1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Vận dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào bài tổng kết lịch sử lớp 12 nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trường THPT

37 349 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 454 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế tôi đã chọn sáng kiến “Vận dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào bài tổng kết lịch sử lớp 12 nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trường THPT …." góp phần

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

A MỞ ĐẦU……… 1

1 Lí do chọn đề tài……… 1

2 Mục tiêu của sáng kiến……… 2

3 Giới hạn của sáng kiến……… 3

B NỘI DUNG……… 4

1 Cơ sở viết sáng kiến……….……… 4

1.1 Cơ sở khoa học……… 4

1.2 Cơ sở chính trị, pháp lí……… 7

2 Thực trạng của vấn đề……… 10

2.1 Hiện trạng vấn đề cần giải quyết….………. 10

2.2 Các nhân tố, điều kiện ảnh hưởng đến vấn đề cần giải quyết ……… 12

3 Các giải pháp thực hiện……… 17

3.1 Sử dụng bảng biểu khái quát kiến thức……… 18

3.2 Hệ thống hóa kiến thức theo sơ đồ……… 21

3.3 Ứng dụng trò chơi vào tìm hiểu kiến thức….……… 24

3.4 Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan tìm hiểu kién thức………… 27

4 Hiệu quả của sáng kiến……… 30

4.1 Ý nghĩa thực tiễn của sáng kiến……… 30

4.2 Đối tượng hưởng lợi của sáng kiến……… 32

C KẾT LUẬN……… 33

1 Kết luận……… 33

2 Kiến nghị……… 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 3

nhân lực mới có tri thức khoa học cao, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn và dễ dàngthích ứng trong môi trường mới đầy năng động, sáng tạo để giải quyết tốt các vấn đềtrong cuộc sống.

Vì thế, chương trình giáo dục mới rất chú trọng đến việc phát huy tư duy tổnghợp, sáng tạo, tự nghiên cứu, tự học của học sinh, trong đó bài tổng kết, ôn tập gópphần rất quan trọng Những bài tổng kết, ôn tập chỉ được đánh giá tốt khi nó pháthuy cao độ khả năng tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức đã học, xác lập mối quan hệgiữa các yếu tố tự nhiên, giữa tự nhiên với hoạt động sản xuất của con người, củng

cố các kĩ năng phân tích so sánh và giải thích các hiện tượng có liên quan Bài tổngkết, ôn tập trở nên vô cùng cần thiết cho vấn đề củng cố kiến thức cho các em trongtất cả các môn học

Khác với các môn Ngữ văn, Địa Lí, Sinh học, Giáo dục công dân…Lịch sử làmột môn học đặc thù với những chuỗi sự kiện, diễn biến đã diễn ra trong quá khứ Vìvậy, nhiệm vụ của dạy học Lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá khứ để từ đó rút rabài học từ quá khứ, vận dụng nó vào cuộc sống hiện tại và tương lai Đây là môn học

yêu cầu người học phải “biết sự kiện - hiểu sự kiện - nhớ sự kiện” từ đó có sự phân

tích, tư duy lôgic, khái quát và đánh giá sự kiện

Đặc điểm của kiến thức môn Lịch sử có liên quan chặt chẽ đến việc củng cố,

ôn tập kiến thức cho học sinh Kiến thức Lịch sử bao gồm các yếu tố: sự kiện lịch sử,niên đại, địa danh, nhân vật lịch sử, các biểu tượng, khái niệm, quy luật lịch sử…Các

sự kiện, biến cố không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà là sản phẩm của nhữnghoàn cảnh nhất định, có những mối quan hệ nhân quả theo những quy luật nhất định.Lịch sử chỉ diễn ra một lần, không bao giờ lặp lại y nguyên như cũ, cũng không thể

mô hình hóa, hay dựng lại nó trong phòng thí nghiệm Mọi sự mô hình hóa trongphòng thí nghiệm đối với lịch sử đều là không chính xác như nó vốn đã tồn tại

