1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’

96 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản trị lợi nhuận và sự can thiệp có chủ đích trong quá trình cung cấpthông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân, phản ánh hànhđộng của nhà q

Trang 1

LÊ THỊ YẾN NHI

PHÂN TÍCH HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT HÀNG TIÊU

DÙNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng – Năm 2017

Trang 2

LÊ THỊ YẾN NHI

PHÂN TÍCH HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT HÀNG TIÊU

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

LÊ THỊ YẾN NHI

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

6 Bố cục của đề tài 3

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 6

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 6

1.1.1 Cơ sở đo lường lợi nhuận kế toán 6

1.1.2 Khái niệm và mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận 7

1.1.3 Vận dụng chính sách kế toán để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận 11

1.1.4 Các lý thuyết nền tảng về quản trị lợi nhuận 17

1.2 CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 22

1.2.1 Nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận 22

1.2.2 Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận 23

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 27

1.3.1 Nhân tố về nhóm ngành ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận 27

Trang 5

1.3.3 Nhân tố về sàn niêm yết ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi

nhuận 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 32

2.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 34

2.2.1 Giả thuyết H1 34

2.2.2Giả thuyết H2 35

2.2.3 Giả thuyết H3 36

2.2.4 Giả thuyết H4 36

2.3 PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT 38

2.3.1 Phương pháp kiểm định giả thuyết H1 38

2.3.2 Phương pháp kiểm định giả thuyết H2 41

2.3.3 Phương pháp kiểm định giả thuyết H3 43

2.3.4 Phương pháp kiểm định giả thuyết H4 44

2.3.5 Mẫu nghiên cứu 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 48

3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1.1 Kết quả kiểm định giả thuyết H1 48

3.1.2 Kết quả kiểm định giả thuyết H2 57

3.1.3.Kết quả kiểm định giả thuyết H3 60

3.1.4 Kết quả kiểm định giả thuyết H4 64

Trang 6

3.2.1 Đối với nhà đầu tư 70

3.2.2 Đối với Ủy ban chứng khoán Nhà nước 72

3.2.3 Đối với các tổ chức niêm yết chứng khoán 73

3.2.4 Đối với kiểm toán viên (và các công ty kiểm toán độc lập) 74

3.2.5 Đối với Bộ Tài chính và cơ quan quản lý Nhà nước 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

KẾT LUẬN 80 PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (BẢN SAO)

NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1 (BẢN SAO)

NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2 (BẢN SAO)

BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

Trang 7

BCTC Báo cáo tài chính

Trang 9

2.2 So sánh tiêu chí niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng

3.1 Kết quả ước lượng tham số nhóm ngành thực phẩm - đồ

Kết quả kiểm định Wilconxon Signed Rank Test giá trị

trung bình của DA1 với mức điều chỉnh 1% so với tổng

tài sản

55

3.6

Kết quả kiểm định Wilconxon Signed Rank Test giá trị

trung bình của DA1 với mức điều chỉnh 5% so với tổng

tài sản

56

3.8 Kiểm định Mann-Whitney sự khác biệt về mức độ quản

3.9 Kiểm định T - Test sự khác biệt về mức độ quản trị lợi

3.10 Kiểm định Kruskal-Wallis sự khác biệt về mức độ quản

3.11 Kiểm định ANOVA về sự khác biệt về mức độ quản trị

3.12 Mô tả thống kê hành vi quản trị lợi nhuận theo quy mô 623.13 Kiểm định Mann-Whitney sự khác biệt về mức độ quản 65

Trang 10

trị lợi nhuận theo sàn niêm yết

3.14 Kiểm định T-Test sự khác biệt về mức độ quản trị lợi

3.15 Mô tả thống kê hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo 2 sàn

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các nhà đầu tư thường quan tâm tới nhiều thông tin trên BCTC, trong đóthông tin về lợi nhuận là thông tin được quan tâm nhiều nhất Vì vậy đó cũng

là thông tin mà các nhà quản lý có xu hướng tác động nhiều nhất Sự pháttriển của nền kinh tế khiến các ngành nghề ngày càng được đa dạng hóa,trong đó ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam là công nghiệp sản xuấthàng tiêu dùng cũng có sự phát triển nhanh chóng về cả về chiều rộng vàchiều sâu Tuy nhiên để mở rộng thêm quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranhtrước rất nhiều tập đoàn công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng lớn của thế giới,các công ty cần phải huy động được nhiều vốn hơn từ các nhà đầu tư Để thuhút được vốn và nâng cao uy tín trên thị trường, các công ty cần có mộtBCTC đẹp, thể hiện kết quả kinh doanh tốt Thực tế là những năm gần đây,một loạt công ty niêm yết công bố kết quả kinh doanh thay đổi trước và saukiểm toán đã gây nhiều lo lắng cho các nhà đầu tư Điều này đã đặt ra câu hỏiliệu có hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết ngành sản xuấthàng tiêu dùng tại Việt Nam

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hành vi quản trị lợinhuận của nhà quản lý Tuy nhiên, trên thị trường Việt Nam vẫn còn mới mẻnên các nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận mới chỉ bắt đầu được thựchiện những năm gần đây Nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của ngànhcông nghiệp quan trọng của Việt Nam, được nhiều nhà đầu tư quan tâm đó làngành sản xuất hàng tiêu dùng là hết sức cần thiết Do đó, Tác giả chọn đề

tài:”Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các

công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam’’.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong khuôn khổ phạm vi, thời gian nghiên cứu hạn chế, Tác giả lựa

Trang 13

chọn mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định:

- Có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty niêm yếtnhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam?

- Phân tích sự khác biệt về hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC của cáccông ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam theo ngành,

theo quy mô và theo sàn niêm yết.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi quản trị lợi nhuận trên báocáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùngViệt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêudùng trên Sở giao dịch chứng khoản Hồ Chí Minh (HoSE) và Sở giao dịchchứng khoán Hà Nội (HNX)

- Về thời gian: Luận văn sử dụng dữ liệu của các công ty đã niêm yếttrong năm 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận thực chứng, thông qua mô hìnhtoán thống kê để chứng minh giả thuyết Quy trình nghiên cứu từ nghiên cứu

cơ sở lý luận đến đặt ra giả thuyết nghiên cứu, sau đó thu thập số liệu từBCTC của các công ty niêm yết trên 02 sàn HoSE và HNX trong năm 2014

và 2015 Tiếp đến sử dụng mô hình phân tích quản trị lợi nhuận ModifiedJones (1995) để kiểm định giả thuyết, phân tích kết quả được thực hiện thôngqua các công cụ thống kê toán

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng để trả lời cho câu hỏi có hay

Trang 14

không hành vi quản trị lợi nhuận ở các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuấthàng tiêu dùng Việt Nam, và chứng minh có hay không sự khác biệt về hành

vi quản trị lợi nhuận theo nhóm ngành, theo quy mô, theo sàn niêm yết củacác công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng trên 02 sàn HoSE

và HNX Nếu chứng minh được các giả thuyết nghiên cứu này, đề tài sẽ giúpcho các đối tượng sử thông tin nhận diện việc điều chỉnh lợi của các công tyniêm yết trong nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng tại Việt Nam thông quaviệc thu thập số liệu và kiểm định việc điều chỉnh lợi nhuận bằng các mô hìnhnghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận Từ đó giúp các đối tượng sử dụng thông tin

có nguồn thông tin chính xác hơn để đưa ra các quyết định đúng đắn Đồngthời nghiên cứu này cũng đưa ra một số kiến nghị với các bên có liên quannhằm kiểm soát hành vi điều chỉnh lợi nhuận, nâng cao chất lượng của thôngtin công bố trên BCTC của các công ty niêm yết

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng, biểu, sơ đồ và phụlục, Luận văn có kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hành vi quản trị lợi nhuận

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Quản trị lợi nhuận và sự can thiệp có chủ đích trong quá trình cung cấpthông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân, phản ánh hànhđộng của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán mang lạilợi ích và tăng giá trị thị trường của doanh nghiệp Động cơ quản trị lợi nhuậnchủ yếu là chế độ lương thưởng của nhà quản trị, thu hút nguồn tài trợ và tốithiểu chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp…Do đó các nhà quản trị sẽ tận dụngmọi cơ hội để quản trị lợi nhuận theo ý muốn Vì vậy, phân tích hành vi quản

