Tính trạng sản xuất của gia cầm * Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất Theo Nguyễn Văn Thiện 1995 [17] các tính trạng sản xuất là các tính trạng như tính trạng số lượng, khối
Trang 1NGUYỄN MINH VƯỢNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA HAI TỔ HỢP LAI RI X LƯƠNG PHƯỢNG VÀ MÍA X LƯƠNG PHƯỢNG
NUÔI TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG - THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MINH VƯỢNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA HAI TỔ HỢP LAI RI X LƯƠNG PHƯỢNG VÀ MÍA X LƯƠNG PHƯỢNG
NUÔI TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG - THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Minh Vượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn của mình tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trước sự giúp đỡ tận tình của các Quý cơ quan, các thầy cô giáo cùng toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ người cô đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, khoa Chăn nuôi Thú y, Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thái Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi tiến hành thực hiện việc nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn./
Thái Bình, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Vượng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Tính trạng sản xuất của gia cầm 3
1.1.2 Khả năng sinh sản ở gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 5
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 16
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
1.2.3 Giới thiệu về gà thí nghiệm 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24
2.3.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 25
Trang 62.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định các chỉ tiêu 27
2.3.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 27
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 31
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Kết quả nghiên cứu trên gà bố mẹ 32
3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống 32
3.1.2 Khả năng sản xuất của gà thí nghiệm 33
3.13 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống 35
3.1.4 Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà bố mẹ 40
3.2 Kết quả nghiên cứu trên gà thương phẩm 42
3.2.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thương phẩm 42
3.2.2 Khả năng sinh trưởng của gà thương phẩm 43
3.2.3 Khả năng chuyển hóa thức ăn 50
3.2.4 Chỉ số sản xuất PI (Performance - Index) 56
3.2.5 Chỉ số kinh tế EN (Economic Number) 57
3.2.6 Các chỉ tiêu khảo sát 58
3.2.7 Chi phí trực tiếp cho kg gà thịt 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
1 Kết luận 61
1.1 Gà sinh sản 61
1.2 Gà thương phẩm 61
2 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên gà sinh sản 24
Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm đàn gà thương phẩm 24
Bảng 2.3 Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà bố mẹ 25
Bảng 2.4 Thành phần dinh của thức ăn cho gà sinh sản bố mẹ 25
Bảng 2.5 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho gà thương phẩm 26
Bảng 2.6 Lịch phòng bệnh bằng vắc xin cho gà bố mẹ 26
Bảng 2.7 Lịch phòng bệnh bằng vắc xin cho gà nuôi thương phẩm 27
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn và hao hụt giai đoạn 21- 40 tuần tuổi của đàn gà bố mẹ (n=3) 32
Bảng 3.2 Năng suất trứng của gà thí nghiệm 34
Bảng 3.3 Tỷ lệ đẻ và tỷ lệ trứng giống của gà thí nghiệm 36
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu ấp nở của đàn gà bố mẹ (n = 33) 38
Bảng 3.5 Tiêu tốn và chi phí thức ăn/ 10 trứng giống của gà thí nghiệm 40
Bảng 3.6 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm (n=3 đàn) 42
Bảng 3.7 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 45
Bảng 3.8 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (n= 3) 47
Bảng 3.9 Sinh trưởng tương đối đối của gà thí nghiệm (n = 3 đàn) 49
Bảng 3.10 Tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 51
Bảng 3.11 Tiêu tốn protein cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 53
Bảng 3.12 Tiêu tốn năng lượng cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 55
Bảng 3.13 Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 56
Bảng 3.14 Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 58
Bảng 3.15 Kết quả khảo sát của gà thí nghiệm (n=3) 58
Bảng 3.16 Chi phí trực tiếp/kg gà thịt (n= 3 đàn) 60
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm 37
Hình 3.2 Biểu đồ kết quả ấp nở của trứng gà thí nghiệm 39
Hình 3.3 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 46
Hình 3.4 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 48
Hình 3.5 Đồ thị sinh trưởng sinh trưởng tương đối của gà thịt thương phẩm 49
Hình 3.6 Biểu đồ chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo thống kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng
gà thả vườn ở nước ta những năm gần đây luôn cao hơn gấp nhiều lần so với sản lượng gà công nghiệp Cụ thể năm 2016, cả nước sản xuất được 560-
620 tấn thịt gà thả vườn trong khi gà công nghiệp chỉ đạt 393-402 tấn Không những thế, nếu tính theo tổng giá trị thì còn chênh lệch hơn rất nhiều
Gà thả vườn chiếm đến 70% giá trị tổng sản lượng ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam tương đương 30.000 tỷ Trong khi đó, tổng giá trị gà trắng công nghiệp chỉ đạt mức 13-14.000 tỷ, thấp hơn một nửa so với gà thả vườn
Tại Thái Bình thời gian qua hoạt động nuôi gia cầm nói chung và nuôi
gà nói riêng đã đạt được một số thành tựu đáng kể Tuy nhiên, ngành chăn nuôi gà chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương, còn rất nhiều khó khăn bất cập dẫn tới hiệu quả kinh tế chưa cao và bền vững Người chăn nuôi gia cầm trong tỉnh đang rất băn khoăn, trăn trở trong việc lựa chọn hình thức nuôi, quy mô nuôi, giống gà nuôi, thời gian nuôi…
để đáp ứng tốt các yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng Nhận thấy những giống gà lai như gà Ri lai Lương Phượng và gà Mía lai Lương Phượng hiện nay đang được rất được người tiêu dùng chọn lựa Gà đã tận dụng và phát huy được ưu thế lai của gà bố mẹ, có nhiều điểm nổi trội như: Sức đề kháng tốt, dễ nuôi, sản lượng trứng cao, thịt vàng thơm, đã phát huy được lợi thế của giống gà bố mẹ về chất lượng thịt và khối lượng cơ thể
Để có cơ sở khoa học đánh giá khả năng sản xuất của các tổ hợp lai này cần thiết phải triển khai đề tài nghiên cứu, đánh giá sức sản xuất của gà bố
