kiểm soát, sự biệt hóa sinh lý của tế bào và tiếp tục nhân lên Những tế bào này có khả năng xâm lấn và phá hủy các tổ chức chung quanh Đồng thời chúng di trú và đến phát triển ở nhiều cơ quan khác nhau và hình thành nên di căn, cuối cùng ung thư gây tử vong [7, 22, 26]
UTĐTT là ung thư khởi phát nguyên thủy từ ruột già, là phần cuối cùng của ống tiêu hóa Ung thư có thể khởi phát từ bất cứ đoạn nào trên đại tràng hoặc trực tràng Ung thư xuất phát từ lớp trong cùng của thành ruột (niêm mạc ĐTT) sau đó xâm lấn ra ngoài các lớp khác của thành ruột, sau đó di căn tới hạch, các cơ quan và
tổ chức khác của cơ thể [26]
Khối u đại trực tràng phát triển từ niêm mạc thành ống đại trực tràng Những khối u lành tính được gọi là polyp, khối u ác tính của ĐT được gọi là ung thư đại trực tràng Những khối u polyp lành tính không thể xâm lấn vào những mô lân cận
và không thể lan tràn đến những cơ quan khác trong cơ thể Những polyp này thường có thể cắt bỏ dễ dàng trong tiến trình nội soi đại tràng và không nguy hại đến đời sống bệnh nhân Nếu polyp không được cắt bỏ, nó có thể trở thành ác tính (polyp ung thư hóa) một thời gian sau đó Có những nghiên cứu chỉ ra rằng polyp
có kích thước lớn hơn hoặc bằng 2cm thì 40% nguy cơ bị ung thư hóa [42] Ung thư của đại tràng và trực tràng có thề xâm lấn, gây tổn hại mô và cơ quan lân cận Ung thư cũng có thể lan tràn đến những cơ quan khác trong cơ thể (như phổi hay gan) Sự lan tràn của ung thư đến những cơ quan xa gọi là di căn Khi ung thư đã di căn xa, việc điều trị UTĐTT là rất hạn chế Ung thư ở mỗi vị trí trên khung ĐTT sẽ biểu hiện các triệu chứng khác nhau, thông thường nhất là có máu trong phân Trong đa số các trường hợp UTĐTT phát triển âm thầm trong nhiều năm Ngày nay
Trang 16người ta còn biết ung thư khởi đầu bằng một tổn thương gọi là polip, 5 đến 10 hay
25 năm sau, polip trở thành ung thư Cắt bỏ polip là cách phòng ngừa ung thư hữu hiệu nhất Trên 95% các ung thư đại trực tràng là loại ung thư tế bào tuyến Loại ung thư này bắt nguồn từ tế bào của niêm mạc ruột già [19, 29, 61]
Thời gian sống của người bệnh từ khi phát hiện ra UTĐTT là rất phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh khi chẩn đoán Tỷ lệ sống xót sau 5 năm đạt trên 90% nếu tổn thương ung thư còn khu trú; 70% cho khu vực; đến 10% đối với người chẩn đoán ung thư di căn xa như di căn gan, phổi
Một số yếu tố nguy cơ có liên quan với nguy cơ UTĐTT bao gồm những nguy cơ không thể kiểm soát như tuổi và các yếu tố di truyền Các yếu tố rủi ro như môi trường và lối sống có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển UTĐTT Khả năng chẩn đoán bệnh UTĐTT tăng dần sau 40 tuổi, tăng mạnh sau 50 tuổi hơn 90% các trường hợp UTĐTT được phát hiện sau 50 tuổi[61]
1.2 Dịch tễ về ung thư đại trực tràng
1.2.1 Tình hình mắc ung thư đại trực tràng trên thế giới
Theo WHO: Sau 10 năm thế giới có thêm khoảng 400.000 người mắc ung
thư đại trực tràng mỗi năm ( Năm 2002, Thế giới có khoảng 1 triệu mắc UTĐTT
[96], năm 2008, Thế giới có 1.233 triệu người mắc UTĐTT chiếm 9.7% [78] và đến năm 2012, UTĐTT là UT đứng thứ ba ở nam giới (746.000 trường hợp, chiếm
10,0% tổng số) và đứng thứ hai ở phụ nữ (614.000 trường hợp,chiếm 9,2% tổng số) trên toàn thế giới, trong đó có 694.000 người chết vì bệnh này Hầu như 55% các trường hợp xảy ra trong vùng phát triển hơn, tỷ lệ ước tính cao nhất ở Úc / New Zealand (ở nam và nữ: 44,8 và 32,2/100.000 ), và thấp nhất ở Tây Phi (4,5 và
3,8/100.000) [81]
Trang 17Bảng 1.1: Ước tính tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và tỷ lệ ung thư đại trực tràng trên
thế giới năm 2012 [81]
Trường hợp
Tử
vong
Tỷ lệ sống
5 năm
Trường hợp
Tử
vong
Tỷ lệ sống
5 năm
Trường hợp
Tử
vong
Tỷ lệ sống
5 năm
Thế giới 746 374 1953 614 320 1590 1361 694 3544 Vùng phát triển
Trang 181.2.2 Tình hình mắc ung thư đại trực tràng ở Việt Nam
Ung thư đại trực tràng là một bệnh lý hay gặp ở Việt Nam, đứng hàng thứ hai sau ung thư dạ dày trong ung thư đường tiêu hoá Theo Nguyễn Bá Đức trong năm
1988 ở Hà Nội đã phát hiện 1.482 ung thư các loại, trong đó UTĐTT đứng hàng thứ
5 (5,5%) sau ung thư phế quản, dạ dày, gan và ung thư vú ở nữ giới UTĐTT đứng hàng thứ 3 (3,1%) sau ung thư vú và ung thư dạ dày Ở nam giới nó đứng hàng thứ
5 (4,7%) sau ung thư phổi, dạ dày, gan, vòm họng và ung thư máu UTĐTT tiến triển chậm và di căn muộn hơn so với các loại ung thư khác Nếu phát hiện và điều trị sớm khi ung thư chưa đến lớp thanh mạc thì tỷ lệ sống trên 5 năm tới 80% - 90% Ở Việt Nam, người dân thường đến khám bệnh khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, thậm trí người bệnh đã có dấu hiệu bán tắc ruột hoặc tắc ruột nên khả năng điều trị rất khó và tốn kém, tỷ lệ sống trên 5 năm rất thấp Đối với ung thư đại tràng phải con số đó là 15%, ung thư đại tràng trái là 18% (Nguyễn Văn Vân 1980) Cũng như các loại ung thư khác, mặc dầu ung thư đại tràng tiến triển chậm nhưng nó cần phải được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời thì mới đạt kết quả tốt được [12]
Ở Việt Nam, năm 2012 UTĐTT đứng thứ 4 ở nam, có 4.561 trường hợp (chiếm 6,5%) và đứng thứ 6 ở nữ, có 4.207 trường hợp (chiếm 7,7%) [96]