Trang 15

trị lợi nhuận sẽ phần nào giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin đánh giákhách quan hơn tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trên thếgiới có nhiều nghiên cứu về quản trị lợi nhuận bằng nhiều mô hình như: môhình của Healy (1985), mô hình DeAngelo (1986), mô hình Jones (1991), môhình Jones điều chỉnh (1995)… [19]

Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu lý thuyết về quản trị lợi nhuậnnhư: ‘’Kế toán theo cơ sở dồn tích và hành vi quản trị lợi nhuận của doanhnghiệp’’ (2009)“Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận” (2007) của PGS

TS Nguyễn Công Phương Các nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở lý thuyếtcho các nghiên cứu về việc vận dụng chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợinhuận theo ý muốn của nhà quản trị Bên cạnh đó, Tác giả cũng tổng hợp cácnghiên cứu có liên quan về mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận trên thếgiới, qua đó đánh giá những ưu, nhược điểm của từng mô hình [8], [10]

Trong bài viết “Hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuậncông bố trên BCTC” của PGS.TS Đường Nguyễn Hưng (2013) đã chỉ rahành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản trị thông qua việc vận dụng chínhsách kế toán cũng như mục đích của việc quản trị lợi nhuận Tuy nhiên bàiviết này chỉ giới hạn ở các nghiên cứu lý thuyết chứ chưa phải là nghiên cứuthực nghiệm, do đó chưa đưa ra bằng chứng về hành vi quản trị lợi nhuận củanhà quản trị [6]

Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Thùy Dương (2015) đề tài “Sử dụng

mô hình Jones để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận: trường hợp các công tyniêm yết ở HoSE phát hành thêm cổ phiếu năm 2013” đã vận dung mô hìnhModified Jones (1995) để phân tích hành vi quản trị lợi nhuận Tuy nhiênnghiên cứu này chỉ giới hạn ở các công ty niêm yết trên sàn HoSE đối với cáccông ty phát hành thêm cổ phiếu năm 2013 Hai sàn HoSE và HNX có tiêuchuẩn niêm yết khác nhau do vậy nghiên cứu chỉ có giá trị đối với sàn HoSE

Trang 16

Bên cạnh đó chưa nghiên cứu đối với trường hợp các công ty không pháthành thêm cổ phiếu [5]

Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) đề tài “Nghiên cứu hành

vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam” thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến2010Tác giả sử dụng mô hình DeAngelo và Friedlan để đưa ra kết luận phầnlớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yếttrên thị trường chứng khoán Mô hình DeAngelo và Friedlan có hạn chế là các

mô hình này giả định quy mô doanh nghiệp không thay đổi qua 2 năm và nămliền trước không có điều chỉnh lợi nhuận Nếu vi phạm giả thuyết này thì kếtquả nghiên cứu không còn chính xác nữa [11]

Hiện nay có rất ít những nghiên cứu nào đi sâu phân tích hành vi quản trịlợi nhuận của các công ty nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam,một trong những ngành công nghiệp quan trọng mà các nhà đầu tư trong nướccũng như nước ngoài hết sức quan tâm Vì vậy dựa trên cở sở lý thuyết vềhành vi quản trị lợi nhuận, Tác giả vận dụng mô hình Modified Jones (1995)

để nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công

ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam để chứng minh cóhành vi quản trị lợi nhuận và phân tích sự khác biệt theo ngành, theo quy mô,theo sàn niêm yết của các công ty thuộc ngành hàng tiêu dùng Giải quyếtđược các vấn đề trên sẽ giúp cho các đối tượng có liên quan có được thông tinchuẩn xác, đưa ra các quyết định một cách đúng đắn Đồng thời, nghiên cứunhư một căn cứ giúp cho các cơ quan Nhà nước, cơ quan kiểm toán có thểkiểm soát tốt hơn hành vi quản trị lợi nhuận để làm sạch thông tin trên BCTC

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ

1.1.1 Cơ sở đo lường lợi nhuận kế toán

Lợi nhuận kế toán được đo lường dựa trên các cơ sở, nguyên tắc sau(theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – VAS 01) [1]

- Cơ sở dồn tích: Đây là nguyên tắc cơ bản nhất chi phối các phương

pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp Cụ thể, mọi nghiệp vụ kinh

tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốnchủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi nhận vào thời điểm phát sinh,không căn cứ vào thời điểm thực thu hoặc thực chi tiền hoặc tương đươngtiền

- Hoạt động liên tục: Lợi nhuận kế toán theo nguyên tắc hoạt động liên

tục được xác định căn cứ vào thời kỳ quy định liên quan đến hoạt động trongmột khoảng thời gian xác định Nói cách khác, lợi nhuận được xác định trên

cơ sở hoạt động liên tục

- Sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí: Đó là việc ghi nhận doanh thu

và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phảighi nhận một khoản chi phí tương ứng liên quan tới việc tạo ra doanh thu đó.Chi phí tạo ra doanh thu không chỉ gồm chi phí của kỳ tạo ra mà còn gồm cảchi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng có liên quan tới doanhthu của kỳ đó

- Nguyên tắc thận trọng kế toán: Nguyên tắc này áp dụng khi xem xét,

cân nhắc, phán đoán để lập các ước tính kế toán trong điều kiện không chắcchắn Nội dung của nguyên tắc thận trọng là: Phải trích lập dự phòng nhưng

Trang 18

không quá lớn; không đánh giá cao hơn giá trị của tài sản và các khoản thunhập; không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;doanh thu chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thuđược lợi ích kinh tế, trong khi đó chi phí được ghi nhân khi có bằng chứng vềkhả năng phát sinh.

1.1.2 Khái niệm và mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận

a Khái niệm hành vi quản trị lợi nhuận

Đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra khái niệm về hành vi điều chỉnh lợinhuận Thuật ngữ earning management xuất hiện từ khá sớm Theo Schipper(1989) điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trìnhcung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân Nhàkinh tế học Scott (1997) cho rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hànhđộng của nhà quản trị trong việc lựa chọn các chính sách kế toán nhằm đạtđược mục tiêu cá nhân Trong nghiên cứu của mình, Healy and Whalen(1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi ban giám đốc sử dụng cácước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để nhằm thay đổi BCTC, đánh lạchướng người sử dụng thông tin trên BCTC về tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh của công ty…

Trong khi đó, Ronen và Yaari (2008) đã nghiên cứu, tổng hợp lại cáckhái niệm và đưa ra định nghĩa như sau: điều chỉnh lợi nhuận là hành vi củanhà quản lý sử dụng việc ghi nhân trên cơ sở dồn tích thông qua một số tàikhoản đề làm thay đổi lợi nhuận sau thuế theo các mục tiêu công bố thông tincủa họ Tùy thuộc vào động cơ, nhóm nghiên cứu Ronen và Yaari phân điềuchỉnh lợi nhuận thành 3 nhóm:

- White Earnings Management – Điều chỉnh lợi nhuận trắng: Nhà quảntrị dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn chính sách kế toán một cách linhhoạt nhằm thông báo ý chí cá nhân của họ về dòng tiền của công ty trong

Trang 19

tương lai Mục đích của nhà quản trị là muốn công bố nhiều thông tin có chấtlượng tốt hơn tới người sử dụng Theo cách này, điều chỉnh lợi nhuận đượcxem là có lợi và làm tăng chất lượng BCTC

- Grey Earnings Management – Điều chỉnh lợi nhuận xám: Nhà quản trịlựa chọn chính sách kế toán trong hoặc ngoài giới hạn cho phép nhằm làm giatăng giá trị của công ty trước công chúng hoặc vì động cơ vụ lợi

- Black Earnings Management – Điều chỉnh lợi nhuận đen: là hành vi sửdụng các biện pháp, thủ thuật của nhà quản trị để làm sai lệch hoặc giảm sựminh bạch của các BCTC

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài mình, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu

về khía cạnh điều chỉnh lợi nhuận trắng Nghĩa là việc các nhà quản trị dựatrên lợi thế về quyền lực để lựa chọn chính sách kế toán một cách linh hoạtnhằm điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC

Tại Việt Nam, đã có một số công trình, bài nghiên cứu và bài báo trongnước bàn về điều chỉnh lợi nhuận như:

PGS-TS Đường Nguyễn Hưng với đề tài ‘’Quản trị lợi nhuận thông qualựa chọn chính sách kế toán trong các công ty niêm yết trên thị trường chứngkhoán Việt Nam’’ định nghĩa: Điều chỉnh lợi nhuận là việc người quản lý sửdụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố BCTC

và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh lừacác bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của hợp đồng

mà điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán

PGS.TS Nguyễn Công Phương của Trường Đại học Đà Nẵng đưa ra kháiniệm trong ‘’Nghiên cứu hành động quản trị lợi nhuận trong trường hợp pháthành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán’’đăng trên tạp chí khoa học kinh tế Số 2 (06) 2014 như sau: Điều chỉnh lợinhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh

Trang 20

nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán.