mẹ và gà thương phẩm nuôi bán chăn thả ở các nông hộ tại Thái Bình Với
Trang 10lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Nghiên cứu, khả năng
sản xuất của hai tổ hợp lai Ri x Lương Phượng và Mía x Lương Phượng nuôi tại huyện Kiến Xương - Thái Bình"
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của công thức lai trống Ri x mái (Lương Phượng), trống Mía x mái (Lương Ph ượng) thông qua năng suất sinh sản của
gà bố mẹ và năng suất thịt của con thương phẩm
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đóng góp những số liệu khoa học về khả năng sản xuất của thế hệ gà bố
mẹ và con lai thương phẩm nuôi tại Thái Bình, làm cơ sở xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật cho bộ giống gà này
Kết quả của đề tài này sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị để phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy trong nhà trường và ứng dụng trong sản xuất
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở để khẳng định khả năng sản xuất của gà
bố mẹ và con lai thương phẩm trống Ri x mái Lương Phượng và trống Mía
x mái Lương Phượng
- Thông qua hiệu quả kinh tế, giúp người dân định hướng trong việc đầu
tư và phát triển chăn nuôi gà Tăng thu nhập kinh tế hộ, góp phần chuyển đổi
cơ cấu sản xuất
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Tính trạng sản xuất của gia cầm
* Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [17] các tính trạng sản xuất là các tính trạng như tính trạng số lượng, khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng trứng hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng sinh sản đều là những tính trạng số lượng (Quantitative Character) và do các gen nằm trên cùng nhiễm sắc thể (NST) quy định Phần lớn sự thay đổi trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lượng
Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố ngoại cảnh Tuy các điều kiện bên ngoài không làm thay đổi cấu trúc di truyền, nhưng nó tác động làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện hoạt động của các gen Về mặt đại thể các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng được biểu hiện qua công thức sau:
P = G +E Trong đó:
- P là giá trị kiểu hình (Phenotypic value);
- G là giá trị kiểu gen (Genotypic value);
- E là sai lệch môi trường (Environmental deviation)
Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át gen Từ đó cũng có thể biểu hiện:
G = A + D +I Trong đó:
- G là giá trị kiểu gen (Genotypic value);
- A là giá trị cộng gộp (Additive value);
- D là giá trị sai lệch trội (Dominance deviation);
Trang 12- I là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation)
Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của nhiều môi trường Có hai loại môi trường chính:
- Môi trường chung (Eg) do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng
- Môi trường riêng (Es) do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở 1 giai đoạn nhất định trong đời con vật Loại này có tính chất không thường xuyên Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị:
P = A + D + I + Eg + Es
Qua phân tích trên cho thấy các giống gia cầm cũng như các sinh vật khác, con cái đều nhận ở bố mẹ một số gen quy định những tính trạng số lượng nào đó Các tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng
di truyền, nhưng khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường như: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung (Xg), mức độ biến dị (Cv
%), hệ số di truyền tính trạng (h2), hệ số lặp lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng theo ( Trần Huê Viên, 2001) [36]
* Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm
Sức sống của gia cầm là một tính trạng số lượng, nó đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng
là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng nằm cùng trong giới hạn của phẩm giống Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh Trong chăn nuôi người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm, như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải Trong công tác lai tạo, khi dùng những dòng, giống có sức sống cao thì con lai sẽ thừa hưởng những tính chất trội khả năng này Nghiên cứu về vấn
Trang 13đề này Fairfull và cs, (1990) [43] cho biết ưu thế lai về sức sống là rất cao, giao động từ 9-24% Theo tài liệu của Gavora và cs,(1990) [44] thì hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 25%, hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào dòng, giống, giới tính
1.1.2 Khả năng sinh sản ở gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng
* Khả năng sinh sản
- Tuổi thành thục về tính dục
Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính dục cũng khác nhau Tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Lương Phượng Hoa trong khoảng 157-160 ngày (Trần Công Xuân và cs, 2004) [38], của gà Sasso SA31L là 150 ngày (Đoàn Xuân Trúc và cs, 2004) [30], gà Kabir giao động từ 179-187 ngày (Lê Thị Nga 2004) [13] Thí nghiệm của Morris và cs (1967) [45] trên gà Legohrn được ấp nở quanh năm cho biết, những gà được ấp nở vào tháng 12 và tháng
1 thì nó có tuổi thành thục về tính là 150 ngày Những gà được ấp nở từ tháng
4 đến tháng 8 thì tuổi thành thục trên 170 ngày Những gà nở sau đó có tuổi thành thục về tính ngắn hơn vì thời gian sinh trưởng giai đoạn hậu bị của chúng diễn ra trong những ngày có thời gian chiếu sáng giảm dần, sau đó ánh sáng lại tăng dần lên, do vậy sẽ kích thích cơ quan sinh dục phát triển và rút
Trang 14- Sản lượng trứng
Sản lượng trứng là số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trong một chu kỳ đẻ hoặc trong một thời gian nhất định, có thể tính theo tháng hoặc theo năm Fairfull và cs (1990) [43] cho biết: Khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng ) nhiều gen tham gia điều khiển quá trình liên quan đến sinh sản đều phát huy tác dụng, cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng Hệ số di truyền về sản lượng trứng của gà là 0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [16]
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm
- Ảnh hưởng của tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu và chu kỳ đẻ tiếp theo Gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ với thời gian dài, ảnh hưởng xấu tới giá trị kinh tế vì không thu được trứng giống Tuổi và năm đẻ của gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng, gà đẻ năm thứ hai sản lượng trứng giảm khoảng 10-20 %