Theo nhận định của Bộ Y tế, mô hình bệnh tật ở nước ta là một mô hình kép, bên cạnh các bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng của các nước chậm phát triển, các bệnh ung thư, tim mạch, tâm thần đang có nguy cơ tăng lên giống với các nước công nghiệp phát triển Thế kỷ 20 là bệnh nhiễm trùng, thế kỷ 21 là thế kỷ của bệnh ung thư, tim mạch và các bệnh không lây nhiễm khác Ở Hà Nội 1993- 1994 cho thấy tỷ xuất ung thư đại trực tràng 7,5/100.000 dân, đến năm 2002 là 13,1/100.000 dân [36] Theo số liệu thống kê qua ghi nhận ung thư tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh
Trang 19và một số tỉnh, ước tính mỗi năm ở nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới mắc và 75.000 người chết vì ung thư, con số này có xu hướng ngày càng gia tăng Dự báo tới năm 2020 mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 200.000 trường hợp mới mắc và 100.000 trường hợp chết do ung thư [7]
Bảng 1.2: Bảy loại ung thư phổ biến [87]
Tỷ lệ mắc (mắc mới/ 100.000 người/năm
Tỷ lệ Cao
nhất
Thấp nhất
Trang 20Bảng 1.3 Tỉ lệ người mắc bệnh ung thư giữa các nước giàu và nước nghèo
Nữ giới và nam giới [87]
Trang 211.3 Các yếu tố nguy cơ
1.3.1 Các yếu tố nguy cơ không phòng ngừa được
Yếu tố gia đình: những người anh,chị, em, con cháu trong gia đình có bố/mẹ
hoặc cả bố và mẹ bị ung thư Khoảng 5- 10 % số người mắc bệnh UTĐTT do di truyền gen ung thư (đột biến) có thể gây hội chứng ung thư gia đình và dẫn đến họ mắc bệnh [90] Nếu một người có tiền sử gia đình UTĐTT, nguy cơ bị mắc bệnh tăng gấp đôi nguy cơ trung bình của UTĐTT Nguy cơ càng tăng hơn nữa nếu người thân khác cũng đã bị bệnh hoặc nếu người thân đầu tiên được chẩn đoán ở độ tuổi trẻ hơn [41]
Bệnh đa polyp tuyến gia đình: năm 1951 Gadner E.J đề cập đến tính di
truyền của tình trạng có rất nhiều polyp dầy đặc trong ĐTT, kết hợp với u thần kinh đệm, nhiễm sắc tố da (với thuật ngữ Bệnh đa polyp tuyến gia đình: Familial Adenomatous Polypposis- FAP) [84] Trong một khảo sát tiến hành trên 300 gia đình, Busey H.J.R khẳng định tình trạng FAP nếu không điều trị bằng cắt toàn bộ đại tràng thì các polyp sẽ tiến triển thành ung thư trước 40 tuổi Các biến thể cả FAP gồm: hội chứng Peutz- Jegher, Turcot, Gardner [48] Theo một số tài liệu, ở Việt Nam ước tính khoảng 20- 30% các UTĐTT có yếu tố gia đình UTĐTT có thể di truyền đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố sinh học, gen, mối liên quan của chúng đến các kiểu hình tăng sinh ĐTT Khoảng 3- 4% các trường hợp UTĐTT bắt nguồn từ UTĐTT thể không polyp di truyền hoặc hội chúng Lynch Khoảng 15% UTĐTT do bệnh đa polyp tuyến gia đình, dưới 15% các bệnh khác gọi là đa polyp tuyến liên quan đến MUYN, hội chứng đa polyp, đa polyp tăng sản [1, 90]
Các u tuyến lành tính (polyp): UTĐTT phần lớn là ung thư biểu mô tuyến
[9], phát triển từ sự chuyển dạng ác tính của các polyp tuyến Các polyp có kích thước hơn 2 cm, chân rộng, không cuống có nguy cơ chuyển dạng ác tính cao [1, 27] Trong các polyp tuyến thì loại polyp nhung mao có nguy cơ ung thư hóa cao nhất, từ 25- 40% Theo nghiên cứu của Lockhard – Mummery J P theo dõi 203 bệnh nhân bị polyp đại tràng thấy có 157 người bị ung thư và cho rằng sau 20 năm
mà không được điều trị thì polyp sẽ bị ung thư hóa [50]
Trang 22Bệnh đường ruột: Các bệnh viêm đại tràng mãn tính như bệnh viêm loét đại trực
tràng chảy máu: bệnh có nguy cơ ung thư hóa cao chiếm 20- 25% sau thời gian mắc bệnh 10 năm và tăng cao sau 20 năm Thể thường gặp là UTĐTT ở nhiều vị trí [50] Bệnh Crohn làm tăng nguy cơ ung thư ruột non và đại trực tràng ở người trẻ tuổi
Gen sinh ung thư:Các gen liên quan đến quá trình sinh UTĐTT chia thành
hai nhóm: gen ung thư và gen kháng u [23]
+ Gen sinh ung thư (Oncogenes): là những gen có nhiệm vụ điều khiển sự phát triển bình thường của tế bào nhưng khi các tế bào này đột biến sẽ dẫn đến tăng sinh tế bào ruột một cách bất thường và gây ung thư
Gen K ras nằm trên nhiễm sắc thể 12p
Gen C myc nằm trên nhiễm sắc thể 8q24
Tỷ lệ đột biến gen KRAS là 36,1% , tập trung chủ yếu ở condon 12 (chiếm 72,7% tổng số đột biến) Kết quả phân tích đột biến gen KRAS trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng tại Bệnh Viện Bạch Mai tương tự nghiên cứu khác tại Việt Nam
và trên Thế giới [25, 59]
Đột biến gen là những tổn thương xảy ra sớm nhất trong quá trình tạo polyp
và tăng sinh ung thư, và dưới tác dụng của cơ chế điều hòa gan của các phân tử nội bào mà biểu hiện thành các thể bệnh khác nhau Đột biến cũng có thể đã tồn tại trong cơ thể người bệnh nhưng cũng có thể phát sinh trong quá trình sống dưới tác động của môi trường, hóa chất độc hại dưới tác động của yếu tố thuận lợi thì các tác nhân gây đột biến đã được hoạt hóa và tác động trực tiếp lên gen đích để tạo ra các dạng đột biến khác nhau [1]
+ Gen kháng u (Tumor suppressor genes): Các gen kháng u được biết đến với chức năng kiểm soát phân bào, ức chế tăng sinh tế bào Các gen này tham gia sửa chữa ADN bằng cách ngừng chu kỳ tế bào ở G1/S vµ G2/M, làm tế bào không đi vào pha S và M, đủ thời gian sửa chữa các ADN tổn thương, giúp tế bào sống sót và không tiến triển thành ung thư Khi các gen kháng u tổn thương, chu kỳ tế bào sẽ hỗn loạn, các ADN bị tổn thương không kháng u tổn thương, chu kỳ tế bào sẽ rối loạn, các ADN bị tổn thương không được sửa chữa, làm cho tế bào tăng sinh không kiểm soát được sẽ gây ung thư [10]
Trang 23Gen DCC (Deleted in colon cancer): nằm trên nhiễm sắc thể 18
Gen APC (Adenomatous Polyposis Coli): nằm trên nhiễm sắc thể 5q21
Gen P51: nằm trên nhiễm sác thể 17p13
Gen Nm 23: nằm trên nhiễm sắc thể 17q22
Tuổi: Nguy cơ gia tăng bệnh ung thư đại trực tràng ở người lớn tuổi Ung