Thuật ngữ Earnings Management được dịch theo nhiều cách như sau:điều chỉnh lợi nhuận, quản trị lợi nhuận, quản trị thu nhập…Trong Luận vănnày thuật ngữ Earnings Management được dùng với nghĩa ‘’điều chỉnh lợinhuận’’ Như vậy những điều chỉnh lợi nhuận qua các nghiên cứu ở trên đều

có những đặc điểm chung như sau:

- Là hành vi, quyết định có chủ đích của nhà quản trị

- Sự can thiệp của nhà quản trị làm thay đổi các thông tin trên BCTC

- Là sự công bố thông tin liên quan đến các thời điểm trình bày BCTC.Qua các nghiên cứu trên, có thể hiểu : Quản trị lợi nhuận là hành độnglàm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp bằng vận cáchvận dụng các chính sách kế toán để tác động tới doanh thu và chi phí Quản trịlợi nhuận được thực hiện trong phạm vi các nguyên tắc kế toán, có thể nóiquản trị lợi nhuận hay còn gọi quản trị lợi nhuận là hợp pháp; thông qua vậndụng linh hoạt các nguyên tắc kế toán để làm thay đổi doanh thu, chi phí ghinhận trong kỳ

b Mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị doanh nghiệp trong nhữnggiai đoạn khác nhau có những động cơ khác nhau nhằm đạt được mục tiêunào đó Tại Việt Nam, mục đích của hành vi điều chỉnh lợi nhuận thường là:

Thứ nhất, hợp đồng, thù lao và tiền thưởng Trong thực tế, các doanh

nghiệp niêm yết có chế độ trả lương hoặc trả thưởng cho ban điều hành bằng

tỷ lệ % nhân với lợi nhuận kế toán Trong trường hợp này, nhà quản trị và banđiều hành sẽ có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận của kỳ kế toán Do tỷ lệ

% được quy định từ trước (là không đổi) nên muốn tăng mức lương, thưởngthì chỉ còn cách tăng lợi nhuận Theo một cách khác, hợp đồng thù lao giữaban điều hành và doanh nghiệp quy định mức thưởng tỷ lệ với mức lợi nhuận

Trang 21

Cụ thể như khi lợi nhuận đạt đến mức A (đơn vị tiền) thì ban điều hành đượcthưởng B (đơn vị tiền) Do đó nếu trong thực tế lợi nhuận chưa đạt được mức

A thì nhà quản trị có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận tới mức A và ngược lại vì

dù lợi nhuận có vượt ngưỡng A thì nhà quản trị vẫn không được nhận thêmlương thưởng

Thứ hai, cân bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán nhằm bảo đảm lợi

nhuận bền vững trong dài hạn Nhằm giữ ổn định giá cổ phiếu hoặc làm tănggiá trị thị trường của doanh nghiệp, các nhà quản trị nỗ lực giảm thiểu sự biếnđộng chỉ tiêu lợi nhuận trong các kỳ kế toán Bởi vì lợi nhuận giữa các kỳ kếtoán biến động lớn đồng nghĩa với rủi ro cao khi đầu tư vào công ty đó, dẫntới giá cổ phiếu sẽ giảm Hệ quả là nhà quản trị có xu hướng điều chỉnh lợinhuận nhằm đạt được sự ổn định giữa các kỳ kế toán nhằm bảo đảm lợinhuận, sự phát triển bền vững trong dài hạn

Thứ ba, tránh vi phạm hợp đồng tín dụng Một số doanh nghiệp có mục

đích điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh vi phạm trong hợp đồng đi vay Nếu viphạm, các chủ nợ có thể tăng lãi suất, bắt trả nợ trước hạn đối với các khoản

nợ đó Vì nếu doanh nghiệp làm ăn không có lợi nhuận, các chủ nợ cho rằngdoanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ và có quyền ápdụng các hình thức phạt gây bất lợi cho doanh nghiệp Dẫn tới các nhà quảntrị thường áp dụng điều chỉnh lợi nhuận để tránh vấp phải các rắc rối liênquan tới hợp đồng tín dụng

Thứ tư, thu hút đầu tư, phát hành cổ phiếu ra công chúng Nhằm giảm

thiểu rủi ro khi phát hành cổ phiếu ra công chúng, bên cạnh các biện pháp nhưmarketing các nhà quản trị thường điều chỉnh lợi nhuận tăng tối đa (trongkhuôn khổ cho phép) làm cho BCTC của doanh nghiệp đẹp hơn nhằm huyđộng vốn theo đúng tiến độ đã hoạch định

Thứ năm, đáp ứng kỳ vọng của giới phân tích thị trường Các nhà phân

Trang 22

tích trên TTCK thường quan tâm đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu chính, trong đó doanh thu và lợinhuận là một trong những chỉ tiêu rất được quan tâm Chính vì vậy, các nhàquản trị chịu áp lực về việc đáp ứng sự mong đợi của nhà phân tích thông quahành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Thứ sáu, thay đổi nhà quản trị Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thường xảy

ra quanh thời điểm thay đổi nhà quản trị Nhà quản trị của một công ty làm ănthua lỗ, kém hiệu quả sẽ cố gắng điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm tránh bị sathải Mặt khác, nhà quản trị mới được bổ nhiệm sẽ cố gắng đẩy lợi nhuận lêncao nhằm ký kết hợp đồng và củng cố vị trí của mình

1.1.3 Vận dụng chính sách kế toán để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận

Chuẩn mực kế toán số 29 ban hành theo Quyết định 12/2005/QĐ-BTC.Chính sách kế toán: Là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thểđược doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC

Đặc trưng của chính sách kế toán:

- Tính nguyên tắc: kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc khi lập BCTC

- Lựa chọn: chuẩn mực kế toán cho phép doanh nghiệp lựa chọn cácphương pháp kế toán khác nhau phù hợp với đặc điểm và mục tiêu hoạt độngcủa doanh nghiệp Việc lựa chọn phương pháp kế toán khác nhau sẽ làm thayđổi thông tin trên BCTC

- Ước tính kế toán: là các nguyên tắc đo lường đối tượng kế toán màdoanh nghiệp tự xây dựng do chuẩn mực kế toán không thể bao quát mọi vấn

đề phát sinh ở trong nội tại doanh nghiệp Các ước tính kế toán bao gồm ướctính liên quan đến khấu hao TSCĐ, cách xác định dự phòng, ước tính giá trịsản phẩm dở dang…

Lựa chọn chính sách kế toán:

Trang 23

a Tác động đến doanh thu

- Chính sách tính giá thành sản phẩm và xác định sản phẩm dở dang:

Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá sảnphẩm dở dang có thể làm thay đổi giá thành, từ đó có thể điều chỉnh giá vốnhàng bán

+ Phương pháp tính giá thành sản phẩm: Việc lựa chọn phương pháptính giá thành sản phẩm và phương pháp ước tính giá trị sản phẩm dở dang cóthể làm thay đổi giá thành sản phẩm, dẫn tới có thể điều chỉnh giá vốn hàngbán Hiện tại theo Thông tư 200/TT-BTC ngày 22/12/2014 Hướng dẫn chế độ

kế toán doanh nghiệp (Thông tư 200), phương pháp tính giá thành gồm nhữngphương pháp sau:

1 Phương pháp tỷ lệ: Đối tượng tập hợp chi phí là tập hợp theo nhóm

sản phẩm của toàn bộ quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành là từngloại sản phẩm trong quy trình đó

2 Phương pháp định mức: Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện

hành và dự toán chi phí sản xuất chung để xác định giá thành định mức Qua

đó doanh nghiệp tập hợp chi phí sản xuất trong phạm vi định mức cho phép

3 Phương pháp hệ số: Xác định giá thành đơn vị sản phẩm tiêu chuẩn,

quy đổi sản phẩm thu được của từng loại về sản phẩm tiêu chuẩn theo các hệ

số quy định, xác định giá thành của từng loại sản phẩm

4 Phương pháp giản đơn:Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất trong các

doanh nghiệp này là từng loại sản phẩm hay dịch vụ

+ Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang

1 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức Theo

phương pháp này, kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang đã kiểm

kê ở từng giai đoạn sản xuất, quy đổi theo mức độ hoàn thành của sản phẩm

và định mức khoản mục chi phí ở từng công đoạn tương ứng cho đơn vị sản

Trang 24

phẩm để tính ra chi phí định mức cho sản phẩm dở dang ở từng công đoạn,sau đó tổng hợp cho từng loại sản phẩm.