- Ảnh hưởng của cường độ đẻ trứng và độ dài trật đẻ
Cường độ đẻ trứng có ảnh hưởng lớn tới sản lượng trứng của gia cầm; cường độ đẻ trứng càng cao, sản lượng trứng cao và ngược lại Bên cạnh việc nâng cao cường độ đẻ trứng, người ta còn chú ý đến độ dài trật đẻ, độ dài trật
đẻ càng dài sản lượng trứng càng cao Gà đẻ quanh năm có sản lượng trứng cao hơn gà đẻ theo mùa vụ Độ dài trật đẻ phụ thuộc vào giống gia cầm và giai đoạn đẻ, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như thời tiết, khí hậu, dinh dưỡng, phương thức chăn nuôi
- Ảnh hưởng của bản năng đòi ấp
Bản năng đòi ấp là một đặc tính bẩm sinh của gia cầm để duy trì nòi giống Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào các yếu tố di truyền, ở các dòng, các giống khác nhau thì tỷ lệ xuất hiện bản năng đòi ấp cũng khác nhau Các giống gà chuyên dụng qua quá trình lai tạo và chọn lọc thì bản năng đòi
ấp hầu như không còn Riêng đối với các giống gà địa phương bản năng đòi
Trang 15ấp vẫn còn và có tỷ lệ rất cao, ở gà Ri tỷ lệ đòi ấp trên 30%, chính vì vậy mà sản lượng trứng thấp hơn Gà Ri nuôi đại trà trong nông hộ chỉ đẻ 86,99 quả/mái (Hồ Xuân Tùng, 2009) [32], trong khi đó ở gà Lương Phượng là 168,73 quả/mái (Trần Công Xuân và cs, 2004) [38] Bằng các phương pháp cai ấp và chọn lọc, người ta có thể làm giảm bớt thói quen ấp trứng ở gà hoặc
có thể tiến hành cai ấp bằng cách tách riêng gà ấp bóng, tăng cường cho ăn đủ dinh dưỡng và nước uống, duy trì chương trình chiếu sáng không thay đổi trong chuồng (Nguyễn Hiền, 2008) [3]
- Ảnh hưởng của sự thay lông
Sự thay lông của gà là một quá trình sinh lý tự nhiên Ở gia cầm hoang
dã thì thời gian thay lông vào mùa thu Thời gian thay lông càng dài, sản lượng trứng càng thấp Sức đẻ trứng giảm ngay sau khi gà rụng lông Trong thời kỳ thay lông buồng trứng bị thoái hóa và khối lượng của buồng trứng bị giảm đi khoảng đi khoảng 5% so với khối lượng lúc trước
- Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nhiệt độ cao hoặc thấp đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng thông qua mức độ tiêu thụ thức ăn Khi được nuôi trong điều kiện nhiệt độ 20oC nhu cầu
về năng lượng là thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, mức tiêu thụ thức ăn này sử dụng cho việc sưởi ấm cơ thể, do vậy tiêu thụ thức ăn và tiêu tốn nhiều cho quá trình hô hấp, lượng thức ăn ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sản lượng trứng sẽ giảm
- Ảnh hưởng của độ ẩm
Độ ẩm quá cao (>80 %) làm cho chất độn chuồng bị ướt, ẩm độ cao tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian chuồng nuôi, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, đặc biệt là cầu trùng, tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến năng suất trứng và mức độ tiêu tốn thức ăn Độ ẩm quá thấp (<31 %) làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất, tuy nhiên ở miền Bắc Việt Nam thì không bị ảnh hưởng của độ ẩm thấp
Trang 16- Ảnh hưởng của mùa vụ và chế độ chiếu sáng
Mùa vụ với thời tiết, khí hậu, độ dài ngày chiếu sáng và nguồn thức ăn tự nhiên giữ một vai trò quan trọng, nó chi phối và ảnh hưởng lớn sức đẻ trứng của gia cầm, đặc biệt đối với gia cầm nuôi theo phương thức quảng canh hoặc bán thâm canh
Trong các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sản lượng trứng thì yếu tố về thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng Đối với gà đẻ, chế độ chiếu sáng ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính dục, cường độ đẻ trứng và độ dài trật đẻ
- Ảnh hưởng của dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng
Thức ăn không chỉ ảnh hưởng tới khối lượng cơ thể, tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tuổi đẻ quả trứng đầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng và chất lượng trứng Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản thì protein, năng lượng, acid amin (arginine, methionine), vitamin (A, D, B1, B2, B6 và acid pantothenic), khoáng vi lượng (đặc biệt là
Mn) cần được chú ý nhất, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến trứng
- Khối lượng trứng
Khối lượng trứng gia cầm là tính trạng do nhiều gen quy định, nhưng hiện còn chưa xác định rõ số lượng gen quy định tính trạng này Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu, sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm càng cao Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng trứng gà Trứng của gia cầm mới bắt đầu đẻ thường nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành 20-30% Khối lượng gia cầm mới nở thường bằng 62 -78% khối lượng trứng khi ấp (Lange và cs, 2000) [44]
Theo Chen và cs, (1994) [42] ngoài các yếu tố về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm
Ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với khối lượng trứng của gà rất rõ Trong khẩu phần ăn của gà mái đẻ thiếu lysine hoặc methionine hoặc thiếu cả 2 loại
Trang 17acid amin trên thì khối lượng trứng sẽ nhỏ hơn Thiếu lysine ảnh hưởng đến tỷ lệ lòng đỏ, thiếu methionin ảnh hưởng chủ yếu tới tỷ lệ lòng trắng Thiếu vitamin B ảnh hưởng đến sản lượng trứng, thiếu vitamin D ảnh hưởng đến chất lượng vỏ
Hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 0,3 - 0,8 (Trần Long, 1994) [9]; 0,6 - 0,74 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [14]
- Chất lượng trứng
Trứng gà gồm 3 phần cơ bản: vỏ, lòng đỏ và lòng trắng, tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6 %; lòng trắng: 57 – 60 %; lòng đỏ: 30 – 32 % Thành phần hóa học của trứng không vỏ: nước: 73,5 - 74,4%; protein: 12,5 - 13%; mỡ: 11 - 12% và khoáng: 0,8 - 1,0 %
- Màu sắc vỏ trứng: Màu sắc vỏ trứng không có ý nghĩa lớn trong việc
đánh giá chất lượng nhưng có giá trị trong kỹ thuật và thương mại Màu sắc trứng là tính trạng đa gen, khi lai gà dòng trứng vỏ trắng với dòng trứng vỏ màu, gà lai sẽ có trứng vỏ màu trung gian Theo Anderson, có thể tạo ra gia cầm đẻ có vỏ màu bằng cách chọn lọc những gia cầm có trứng vỏ màu sẫm hơn (dẫn theo Khavecman, 1972) [8]
+ Chỉ số hình thái của trứng: Trứng gia cầm thường có một đầu tù và
một đầu nhọn Chỉ số hình thái trứng tính theo tỷ lệ đường kính lớn so với đường kính nhỏ, chỉ số hình thái của trứng gà là 1,32, biến động trong khoảng (1,13 - 1,67) Đặc biệt khi chọn trứng ấp người ta phải chú ý đến chỉ tiêu này