thư đại trực tràng có thể xảy ra ở người trẻ tuổi và thiếu niên, nhưng hơn 90% ung thư đại trực tràng xảy ra ở những người hơn 50 tuổi [41] Tuổi là yếu tố quan trọng nhất xác định nguy cơ mắc bệnh ung thư, là vấn đề cần khuyến cáo cộng đồng trong việc khám và sàng lọc ung thư sớm Đối với hầu hết ung thư loại tế bào biểu mô thì
tỉ lệ mắc mới tăng rõ rệt theo tuổi Những người trẻ tuổi có thể bị bệnh UTĐTT, nhưng nguy cơ tăng rõ rệt sau 50 tuổi [5, 14] Ở Mỹ, UTĐTT là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba trong các bệnh ung thư, tỷ lệ tương đương ở hai giới Năm
2008, người ta ước tính có 148.900 trường hợp mắc mới và khoảng 49.900 người chết vì bệnh này Bệnh UTĐTT tăng sau 40 tuổi, tăng dần ở tuổi 40, tăng mạnh sau
tuổi 50, hơn 90% UTĐTT ở độ tuổi trên 50 [49, 61, 64]
1.3.2 Các yếu tố nguy có có thể phòng ngừa được:
Chế độ dinh dưỡng
Chế độ ăn uống ảnh hưởng mạnh mẽ đến nguy cơ UTĐTT, và những thay đổi thói quen ăn uống có thể làm giảm 70% khả năng ung thư Chế độ ăn quyết định thành phần sinh hóa của phân, làm thay đổi môi trường và nhịp độ hoạt động của niêm mạc ruột, do vậy chế độ ăn là yếu tố nguy cơ quan trọng trong phòng ngừa UTĐTT Chế độ ăn nhiều mỡ, ít xơ làm tăng nguy cơ phát triển UTĐTT, do vậy chất xơ là yếu tố giảm nguy cơ UTĐTT vì chất xơ làm tăng khối lượng phân, dẫn đến các chất gây ung thư khi ăn vào được pha loãng, bài tiết nhanh làm giảm thời gian tiếp xúc với niêm mạc ruột Những thực phẩm lên men có nhiều chất Bitrosamin và Aflatoxin cũng làm tăng tỷ lệ mắc ung thư Những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Singapore tỷ lệ mắc UTĐTT cũng tăng lên rõ rệt nhất [34]
Một chế độ ăn uống với các loại thịt đỏ (như thịt bò, thịt lợn, thịt cừu, hoặc gan) và các loại thịt chế biến sẵn có thể làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng
Trang 24Nấu thịt ở nhiệt độ rất cao (chiên, xào, nướng, hoặc nướng) tạo ra các hóa chất có thể làm tăng nguy cơ ung thư Một số loại thịt được nấu ở nhiệt độ cao, dẫn đến việc sinh ra các amin dị vòng và các hydrocacbon thơm đa vòng, cả hai được cho là
có tính chất gây ung thư [50, 61, 90]
Để phòng ngừa ung thư Tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo:
+ Giảm calo chất béo xuống 25-30%
+ Đưa hoa quả và ngũ cốc vào bữa ăn hàng ngày
+ Hạn chế sử dụng thức ăn muối, lên men, hong khói
+ Hạn chế sử dụng các gia vị phẩm nhuộm, dầu thơm
+ Hạn chế sử dụng rượu bia
+ Không sử dụng các sản phẩm gây đột biến gen
Hút thuốc lá: theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới WHO, khói thuốc
chứa hơn 4.000 chất hóa học độc hại trong đó có hơn 70 chất là tác nhân gây ung thư Các chất độc trong khói thuốc vào đường máu, len lỏi đi vào nhiều cơ quan của
cơ thể, bám vào bề mặt tế bào gây nên viêm nhiễm mãn tính Các tổ chức bị thương lâu ngày sẽ làm biến đổi tế bào, gây ra các tế bào ác tính Người nghiện thuốc lá lâu dài thì nguy cơ bị UTĐTT cao hơn những người không hút thuốc, tuy nhiên hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi và các ung thư khác hơn là tác động lâu dài gây UTĐTT [46, 55] Hút thuốc lá gây ra ung thư phổi đã được chứng minh, nhưng hút thuốc lá cũng là tác nhân có hại cho ĐTT, có những nghiên cứu cho thấy có 12% các ca tử vong do UTĐTT là do hút thuốc lá[54]
Uống rượu: Rượu quá mức là một yếu tố nguy cho sự phát triển cũng như
sự tiến triển của các loại ung thư, trong đó có UTĐTT Khi rượu được tiêu thụ, nó được chuyển hóa bởi dehydrogenases rượu (ADH) và cytochrome P450 subenzyme 2E1 (CYP2E1), mà chất xúc tác cho quá trình oxy hóa của rượu thành acetaldehyt Dehydrogenases rượu (ADH) là một nhóm được xác định rõ các enzym tham gia vào giải độc nói chung của rượu và được liên kết với một số bệnh ung thư của con người, bao gồm UTĐTT Rượu sự trao đổi chất tăng ôxy phản ứng thế hệ, dẫn đến căng thẳng oxy hóa và tích lũy của ROS tăng cường asen gây ra khối u hình thành mạch máu trong các tế bào UTĐTT thông qua con đường HIF-1α Rượu thúc đẩy
Trang 25tiến triển ung thư bằng cách gây biểu hiện gen của quá trình chuyển đổi (EMT) gen biểu mô-trung mô, như các yếu tố phiên mã Snail, bằng cách tăng thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) transactivation và kích hoạt metalloproteinase ma trận (MMPs) [35, 45, 57] Hút thuốc lá và uống rượu đều gây hình thành và tăng tốc độ tăng trưởng của polyp u tuyến, các tổn thương được công nhận là nguy cơ gây ung thư[35, 45, 57]
Lối sống: Một số yếu tố liên quan đến lối sống có liên quan đến bệnh ung
thư đại trực tràng Trong thực tế, chế độ ăn uống, cân nặng và tập thể dục là những yếu tố có liên quan với nhau và với bất kỳ loại ung thư nào trong đó có nguy cơ ung thư đại trực tràng [82]
UTĐTT có thể phát hiện sớm và điều trị khỏi: UTĐTT là một trong những ung thư đường tiêu hóa có tiên lượng tốt Tuy nhiên, nếu được phát hiện muộn thì cũng giống như tất cả các loại ung thư khác, khả năng điều trị ít hiệu quả Vì vậy, cần phát hiện khi ung thư còn ở giai đoạn sớm hoặc các tổn thương tiền ung thư Nếu phát hiện UTĐTT ở giai đoạn sớm có nghĩa là khi tế bào ung thư chỉ nằm tại lớp niêm mạc, thì có thể áp dụng phương pháp nội soi cắt tách dưới niêm mạc (Endoscopic Submucosal Dissection- ESD ) lấy bỏ toàn bộ vùng ung thư tại lớp niêm mạc mà vẫn giữ nguyên được ĐTT [16]
Tỷ lệ sống sót sau 5 năm là tỷ lệ phần trăm của những người sống sót ít nhất