2 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp: Sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,

còn các chi phí gia công chế biến được tính cả cho sản phẩm hoàn thành

3 Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương: Sản phẩm dở dang trong kỳ của doanh nghiệp áp dụng phương

pháp này phải chịu toàn bộ chi phí theo mức độ hoàn thành, theo đó khi kiểm

kê sản phẩm dở dang người ta phải đánh giá mức độ hoàn thành sau đó quyđổi sản phẩm dở dang theo sản phẩm hoàn thành tương đương

- Chính sách tính giá trị hàng xuất kho: Có 4 phương pháp tính giá trị

hàng xuất kho (VAS 02): nhập trước-xuất trước, nhập sau-xuất trước, thực tếđích danh và bình quân gia quyền Lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuấtkho có thể làm thay đổi giá vốn hàng bán trong kỳ

Việc lựa chọn phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho sẽ ảnhhưởng đến giá vốn hàng bán dẫn đến làm thay đổi lợi nhuận trong kỳ TheoVAS 02, việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong cácphương pháp sau:

1 Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này, sản

phẩm, vật tư, hàng hóa xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhậpkho của lô hàng đó để tính

2 Phương pháp bình quân gia quyền ‘’Giá trị của từng loại hàng tồn

kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu

kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ Giá trịtrung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng

về, phụ thuộc và tình hình của doanh nghiệp’’ Theo phương pháp này giáxuất kho hàng hóa được tính theo đơn giá bình quân gồm có bình quân dự trữ

Trang 25

cả kỳ, bình quân dự trữ cuối kỳ trước, bình quân sau mỗi lần nhập.

3 Phương pháp nhập trước, xuất trước: Giá trị hàng xuất kho được tính

theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị củahàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặcgần cuối kỳ còn tồn kho

4 Phương pháp nhập sau, xuất trước Phương pháp này ngược với

phương pháp trên và thường được doanh nghiệp áp dụng trong giai đoạn lạmphát

- Chính sách về thanh lý TSCĐ: Lựa chọn thời điểm mua, thanh lý

TSCĐ có thể điều chỉnh doanh thu, chi phí

b Tác động đến chi phí

- Chính sách lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Nhà quản trị có thể

thay đổi giá bán và chi phí ước tính để thay đổi mức lập dự phòng, điều chỉnhchi phí trong kỳ Doanh nghiệp thực hiện ước tính mức trích lập dự phònggiảm giá hàng tồn kho theo ý chí chủ quan của nhà quản trị, từ đó sẽ ảnhhưởng tới chi phí dẫn tới ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ

- Chính sách kế toán về chi phí vốn vay: Việc doanh nghiệp xác định

khoản chi phí đi vay nào được vốn hóa trong kỳ, ghi nhận vào chi phí sảnxuất kinh doanh hay thời điểm vốn hóa, tạm ngừng vốn hóa và chấm dứt vốnhóa có thể làm ảnh hưởng tới chi phí dẫn đến ảnh hưởng tới lợi nhuận kế toáncủa doanh nghiệp

- Chính sách lập dự phòng nợ phải thu khó đòi: Việc lập dự phòng nợ

phải thu khó đòi dựa trên mức dự kiến tổn thất đối với những khoản nợ chưađến hạn Nhà quản trị có thể điều chỉnh chi phí thông qua trích lập dự phòng

nợ phải thu khó đòi dựa trên mức độ tổn thất dự kiến, tuổi nợ…

Dự phòng phải thu khó đòi là những khoản dự phòng phần giá trị cáckhoản nợ phải thu và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn khác có bản

Trang 26

chất tương tự khó có khả năng thu hồi

- Chính sách lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: Mức trích lập dự

phòng có thể được điều chỉnh ít hơn mức cần thiết hoặc nâng mức trích lập đểđiều chỉnh việc ghi nhận chi phí trích lập dự phòng.[2]

Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính bao gồm dự phòng giảm giá chứngkhoán đầu tư trong hoạt động đầu tư tài chính là dự phòng phần giá trị bị tổnthất do giảm giá các chứng khoán doanh nghiệp đang nắm giữ có thể xảy ra;

và dự phòng tổn thất do giảm giá các khoản đầu tư dài hạn hoặc do doanhnghiệp nhận vốn góp đầu tư bị lỗ phải gọi thêm vốn

- Chính sách phân bổ chi phí trả trước: Đối với các chi phí cần phân bổ

qua nhiều kỳ, nhà quản trị có thể lựa chọn số kỳ phân bổ để điều chỉnh chi phítừng kỳ Chi phí trả trước là các chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng chưa tínhvào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ phát sinh trong doanh nghiệp Theothời gian phân bổ, các khoản chi phí trả trước được chia thành chi phí trảtrước ngắn hạn và chi phí trả trước dài hạn Nguyên nhân chỉ tiêu này chưađược tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ là vì chỉ tiêu này chưa tạo ra lợi íchcho kỳ đó và sẽ tạo ra lợi ích cho nhiều kỳ

- Chính sách về trích trước chi phí: Chế độ kế toán cho phép các công ty

được tính trước và hạch toán và chi phí chưa phát sinh vào chi phí sản xuấtkinh doanh trong kỳ khi có sở, được tính toán chặt chẽ nhằm không gây phátsinh đột biến cho chi phí sản xuất kinh doanh Chi phí trả trước như lương,chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí doanh nghiệp sản xuất theo mùa vụ…Nhàquản trị có thể điều chỉnh chi phí thông qua việc lựa chọn mức trích trước,hoàn nhập

- Chính sách khác:

+ Ước tính % hoàn thành công việc trong ghi nhận doanh thu: Để điều

chỉnh lợi nhuận theo hướng mong muốn, một trong những thủ thuật phổ biến

Trang 27

nhất có lẽ là ước lượng phần trăm hoàn thành công việc trong ghi nhận doanhthu Ước lượng phần trăm hoàn thành công việc phụ thuộc nhiều vào nhậnđịnh, kinh nghiệm và thực tế tiến độ hoàn thành công việc

+ Lựa chọn thời điểm thực hiện các giao dịch kinh tế: Lựa chọn thờiđiểm mua hay thanh lý, nhượng bán TSCĐ cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận

kế toán Nhà quản trị cũng có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bánTSCĐ để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận hay thua lỗhoạt động khác Từ đó, nhà quản trị có thể tác động đến lợi nhuận theo ýmuốn chủ quan của mình

Tóm lại các phương án trên có thể được vận dụng tổng hợp để điềuchỉnh lợi nhuận mục tiêu của một kỳ hoặc vài kỳ kế toán tuỳ theo tình hìnhkinh doanh, đặc điểm của từng doanh nghiệp, mức độ linh hoạt của cácphương pháp kế toán, trình độ của kế toán viên và mục tiêu lợi nhuận của nhàquản trị doanh nghiệp

c Các kĩ thuật quản trị lợi nhuận khác

- Kỹ thuật quản trị lợi nhuận thông qua chính sách giá và tín dụng: Nớilỏng chính sách bán hàng trả chậm hoặc công bố tăng giá kỳ sau sẽ làm tăngdoanh thu kỳ này

- Cắt giảm một số chi phí: Cắt giảm một số chi phí không cần thiết đểtăng lợi nhuận

- Trì hoãn hay thúc đẩy thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả: Đốivới các khoản đầu tư không hiệu quả thường mang lại một khoản lỗ nếu nhưthanh lý, trì hoãn hay thúc đẩy việc thanh lý sẽ tác động đến lợi nhuận trong

kỳ

- Làm giảm chi phí bằng cách “vốn hoá”: Việc xác định thời điểm vốnhóa, thời điểm tạm ngừng vốn hóa, thời điểm chấm dứt việc vốn hóa cũng cóảnh hưởng không nhỏ đến chỉ tiêu lợi nhuận