Mặt khác, trong dạy học lịch sử, các kiến thức chỉ được học một lần nhất định

và không lặp lại, sau mỗi bài học, kiến thức lịch sử ngày càng nhiều lên, song khôngđược ôn tập một cách tự nhiên như các môn Toán học, Vật lý, Hóa học… do vậy mà

Trang 4

vai trò của tiết tổng kết, ôn tập là rất quan trọng trong môn Lịch sử Kiến thức lịch sửluôn có mối quan hệ với nhau giúp học sinh hiểu được sự phong phú, đa dạng, pháttriển hợp quy luật của lịch sử xã hội Việc hướng dẫn học sinh ôn tập và tự ôn tậpkiến thức không chỉ giúp học sinh ghi nhớ được các sự kiện, hiện tượng mà còn giúpcác em nhận thức ra mối liên hệ biện chứng, logic giữa các sự kiện lịch sử

Riêng đối với môn Lịch sử, bài tổng kết, ôn tập là một trong những bài khódạy, vì đây là bài tổng hợp với lượng kiến thức lớn Chính vì lẽ đó giáo viên khi dạycác tiết này thường gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bịcông phu, kiến thức tổng hợp nhuần nhuyễn, kĩ năng phân tích thuần thục và phải cóphương pháp dạy học hợp lí, bên cạnh đó học sinh cũng phải có sự chuẩn bị đầy đủtrước những nội dung ôn tập ở nhà thì tiết ôn tập mới không bị nhàm chán Tuynhiên, khi tổ chức dạy học ở lớp, tiết ôn tập vẫn rất khó thành công; kết quả học sinhkhông thích tiết ôn tập

Hơn 10 năm trong nghề, tôi rất trăn trở về vấn đề này Vì vậy đề tìm đượcphương pháp nào hiệu quả vừa có khả năng truyền tải hết kiến thức bài học, vừa tạo

ra cho học sinh hứng thú học tập, vừa khắc sâu kiến thức, vừa làm cho các em yêuthích môn học từ đó phát huy tính tích cực, tự giác và hứng thú học tập cho các em,nhất là các em khối 12 để các em có đủ hành trang cho các kì thi tuyển (thi HSG, thiTHPT Quốc gia) Chính vì thế tôi đã chọn sáng kiến “Vận dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào bài tổng kết lịch sử lớp 12 nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trường THPT …." góp phần tổng hợp kiến thức nhanh gọn,khái quát; đặc biệt hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh hiểu bài, khắc sâu hơn kiếnthức và hứng thú hơn trong học tập

2 Mục tiêu của sáng kiến.

Xuất phát từ thực tế dạy và học Lịch sử ở nhà trường cũng như của bản thân,một vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Lịch sử.Trong mỗi tiết học trò phải hứng thú, say mê, thầy phải phát huy được tính tích cực ởtrò, phải khơi dậy được niềm đam mê ở trò Để đáp ứng được yêu cầu đó và yêu cầu

Trang 5

đổi mới phương pháp dạy học thì việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cựctrong dạy và học Lịch sử là phương pháp tối ưu nhằm tạo hứng thú cho học sinh.

Vì vậy, mục đích của sáng kiến là giúp cho học sinh hứng thú, yêu thích mônlịch sử hơn đặc biệt là dạng bài tổng kết, ôn tập, từ đó nâng cao chất lượng dạy vàhọc lịch sử trong nhà trường

3 Giới hạn của sáng kiến

3.1 Về đối tượng nghiên cứu

- Vấn đề: Một số biện pháp dạy học tích cực nhằm tạo hứng thú cho học sinhtrong dạng vài Tổng kết, ôn tập lịch sử

- Phạm vi: Sáng kiến xoay quanh việc nghiên cứu một số biện pháp dạy họctích cực nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong dạng bài Tổng kết lịch sử chươngtrình lớp 12 Để thấy rõ được hiệu quả của việc thay đổi phương pháp trong dạy họclịch sử

- Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng cho sáng kiến này là các lớp 12 cụthể là lớp 12B3, 12B4 trường THPT Sốp Cộp năm học 2016 – 2017