để loại những trứng quá dài hoặc tròn Chỉ số này ở gà Tam Hoàng là 1,294 (Lê Thị Nga, 2005) [14], gà Lương Phượng là 1,34 - 1,39 (Hồ Xuân Tùng, 2009) [32], gà Kabir là 1,30 - 1,32 (Phùng Đức Tiến và cs, 2004) [26] Chỉ số hình thái ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của gia cầm Những trứng quá dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ nở kém Chỉ số hình thái của trứng có ý nghĩa kinh tế trong vận chuyển, đóng gói, trứng càng dài càng dễ vỡ
- Chất lượng vỏ trứng: thành phần vỏ trứng gồm: 94% calciumcarbonat; 1%
calciumphosphate; 1% magiesunphate; 4% hợp chất hữu cơ (một phần chất hữu cơ này là đường polisacharide); hàm lượng canxi trong mỗi vỏ trứng khoảng 2g
Trang 18Màng vỏ do các hợp chất có nguồn gốc protein tạo nên như keratin, collagen Vỏ trứng có tác dụng bảo vệ, được chia làm hai tầng: tầng trên cùng xốp, tầng dưới cứng và có rất nhiều lỗ khí, giúp cho hoạt động hô hấp của phôi
- Chất lượng lòng trắng: Lòng trắng chiếm 55 - 60% khối lượng trứng
Nếu nhìn bằng mắt thường thì những trứng tươi sẽ có lòng trắng màu hơi vàng, những trứng đã để lâu, màu của lòng trắng sáng hơn Tỷ lệ lòng trắng đặc và lòng trắng loãng ở trứng gà tươi là 2:1, tỷ lệ này giảm dần theo thời gian bảo quản, có khi xuống tới 1:1 Lòng trắng trứng cung cấp các chất dinh dưỡng cho phôi Chiều cao lòng trắng đặc là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng bên trong của trứng
- Đơn vị Haugh: là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá chất lượng trứng
Người ta xác định đơn vị Haugh thông quá khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc Đơn vị Haugh càng cao, chất lượng trứng càng tốt (trên 85%
là trứng rất tốt, 80 - 85% là trứng tốt và 70 - 79% là trứng đạt yêu cầu) Đơn
vị Haugh thay đổi theo thời gian và nhiệt độ bảo quản trứng Ở những trứng được bảo quản 18 ngày ở nhiệt độ 160C, đơn vị Haugh giảm từ 76 xuống còn
48, ở 9,50C đơn vị Haugh giảm từ 75 xuống 65
- Chất lượng lòng đỏ: Lòng đỏ trứng là một tế bào khổng lồ được bao
bọc bởi một lớp màng Đây cũng là nguồn dinh dưỡng dự trữ của phôi Lòng
đỏ chiếm 30 - 33% khối lượng trứng và có đường kính khoảng 30 - 35 mm Lòng đỏ trứng có lớp màng dày 6 - 11µm; phía trên có đĩa phôi màu trắng sáng, đường kính 3mm; nhân tế bào trứng có hình tròn, đường kính vào khoảng 1 - 2mm Để đánh giá chất lượng lòng đỏ người ta dùng chỉ số lòng
đỏ, được xác định bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của lòng đỏ Kết quả nghiên cứu trên gà Lương Phượng của Trần Công Xuân và
cs (2004) [39] cho biết chỉ số lòng đỏ là 0,44 Chỉ số lòng đỏ ở gà Kabir là 0,46 (Lê Thị Nga, 2005) [14]
- Khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở
Sự thụ tinh là một quá trình, trong đó tinh trùng và trứng hợp lại thành hợp tử (Nguyễn Văn Thiện, 1996) [18] Tỷ lệ thụ tinh là một tiêu chí đánh giá
Trang 19sức sinh sản của đời bố mẹ Khả năng thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố Tỷ
lệ thụ tinh phụ thuộc vào tỷ lệ trống mái trong đàn, chế độ dinh dưỡng và sức khỏe của đàn giống Giao phối cận huyết làm giảm tỷ lệ thụ tinh, mật độ nuôi quá đông ảnh hưởng tới hoạt động giao phối của con trống Phương thức nuôi cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ thụ tinh Tỷ lệ trứng có phôi là là một tính trạng quyết định số gà con nở ra/gà mái
* Khả năng sinh trưởng, cho thịt và các yếu tố ảnh hưởng
- Khả năng sinh trưởng:
Sinh trưởng ở động vật là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao chiều dài và bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần các chất, chủ yếu là Protein nên tốc độ tích lũy các chất, tốc độ tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên và cs, 1992) [12] Nhưng tăng trưởng không đồng nghĩa với tăng khối lượng (ví như béo
mỡ chủ yếu là sự tích lũy mỡ, không có sự phát triển của mô cơ) Sinh trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng các chiều của các tế bào mô cơ Theo Trần Đình Miên và cs, 1992 [12] sinh trưởng là cường độ tăng các chiều của cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định Trong chăn nuôi gia cầm để đánh giá sinh trưởng người ta sử dụng 2 chỉ số đó là sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối Mối quan hệ ở cơ thể gia cầm giữa sinh trưởng
và một số tính trạng liên quan Mối liên quan giữa sinh trưởng và tốc độ mọc lông đã được xác định, cũng có mối liên quan giữa sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
Xác định được toàn bộ quá trình sinh trưởng một cách chính xác là rất khó khăn và phức tạp Tuy nhiên trong chọn giống vật nuôi ngày nay, người ta cũng sử dụng các phương pháp đơn giản và thực tế để đánh giá khả năng sinh trưởng như: Kích thước các chiều đo: Kích thước và khối lượng xương có tầm quan trọng lớn đối với khối lượng cơ thể và hình dáng con vật, quan hệ giữa khối lượng thân, tốc độ lớn và chiều dài đùi, chiều dài xương ngực với chất lượng
Trang 20thịt có tầm quan trọng đặc biệt Kích thước các chiều đo có liên quan rõ rệt với khối lượng cơ thể, độ dài chân có liên quan đến tính biệt
Tốc độ sinh trưởng: Tốc độ sinh trưởng là cường độ tăng các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định
Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng của gia súc, gia cầm nói chung
Đồ thị sinh trưởng tích luỹ biểu thị một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ
rõ về khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, giống, giới tính
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơ
thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39 - 77) [27] , sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích
thước trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.40 - 77), [27]
Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol Gà còn non có tốc độ sinh trưởng cao, sau đó giảm dần theo tuổi
- Khả năng cho thịt: Khả năng cho thịt được phản ánh qua các chỉ tiêu
năng suất và chất lượng thịt Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể,
sự phát triển của hệ cơ, kích thước và khối lượng khung xương
- Năng suất thịt
Năng suất thịt là chỉ tiêu quan trọng được dùng để đánh giá sức sản xuất thịt của gia cầm Năng suất thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, mà tính trạng này lại phụ thuộc vào kích thước các chiều đo cơ thể (dài lườn, rộng ngực, dài đùi…) Năng suất thịt có thể biểu thị bằng tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ giữa các bộ phận như: Nạc, mỡ, da Ở gà broiler các tỷ lệ thường được tính là: Tỷ lệ thịt xẻ, tỷ