Trang 28

1.1.4 Các lý thuyết nền tảng về quản trị lợi nhuận

a Lý thuyết đại diện

Lý thuyết người chủ - người đại diện (sau đây gọi là lý thuyết đại diện)xuất hiện trong bối cảnh việc quản trị kinh doanh gắn liền với những nghiêncứu về hành vi của người chủ và người làm thuê thông qua các hợp đồng.Những nghiên cứu đầu tiên tập trung vào những vấn đề về thông tin khônghoàn hảo trong những hợp đồng của ngành bảo hiểm Tuy nhiên, phải đếnnăm 1976, dưới kết quả nghiên cứu của Michael C Jensen và William H.Meckling trong tác phẩm “Theory of the firm: Managerial 51 behavior,agency costs and ownership structure” thì lý thuyết đại diện mới thật sự đượcquan tâm nhiều Nội dung của lý thuyết như sau [17]

(1) Chủ thể (Principal) hay chủ sở hữu vốn (Shareholders) và người đạidiện (Agent) hay nhà quản trị (Manager) luôn có sự đối nghịch về lợi ích.Người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng chính làlợi ích của bản thân họ) Trong khi nhà quản trị về cơ bản không quan tâmnhiều đến lợi ích của cổ đông mà quan tâm đến lợi ích của mình (lương,thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác)

(2) Việc không đồng nhất lợi ích giữa cổ đông (chủ sở hữu) và Giám đốc(người đại diện) làm phát sinh một loại chi phí gọi là “chi phí đại diện” (agentcosts) Đây là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả (ví dụmột khoản tiền thưởng vì những gì đã thể hiện của nhà quản trị để khuyếnkhích họ làm việc vì lợi ích của các cổ đông) Chi phí này bằng không khi chủ

sở hữu đồng thời là Giám đốc công ty Cụ thể hơn, khi Giám đốc sở hữu toàn

bộ vốn của công ty Chi phí đại diện càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặckhông sở hữu cổ phiếu công ty Các chi phí đại diện bao gồm: chi phí giámsát, chi phí ràng buộc và chi phí cơ hội

- Chi phí giám sát (Monitoring cost): Là những chi phí do người chủ trả

Trang 29

để đo lường, giám sát và kiểm tra hoạt động của người đại diện, như là chi phíkiểm toán Chi phí này có thể gồm các chi phí cho hoạt động kiểm tra giámsát, chi phí ký kết hợp đồng bồi hoàn và cuối cùng là chi phí sa thải đối vớingười đại diện Ban đầu những chi phí này do người chủ trả, nhưng Fama vàJensen (1983) cho rằng cuối cùng thì đây là chi phí do người đại diện gánhchịu vì các khoản tiền lương, tiền thưởng, các ưu đãi khác của họ sẽ bị điềuchỉnh để bù đắp những chi phí này

- Chi phí ràng buộc (Bonding cost): Chi phí để thiết lập một bộ máy cóthể tối thiểu những hành vi quản trị không mong muốn, như bổ nhiệm nhữngthành viên bên ngoài vào ban điều hành hay tái thiết lập hệ thống tổ chức củacông ty Giả sử rằng người đại diện là người cuối cùng gánh chịu chi phí giámsát, rằng họ có thể xây dựng hệ thống hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận tối đacho cổ đông, hoặc họ sẽ chịu bồi thường nếu họ vi phạm các điều khoản củahợp đồng đại diện, khi đó chi phí thiết lập và giữ vững hệ thống hoạt độngnày được gọi là chi phí ràng buộc

- Chi phí cơ hội (Residual loss): Là chi phí phát sinh khi các cổ đôngthuê người đại diện và buộc phải đưa ra các hạn chế, ví dụ những thiệt hại dongười đại diện lạm dụng quyền được giao để tư lợi, những thiệt hại do việcđặt ra quy định đối với quyền bỏ phiếu của cổ đông về những vấn đề cụ thể,thiệt hại từ những biện pháp kiểm soát hoạt động của người đại diện Bất chấpviệc giám sát và sự ràng buộc, lợi ích của người đại diện và cổ đông vẫnkhông chắc chắn hoàn toàn đồng nhất Vì vậy, vẫn có thiệt hại do vấn đềngười đại diện phát sinh từ những mâu thuẫn lợi ích Những thiệt hại đó đượcgọi là chi phí cơ hội

Giữa hai chủ thể Chủ DN với nhà quản lý có mối quan hệ mâu thuẫn vềlợi ích Chủ DN muốn nhà quản lý đem công sức, tâm huyết cho lợi ích củacông ty, phục vụ cho doanh nghiệp, còn NQL muốn gia tăng lợi ích riêng của

Trang 30

mình, có tiền thưởng, thăng tiến trong công việc.

Có một sự tách biệt giữa chủ DN với NQL Chủ DN là người đóng góptài sản vào DN nhưng lại không trực tiếp quản lý tài sản đó Còn NQL khôngđóng góp TS thì lại là người trực tiếp quản lý Ai cũng muốn tối đa hóa lợi íchcho mình Nhưng ai cũng muốn đạt dc lợi ích cho cá nhân mình Lợi ích củaNQL gắn liền với trách nhiệm đạt được chỉ tiêu kế hoạch, nhưng nếu khôngđạt được chỉ tiêu trách nhiệm, NQL sẵn sàng vì lợi ích cá nhân của mình mà

có hành vi quản trị lợi nhuận để đạt được chỉ tiêu được giao

b Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory)

Theo Jensen and Meckling (1976) lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệgiữa bên ủy nhiệm (principal) và bên được ủy nhiệm (agent) thông qua hợpđồng, bên được ủy nhiệm thực hiện một số công việc đại diện cho bên được

ủy nhiệm Trong DN, mối quan hệ ủy quyền chủ yếu giữa cổ đông và NQL.Với phần lớn các CTNY, vấn đề đại diện ngày càng thể hiện rõ rệt vì đa sốcác công ty đều thuê quản lý và thông thường những người này thường chỉ sởhữu một phần nhỏ cổ phiếu Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên đềumuốn tối đa hóa lợi ích của mình Nếu cả hai bên tối đa hóa lợi ích thì nhàquản lý có thể điều hành quản lý dưới sự giám sát của cổ đông [17]

Do đó, mức độ quản trị lợi nhuận càng thấp thì càng giảm bớt chi phíNQL và giảm sự nghi ngờ giữa lợi ích của nhà quản lý và cổ đông

Theo các nghiên cứu về quản trị lợi nhuận, bằng các hành vi quản trị lợinhuận, ban lãnh đạo thường công bố lợi nhuận cao nhằm đạt mức lươngthưởng gắn với kết quả kinh doanh và đồng thời giữ giá cổ phiếu khi họ cũng

là những cổ đông lớn

c Lý thuyết về thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng góp phần để chứng minh hành vi quảntrị lợi nhuận bởi vì khi người cung cấp thông tin không có vấn đề gì phải che

Trang 31

giấu, hay để đánh lừa những đối tượng sử dụng thông tin thì mức độ quản trịlợi nhuận thấp.