là 5 năm sau khi ung thư được tìm thấy Tỷ lệ sống sót cho bệnh ung thư đại trực tràng có thể khác nhau dựa trên nhiều yếu tố, đặc biệt là giai đoạn Tỷ lệ sống sót sau 5 năm nếu ở giai đoạn sớm là trên 90%; nếu ung thư lan đến hạch bạch huyết gần đó hoặc cơ quan, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 71%; nếu ung thư di căn tới phần
xa của cơ thể như di căn vào gan, phổi thì nguy cơ sống sót sau 5 năm là 13% [41]
Một số chất khác như các vitamin A, D, E, Calcium và thuốc Aspirin có tác dụng làm giảm nguy cơ UTĐTT Việc dùng kháng sinh đường ruột kéo dài, làm loạn khuẩn đường ruột là tác nhân làm tăng nguy cơ UTĐTT [47, 69, 82]
Trọng lượng cơ thể: Béo phì có liên quan với tăng nguy cơ u tuyến đại trực
tràng (tăng trưởng hoặc polyp có thể trở thành ung thư) nhưng giảm cân có thể làm giảm nguy cơ Thừa cân hoặc béo phì được cho là có ảnh hưởng đến nồng độ
Trang 26hormone và quá trình viêm nhiễm trong cơ thể mà có thể thúc đẩy sự hình thành ung thư [53]
Nước sinh hoạt: ở Việt Nam, nhiều nơi người dân không có nước sinh hoạt,
sử dụng nước giếng chưa qua sử lí, mặt khác nguồn nước mặt và nước ngầm bị ô nhiễm nghiêm trọng do sự phát triển của các đô thị và khu công nghiệp Theo báo cáo của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường 5 năm gần đây cho thấy có tới 9.000 người tử vong mỗi năm vì nguồn nước ô nhiễm [6]
1.4 Triệu chứng ung thư đại trực tràng trên lâm sàng
Triệu chứng cơ năng:
Ung thư giai đoạn sớm thường không có triệu chứng, hơn nữa nhiều triệu chứng ung thư đại tràng lại không đặc hiệu Giai đoạn này có thể phát hiện sớm và điều trị khỏi bằng phương pháp cắt hớt niêm mạc qua nội soi(ESD), (Người dân thường bỏ qua giai đoạn này) [16] UTĐTT giai đoạn sớm đặc biệt là giai đoạn DUKES A, các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, BN thường hay bỏ qua không
đi khám Bởi vì giai đoạn này khối u trong ĐTT thường dưới 1/2 chu vi ruột, chưa ảnh hưởng nhiều tới chức năng sinh lý của ĐTT cũng như sinh hoạt của người bệnh
Vì vậy, khi các dấu hiệu bệnh nặng lên như: thiếu máu, gầy sút cân, bán tắc ruột, tắc ruột, đau đớn suy kiệt thì bệnh nhân mới đi khám thường bệnh đã ở giai đoạn muộn (Dukes C, D) [11]
Ở một số nước phát triển như Anh, Mỹ, Thụy Điển người ta tiến hành sàng lọc UTĐTT trong cộng đồng bằng cách sử dụng test Hemoccult máu ẩn trong phân nhằm phát hiện UTĐTT ở giai đoạn sớm khi chưa có triệu chứng lâm sàng, từ đó nâng cao chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ tử vong [23]
Với đại tràng phải: với ung thư đại tràng phải người bệnh thường cảm thấy đau bụng âm ỉ, thiếu máu chưa rõ nguyên nhân, đại tiện phân lỏng từng đợt hoặc kéo dài, triệu chứng táo bón và đại tiện ra máu ít gặp hơn Ở giai đoạn này người bệnh đi khám bệnh thường được chẩn đoán là rối loạn tiêu hóa hoặc viêm đại tràng Với ung thư đại tràng trái: triệu chứng thường gặp là đau bụng kiểu quặn từng cơn, táo bón, đại tiện phân nhầy máu lẫn với phân, đôi khi đi ngoài ra máu Ở giai đoạn này thường được chẩn đoán là trĩ hoặc lỵ Với ưng thư trực tràng: Bệnh nhân
Trang 27thường có hội chứng trực tràng như đau tức âm ỉ vùng hậu môn và tầng sinh môn, buồn đi ngoài, cảm giác đi ngoài không hết, ỉa nhầy máu, mót rặn, đi ngoài nhiều lần trong ngày, biến dạng khuôn phân dẹt như lá lúa Khi bệnh UTĐTT tiến triển, các triệu chứng cơ năng rõ rệt như đau bụng,đi đại tiện phân nhầy máu , mót rặn, đại tiện ngày nhiều lần , và đi ngoài khó kèm theo chán ăn, gầy sút cân Khám thực thể có thể sờ thấy u ở bụng, triệu chứng này xuất hiện ở ung thư đại tràng phải nhiều hơn đại tràng trái [13, 38]
Khi bệnh UTĐTT giai đoạn muộn có thể xuất hiện các triệu chứng vàng da, gan to do ung thư di căn tới gan và chèn ép đường dẫn mật hoặc có dấu hiệu cổ , bán tắc ruột hoặc tắc ruột cũng thường xuyên xảy ra và hay gặp ở đại tràng trái Tắc ruột do ung thư đại - trực tràng gặp trong 8-13% bệnh nhân ung thư đại - trực tràng,
là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp [21].Ngoài ra có một số triệu chứng hiếm gặp như dò vào dạ dày, dò đại tràng vào bàng quang
Triệu chứng toàn thân:UTĐTT thường dẫn tới những rối loạn toàn thân
như gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu mạn tính hoặc sốt chưa rõ nguyên nhân Bệnh nhân
có thể gầy sút 5-10 kg trong vòng 2- 4 tháng
Triệu chứng thực thể:Đối với UTĐTT giai đoạn sớm (Dukes A) việc thăm
khám lâm sàng hầu như không phát hiện được dấu hiệu gì Ở các giai đoạn sau, khám bụng có thể sờ thấy u nằm ở vị trí nào đó của khung đại tràng, thường gặp
khối u ở hố chậu phải, mạng sườn phải, ít khi sờ thấy u ở đại tràng trái
1.5 Các phương pháp phát hiện ung thư đại trực tràng
Nội soi đại trực tràng kết hợp sinh thiết giải phẫu bệnh chẩn đoán ung thư
Nội soi ĐTT là phương pháp tốt nhất phát hiện các tổn thương của ĐTT đặc biệt là các tổn thương ung thư sớm hoặc ung thư, khi phát hiện các tổn thương nghi ngờ ung thư sớm thì Bác sỹ nội soi thường tiến hành nhuộm màu bằng dung dịch xanh methylen, indigo carmin để các định tính chất bắt màu, diện lan tỏa của tổn thương (áp dụng với những tổn thương nghi ngờ ung thư sớm) Tuy nhiên, thực tế nhiều người bệnh đến nội soi thường phát hiện ra ung thư giai đoạn muộn thậm chí bán tắc ruột hoặc tắc ruột [15],[68, 86] Tiến hành sinh thiết tổn thương: kết quả giải
Trang 28phẫu bệnh là tiêu chuẩn để kết luận chẩn đoán xác định đó có phải tổn thương ung thư hay không
Siêu âm
Siêu âm ổ bụng:Các dấu hiệu giúp xác định tình trạng tắc ruột như kích