Trang 6

vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huytính tích cực của người dạy Tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thìgiáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thayđổi cách dạy và cách học Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc-chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay cònđược gọi là dạy và học tích cực Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động,giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữangười dạy và người học

Bài Tổng kết, ôn tập lịch sử nhằm mục tiêu:

+ Về kiến thức: Học sinh nhận thức một cách hệ thống, khái quát về quátrình phát triển của lịch sử, đặc điểm lớn của từng thời kì Đồng thời hiểu rõ nguyênnhân cơ bản đã quyết định quá trình phát triển của lịch sử

+ Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa, lựa chọn sự kiện lịch sử cơbản, kĩ năng phân tích, xác định những đặc điểm lớn của từng thời kì

Rèn luyện và vận dụng phương pháp tư duy phân tích, tổng hợp khái quátcác sự kiện, các vấn đề quan trọng đã diễn ra

+ Về thái độ: Trên cơ sở nắm chắc quá trình phát triển của lịch sử dân tộc,hiểu rõ nguyên nhân của quá trình phát triển lịch sử, củng cố niềm tự hào dân tộc,niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự tất thắng và tiền đồ của cách mạng

1.1.1 Một số phương pháp dạy học tích cực.

* Phương pháp vấn đáp: Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo

viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau vàvới cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tínhchất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức

đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được

Trang 7

xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mốiliên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.

- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào

đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để họcsinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của cácphương tiện nghe – nhìn

- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏiđược sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật,tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáoviên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữatrò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viêngiống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiệnkiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của

sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy

* Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Trong một xã hội đang phát triển

nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp

lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành côngtrong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết pháthiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của

cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học màphải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo

* Phương pháp hoạt động nhóm: Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ

4 đến 6 người Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chiangẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần củatiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗingười một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực,không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong

Trang 8

nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhómkhác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cảlớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra mộtđại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao chonhóm là khá phức tạp.

* Phương pháp đóng vai: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực

hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Phương pháp đóngvai có những ưu điểm sau :

- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độtrong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh

- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành viđạo đức và chính trị – xã hội

* Phương pháp động não: Động não là phương pháp giúp học sinh trong một

thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làmtiền đề cho buổi thảo luận

1.1.2 Kiểu bài ôn tập, tổng kết.

- Bài ôn tập, tổng kết được tiến hành khi hoàn thành nghiên cứu một giai đoạnhay một thời kỳ hoặc một quá trình lịch sử

- Nhiệm vụ của bài tổng kết, ôn tập là củng cố, hệ thống kiến thức cơ bản, rènluyện kĩ năng, kĩ xảo

- Loại bài cung cấp cho học sinh một bức tranh toàn diện về hiện tượng hoặcquá trình lịch sử đã học, hệ thống hóa kiến thức đã tiếp thu, dựa vào những sự kiện

cơ bản đã biết giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích bản chất các sự kiện lịch sử,giải thích sâu hơn nữa những khái niệm phức tạp đã được hình thành nhằm nâng caotrình độ nhận biết của học sinh khi hiểu các hiện tượng mới của xã hội

Trang 9

- Nhiệm vụ của bài học quy định nội dung và phương pháp tiến hành khác vớikiểu bài cung cấp kiến thức mới Giáo viên không trình bày kiến thức mới mà hướngdẫn học sinh nhớ lại những kiến thức đã học, uốn nắn những hiểu biết sai, khái quáthóa và qua đó rút ra những kết luận để nhận thức sâu sắc toàn diện hơn.

- Số lượng bài tổng kết lịch sử: Mỗi khối có 2 bài tổng kết, tổng kêt lịch sửViệt Nam (1 tiết) và tổng kết lịch sử thế giới (1 tiết)

1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý.