lệ cơ đùi, tỷ lệ cơ ngực và tỷ lệ mỡ bụng Năng suất thịt cao hay thấp còn phụ
Trang 21thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Giống, dòng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tính biệt, phương thức chăn nuôi, vệ sinh thú y…
Tỷ lệ thịt xẻ chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượng thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm Tương tự như vậy năng suất của các thành phần thân thịt là tỷ lệ phần trăm của các phần so với thân thịt và năng suất của cơ là tỷ lệ phần trăm của cơ so với thân thịt Chambers, (1990) [41] đã tổng hợp trên nhiều loại gia cầm và đưa ra tỷ lệ các phần của thân thịt như sau:
Khối lượng sống của gia cầm 100% thì khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64% (trong đó 52% là thịt và 12% là xương); phủ tạng chiếm khoảng 6%; máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm khoảng 17% và tỷ lệ hao hụt khi giết
mổ chiếm 13% Năng suất thịt liên quan chặt chẽ tới khối lượng sống
Kết quả nghiên cứu của Rose S P, 1997 [48] về tỷ lệ các phần thân thịt của 1 gà thương phẩm 1,8 kg
* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
- Dòng, giống
Dòng, giống có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia cầm Trần Thanh Vân, 2002 [34] khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của gà lông màu Kabir, Lương Phượng và Sasso cho biết: khối lượng cơ thể gà ở 10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1990,28 g/con, 1993,27 g/con và 2189,29 g/con Gà Tam Hoàng 882 ở 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 1557,83 g/con (Nguyễn Thị Khanh và cs, 2001 [7])
+ Giới tính có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng
Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái (chim cút con trống nhỏ hơn con mái)
- Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng
Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần của cơ thể như thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng (Chambers, 1990) [41] Mức độ
Trang 22dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của
cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác Như vậy tốc độ sinh trưởng liên quan chặt chẽ tới điều kiện nuôi dưỡng đàn bố mẹ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, điều kiện phòng bệnh Để phát huy khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tốt được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein với các axit amin và năng lượng Ngoài ra trong thức ăn cần được bổ sung các chế phẩm hoá sinh học không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh trưởng và làm tăng chất lượng thịt Ở nước ta điều kiện khí hậu ở hai vụ đông xuân và hè thu khác nhau cũng gây ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm dẫn đến tăng khối lượng kém
- Ảnh hưởng của môi trường và điều kiện nuôi dưỡng đến sinh trưởng
và phát triển của gia cầm
Chúng ta đã biết các tính trạng số lượng trong đó có tốc độ sinh trưởng
và khối lượng cơ thể của gà thịt chịu ảnh hưởng rất lớn các tác động môi trường E (Environment)
- Ảnh hưởng của ưu thế lai đến sinh trưởng
Trong chăn nuôi gia cầm đặc biệt là chăn nuôi gà thịt người ta đã sử dụng triệt để ưu thế lai để làm tăng tốc độ sinh trưởng của gà con, tăng khối lượng cơ thể gà của gà thịt Trong chăn nuôi gà thịt, gà lai F1 (thương phẩm) bao giờ cũng có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn, tỷ lệ nuôi sống cao hơn so với gà bố mẹ Gà thịt Broiler của các giống: Plymouth-Rock; Hybro, Ross-208
- Ảnh hưởng của thời tiết, mùa vụ đến sinh trưởng, phát triển
Yếu tố thời tiết, mùa vụ cũng là một tác nhân quan trọng của môi trường ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, phát triển của gia súc, gia cầm Đặc biệt là nhiệt độ và ẩm độ có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lên cơ thể động vật Đối với gà con do giai đoạn còn nhỏ (30 ngày tuổi đầu) cơ quan điều khiển nhiệt chưa hoàn chỉnh cho nên yêu cầu về nhiệt độ tương đối cao Nếu nhiệt độ không phù hợp (quá thấp), gà con tụ đống không sử dụng được thức
Trang 23ăn, sinh trưởng kém, hoặc sẽ chết hàng loạt do dẫm đạp lên nhau Giai đoạn sau nếu nhiệt độ quá cao sẽ hạn chế việc sử dụng thức ăn, gà uống nước nhiều, bài tiết phân lỏng hạn chế khả năng sinh trưởng và dễ mắc các bệnh đường tiêu hoá Tài liệu của Reddy (1999) đã chỉ rõ ở thời kỳ sau ấp nở, nhiệt
độ môi trường có ảnh hướng rõ rệt đến sinh trưởng và hệ số chuyển hoá thức
ăn của gà thịt Khi nhiệt độ tăng lên năng lượng của khẩu phần duy trì giảm xuống Sau khi ấp nở nếu tăng nhiệt độ từ 70C đến 210C sẽ làm giảm hệ số chuyển hoá thức ăn 0,87% cho mỗi 0C tăng lên Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng thì
hệ số chuyển hoá thức ăn tiếp tục được cải thiện cho đến khi đạt đến điểm stress nhiệt làm giảm tốc độ sinh trưởng
- Ảnh hưởng của ẩm độ không khí
Ẩm độ không khí quá cao có ảnh hưởng không tốt đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm, do chuồng trại luôn ẩm ướt, lượng khí độc sinh ra nhiều và là môi trường thuận lợi để vi khuẩn gây bệnh phát triển Trong mọi điều kiện của thời tiết nếu ẩm độ không khí cao đều bất lợi cho gia súc, gia cầm; bởi vì nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao làm tăng khả năng dẫn nhiệt, gà con dễ mất nhiệt gây cảm lạnh và ngược lại nhiệt độ cao, ẩm độ cũng cao sẽ làm cho cơ thể gia cầm thải nhiệt khó khăn dẫn đến cảm nóng, ở mọi môi trường gà con đều sử dụng thức ăn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát dục Nhiệt độ và ẩm độ là 2 yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ cho nên ảnh hưởng của thời tiết mùa vụ đối với tốc độ sinh trưởng của gia cầm là điều tất yếu Có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả, các nhà chuyên môn đã làm sáng tỏ vấn đề này
- Ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng
Gia cầm rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai đoạn gà đẻ cho nên chế độ chiếu sáng là vấn đề cần quan tâm Thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho gà ăn, uống, vận động ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng
Trang 241.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong chăn nuôi, chăn nuôi gia cầm có tính ưu việt riêng bởi khả năng sinh trưởng nhanh với thời gian quay vòng vốn ngắn Hiện nay, nhiều hãng nổi tiếng trên thế giới đã nhân giống, chọn lọc và lai tạo ra các giống gà lông màu có thể nuôi thâm canh, bán thâm canh Các giống gà lông màu như Sasso (Pháp), Lương Phượng và Tam Hoàng (Trung Quốc), ISA màu (Pháp ), Kabir (Israel)