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tinhơn một bên khác (George A Akerlof, 1970) Điển hình là người bán biếtnhiều thông tin về sản phẩm hơn đối với người mua [13]

d Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory)

Lý thuyết các bên liên quan là một lý thuyết về quản lý tổ chức và đạođức kinh doanh trong việc quản lý một tổ chức Ban đầu nó được chi tiết bởiEdward (1984) với cách tiếp cận nhằm giải quyết “nguyên tắc ai hay cái gìcần quan tâm nhất”

Trong quan điểm truyền thống của một công ty, các cổ đông chỉ xem chủ

sở hữu hoặc các cổ đông của công ty là quan trọng, và công ty có một nhiệm

vụ ủy thác ràng buộc để đạt nhu cầu của họ lên trước tiên và để tăng giá trịcho họ Thay vào đó lý thuyết các bên liên quan lập luận rằng có những bên

có liên quan, bao gồm: nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, các nhà tàichính, cộng đồng, các cơ quan chính phủ, các nhóm chính trị, các hiệp hộithương mại và tổ chức công đoàn Ngay cả đối thủ cạnh tranh đôi khi đượctính là các bên liên quan - tình trạng của họ đc bắt nguồn từ khả năng ảnhhưởng đến các công ty và các bên liên quan

Theo đó, nhà quản lý với tư cách là người đại diện cho cổ đông phải đưa

ra các quyết định kinh tế đảm bảo sự tồn tại, phát hiện của doanh nghiệp,đồng thời bảo vệ lợi ích của các bên liên quan Đó là một trong những động

cơ, lí do khiến các NQL có hành vi quản trị lợi nhuận để đảm bảo sự tồn tạicủa doanh nghiệp cũng như tạo hình ảnh tốt với các NĐT cũng như các bênliên quan

e Lý thuyết chi phí chính trị (Political costs theory)

Chi phí chính trị là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu thông qua một

Trang 32

hành vi mang tính chính trị từ tác động bên ngoài (như Nhà nước, nghiệpđoàn hay các nhóm cộng đồng) Lần đầu tiên lý thuyết chi phí chính trị đượcWatts, Zimmerman (1978) giới thiệu cho kết quả đó là doanh nghiệp lớn cóchi phí chính trị cao hơn doanh nghiệp nhỏ, các công ty sẽ CBTT nhiều hơn

để giảm các chi phí chính trị này Nghiên cứu trên lập luận rằng tầm quantrọng của chi phí chính trị phụ thuộc nhiều vào quy mô doanh nghiệp Quy

mô doanh nghiệp là một biến đại diện cho sự chú ý chính trị Lý thuyết nàycho rằng các nhà quản lý nhà nước có thể ra các quyết định ảnh hưởng liênquan đến lợi ích công ty ví dụ như chính sách thuế, hạn chế độc quyền,…dựatrên các thông tin đã được doanh nghiệp công bố Theo Lang và Lundholm(1993) một mức độ CBTT cao hơn mong đợi sẽ ủng hộ cho một mức lợinhuận lớn hơn cho công ty vì vậy tránh đi trách nhiệm pháp lý và cũng nhưmột sự biện minh cho mức độ lợi nhuận của công ty Giner, B., (1997) Chiphí chính trị và môi trường cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến mức độ quản trịlợi nhuận trên BCTC Mối quan hệ giữa chi phí chính trị và mức độ quản trịlợi nhuận trong CBTT trên BCTC cũng được kiểm nghiệm thực nghiệm thôngqua các nghiên cứu của Cooke, T.E., (1989), Dumontier, P., và B Raffournier(1998), Inchausti, B G (1997)

Bên cạnh đó, những chi phí chính trị ảnh hưởng đến lợi nhuận doanhnghiệp, điều này dẫn đến khả năng NQL hạn chế chi phí chính trị bằng cáchquản trị lợi nhuận

f Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)

Vào năm 1973, Spence là người tiên phong cho ra đời lý thuyết tín hiệu.Theo lý thuyết này khi có sự tồn tại của sự bất cân xứng thông tin, lý thuyếttín hiệu đưa ra một trạng thái cân bằng trong đó đối tượng có lợi thế về thôngtin tốt hơn là nên cung cấp một số tín hiệu (thí dụ các thông tin thích hợp) chocác đối tượng khác [18]

Trang 33

Khi áp dụng lý thuyết tín hiệu trong thị trường tài chính sự bất cân xứngthông tin có thể xuất hiện giữa nhà quản lý và các đối tượng khác như cổđông, chủ nợ, nhân viên…Khi đó theo lý thuyết tín hiệu nhà quản lý cần cungcấp thông tin (tín hiệu) cho thị trường để các đối tượng khác đánh giá đúng vềthực trạng kinh tế của DN Theo đó nhà quản lý phải cung cấp một tín hiệu vềtình trạng của công ty cho chủ sở hữu Tín hiệu có thể được thực hiện quaCBTT của thông tin kế toán như BCTC Thông tin kế toán được trình bàytrong BCTC là một trong những thông tin chính mà các nhà đầu tư, các chủ

nợ, cổ đông cần được cung cấp để họ đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn củacông ty Tín hiệu mà Nhà quản trị tung ra thị trường càng tốt thì lợi ích đemlại càng cao, càng thúc đẩy hành vi quản trị lợi nhuận nhiều hơn

1.2 CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ

1.2.1 Nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

Để nhận diện hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị có thể cónhiều phương pháp khác nhau, cụ thể là trực tiếp kiểm tra đối chiếu giữa báocáo tài chính với các chứng từ sổ sách liên quan của những doanh nghiệp nghingờ có khả năng điều chỉnh lợi nhuận Tuy nhiên, phương pháp này khó cóthể thực hiện vì người sử dụng thông tin khó tiếp cận sổ sách kế toán củadoanh nghiệp Thông thường thì phương pháp này chỉ có thể được thực hiệnbởi cơ quan có thẩm quyền như thanh tra, kiểm toán, Hơn nữa, khi có sựkiểm tra của thanh tra, kiểm toán cũng khó phát hiện vì như đã nói ở trên,điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện trong khuôn khổ các nguyên tắc kế toán

Từ những vấn đề ở trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các mô hình đểnhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận Cụ thể, dựa vào cơ sở kế toán được vậndụng để lập báo cáo tài chính cụ thể là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

và báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo kết quả kinh doanh được lập dựa trên

Trang 34

cơ sở dồn tích Theo cơ sở này, mọi giao dịch liên quan đến tài sản, nguồnvốn, nợ phải trả, doanh thu, chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giaodịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền Lợi nhuận đượcxác định trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phần chênh lệch giữadoanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lậpdựa trên cơ sở tiền Theo cơ sở này, các nhà quản trị chỉ được ghi nhận khi có

số tiền thực thu và thực chi Vì thế không thể điều chỉnh thời điểm ghi nhậncác giao dịch Từ đó, chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạo ra nhữngbiến kế toán mà các nhà nghiên cứu thường gọi là accruals Hay nói cáchkhác accruals là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trongbáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Do dòng tiền từ hoạt động kinh doanhkhông thể điều chỉnh, để điều chỉnh lợi nhuận các nhà quản trị phải nhận diệnđược các biến kế toán dồn tích và điều chỉnh các biến này Theo các nhànghiên cứu, tổng biến kế toán dồn tích (TA – total accruals) bao gồm 2 phần:một phần gọi là accruals không thể điều chỉnh (NDA-nondiscretionaryaccruals), phần còn lại gọi là accruals được điều chỉnh từ hành động điềuchỉnh lợi nhuận của nhà quản trị (DA- discretionary accruals)

Trong đó: DA là lợi nhuận có được thông qua vận dụng các chính sách

kế toán Vì DA không thể quan sát trực tiếp nên để đo lường các nhà nghiêncứu xác định phần NDA Do đó mô hình nghiên cứu hành vi quản trị lợinhuận thực chất là mô hình xác định NDA

1.2.2 Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

Để xác định NDA, các nhà nghiên cứu chủ yếu sử dụng 4 mô hình sau:

a Mô hình của Healy (1985)

Theo quan điểm của Healy, NDA chính là trung bình của tổng biến dồn tích của các năm trước:

Trang 35

NDAit = ∑t (TAit / A it-1 )/n → DAit = TAit / A it-1 - NDAit

Trong đó:

n: số năm trong kỳ ước tính

t: năm nghiên cứu

i: công ty i cần nghiên cứu

Trong mô hình Healy, khi không có hành động quản trị lợi nhuận thì DA

= 0 và TA ~ NDA NDA chính là trung bình của TA Hay khi đó NDA khôngthay đổi qua các năm

Hạn chế: Ưu điểm của mô hình này là đơn giản, dễ tính toán Tuy nhiên

mô hình này có một hạn chế khi cho rằng, NDA không thay đổi theo thờigian Thực tế thì NDA liên quan đến mức hoạt động của doanh nghiệp, khimức hoạt động thay đổi như tăng trưởng về hoạt động, thay đổi tình trạngkinh tế sẽ dẫn đến NDA thay đổi Việc không kiểm soát được các biến nàylàm cho phần NDA không chính xác và từ đó, đo lường phần DA bị sai lệch

b Mô hình của DeAngelo (1986)

Mô hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần NDA sinh ra làngẫu nhiên và bằng với TA của thời kỳ t-1 hay nói cách khác NDA khôngthay đổi qua hai năm, do đó sự thay đổi trong TA giữa thời kỳ t và t-1 đượcgiả đỉnh là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán Cụ thể như sau:

NDAit = TAit-1 / A it-2; Trong đó phần có thể điều chỉnh DAit = TAit / A it-1 NDAit

-Hạn chế: mô hình của DeAngelo không thật sự chính xác nếu các công

ty này có xu hướng phát triển Nếu yếu tố tăng trưởng bị bỏ qua, sự thay đổitrong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) ở thời kỳ t có thể được xác địnhkhông chính xác, do những thay đổi trong biến kế toán không thể điều chỉnh(NDA) phụ thuộc vào sự tăng trưởng Từ đó làm cho việc xác định biến kếtoán có thể điều chỉnh (DA) không còn chính xác Điều này có thể dẫn đến

Trang 36

kết luận không đúng về việc thực hiện các điều chỉnh kế toán để lập báo cáotài chính của nhà quản trị.

c Mô hình của Jones (1991)

Mô hình Jones (1991) xây dựng trên cơ sở phần NDA phụ thuộc vàodoanh thu và quy mô của nguyên giá TSCĐ Do đó, mô hình Jones sử dụngmức biến động về doanh thu thuần và nguyên giá TSCĐ để tính toán NDA

Cụ thể như sau:

NDAit / Ait-1 = α1 / Ait-1 + α 2 ΔREVREVit / Ait-1 + α 3 PPEit / Ait-1

Trong đó:

ΔREVREV: doanh thu thuần kỳ t – doanh thu thuần kỳ t-1

PPEt: Nguyên giá TSCĐ hữu hình + nguyên giá TSCĐ thuê tài chính +nguyên giá BĐS đầu tư + chi phí xây dựng cơ bản dở dang cuối kỳ t

Ait-1: Tổng tài sản cuối kỳ t-1

α1, α 2, α 3: các tham số của từng công ty được tính bằng ước lượng bìnhphương nhỏ nhất OLS (ordinary least square) của a1, a2, a3 trong mô hình sau:

TAit/Ait-1 = a1/Ait-1 + a2 ΔREVREVit / Ait-1 + a3 PPEit / Ait-1 + ε

Mô hình Jones do Dechow, Sloan và Sweeney (1995) cải tiến bằng cách

bổ sung thêm sự thay đổi của phải thu khách hàng (ΔREVREC) Mô hìnhModified Jones (1995):

NDAit / Ait-1 = α1 / Ait-1 + α 2 (ΔREVREVit - ΔREVRECit)/ Ait-1 + α 3 PPEit / Ait-1

Trong đó:

ΔREVREC = phải thu khách hàng kỳ t – phải thu khách hàng kỳ t-1

Hạn chế: Mô hình Jones ngầm ẩn cho rằng, doanh thu là phần không thểđiều chỉnh Tuy nhiên trong thực tế, nhà quản trị có thể điều chỉnh lợi nhuậnthông qua doanh thu bằng cách đẩy nhanh hoặc chậm lại việc ghi nhận cácgiao dịch kinh tế để ghi nhận doanh thu vào một kỳ nào đó Để khắc phục hạnchế này, Dechow và các cộng sự (1995) đã đề xuất một phiên bản sửa đổi của

Trang 37

mô hình Jones bằng việc thay thế biến biến động doanh thu bằng biến biếnđộng doanh thu bằng tiền Biến biến động doanh thu bằng tiền là phần chênhlệch giữa biến động doanh thu thuần bán hàng và biến động của khoản phảithu khách hàng Do đó, phiên bản sửa đổi của mô hình Jones (Modified JonesModel) đã khắc phục được hạn chế trên khi sử dụng biến biến động doanh thubằng tiền để kiểm soát NDA thay vì dùng biến biến động doanh thu Bên cạnhnhững ưu điểm, mô hình Jones cũng có hạn chế về mặt số liệu tính toán vì đểtính toán được bằng mô hình Jones phải thu thập một cơ sở số liệu rất lớn

d Mô hình ngành của Dechow và Sloan (1991)

Mô hình ngành của Dechow và Sloan cho rằng NDA là chung cho cácdoanh nghiệp trong cùng ngành Từ đó, NDA được tính toán thông quanghiên cứu thực tế ngành Cụ thể như sau:

NDAit = β1 + β2 medianl TAit/Ait-1

Trong đó:

β1, β2: được tính bằng ước lượng OLS trong kỳ nghiên cứu

 Sau khi xác định biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh NDA,các nhà nghiên cứu sẽ xác định biến kế toán dồn có thể điều chỉnh DA dựatrên kết quả tính toán và đưa ra kết luận:

Trường hợp:

DAit > 0 → Điều chỉnh tăng lợi nhuận

DAit < 0 → Điều chỉnh giảm lợi nhuận

DAit = 0 → Không điều chỉnh lợi nhuận

Hạn chế: Về sau Dechow và Sloan đã phát hiện những hạn chế trong môhình của mình Theo Dechow và các cộng sự (1995), mô hình ngành loại bỏnhững biến động đến từ những tình trạng cụ thể của mỗi doanh nghiệp Mặtkhác, mô hình này chỉ hợp lý nếu biến kế toán dồn tích và mục tiêu quản trịlợi nhuận của các doanh nghiệp trong cùng ngành phải có sự tương quan rất

Trang 38

chặt chẽ sau khi kiểm soát các biến tiềm tàng khác (Dechow và các cộng sự,1995) Nếu biến động của các biến động của các yếu tố quyết định đến biến

kế toán không thể điều chỉnh NDA có sự khác biệt giữa các công ty trongcùng ngành thì mô hình này có sai số, việc đo lường NDA không còn chínhxác nữa

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

1.3.1 Nhân tố về nhóm ngành ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

Việt Nam với dân số đông thứ ba ở khu vực Đông Nam Á, gần 70% dân

số thuộc độ tuổi lao động (16- 60 tuổi), là thị trường lớn của ngành sản xuấthàng tiêu dùng Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, thunhập bình quân đầu người ngày càng được cải thiện, là động lực thúc đẩyngành sản xuất hàng tiêu dùng phát triển mạnh mẽ Chính vì lẽ đó, mà hàngloạt các DN ra đời với nhiều mẫu mã, sản phẩm đa dạng để phục vụ cho nhucầu tiêu dùng của người dân, dẫn đến cạnh tranh rất quyết liệt

Tùy thuộc vào đặc tính riêng của mỗi nhóm ngành, mà phương cách sảnxuất, kinh doanh, marketing,…cũng như các chính sách hạch toán kế toáncũng sẽ khác nhau Tận dụng được khe hở đó, mà các nhà quản trị có thể dễdàng vận dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tàichính, nhằm mục đích có lợi có DN

Trên thế giới hiện nay, có một số nghiên cứu nổi bật về mối quan hệgiữa hành vi quản trị lợi nhuận theo nhóm ngành như : Raghuveer Kaur(2014), Detecting Earnings Management in India: A sector-wise study, trên

tạp chí European Journal of Business and Management nghiên cứu về 6 lĩnh

vực ngành lớn tại Ấn Độ

Hay nghiên cứu của Jose’ Elias Feres de Almeida & Alexsandro Broedel

Trang 39

Lopes (2014), Earnings Management and Industry Classification in Brazil: anExploratory Investigation: A sector-wise study trên Fucape ProducaoCientifica Brazil Tuy nhiên kết quả nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được sự khácbiệt giữa mức độ hành vi quản trị lợi nhuận theo ngành.