1.2.1 Cơ sở chính trị.

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần 8 khóa XI

về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh

mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Trong báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

2016 – 2020, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: “

Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề cải thiện còn chậm; thiếu lao động chất lượng cao Hệ thống giáo dục còn thiếu tính liên thông, chưa thật hợp lý và thiếu đồng bộ Công tác phân luồng và hướng nghiệp còn hạn chế Đổi mới giáo dục, đào tạo có mặt còn lúng túng Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo khắc phục còn chậm, công tác đào tạo chưa gắn chặt chẽ với nhu cầu xã hội Cơ chế, chính sách có mặt chưa phù hợp; xã hội hóa còn chậm và gặp nhiều khó khăn, chưa thu hút được nhiều nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển giáo dục, đào tạo Cơ sở vật chất vẫn còn thiếu và lạc hậu.

Trang 10

Chất lượng dạy và học ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn thấp Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu”.

Trên cơ sở đó Đại hội cũng đề ra giải pháp để thực hiện phương hướng phát

triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016- 2020: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách,

giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân” “Đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo”.

Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới giáo dụctrung học hiện nay Luật Giáo dục (Điều 28) đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợpvới đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện

kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui vàhứng thú học tập cho học sinh”

1.2.2 Cơ sở pháp lý.

Xác định nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016-2017 của ngành Giáo dục, chỉ thị

số 3031/CT-BGDĐT đã chỉ rõ: “Năm học 2016-2017, ngành Giáo dục và đào tạo

đứng trước những thuận lợi, thời cơ, khó khăn và thách thức đan xen, đòi hỏi toàn ngành phải quyết tâm,nỗ lực phấn đấu hơn nữa để thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020, tiếp tục triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-

TW của Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”.

Trên cơ sở đó, công văn số: 1100/SGDĐT-GDPT về hướng dẫn thực hiệnnhiệm vụ Giáo dục trung học năm học 2016-2017 của Sở GDĐT Sơn La đã chỉ rõ:

“Thực hiện thường xuyên, hiệu quả các phương pháp, hình thức và kỹ thuật dạy học

Trang 11

tích cực Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự lực, sáng tạo của học sinh; tăng cường kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn góp phần hình thành và phát triển năng lực học sinh; đa dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.

Như vậy, yêu cầu của thời đại mới đã đặt ra cho giáo dục và đào tạo vấn đề:Làm thế nào, làm gì để nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục, đào tạo? Để thựchiện thành công việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạokhông chỉ là nhiệm vụ của một lực lượng mà cần sự quan tâm, chung tay của toàn xãhội trong đó việc nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên đổi mới phương pháp dạy

và học là một yêu cầu tiên quyết, thiết yếu, có vai trò quyết định đến thành công củacông cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo

2 Thực trạng của vấn đề:

2.1 Hiện trạng vấn đề cần giải quyết.

Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiệnđổi mới PPDH, theo tinh thần tập huấn của Sở Giáo dục và Đào tạo Sơn La về việcbồi dưỡng cho giáo viên trong toàn tỉnh tiếp cận với những phương pháp, kĩ thuậtdạy học mới, trong nhiều năm qua tại trường THPT Sốp Cộp, tinh thần đổi mớiphương pháp dạy học của mỗi giáo viên được nâng cao Các thầy cô giáo ở tất cảcác bộ môn như Toán, Lý, Hóa, Văn, Địa lý, GDCD trong trường luôn học hỏi,tìm hiểu những PPDH tiến bộ, vận dụng những kỹ thuật mới vào trong dạy học đểlàm mới bài giảng của mình, tăng sự hứng thú của học sinh trong các giờ học

Không nằm ngoài xu thế đổi mới đó, các thầy cô giáo dạy Lịch sử cũng luôn

có ý thức tiếp cận các PPDH mới để mang lại sự hứng thú của học sinh trong các giờhọc, đặc biệt là các bài Tổng kết, ôn tập lịch sử vốn dĩ luôn được nặng về kiến thức,đòi hỏi giáo viên trong một tiết phải khái quát lại một lượng kiến thức rất lớn đã họctrong các tiết trước và học sinh cũng phải ghi bài nhiều, chỉ ngồi thụ động trả lời

Trang 12

những câu hỏi do thầy cô đưa ra Điều này sẽ dẫn đến sự rập khuôn máy móc trongcác giờ học, tạo tâm lí ỷ lại, bị động trong học sinh Chính vì thế, việc vận dụng cácphương pháp dạy học tích cực vào bài Tổng kết sẽ khắc phục được những hạn chếtrên, tạo sự mới mẻ, hưng phấn với học sinh và cả người giáo viên đứng lớp.

Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa vận dụng các phương pháp dạy học tích cựcvào trong quá trình dạy học đối với môn học Lịch sử vẫn còn là vấn đề còn nhiềulúng túng đối với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các hoạt động dạyhọc với việc sử dụng các phương pháp, các kỹ thuật dạy học tích cực Qua dự giờ,trao đổi kinh nghiệm chuyên môn đối với các đồng nghiệp trong tổ, tôi nhận thấy,hầu hết các giáo viên chưa đã vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cựcvào bài giảng, tuy nhiên còn vận dụng ít, chưa khai thác được hết những ưu điểmcủa phương pháp, chưa phát huy hết được khả năng tích cực của học sinh

Không chỉ đối với giáo viên mà ngay học sinh trong trường có nhiều em chưathể đáp ứng được với các phương pháp dạy học tích cực, các em vẫn còn thụ độngtrong tiếp thu kiến thức

Qua theo dõi, quan sát đồng nghiệp trong tổ chuyên môn về việc sử dụng cácphương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào các tiết học tôi nhận thấy:

+ Các thầy cô sử đã sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vàogiảng dạy song chưa thường xuyên chủ yếu vẫn là trong các tiết dạy chuyên đề, dạyđổi mới phương pháp, tiết dự giờ…

+ Các thầy cô chưa thực sự nắm chắc về các phương pháp, kỹ thuật dạy họctích cực, nên dẫn đến việc vận dụng vào bài dạy còn lúng túng

+ Các thầy cô chưa dành nhiều thời gian cho viẹc nghiên cứu, tìm hiểu cácphương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực

Về lí do vì sao các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực chưa được sử dụngrộng rãi trong việc dạy học môn Lịch sử; các thầy cô đều cho rằng đặc trưng củamôn lịch sử, lượng kiến thức trên một bài là rất nhiều, học sinh nhận thức còn yếu,

cơ sở vật chất của đơn vị còn hạn chế, nên vận dụng thường xuyên các phương pháp

Trang 13

kỹ thuật dạy học tích cực còn nhiều khó khăn Nhưng nếu hội đủ các điều kiện thuậnlợi, thì các thầy cô sẽ thường xuyên sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tíchcực trong các tiết dạy dạy lịch sử của mình.

2.2 Các nhân tố, điều kiện ảnh hưởng đến vấn đề cần giải quyết

2.2.1 Thuận lợi:

Năm học 2016 – 2017 là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng cáccấp: Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ ……… lần thứ III; Đại hội Đảng bộ TỉnhSơn La lần thứ XIV; Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tiếp tục thực Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp

hành Trung ương Đảng ( khoá XI ) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào

tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ”; Nghị quyết số

140-NQ/HĐND ngày 10/12/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La về việc điềuchỉnh, bổ sung một số nội dung Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Sơn

La giai đoạn 2008 - 2020

- Nhờ sự chỉ đạo sát sao của Sở giáo dục và đào tạo Sơn La, sự quan tâm củacác cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã tạo điều kiện tốt nhất cùng với cơ sởvật chất của nhà trường cơ bản đảm bảo,việc thực hiện nội dung nghiên cứu đã diễn

ra thuận lợi: Có thư viện và các phòng trống để học sinh có thể tập trung học nhóm

và làm bài tập theo nhóm

Đối với công tác quản lý: BGH nắm vững chủ trương đổi mới, đồng thời tạo

điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm trađánh giá, động viên giáo viên tích cực đổi mới