thước thành ĐT dày ( >5mm), tăng nhu động ruột trên vị trí tắc, chuyển động cuộn xoáy của dịch lẫn chất chứa bên trong ruột Bên cạnh đó siêu âm còn giúp phát hiện các tổn thương di căn, đặc biệt là di căn gan và tình trạng dịch ổ bụng Ngoài ra siêu
âm còn giúp phát hiện các bệnh lí kèm theo, các tổn thương các tạng khác trong ổ
bụng [31]
Siêu âm nội soi: Đây là phương pháp kết hợp giữa nội soi tiêu hóa và siêu
âm có đầu dò tần số cao cho phép quan sát hình ảnh các lớp của thành ống tiêu hóa theo cấu trúc mô học do đó có thể đáp ứng được yêu cầu chẩn đoán sớm và thăm dò mức độ xâm lấn của tổn thương vào từng lớp của thành ống tiêu hóa, cũng như tới các hạch lân cận, đây cũng là kỹ thuật cho phép phát hiện các tổn thương khu trú
còn bé với tổ chức xung quanh [13, 17, 30]
Chụp XQ: Chụp XQ tổn thương ưng thư đại trực tràng giúp cho Bác sỹ phẫu thuật
xác định tốt vị trí phẫu thuật
Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ:
Chụp cắt lớp vi tính (CT scan): Tạo ra hình ảnh 3 chiều của các cơ quan bên
trong cơ thể bằng tia X-quang Các hình ảnh sẽ được hiển thị chi tiết trên máy tính, cho phép bác sĩ phát hiện bất thường hoặc khối u Chụp CT cũng giúp xác định vị trí, đo kích thước, mức độ xâm lấn và di căn của khối u [31]
Chụp cộng hưởng từ (MRI): Phương pháp này sử dụng từ trường để tạo ra
hình ảnh chi tiết của cơ thể MRI cũng có thể được sử dụng để xác định vị trí, kích thước của khối u MRI là xét nghiệm hình ảnh tốt nhất để tìm kiếm sự di căn của ung thư Giá trị chụp của chụp MRI trong đánh giá mức xâm lấn của ung thư trực tràng với độ nhạy 89,2%, độ đặc hiệu 88,5%, độ chính xác 88,9% [36]
PET- CT: được coi phương tiện hiện đại phát hiện di căn ung thư, nhưng cũng
không phải phương tiện được áp dụng để sàng lọc phát hiện ung thư đại trực tràng ở
giai đoạn sớm [3]
Trang 29Các xét nghiệm
Xét nghiệm kháng nguyên CEA(antigene Carino- embryonnaire) : kháng
nguyên ung thư bào thai là chất chỉ điểm chính trong UTĐTT với độ nhạy 7 đến 64% tùy theo giai đoạn bệnh Nồng độ 5mg/ml là giới hạn chỉ số bình thường Cho đến nay CEA được úng dụng chủ yếu là đánh giá hiệu quả điều trị và để theo dõi tái phát sau điều trị Xét nghiệm CEA có độ đặc hiệu thấp, có giá trị gợi ý và giúp theo dõi sau này
Test máu ẩn trong phân (FOBT: Focal Occult Blood Test [20]
Xét nghiệm hồng cầutrong phân: bằng phản ứng Weber Mayer
1.6 Các chương trình sàng lọc ung thư trên Thế giới và Việt Nam
Sàng lọc ung thư là cách đánh giá mỗi cá thể hay cộng đồng, khỏe mạnh về mặt cộng đồng về mặt lâm sàng, nhằm phát hiện ung thư tiềm ẩn hay tổn thương tiền ung thư Mục tiêu của chẩn đoán và sàng lọc là phát hiện sớm và làm giảm tỷ lệ
tử vong do bệnh ung thư trong số các cá thể có thể được tầm soát UTĐTT thường
có thể phòng ngừa thông qua sàng lọc thường xuyên
1.6.1 Trên Thế giới:
Tại các quốc gia Châu âu (EU):
Ung thư đại trực tràng là bệnh ác tính thường gặp nhất thứ hai ở châu Âu Hàng năm có 412.000 người được chẩn đoán và có 207.000 bệnh nhân chết vì UTĐTT
Năm 1985, chương trình Châu Âu chống ung thư bắt đầu được thực hiện, với mục tiêu đến năm 2.000 giảm 15% trong số các ca tử vong do khối u (từ 1.000.000 xuống còn 850.000) Dự án tập trung vào ba lĩnh vực chính: phòng ngừa, sàng lọc,
và giáo dục Kết quả được công bố cho thấy, mặc dù các mục tiêu kế hoạch đã không đạt được, tỷ lệ tử vong do khối u đã giảm 10% trong EU Một số quốc gia trong EU đạt được tỷ lệ như mong đợi như là Áo, Phần Lan [98]
Phương pháp sàng lọc:
• Độ tuổi khám sàng lọc từ 50- 74 tuổi
• Làm các xét nghiệm máu ẩn trong phân, nếu cho kết quả dương tính thì nội soi đại trực tràng kiểm tra
Trang 30• Nội soi đại trực tràng cứ 2 năm/lần
Tại Mỹ:
Ung thư đại trực tràng là nguyên nhân thứ hai dẫn đến tử vong ung thư ở Hoa Kỳ Trong năm 2015, ước tính có khoảng 133.000 người sẽ được chẩn đoán mắc mới và khoảng 50.000 người sẽ chết vì bệnh này Độ tuổi được chẩn đoán phát hiện tổn thương UTĐTT ở người lớn tuổi từ 65-74 năm [63] Đối với người trưởng thành, các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư đại trực tràng là tuổi già Khoảng 4% các trường hợp ung thư đại trực tràng xảy ra ở người trẻ hơn 50 tuổi; tuổi trung vị của chẩn đoán UTĐTT là 68 tuổi
Tầm soát UTĐTT dành cho những người tuổi từ 50 đến 75 tuổi: 1) sàng lọc hàng năm với xét nghiệm máu ẩn trong phân; 2) sàng lọc mỗi 10 năm với soi đại tràng sigma linh hoạt và sàng lọc hàng năm với xét nghiệm máu ẩn trong phân; hoặc 3) sàng lọc mỗi 10 năm với nội soi đại tràng[63]
1.6.2 Tại Việt Nam
Khám sàng lọc sớm ung thư đại trực tràng:
Hiện nay tất cả các xét nghiệm sàng lọc phát hiện sớm ung thư mới chỉ thực hiện tại một số bệnh viện như Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 [3]
UTĐTT là loại UT đứng hàng thứ 3 ở cả hai giới Tất cả mọi người trên 50 tuổi nên được sàng lọc UTĐTT bằng một trong các xét nghiệm sau:
• Nội soi đại tràng sigma ống mềm mỗi 5 năm hoặc nội soi ĐT mỗi 10 năm hoặc chụp ĐT cản quang kép mỗi 5 năm hoặc chụp CT đại tràng ( nội soi ĐT ảo) mỗi 5 năm
• Xét nghiệm máu ẩn trong phân (Fecal Occult Blood Test- FOBT) hoặc XN hóa miễn dịch phân (Fecal Immunochemical Test) mỗi năm một lần hoặc
XN DNA trong phân (Stool DNA Test)
• Nếu một trong các xét nghiệm trên dương tính thì cần tiến hành nội soi đại tràng
• Một số người có tiền sử gia đình có nguy cơ cao bị polyp hoặc ung thư đại trực tràng nên được sàng lọc thường xuyên hơn
Trang 31Quy hoạch phát triển mạng lưới phòng chống ung thư tại Việt Nam giai đoạn 2009-2020
Mục tiêu:
Đảm bảo cung cấp năng lực cho cán bộ y tế nhằm thực hiện mục tiêu của Chương trình quốc gia phòng chống ung thư, bao gồm:
• Từng bước giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do ung thư
• Cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư
• Cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phòng chống ung thư tại các tuyến cho mạng lưới phòng chống ung thư việt Nam
• Từng bước nâng cao năng lực phòng chống ung thư của Việt Nam ngang
tầm các nước trong khu vực và trên thế giới
1.7 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về ung thư đại trực tràng 1.7.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu của Dr Gilberto Lopes, "Đầu tư trong phòng chống ung thư
để giảm gánh nặng kinh tế toàn cầu" Kết quả trong năm 2010, có xét đến các chi
phí trực tiếp liên quan đến việc phòng ngừa và điều trị các chứng bệnh ung thư và giá trị kinh tế của cuộc sống bị mất và khuyết tật gây ra, Thế giới mất đi 1.160 tỷ
đô la Ước tính hơn nữa, trong đó thêm các chi phí dài hạn cho bệnh nhân và gia đình của họ, mang lại chi phí toàn cầu hàng năm của ung thư tới $ 2.500 tỷ đô la Năm 2008, chi phí ước tính của cái chết và tàn tật do bệnh ung thư đại trực tràng là
99 tỷ đô la, không bao gồm chi phí điều trị trực tiếp [39]
Nhật Bản thực hiện chương trình sàng lọc UTĐTT từ năm 1992 với 35 triệu người độ tuổi trên 40 Nước Anh: thực hiện sàng lọc ở các trung tâm bằng phương pháp nội soi ĐT sigma ở những người độ tuổi 55- 64 Thực hiện xét nghiệm FOBT
cứ 2 năm một lần cho những người độ tuổi 60- 69 bắt đầu ở Anh vào năm 2006 và cho những người 50-74 năm 2007 tại Scotland Wales sẽ bắt đầu sàng lọc ở những người trong độ tuổi 50-74 từ năm 2009 [78]
Một nghiên cứu năm 2006 tại Đức: "Hút thuốc lá và nguy cơ ung thư đại trực tràng ở Đức: một nghiên cứu bệnh chứng dựa vào dân số" Bệnh 540 trường hợp mắc bệnh UTĐTT và 614 chứng phù hợp với các trường hợp theo giới tính, lứa tuổi
Trang 325 năm và quận khu trú từ tháng 1- 2003 đến tháng 6-2004, và cung cấp các yếu tố
về nguy cơ UTĐTT, trong đó có thói quen hút thuốc lá So với người không hút thuốc, có nguy cơ đối với người hút thuốc trên 30 năm (OR: 1.25; 95% CI: 0,90-1,75) và một sự gia tăng đáng kể nguy cơ UTĐTT với người hút trên 40 gói- năm(OR: 1.92, 95% CI : 1,13-3,28) Phân tầng theo giới tính, nguy cơ bị UTĐTT ở
nữ cao hơn so với nam, cụ thể là (ORs: 3,5, 95% CI: 1,29-9,52) và (ORs: 1,15, 95% CI: 0,69-1,91) Trong số những người hút thuốc, giảm nguy cơ được quan sát thấy sau khi bỏ thuốc lá hơn 20 năm và giảm đáng kể đối với người bỏ thuốc trên 40 năm (OR: 0,46; 95% CI: 0,21-0,98), khi so sánh với những người hút thuốc lá hiện tại Nghiên cứu này ủng hộ giả thuyết rằng hút thuốc trong một thời gian dài với liều tích lũy cao làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng, đặc biệt là ở phụ nữ, và cho thấy rằng là giảm nguy cơ lâu dài sau khi ngừng thuốc [94]
Nghiên cứu bệnh- chứng tại Hy Lạp năm 2012: Rượu và UTĐTT: tăng nguy
cơ và phòng chống Với mục tiêu nghiên cứu là để đánh giá mối quan hệ của UTĐTT với số lượng và loại rượu tiêu thụ Đối tượng: 250 bệnh nhân liên tiếp với chẩn đoán đầu tiên của UTĐTT được chọn hợp với nhóm tuổi và giới tính với 250 nhóm chứng được lựa chọn tại cộng đồng Nhóm tuổi trung bình là 63 (147 nam, 59%; 103 nữ, 41%) đối với nhóm BN và nhóm tuổi trung 55 đối với nhóm chứng (112 nam, 44,8%; 138 nữ, 55,2%)
Kết quả: uống ít hơn 12 g rượu mỗi ngày ( uống rượu vừa phải 15-35g/ ngày)
là yếu tố bảo vệ nghĩa là giảm nguy cơ UTĐTT: ở nam giới ((OR, 0,35; 95% CI, 0,16 -0,74) và ở phụ nữ (OR, 0,40; 95%CI , 0,18-0,91) Uống rượu với số lượng nhiều (hơn 48 g /ngày) là yếu tố nguy cơ, tăng nguy cơ bị mắc bệnh UTĐTT: ở nam giới (OR: 3,45; 95% CI: 1,35-8,83) ,ở phụ nữ (OR: 3,40; 95%CI: 0.50 -22,92) Uống rượu vang đỏ là yếu tố bảo vệ, làm giảm nguy cơ UTĐTT: ở nam giới (OR: 3,45; 95% CI: 1,35-8,83) , ở phụ nữ (OR: 3,40; 95% CI: 0.50 -22,92) [70]
Kết luận: Mối quan hệ giữa số lượng rượu tiêu thụ và sự hiện của bệnh UTĐTT là theo đường cong hình chữ J Kết quả này cho thấy rằng tiêu thụ lượng rượu vừa phải hoặc uống rượu vang có tác dụng bảo vệ nghĩa là làm giảm nguy cơ
Trang 33bị bệnh UTĐTT ở cả nam giới và nữ giới, và ngược lại, uống một lượng rượu lớn làm tăng nguy cơ bị bệnh này [70]
1.7.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam về ung thư đại trực tràng
UTĐTT là bệnh đứng hàng thứ hai về bệnh ung thư đường tiêu hóa, chiếm 10% tổng số Thực tế ở Việt Nam chỉ mới chú trọng đến công tác điều trị bệnh ung thư, công tác phòng ngừa, sàng lọc và phát hiện ung thư sớm chưa được quan tâm
và thực hiện tại cộng đồng
Phan Văn Hạnh thực hiện một nghiên cứu " Nhận xét tổn thương ung thư đại trực tràng qua nội soi ống mềm đối chiếu lâm sàng với giải phẫu bệnh tại Bệnh viện K từ 2000 đến 2004" bằng phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu cắt ngang Kết quả dựa trên hình ảnh tổn thương ung thư đại trực tràng qua nội soi ống mềm chủ yếu là thể sùi chiếm 74.4%, thể chít hẹp 18,4%, thể thâm nhiễm và thể loét ít gặp hơn 4,6% và 2,6% Tỷ lệ các triệu trứng trong lâm sàng: đau bụng 84,2%, đi ngoài máu mũi 65,8%, đi ngoài phân lỏng 28,9%, gầy sút cân 29,6%, đặc biệt có 24,3% bệnh nhân tự sờ thấy U, các triệu chứng lâm sàng ít khi biểu hiện đơn lẻ mà phối hợp với nhau 85.5%[10]
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ung thư đại trực tràng giai đoạn Dukes A tại Bệnh viện K từ 1/2001 đến 10/2007 của tác giả Nguyễn Viết Nguyệt [23] Đây là nghiên cứu những trường hợp ung thư sớm được phẫu thuật và tỷ lệ sống thêm sau 5 năm phẫu thuật cao (trên 90%)