+ Công ty Shaver tạo ra các giống gà Troicbro: Có sức chịu nóng và chịu
ẩm độ cao, lông màu vàng nâu, chân vàng Công ty còn tạo ra giống Redbo: lông màu đỏ, ngoại hình đẹp, da, chân đều vàng
Theo tài liệu hãng Sasso của Pháp, 2002[49], khi lai giữa các dòng gà JA57 và J66, S44 tạo ra con lai có năng suất cao, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nuôi sống cao và phù hợp với mọi điều kiện chăn nuôi
+ Hãng ISA đã lai tạo ra giống gà S457 nuôi thả vườn rất tốt, lông màu vàng hoặc trắng nâu chân vàng Hiện nay hãng Hubbard - ISA có 119 giống
gà chuyên thịt lông trắng, lông màu trong đó có nhiều giống nổi tiếng đang được nuôi ở nhiều nước trên thế giới Các dòng trống tăng trưởng chậm gồm: S66, S77, I66, S88, S77N, các dòng trống tăng trưởng phân biệt gồm: Grey Master, Grey Barred, Colorpac, Redbro Naked Các dòng mái lông màu gồm:
JA 57, P6N, redbroS, redpbroM Các giống gà của hãng Hubbard -ISA đáp ứng nhu cầu thâm canh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hãng đã sử dụng trống dòng S44 x mái dòng JA57 tạo con lai ở 63 ngày có khối lượng cơ thể 2209g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 2,24 - 2,30kg
Các giống gà thả vườn Sasso, Isa JA 57 (Pháp), Kabir (Israel), Tam Hoàng 882, Jangcun vàng, Lương Phượng hoa (Trung Quốc)
Bên cạnh những thành tựu về công tác giống, những thành tựu về khoa học công nghệ đã giúp nghành chăn nuôi gà Broiler có được bước nhảy vọt lớn nhất về các chỉ tiêu năng suất Trong vòng 40 năm (1950 – 1990) để đạt
Trang 25được khối lượng xuất chuồng 1,82 kg của gà Broiler, người ta đã giảm một nửa thời gian cần nuôi và giảm được 40% lượng thức ăn tiêu tốn
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng có những bước phát triển đáng khích lệ, đặc biệt từ những năm 90 trở lại đây Những năm gần đây, nhiều giống gà thả vườn lông màu, dễ nuôi, khả năng cho thịt cao, khả năng sinh sản tốt, thịt thơm ngon đã dược nhập vào nước ta và được người chăn nuôi ưa chuộng, như gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Sasso…đồng thời cũng được các nhà khoa học chăn nuôi quan tâm Tuy nhiên các giống gà nhập về này chủ yếu là các dòng ông bà đơn tính biệt, sau một thời gian khai thác chúng ta lại phải tiếp tục nhập giống, gây tốn kém về kinh tế
Một số công trình nghiên cứu đã sử dụng các nguồn nguyên liệu nhập nội trên và nguyên liệu gà nội để tạo ra các giống gà mới và cũng đã nhân thuần qua các thế hệ để duy trì và nâng cao khả năng sản xuất như:
- Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao và cs (1985) [20] đã nghiên cứu chọn tạo ra giống gà kiêm dụng Rhoderi từ nguồn nguyên liệu gà Rhode và gà
Ri, cho sản lượng trứng cao hơn gà Ri 27%
- Nguyễn Huy Đạt và cs (2005)[2] đã nghiên cứu chọn tạo ra dòng gà Ri cải tiến có năng suất chất lượng cao phục vụ cho chăn nuôi trong nông hộ sử dụng nguồn nguyên liệu gà Ri, Lương Phượng và Kabir Kết quả đã chọn tạo được 2 dòng gà Ri cải tiến R1 và R2 có màu lông cánh dán và vàng nhạt được người tiêu dùng ưa chuộng Năng suất trứng đến 68 tuần tuổi đạt 167 - 170 đối với dòng R1 và 156 - 159 đối với dòng R2 với mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng tương ứng là 3,08 và 3,46 kg, đồng thời đã cải thiện được tỷ lệ ấp bóng
so với gà Ri khoảng 19% Nuôi thịt đến 84 ngày tuổi khối lượng cơ thể của gà
Ri cải tiến đạt 1,65 - 1,80 kg với mức tiêu tốn thức ăn trung bình cho 1 kg tăng khối lượng 2,70 - 2,81 kg
- Bùi Đức Lũng, Nguyễn Huy Đạt và cs (2004)[11] đã nghiên cứu chọn lọc nhân giống và cải tiến được năng suất của gà Ri Nuôi sinh sản
Trang 26năng suất trứng đến 68 tuần tuổi đạt 120 - 124 quả/mái; nuôi thịt 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể 1,0 - 1,1 kg với mức tiêu tốn thức ăn bình quân cho
1 kg tăng khối lượng là 3,3 - 3,5 kg
1.2.31 Gà Lương Phượng
Theo tác giả Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc, 1999 [4]: Gà Hoa Lương Phượng hay Lương Phượng hoa, thường gọi tắt là gà Lương Phượng xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, Tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài Gà Lương Phượng đã được giám định kỹ thuật của Uỷ ban khoa học thành phố Nam Ninh Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta từ sau năm 1997
* Đặc điểm ngoại hình
Gà Lương Phượng có hình dáng bên ngoài gần giống với gà Ri của ta Lông màu vàng tuyền, vàng đen hoặc đốm hoa Sở dĩ gọi là gà Lương Phượng
vì trong đàn có nhiều màu lông khác nhau Mào, yếm, mặt và tích tai màu đỏ
Gà trống mào đơn ngực nở, lưng thẳng lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon
Gà trống ở độ tuổi trưởng thành, có khối lượng cơ thể 2700 g, gà mái đạt khối lượng 2100 g lúc vào đẻ Gà bắt đầu vào đẻ lúc 24 tuần tuổi, sau một chu
kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1500 – 1600 g Tiêu tốn thức ăn 2,4 – 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nuôi sống trên 95% Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh tốt, thích hợp với mọi điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam Nuôi công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả
Trang 271.2.3.2 Gà Ri
- Nguồn gốc
Đến nay chưa rõ nguồn gốc của
gà Ri Gà Ri phân bố rộng khắp các
vùng trong cả nước, đặc biệt là miền
Bắc và miền Trung của Việt Nam
- Đặc điểm ngoại hình
Rất đa dạng, gà mái: Lông màu
vàng rơm, vàng đất hoặc nâu nhạt,
xung quanh cổ có hàng lông đen, mào kém phát triển, lá tai chủ yếu màu đỏ, một số lá tai màu trắng
Gà trống: Màu lông phổ biến là đỏ thẫm, đầu lông cánh và lông đuôi có lông đen ánh xanh, ngoài ra còn có các màu: Trắng, hoa mơ đốm trắng Mào
cờ, mào tích đốm đỏ tươi rất phát triển
Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng chân 4 ngón, có hai hàng vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi
- Khả năng sản xuất
Bùi Đức Lũng và cộng sự (2004) [11] , cho biết gà Ri sau khi được chọn lọc qua 3 thế hệ có khối lượng cơ thể lúc 01 ngày tuổi 29,5 - 29,8 g, đến 20 tuần tuổi khối lượng gà mái 1.214 - 1.251 gam và gà trống 1.700 - 1.743 gam; năng suất trứng đến 68 tuần tuổi 122 - 124 quả/mái và khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi 41,2 - 42,3 g; tỷ lệ lòng đỏ so với khối lượng trứng 34,63 - 35,33% Dẫn theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [35] Khối lượng mới nở là 30 –