CBQL trong trường đã chú trọng tăng cường CSVC phục vụ đổi mới PPDH,TĐG: đầu tư xây dựng các phòng học bộ môn; mua sắm trang thiết bị hiện đại phục

vụ dạy học, KTĐG; xây dựng nguồn học liệu; trang bị máy tính và mạng internetphục vụ GV và HS

Trang 14

Có biện pháp chỉ đạo, tổ chức thực hiện đổi mới dạy học có hiệu quả, thườngxuyên kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy học theo định hướng bám sát chuẩn kiếnthức kĩ năng Đã tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên nâng cao trình độ tay nghề quađẩy mạnh sinh hoạt tổ chuyên môm, sinh hoạt cụm chuyên môn, thực hiện có hiệuquả hoạt động dạy học; Cử CB, GV tham gia tập huấn đổi mới PPDH, KTĐG thoechỉ đạo của Sở, và của Bộ GD&ĐT tổ chức, triển khai; tổ chức tập huấn cấp trườngcác chuyên đề ứng dụng CNTT; biên soạn đề kiểm tra; đổi mới đồng bộ PPDH vàPPKTĐG; hướng dẫn học sinh tự học tích cực…, các Hội thi giáo viên dạy giỏi, thilàm đồ dùng dạy học,…nhân rộng các điển hình thực hiện tích cực sáng tạo có hiệuquả.

Về phía giáo viên: Thực hiện sự chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy,

kiểm tra đánh giá của Bộ giáo dục và Đào tạo, của các cấp lãnh đạo, giáo viên

đã thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học theo quy định của Bộ, ngành Đặcbiệt lưu ý đến việc dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng bộ môn; đã quan tâm đặcbiệt tới việc soạn bài theo hướng đổi mới, phát huy tính tích cực, chủ động của họcsinh, thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lí hoạt động của thầy và trò, hệ thốngcâu hỏi hợp lí, lô gíc không làm phá vỡ tính chỉnh thể, thống nhất của bài học; tậptrung vào trọng tâm (nhất là với bài dài, bài khó, bài nhiều đơn vị kiến thức mới);chú trọng đến bồi dưỡng năng lực suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học; giáoviên tích cực nghiên cứu, học tập, cập nhật kiến thức nâng cao tay nghề, chủ độngtiếp cận với công nghệ thông tin, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trongdạy học, coi đó là công cụ hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy học có hiệu quả giúpcho bài giảng của mình thêm phong phú

Cùng với việc đổi mới PPDH là đổi mới KTĐG Có thể nói đánh giá kết quảhọc tập của học sinh là một trong những vấn đề được coi trọng trong hoạt động dạy -học là công cụ quan trọng, chủ yếu để xác định năng lực nhận thức của người học,điều chỉnh quá trình dạy - học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, gópphần nâng cao chất lượng đào tạo theo mục tiêu giáo dục

Trang 15

Việc kiểm tra đánh giá chất lượng học tập sẽ giúp giáo viên và học sinh cónhững thông tin xác thực và tin cậy để điều chỉnh bổ sung hoàn thiện sản phẩm trongquá trình dạy học Kiểm tra đánh giá còn giúp học sinh tự đánh giá được khả năngtiếp thu bài giảng của mình, tự điều chỉnh được cách học, hoặc khắc phục nhữngthiếu sót trong việc tiếp nhận tri thức, phát triển kĩ năng và xây dựng thái độ học tậpcần thiết và nghiêm túc cho bản thân.