Kết quả: tuổi mắc bệnh trung bình 54,7 tuổi Triệu chứng cơ năng và toàn thân: đi ngoài phân máu 89,9%, đau bụng 32,8%, thay đổi thói quen đại tiện 23,5%, gầy sút cân 17,6, thiếu máu 1,7% Người bệnh tự sờ thấy U ở bụng 4,2%, bán tắc ruột 0,8%, thăm trực tràng thấy U 52,1% Siêu âm bụng phát hiện U 8,4% Giải phẫu bệnh thể sùi 78,1%, thể sùi-loét 16,8%, thâm nhiễm 3,4%, ,thể loét 1,7% Kết quả phẫu thuật cắt 1/2 ĐT phải 7,6%, cắt 1/2 ĐT trái 3,4%, cắt cụt trực tràng 32,8%, lấy u qua hậu môn 1,7%, phẫu thuật Harmann 1,7% Thời gian sống thêm 5 năm toàn bộ của UTĐTT là 97,1% trong đó của ĐT là 100% và trực tràng là 96,2%
Nghiên cứu " Kết quả xác định đột biến gen KRAS trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Bạch Mai" của tác giả Nguyễn Cẩm Phương và cộng
Trang 34sự Đối tượng và phương pháp: 61 mẫu bệnh phẩm (mẫu mô sau phẫu thuật hoặc sinh thiết), chẩn đoán xác định bằng phương pháp giải phẫu bệnh là UTĐTT được xác định bằng kit KRAS 12/13/61 Strip Assay Kết quả tỷ lệ đột biến gen KRAS 36,1% (22/61 bệnh phẩm), tập trung chủ yếu ở codon 12 (chiếm 72,7% tổng số đột biến) Kết quả phân tích đột biến gen KRAS trên bệnh nhân UTĐTT tại Bệnh viện
Bạch Mai tương tự nhiều nghiên cứu khác tại Việt Nam và trên Thế giới [25]
1.7.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Tổ chức bệnh viện
Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh, là bệnh viện được xếp hạng đặc biệt trực thuộc Bộ Y tế, là bệnh viện đa khoa đầu ngành lớn nhất khu vực phía Bắc, là tuyến cuối cùng của nhiều chuyên khoa Là bệnh viện lớn với quy mô 1.500 gường bệnh
Cơ cấu bệnh viện:
• Viện và trung tâm thuộc bệnh viện: Viện Tim mạch, Viện sức khỏe tâm thần, Trung tâm Phục hồi chức năng, Trung tâm Hô hấp, Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu, Trung tâm Chống độc, Trung tâm Giải phẫu bệnh, Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến, Trung tâm Dị ứng miễn dịch lâm sàng
• Phòng chức năng gồm có: Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Tài chính kế toán, Phòng Hành chính quản trị, Phòng Bảo vệ chính trị nội bộ, Phòng Điều dưỡng trưởng, Phòng Vật tư-thiết bị y tế, Đơn vị dịch vụ , Trường Cao đẳng y tế Bạch mai
• Khoa lâm sàng: Khoa Khám bệnh đa khoa, Khoa Răng Hàm Mặt, Khoa Tai Mũi Họng, Khoa Mắt, Khoa Y học cổ truyền,Khoa Ngoại tổng hợp, Khoa Ngoại chấn thương, Khoa Ngoại sọ não, Khoa Gây mê hồi sức, Khoa Nhi, Khoa Cơ Xương Khớp, Khoa Phụ sản, Khoa Thận- Tiết niệu, Khoa Nội tiết- Đái tháo đường, Khoa Tiêu hóa, Khoa Thần kinh, Khoa Hồi sức tích cực, Khoa Thận nhân tạo, Khoa Da liễu, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu, Khoa Huyết học- Truyền máu
Trang 35• Các Khoa cận lâm sàng: Khoa Dinh dưỡng, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Thăm dò chức năng, Khoa chống nhiễm khuẩn, Khoa Dược,Khoa Chống nhiễm Khuẩn, Khoa Vi sinh
Khoa Thăm dò chức năng( TDCN)
▪ Khoa Thăm dò chức năng là một trong những khoa cận lâm sàng trực thuộc Bệnh Viện Bạch Mai Khoa TDCN được thành lập với mục đích tập trung tương đối máy móc, trang thiết bị nhằm phát huy tối đa việc sử dụng máy móc phục vụ công tác khám, chữa bệnh, đồng thời quản lí, bảo dưỡng máy
và đầu tư máy hợp lí và hiệu quả hơn Trên cơ sở mục đích đó Khoa Thăm dò chức năng thuộc Bệnh viện Bạch Mai được Bộ Y tế quyết định thành lập
tràng ngoài ra còn có siêu âm ổ bụng tổng quát, điện tim
▪ Kết quả thu được: Hiện nay hàng ngày bệnh nhân đến với khoa tăng gấp nhiều lần so với khi thành lập, thống kê sơ bộ của những tháng đầu năm
2015, trung bình mỗi tháng có khoảng 5000 - 6000 lượt bệnh nhân soi dạ dày, 1000 lượt bệnh nhân soi đại tràng và hơn 1000 lượt bệnh nhân nội soi tiêu hóa có gây mê (trong đó có người bệnh soi cả dạ dày và đại tràng), điều
đó phản ánh nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng nhất là các bệnh viện
đầu ngành như Bệnh viện Bạch Mai
Từ tháng 1 đến tháng 9/2015 có hơn 12.000 người soi đại trực tràng trong đó
có 312 người được phát hiện có ung thư đại trực tràng trong đó có 11 người được chẩn đoán k sớm, độ tuổi trung bình bị ung thư 58.8 tuổi, bệnh nhân trẻ nhất 20 tuổi, cao tuổi nhất 90 tuổi Người bệnh bị ung thư đại trực tràng ở độ tuổi dưới 40
có 31 người chiếm 9,9% Trong số 312 người phát hiện ung thư có 132 người bị
Trang 36ung thư vùng trực tràng- đại tràng sigma, 109 người ung thư đại tràng, và có 68 người bị ung thư đại trực tràng/polyp đại trực tràng Ngoài ra trong số 2.289 người được phát hiện có polyp đại tràng, hiện chưa thống kê được kết quả chẩn đoán giải phẫu bệnh của người người có polyp được cắt
Yếu tố hành vi nguy cơ
• Ăn uống không lành mạnh: ăn
mặn, ăn nhiều mỡ, ăn ít rau,
Trang 37CHƯƠNG 2:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người đến nội soi đại trực tràng được phát hiện mắc bệnh và người không mắc bệnh ung thư đại trực tràng tại Khoa Thăm dò chức năng, Bệnh viện Bạch Mai, năm 2016
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Từ tháng 1/2016 đến tháng 5/2016
- Địa điểm: Khoa Thăm dò chức năng - Bệnh viện Bạch Mai - Đống Đa - Hà Nội
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng thiết kế: Nghiên cứu bệnh - chứng
Giả thuyết nghiên cứu:
1 Giả thuyết Ho:
- Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm bệnh và nhóm chứng về các yếu tố nguy cơ như: tuổi, giới, hút thuốc lá, uống rượu, thói quen ăn uống, thói quen vận động/hoạt động thể lực, các chỉ số nhân trắc, tiền sử mắc bệnh ĐTT, yếu tố di truyền, với độ tin cậy α = 0,05
- Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm bệnh và chứng về các yếu tố như: bữa ăn truyền thống, thói quen uống chè, cà phê sau bữa ăn, với độ tin cậy α= 0,05
2 Giả thuyết H1:
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm bệnh và chứng về các yếu
tố nguy cơ: hút thuốc lá, uống rượu, thói quen ăn uống, thói quen vận động/hoạt động thể lực, các chỉ số nhân trắc, tiền sử mắc bệnh ĐTT, yếu tố di truyền,với độ tin cậy α=0,05
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm bệnh và chứng về các yếu
tố như: thói quen uống chè, cà phê sau bữa ăn, với độ tin cậy α=0,05
Trang 382.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu
Sử dụng phầm mềm chọn mẫu Sample Size cho nghiên cứu bệnh – chứng, kiểm định tỷ số chênh mong đợi với độ chính xác tương đối Chọn yếu tố nguy cơ là ít hoạt động thể lực với bệnh ung thư đại trực tràng, với tỷ số chênh mong đợi là OR = 2,4 và tỷ lệ phơi nhiễm với ít hoạt động thể lực trong nhóm bệnh là 30%, tỷ lệ bệnh/chứng là 1/1 [71]
sự chênh lệch 136 bệnh so với 154 chứng)
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu
a Tiêu chí chọn mẫu
Ca bệnh: Người dân đến nội soi đại trực tràng có kết quả chẩn đoán hình ảnh tổn
thương ung thư đại trực tràng, kết hợp sinh thiết mô tổn thương làm giải phẫu bệnh
để chẩn đoán xác định tổn thương ung thư
Cách chọn nhóm bệnh là dựa vào kết quả của bác sỹ nội soi chẩn đoán hình ảnh ung thư đại trực tràng Hình ảnh nội soi chẩn đoán ung thư đại trực tràng: hình ảnh khối
Trang 39u trong thành ruột như: tổn thương loét bờ không đều, nham nhở, có tổ chức hoại tử
dễ chảy máu…Bác sỹ nội soi tiến hành lấy sinh thiết tổn thương để làm xét nghiệm giải phẫu bệnh
Giải phẫu bệnh định nghĩa về ung thư: là u ác tính có quá sản tế bào nhanh và mạnh, quá sản không giới hạn, nhiều dễ xâm nhập sâu vào mô xung quanh, di căn
xa Cấu tạo mô chỉ gợi lại hình ảnh mô sinh ra nó, xu hướng không biệt hóa Tế bào
u phá hủy, lấn át, hủy diệt cơ thể sinh ra và nuôi dưỡng nó
Đặc điểm chung của mô ung thư: ranh giới không rõ; nhiều dễ xâm nhập xung quanh, ít di động; dễ hoại tử, chảy máu; bề mặt có loét, sùi; xâm nhập phá vỡ mạch máu, di căn [23]
Ca chứng: Những người đến soi đại trực tràng có kết quả nội soi được chẩn đoán
không có tổn thương ung thư đại trực tràng, đồng ý tham gia vào nghiên cứu (lưu ý: Khi bệnh nhân soi mà không có tổn thương thì không phải làm sinh thiết giải phẫu bệnh)
Ca bệnh và ca chứng được bắt cặp theo ngày vào viện
Tiêu chí loại trừ:
▪ Có các bệnh: ung thư khác như ung thư phổi, ung thư vú, ung thư gan
▪ Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
▪ Bệnh nhân phù hợp tiêu chí nhưng có rối loạn tri giác không cải thiện, không thể trả lời câu hỏi điều tra
▪ Bệnh nhân quá già không thể nghe rõ câu hỏi để trả lời
b Các tiêu chuẩn áp dụng
Xác định người bị bệnh UTĐTT: dựa vào kết quả của Bác sỹ nội soi chẩn đoán hình ảnh ung thư đại trực và kết hợp với sinh thiết mô bệnh học để chẩn đoán xác định ung thư đại tràng là loại ung thư gì (ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu
mô tuyến biệt hóa vừa, ung thư tế bào nhẫn )
Một số khái niệm, chỉ tiêu của nghiên cứu
(1) Hoạt động thể lực [83]
- Hoạt động tể lực nặng làm cho người lao động phải thở hổn hển và thời gian họat động trên 10 phút
Trang 40- Hoạt động trung bình: là hoạt động làm thở mạnh bình thường và thời gian hoạt động được duy trì trên10 phút
Ví dụ: Đi lại bằng xe đạp/đi bộ thời gian trên 10 phút, các hoạt động thể thao với mức độ nặng hoặc trung bình
Trong nghiên cứu này người có hoạt động thể lực mức độ trung bình trong tuần trên 150 phút; hoặc trên 20 phút hoạt động thể lực nặng được xem là ít hoạt động thể lực không thường xuyên, hoặc không hoạt động thể lực
Thời gian ngồi ngả lưng trong ngày trên 4 giờ (240 phút)/ngày được coi là người có thời gian ngồi nhiều
(2) Tiêu thụ rượu, bia: Sử dụng đơn vị quốc tế 1 ly chuẩn, cốc chuẩn (có thẻ minh
họa kèm theo)
Tiêu thụ nhiều rượu/bia:
- Nam: trên 280 ml rượu vang/ngày; hoặc > 84ml rượu mạnh (trên 400 )/ ngày; hoặc trên 680 ml bia/ ngày được xem là nhóm nguy cơ: tiêu thụ nhiều rượu bia
- Nữ: với hàm lượng ½ tiêu chuẩn của nam
(3) Hút thuốc lá: Các trường hợp hút thuốc lá trên 10 điếu/ngày được xem là yếu
tố nguy cơ
(4) Thực phẩm: Các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt cừu: nhiều nghiên cứu cho thấy
tiêu thụ nhiều loại thịt trên sẽ làm tăng nguy cơ ung thư Tiêu thụ khoảng 160 g/ngày hoặc chế độ ăn với thịt quá 5 lần trong tuần sẽ làm nguy cơ tăng hơn ba lần Dưới hình thức chiên, nướng, thịt đã qua sơ chế như thịt xông khói, dăm bông, xúc xích bản thân chất đạm sẽ làm tăng yếu tố sinh ung thư; còn mỡ của loại thịt đỏ sẽ
bị chuyển hoá bởi vi khuẩn trong lòng ruột thành chất sinh ung thư, từ đó làm tăng sản các tế bào biểu mô bất thường trong lòng ruột dẫn đến bệnh
(5) Uống trà: mỗi người chỉ nên uống từ 2- 3 tách trà/ngày, không nên uống quá
10 tách trà/ngày Trong 30 cc trà: Trà Mỹ: 40 mg; Bột trà tan ngay: 28 mg; Nước trà lạnh vô chai: 25 mg; Nước giải khát: 24 mg; Nước ca cao 30 cc: 6 mg
(6) Cà phê: Số lượng caffeine có trong một ly cà phê 240 ml với phin nhỏ giọt: 85
mg; Bột tan liền: 25-75 mg; Espresso 30 cc: 40 mg Mỗi ngày không nên uống quá
400 mg caffein/ngày (tương đương 4- 5 ly cà phê)