31 g; 6 tháng tuổi gà mái là 1130 g, ở gà trống là 1636 g; đến 12 tháng tuổi gà mái là 1246 g, ở gà trống là 2735 g Thịt thơm ngon màu trắng
- Thành thục về tính sớm: Gà trống 2 – 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng
- Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 – 15 quả Năng xuất trứng có thể đạt từ
70 – 125 quả Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6%, tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78%, tỷ
lệ gà con loại I đạt 94,1%
Trang 28- Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả, không xuất hiện mổ cắn
- Gà nuôi thịt đến 12 tuần tuổi: Tỷ lệ nuôi sống đạt 95,7%, khối lượng con trống 1140,70 g, con mái 940,50 g Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là77,75% Còn tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực đạt 37%
1.2.3.2 Gà Mía
* Gà Mía là loại gà có đầu nhỏ, mình vuông, dễ nuôi Lúc nhỏ, da gà Mía có màu đỏ au, con trống rất ít lông Từ 2,5 kg trở lên màu da chuyển sang màu vàng Gà Mía trưởng thành có thể nặng từ 2,5 kg - 4 kg Gà mái thì chân nhỏ, lông vàng, nhanh nhẹn; sau khi đẻ từ 4-5 lứa sẽ mọc yếm (dải thịt ở dưới bụng) Gà trống mã lĩnh, lông cánh và lông đuôi màu đen, lành tính Sở dĩ có
tên gọi gà Mía là vì giống gà này đặt theo tên làng (Đường Lâm xưa gọi là kẻ
Mía) Gà Mía đầu nhỏ, mình vuông, dễ trưởng thành nặng 2,8 - 3kg, gà trống
4 kg - 6 kg Gà mái thường có chân nhỏ, lông vàng, sau khi đẻ 4 - 5 lứa sẽ mọc yếm (dải thịt bên dưới bụng) Gà trống chân to gà mái, lông thường có màu mận chín (Trần Thanh Vân và cs, 2015 [370])
Gà lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 97 – 100%, khối lượng cơ thể 2,0 - 2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn tăng khối lượng cơ thể là 3,2 – 3,3 kg Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt
94 – 96%, khối lượng cơ thể 1,8 - 2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 2,8 – 3,0 kg, chất lượng thịt ngon như gà Ri
Trang 29Nguyễn Thành Luân, (2015) [10] Hai giống gà nghiên (gà Ri vàng rơm
và gà Ri cải tiến) cứu đều có tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng thịt ở vụ Đông – Xuân tốt hơn so với vụ Hè – Thu
Trong cùng mùa vụ, gà Ri vàng rơm có tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng
và năng suất, thịt thấp hơn so với gà Ri cải tiến
Tỷ lệ nuôi sống của gà Ri vàng rơm từ 98,83 % – 100 %, cả giai đoạn từ
0 – 15 tuổi đạt 93,69% (vụ Đông – Xuân), từ 97,67 % – 100 %,
Khối lượng cơ thể của gà Ri vàng rơm và gà Ri cải tiến lần lượt đạt 1740,00; 2087,20 g/con (Vụ Đông Xuân); 1661, 80 và 1833,30 g/con (Vụ Hè – Thu) tại thời điểm 15 tuần tuổi
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà Ri vàng rơm là 4,92 kg; của
gà Ri cải tiến là 4,51 kg
Hình ảnh: Gà F1 (♂ Ri x ♀ Lương Phượng)
Trang 301.2.3.4 Gà F1 (♂ Mía x ♀ Lương Phượng)
- Gà Mía lai có lông màu vàng đậm xen lẫn màu đen ở cánh, đuôi, đầu
và chân nhỏ, da mỏ và chân có màu vàng, mào cờ Mình ngắn, đùi to và thô, mắt sâu, chân có 3 hàng vảy, sắc lông gà trống màu tía, gà mái màu nâu xám hoặc vàng Là loại ít bị pha tạp so với các giống gà nội khác
Gà Mía lai Có tốc độ mọc lông chậm, khi gà được 3 tháng có tỷ lệ nuôi
sống đạt 96% Năng suất đẻ trứng thấp, tuổi đẻ muộn 7-8 tháng cho sản lượng trứng là 50 -55 quả/ mái/năm
- Hoàng Việt Hùng, (2012)[5] Gà lai thương phẩm Mía x (Lương Phượng- Sasso) có khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên ở tỉnh Thái Nguyên Gà sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện chăn nuôi theo phương thức nuôi nhốt và bán nuôi nhốt trong nông hộ ở địa bàn vùng núi và trung du nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng
Với phương thức nuôi nhốt: Gà có tỷ lệ nuôi sống đến 13 tuần tuổi tính chung cả trống và mái đạt 96%, thấp hơn 0,67% so với phương thức bán nuôi nhốt; gà nuôi nhốt có khối lượng lớn hơn gà bán nuôi nhốt 0,175kg; khối lượng bình quân đạt 2,490 kg Sinh trưởng tuyệt đối bình quân cả giai đoạn là 22,47g/con/ngày Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cộng dồn của gà lai thương phẩm trống Mía x mái (Lương Phượng x Sasso) đến 13 tuần tuổi là 3,03 kg Hiệu quả kinh tế sau 13 tuần bình quân là 14.590 đ/kg
Với phương thức bán nuôi nhốt gà có tỷ lệ nuôi sống đến 13 tuần tuổi đạt 96,67% cao hơn so với nuôi theo phương thức nuôi nhốt 0,67% Khối lượng sống bình quân ở 13 tuần tuổi đạt 2,315 kg thấp hơn so với nuôi nhốt Sinh trưởng tuyệt đối bình quân cả giai đoạn là 21,15g/con/ngày Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cộng dồn nuôi theo phương thức bán nuôi nhốt là 3,19 kg cao hơn phương thức nuôi nhốt Hiệu quả kinh tế sau 13 tuần bình quân là 15.617 đ/kg cao hơn 1.027 đồng/kg so với phương thức nuôi nhốt do nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng thích ăn thịt gà săn chắc, dai hơn (giá tính tại thời điểm thí nghiệm 57.000 đồng/kg gà nuôi theo hình thức bán nuôi nhốt)
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên gà (trống Ri x gà mái Lương Phượng) và (gà trống Mía x mái Lương Phượng); con lai F1 Mía Lương Phượng; Ri x Lương Phượng nuôi theo phương thức bán chăn thả
Trống Ri x Mái Lương Phượng F1(R x LP)
- Địa điểm nghiên cứu: tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
- Thời gian nghiên cứu: Từ 7/2015 đến 7/2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh sản của gà (trống Ri x gà mái Lương Phượng)
và (gà trống Mía x mái Lương Phượng)
Trang 32- Đánh giá sức sản xuất của gà thịt thương phẩm F1 Ri Lương Phượng; Mía x Lương Phượng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.3.1.1.Theo dõi đàn gà sinh sản bố mẹ
Đánh giá hiệu quả kinh tế của công thức lai (♂ Mía x ♀ Lương Phượng)
và (♂ Ri x ♀ Lương Phượng) thí nghiệm được bố trí như sau:
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên gà sinh sản
2.3.1.2 Theo dõi đàn gà thương phẩm
Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm đàn gà thương phẩm Diễn giải Lô thí nghiệm 1 Lô thí nghiệm 2
- 01 ngày tuổi đến 28 ngày tuổi
Trang 332.3.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh theo hướng dẫn của Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam và các quy định hiện hành
Bảng 2.3: Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà bố mẹ
0 - 3 tuần tuổi 4 - 20 tuần tuổi Giai đoạn sinh sản
Ghép trống mái Tách riêng
trống mái
Từ 4 -19 tuần tuổi tách riêng trống mái; Từ 20 tuần:
ghép 1 trống /9 mái
Nhốt chung 1 trống/10 mái