GV đã bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng, đổi mới các hình thức kiểm tra, đánhgiá học sinh ngay trong từng tiết học (Đầu giờ, giữa giờ, cuối giờ…), kết hợp hìnhthức kiểm tra tự luận với trắc nghiệm đảm bảo việc đánh giá khách quan, công bằng,đúng trình độ, đồng thời thể hiện ba mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng sángtao Đề kiểm tra thể hiện được tính phân hoá học sinh, vừa sức với học sinh, bám sátchương trình, nội dung học tập và sách giáo khoa, chú trọng đến dạng câu hỏi mở để

có thể phát huy tối đa khả năng tư duy, liên tưởng, sáng tạo, chính kiến cá nhân củahọc sinh, nhất là đối với môn ngữ văn…

Đối với học sinh: HS đã tích cực, chủ động hơn trong hoạt dộng chiếm lĩnhkiến thức; ngoài hoạt động học trên lớp, một số HS đã chủ động hơn trong việc tìmkiếm tài liệu tham khảo để tự học, tự rèn luyện; nhiều HS có kĩ năng tốt trong việc sửdụng CNTT, khai thác các nguồn học liệu trên mạng để chiếm lĩnh kiến thức bướcđầu HS đã có ý thức tự đánh giá kết quả học tập của mình và đánh giá lẫn nhau khiđược yêu cầu

2.2.2 Hạn chế

Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông với nhiệm vụ cung cấp một khối lượngkiến thức tương đối phong phú về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc cần đặt ra yêucầu cao mới thực hiện được nhiệm vụ đó, mặt khác do đặc trưng của bộ môn Lịch sử

nó gây ra nhiều khó khăn cho quá trình nhận thức của các em Vì đối tượng của lịch

sử là quá khứ đã diễn ra, không thể tái hiện, không thể “ trực quan sinh động”, cũngkhông thể trực tiếp quan sát được Lịch sử được phản ánh qua các nguồn sử liệu, vấn

đề đặt ra là làm sao để các em nhận thức được lịch sử một cách chính xác, chân thực

Trang 16

như nó đã tồn tại Vì vậy, qua khảo sát tại đơn vị, bản thân nhận thấy công tác giảngdạy của giáo viên lịch sử đối với bài Tổng kết và nhận thức của học sinh về kiểu bàinày còn nhiều hạn chế.

Thứ nhất, nội dung kiến thức môn Lịch Sử lớp 12 bao gồm cả lịch sử thế giới

và lịch sử Việt Nam rất nhiều giai đoạn, nhiều sự kiện Đặc biệt trong hai bài tổngkết với nội dung khá dài: Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 đến 2000 phải hệthống lại kiến thức cho học sinh từ bài 1 đến bài 10; Tổng kết lịch sử Việt Nam từ

1919 đến 2000 phải tổng kết toàn bộ quá trình lịch sử Việt Nam từ sau chiến tranhthế giới thứ nhất đến nay (1919-2000) với khối lượng kiến thức tương ứng 32 tiết líthuyết đã được cung cấp qua 16 bài Trong khuôn khổ 1 tiết, với lượng kiến thức lớncần khái quát (mà đã học từ lâu) đòi hỏi giáo viên phải hệ thống một lượng kiến thứclớn, phân tích, kết nối các sự kiện lịch sử…trong khi giáo viên rất khó có thể lượcdạy hay cho học sinh tự học vì sợ thi vào học sinh không làm được và ảnh hưởng đếnchất lượng chuyên môn Nên sẽ khiến học sinh khó nhớ, khó hiểu và dễ gây ra tâm línhàm chán, khó thu hút được học sinh vào nội dung của bài học

Thứ hai, Bài tổng kết lịch sử là kiểu bài mà nội dung và phương pháp tiến

hành khác với kiểu bài cung cấp kiến thức mới Nhưng đã số giáo viên vẫn chưa đổimới về phương pháp, chưa xác định đúng phương pháp khi vận dụng vào bài, vẫnvận dụng lối dạy học truyền thống, thầy đọc, trò chép, thầy hỏi, trò liệt kê lại các nộidung trong sách; câu hỏi thầy đưa ra vẫn chủ yếu là câu hỏi mức độ nhận biết, thônghiểu, rất ít các câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng, liên hệ…Chính vì vậy, với cáchdạy như lối cũ sẽ biến giờ tổng kết lịch sử thành dạy lại kiến thức; chỉ sau khi tiếthọc kết thúc là kiến thức cũng trả cho giáo viên không có gì đọng lại trong các em.Hiện nay, học sinh có trình độ, học lực không đều, đối với học sinh trung bình, yếucác em không thích học tiết tổng kết, ôn tập; riêng đối tượng học sinh cá biệt thì khảnăng tiếp thu đã hạn chế, lại không có ý thức học, thì với cách dạy cách dạy lý thuyếtsáo mòn này thì học sinh sẽ không làm và chất lượng bài kiểm tra sẽ rất thấp Từ đó