Theo phạm vi tìm hiểu của tác giả, tại Việt Nam hiện nay chưa có mộtnghiên cứu chuyên sâu nào đề cập đến vấn đề sự khác biệt giữa các nhómngành dẫn có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Chính vì vậy, đây cũng vừa là thách thức vừa là động lực giúp tác giả đisâu tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề này

1.3.2 Nhân tố về quy mô của doanh nghiệp ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản nhất của mỗi doanh nghiệp, bởi nó giúp

DN tồn tại và phát triển bền vững Do đó, lợi nhuận luôn là mối quan tâmhàng đầu của các nghiên cứu, kể cả lý thuyết và thực nghiệm Nghiên cứu đãchỉ ra rằng lợi nhuận của DN chịu ảnh hưởng của yếu tố vi mô (ở cấp độ DN)cũng như yếu tố vĩ mô Trong đó mối quan hệ đa dạng giữa quy mô và lợinhuận của DN luôn gây ra nhiều tranh cãi, chính sự tác động đó mà các nhàquản trị đã tận dụng yếu tố quy mô để điều chỉnh lợi nhuận, làm sai lệch đicác thông tin trên BCTC, thúc đẩy sự ra đời của nhiều nghiên cứu ở các nướctrên thế giới về chủ đề này

Theo phát biểu của Lê Khương Ninh (2012) dựa trên các nghiên cứu trênthế giới của FitzRoy (1989) cho rằng quy mô có ảnh hưởng tích cực đến lợinhuận nhờ tính kinh tế của quy mô nhưng Goddard và cộng sự (2005) khẳngđịnh điều ngược lại Các nghiên cứu khác như Amato & Amato (2004),Amato & Burson (2007), Aggrey & các tác giả (2010), Becker-Blease & cáctác giả (2010) đã chứng minh quy mô ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực đếnlợi nhuận của DN [7]

Trang 40

Tuy nhiên các kết luận trên có phù hợp với đặc thù của từng quốc gia,từng vùng, từng địa phương hay không lại là vấn đề cần được kiểm chứngbằng thực nghiệm để từ đó có chính sách hỗ trợ DN khắc phục một cách hiệuquả nhất các hạn chết bắt nguồn từ sự thay đổi của quy mô.

1.3.3 Nhân tố về sàn niêm yết ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

Căn cứ theo Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 (Bảng 2.3)Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán

và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán quy định về công

bố thông tin trên hai sàn HoSE và HNX Tác giả nhận thấy có sự khác biệt rõrệt về quy định niêm yết giữa hai sàn Hồ Chí Minh và Hà Nội

Chính sự khác biệt đó có tác động đến mức độ chính xác của thông tincông bố trên BCTC của các DN Sàn niêm yết có quy định càng chặt chẽ, cụthể, thì mức độ chuẩn xác của thông tin càng cao, khả năng các nhà quản trịvận dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận, làm “méo mó”thông tin trên BCTC càng thấp

Hiện nay, trên thế giới có các nghiên cứu liên quan đến hành vi quản trịlợi nhuận với mức độ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Sở dĩ, tác giả đề cập đếnmức độ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư là bởi vì trong nền kinh tế hiện nay, cácnhà quản lý thường quan tâm đến lợi ích của mình như việc hoàn thành chỉtiêu kế hoạch, hay thăng tiến trong công việc, đó là động lực thúc đẩy các nhàquản lý có hành vi quản trị lợi nhuận để đạt được lợi ích Và để đảm bảo cholợi ích của các nhà đầu tư trong việc sử dụng các thông tin trên báo cáo tàichính được chuẩn xác thì các đơn vị có liên quan phải hoàn thiện, nâng caocác quy định, quy chế về tiêu chuẩn niêm yết trên sàn, giảm thiểu được mức

độ quản trị lợi nhuận

Các sàn niêm yết thiết lập ra các quy định về công bố thông tin mục đích

Ngày đăng: 14/03/2018, 21:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[13]. George A. Akerlof (1970), The Market for “Lemons”: Quality Uncertainty and the Market Mechanism, The Quarterly Journal of Economics, 84 (3), pp. 488-500 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Market for “Lemons”: QualityUncertainty and the Market Mechanism
Tác giả: George A. Akerlof
Năm: 1970
[14]. Healy, P.M, &amp; Wahlen, J.M. (1999), A review of the Earnings Management Literature and Its Implications for Standard setting, Accounting Horizon, 13(4), pp. 365-383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of the EarningsManagement Literature and Its Implications for Standard setting
Tác giả: Healy, P.M, &amp; Wahlen, J.M
Năm: 1999
[16]. Jose’ Elias Feres de Almeida, Alexsandro Broedel Lopes (2014), Earnings Management and Industry Classification in Brazil : an Exploratory Investigation: A sector-wise study, Fucape Producao Cientifica Brazil, pp. 01-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Earnings Management and Industry Classification in Brazil : anExploratory Investigation: A sector-wise study
Tác giả: Jose’ Elias Feres de Almeida, Alexsandro Broedel Lopes
Năm: 2014
[17]. Michael C. Jensen and William H. Meckling (1976), Theory of the firm:Managerial behavior, agency costs and ownership structure, Journal of Financial Economics, 3(4), pp. 305-360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theory of the firm:"Managerial behavior, agency costs and ownership structure
Tác giả: Michael C. Jensen and William H. Meckling
Năm: 1976
[18]. Michael Spence (1973), Job Market Signaling, The Quarterly Journal of Economics, 87 (3), pp. 355-374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Job Market Signaling
Tác giả: Michael Spence
Năm: 1973
[19]. Naoual Rifi (2010), The Influence of Large Shareholders on Earnings Management in the pre-and post IFRS periods, Master Thesis Accountancy Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Influence of Large Shareholders on EarningsManagement in the pre-and post IFRS periods
Tác giả: Naoual Rifi
Năm: 2010
[22].Sloan, R. (1997), Do Stock Prices Fully Reflect Information in Accruals and Cash Flows about Future Earnings? Accounting Review, No.71, pp. 289-315.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Do Stock Prices Fully Reflect Information in Accrualsand Cash Flows about Future Earnings
Tác giả: Sloan, R
Năm: 1997
[15]. John M. Friedlan, York University (1994), Accounting choices of issuers of Initial Public Offerings, http://onlinelibrary.wiley.com, pp. 03-06 Link
[23].Website Sở giao dịch chứng khoán TP HCM: http://www.hsx.vn [24].Website Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội: http://www.hnx.vn [25].Website Thư viện pháp luật: http://thuvienphapluat.vn Link
[12]. Christian Leuz (2002), Investor Protection and Earnings Management:An International Comparison, The Wharton School of the University of Pennsylvania, Philadelphia, pp. 01-34 Khác
[21]. Schipper, Katherine (1989). Commentary on Earnings Management Accounting Horizon, pp. 91-101 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Tên bảng Trang - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
ng Tên bảng Trang (Trang 7)
Hình Tên hình vẽ Trang - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
nh Tên hình vẽ Trang (Trang 9)
Hình 2.1. Tỷ trọng vốn hóa - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Hình 2.1. Tỷ trọng vốn hóa (Trang 41)
Bảng 2.3. Tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 56 - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 2.3. Tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 56 (Trang 52)
Bảng 2.4. Thống kê số lượng công ty qua từng năm - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 2.4. Thống kê số lượng công ty qua từng năm (Trang 53)
Bảng 3.1. Kết quả ước lượng tham số nhóm ngành thực phẩm - đồ uống - - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 3.1. Kết quả ước lượng tham số nhóm ngành thực phẩm - đồ uống - (Trang 58)
Bảng 3.3. Mô tả thống kê biến DA và trị tuyệt đối của DA (kí hiệu là DA1) - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 3.3. Mô tả thống kê biến DA và trị tuyệt đối của DA (kí hiệu là DA1) (Trang 60)
Bảng 3.4. Kiểm định sự phân phối chuẩn của DA và DA1 - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 3.4. Kiểm định sự phân phối chuẩn của DA và DA1 (Trang 61)
Hình 3.1. Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa Histogram của DA, DA1 - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Hình 3.1. Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa Histogram của DA, DA1 (Trang 62)
Hình 3.2. Biểu đồ Q-QPlot của DA và DA1 - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Hình 3.2. Biểu đồ Q-QPlot của DA và DA1 (Trang 63)
Bảng 3.5. Kết quả kiểm định Wilconxon Signed Rank Test giá trị trung - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 3.5. Kết quả kiểm định Wilconxon Signed Rank Test giá trị trung (Trang 64)
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết H 1 - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết H 1 (Trang 66)
Bảng 3.8. Kiểm định Mann-Whitney sự khác biệt về mức độ quản trị lợi - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 3.8. Kiểm định Mann-Whitney sự khác biệt về mức độ quản trị lợi (Trang 67)
Bảng 3.9. Kiểm định T - Test sự khác biệt về mức độ quản trị lợi nhuận - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 3.9. Kiểm định T - Test sự khác biệt về mức độ quản trị lợi nhuận (Trang 67)
Bảng 3.10. Kiểm định Kruskal-Wallis sự khác biệt về mức độ quản trị lợi - Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng việt nam’
Bảng 3.10. Kiểm định Kruskal-Wallis sự khác biệt về mức độ quản trị lợi (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w