Giai đoạn (tuần tuổi)
Năng lượng trao
Trang 34Bảng 2.5: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho gà thương phẩm
Thành phần dinh dưỡng Đơn vị
Trang 35Bảng 2.7 Lịch phòng bệnh bằng vắc xin cho gà nuôi thương phẩm
7 ngày tuổi Lasota lần 1 Nhỏ mắt 1 giọt
Gumboro lần 1 Nhỏ mồm 4 giọt
14 ngày tuổi Gumboro lần 2 Nhỏ mồm 4 giọt
21 ngày tuổi Lasota lần 2 Nhỏ mắt 1 giọt
Gumboro lần 3 Nhỏ mồm 4 giọt
35 ngày tuổi Newcastle H1 Tiêm dưới da màng cánh
2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định các chỉ tiêu
2.3.3.1 Chỉ tiêu theo dõi khả năng sinh sản của gà bố mẹ
+ Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 21-45 tuần tuổi
+ Khả năng sản xuất của gà thí nghiệm
+ Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống
+ Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà bố mẹ
2.3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi khả năng sản xuất của gà thịt
+ Tỷ lệ nuôi sống
+ Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi
+ Sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối
+ Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể
+ Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế
+ Mổ khảo sát đánh giá năng suất thịt
2.3.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
2.3.4.1 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu về sinh sản
- Tỷ lệ chết và loại thải: Hàng ngày theo dõi ghi chép số lượng gà chết và loại thải, tính tỷ lệ theo công thức sau
- Tỷ lệ nuôi sống (%) = Số gà đầu kỳ - Số gà cuối kỳ (con)
Số gà đầu kỳ (con) x 100
Trang 36- Tuổi thành thục là tuổi của đàn gà khi có tỷ lệ đẻ (5%/ngày);
- Năng suất trứng/mái bình quân (NST) là tổng số trứng đẻ ra (quả)/tổng
số gà mái bình quân nuôi đẻ trong khoảng thời gian quy định Hutt và cs, (1978) đề nghị tính sản lượng trứng từ khi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên [5]
- Năng suất trứng (quả) =
“trắng không phôi” được đập vỏ kiểm tra để xác định không phôi hay chết
phôi sớm Trứng có phôi được xác định bằng tổng số trứng ấp trừ đi số trứng không có phôi (Trần Đình Miên và cs, 1992) [12]
Tỷ lệ trứng có phôi (%) = Số trứng có phôi (quả)
Số trứng đưa vào ấp (quả) x 100
Tỷ lệ nở/ trứng có phôi (%) = Số gà con nở ra (con)
Số trứng có phôi (quả) x 100
Tỷ lệ nở/ tổng trứng ấp (%) = Số gà con nở ra (con)
Số trứng đưa vào ấp (quả) x 100
Tỷ lệ gà con loại I/ tổng trứng ấp (%) = Số gà con nở ra loại I (con)
Số trứng đưa vào ấp (quả) x 100 Khả năng chuyển hóa thức ăn
Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg) = Tổng số thức ăn tiêu thụ trong cả kỳ (kg) Số trứng đẻ ra trong kỳ (quả) x 10
Trang 37Tiêu tốn thức ăn/10 trứng giống (kg) =
Tổng số thức ăn tiêu thụ trong cả kỳ (kg)
Số trứng giống trong kỳ (quả) x 10
Tiêu tốn thức ăn/01 gà con loại I (kg) = Tổng số thức ăn tiêu thụ trong cả kỳ (kg)
Số gà con loại I trong kỳ (con)
2.3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu về khả năng sản xuất của gà thịt
- Tỷ lệ nuôi sống: Hàng ngày theo dõi cụ thể tình trạng sức khỏe và số gà
chết ở tất cả các thí nghiệm, ghi chép cụ thể chính xác, tính kết quả trong tuần
+ Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) được tính theo công thức (TCVN 2.39 - 77) [27]
Trong đó: A là sinh trưởng tuyệt đối
P1: Khối lượng gà đầu kỳ (g)
P2 : Khối lượng gà cuối kỳ (g)
t: Khoảng cách giữa 2 lần cân (ngày)
+ Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ % của khối lượng gà thí nghiệm tăng lên giữa 2 lần khảo sát, được tính theo công thức (TCVN 2.40 - 77) [28]
P1: Khối lượng gà đầu kỳ (g)
P2 : Khối lượng gà cuối kỳ (g)
A =
P2 - P1
t
Trang 38- Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng: Hàng tuần cân chính xác lượng thức ăn cung cấp và thức ăn thừa ở các lô thí nghiệm để từ đó tính các chỉ tiêu sau: + Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (trong tuần và cộng dồn)
TTTĂ/kg tăng khối lượng trong kỳ = Tổng lượng thức ăn tiêu thụ trong kỳ (kg)
Tổng khối lượng gà tăng trong kỳ (kg) + Tiêu tốn Protein thô (CP) g/kg tăng khối lượng:
Tiêu tốn protein thô/kg tăng khối lượng
Tổng số protein tiêu thụ trong kỳ (g) Tổng khối lượng gà tăng trong kỳ (kg) + Tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME) Kcal/kg tăng khối lượng:
Tiêu tốn NL TĐ l/kg tăng khối lượng trong kỳ = Tổng số năng lượng tiêu thụ (Kcal ME)
Tổng khối lượng gà tăng trong kỳ (kg) + Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng (đ/kg):
Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng = Tổng thức ăn tiêu thụ (kg) x giá 1 kg thức ăn (đ/kg)
Tổng khối lượng gà tăng trong kỳ (kg)
Các chỉ tiêu khảo sát
+ Mổ khảo sát để đánh giá năng suất thịt
Tiến hành mổ khảo sát các chỉ tiêu về tỷ lệ thân thịt, thịt đùi, thịt lườn và
mỡ bụng theo phương pháp mổ khảo sát gia cầm của Pingel và Jeroch (1980); Bùi Quang Tiến (1993) Gà được mổ khảo sát lúc 91 ngày tuổi, mỗi lô chọn 3
gà trống và 3 gà mái của mỗi giống có khối lượng tương đương với trung bình của đàn để mổ khảo sát Các chỉ tiêu xác định gồm:
Khối lượng sống: là khối lượng trước khi cắt tiết vặt lông
Khối lượng thân thịt: là khối lượng cơ thể sau khi cắt tiết vặt lông; bỏ phủ tạng; giữ lại mề đã làm sạch, gan và tim; bỏ đầu (cắt tại xương atlas cổ)
và chân)
Khối lượng thịt đùi: là khối lượng thịt đùi trái đã lọc bỏ xương và da
Khối lượng thịt ngực: là khối lượng thịt ngực trái đã lọc bỏ xương và da
Khối lượng mỡ bụng: là khối lượng của lá mỡ trong xoang bụng của gà được tách ra
Trang 39Tỷ lệ thân thịt (%) = Khối lượng thân thịt (g) x 100
Khối lượng sống (g)
Tỷ lệ thịt đùi (%) = Khối lượng thịt đùi trái (g) x 2 X 100
Khối lượng thân thịt (g)
Tỷ lệ thịt ngực (%) = Khối lượng thịt ngực trái (g) x 2 x 100
Khối lượng thân thịt (g)
Tỷ lệ mỡ bụng (%) = Khối lượng mỡ bụng (g) X 100
Khối lượng thân thịt(g)
Chỉ số sản xuất PI (Performance - Index)
Là chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá hiệu quả kinh tế và việc thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt
Công thức tính:
Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) x Tỷ lệ nuôi sống (%)
PI =
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cộng dồn x 10
- Chỉ số kinh tế EN (Economic Number)
Chỉ số sản xuất đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu kỹ thuật trong từng thời điểm, mối quan tâm lớn nhất của người chăn nuôi là hiệu quả kinh tế Chỉ số sản xuất cao nhưng chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng cao thì hiệu quả kinh