Trang 17

dẫn đến kết quả là học sinh không nắm được bài, hiểu vấn đề một cách đơn lẻ, manhmún, không có sự liên kết kiến thức trước, sau

Thứ ba, Giáo viên chuẩn bị chưa thật chu đáo cho tiết dạy: Một thực tế chothấy trong những tiết thao giảng, tiết dạy chuyên đề, tiết đổi mới do Tổ chỉ định giáoviên đầu tư máy chiếu, tranh ảnh, video, tư liệu, đồ dùng dạy học rất công phu…Cònngoài ra đa số các tiết giáo viên chưa thực sự đầu tư cho bài dạy, vẫn chủ yếu dạychay, đã sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào trong các hoạt động dạyhọc những chưa thường xuyên Như vậy, với cách dạy thụ động một chiều gây chohọc sinh tâm trạng chán nản, không hứng thú trong các bài giảng, nhất là các dạngbài ôn tập, tổng kết

Từ những nhận thức trên và từ kinh nghiệm của bản thân tôi nhận thấy tronggiảng dạy môn Lịch sử nếu giáo viên biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học, nhiềunguồn thông tin và kết hợp với các ví dụ thực tiễn trong bài giảng để gây hứng thúcho học sinh là điều rất quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy và học của

bộ môn

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

- Nguyên nhân khách quan:

+ Cơ sở vật chất còn những hạn chế nhất định Nhà trường chỉ có 2 phòng

máy chiếu, tách biệt, di chuyển xa nên giáo viên thường ngại sử dụng phòng máy

+ Phương tiện dạy học: Thư viện còn ít các đầu sách tham khảo cho giáo viên

và học sinh

+ Những đổi mới liên tục của ngành giáo dục về áp dụng phương pháp đổimới trong dạy và học khiến cả người dạy và người học ở một số nội dung chưa bắtkịp, hoặc có nhưng thiên về hình thức, máy móc

+ Bản thân môn học với đặc trưng là nhiều giai đoạn, nhiều sự kiện, đặc biệt làkiểu bài Tổng kết với khối lượng kiến thức lớn Khiến cho việc vận dụng các phươngpháp, kỹ thuật dạy học tích cực chưa thực sự hiệu quả

- Nguyên nhân chủ quan:

Trang 18

+ Bản thân giáo viên vẫn phải luôn trau dồi kiến thức mỗi ngày để đáp ứngyêu cầu của công việc Nhưng năng lực và thời gian tự học của người viết sáng kiến

có hạn

+ Việc nghiên cứu khoa học một cách tỉ mỉ, và toàn diện chưa đảm bảo Một

số vấn đề khoa học nghiên cứu còn hời hợt và đối phó dẫn đến hiệu quả học tập bộmôn chưa cao

+ Thời gian và chất lượng tự học của học sinh không đảm bảo Trong khi đókhông có sự giám sát của gia đình Việc chủ động tìm tòi, rở rộng kiến thức của họcsinh chưa cao, chưa được thường xuyên và hiệu quả nên khi giáo viên bận dụng cácphương pháp phát huy tính tích cực của học sinh thì đa số học sinh chưa đáp ứngđược yêu cầu

3 Các giải pháp thực hiện

Chương trình lịch sử lớp 12 chia làm 2 phần: Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt

Nam Chương trình lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 có thể khái quátthành hai giai đoạn:

- Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1991

- Giai đoạn từ sau năm 1991 đến năm 2000

Chương trình lịch sử Việt Nam gồm 5 giai đoạn:

Ngày đăng: 21/01/2018, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w