1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện

132 490 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 3,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trên thế giới, dịch vụ kiểm toán được coi là một trong những dịch vụ có tính chuyên nghiệp cao và có ý nghĩa lớn trong việc tạo lập một môi trường kinh doanh minh bạch và hiệu quả. Ở Việt Nam, mặc dù hoạt động kiểm toán độc lập mới chỉ thực sự xuất hiện từ sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế nhưng do đòi hỏi khách quan của nền kinh tế cũng như sự khuyến khích phát triển của nhà nước, ngành dịch vụ kiểm toán đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam. Cho tới nay, số lượng các công ty kiểm toán đã tăng lên đáng kể, các dịch vụ cung cấp không ngừng được đa dạng hóa. Tuy nhiên, kiểm toán tài chính vẫn được xem là một dịch vụ quan trọng hơn cả vì các Báo cáo tài chính do các doanh nghiệp lập ra là đối tượng quan tâm của rất nhiều người. Trong các phần hành của kiểm toán Báo cáo tài chính thì kiểm toán nợ phải trả là một nội dung quan trọng vì nó có liên quan trực tiếp tới khả năng thanh toán và do đó cũng ảnh hưởng tới sự tồn tại của đơn vị. Chính vì vậy, kiểm toán khoản mục nợ phải trả được xem là một phần việc quan trọng đối với các công ty kiểm toán.Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam là một trong những công ty có uy tín lớn trong ngành kiểm toán. Qua thời gian thực tập tại công ty, em đã nắm bắt được rất nhiều kiến thức thực tiễn liên quan đến kiểm toán Báo cáo tài chính nói chung và kiểm toán khoản mục nợ phải trả nói riêng. Đây chính là cơ sở để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện”. Trong phạm vi luận văn, em xin tập trung đi sâu vào nghiên cứu kiểm toán các khoản phải trả nhà cung cấp và vay ngắn hạn, vay dài hạn.Nội dung của luận văn gồm 3 phần chính:Phần 1: Cơ sở lí luận về kiểm toán khoản mục nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính.Phần 2: Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam (VAE) thực hiện.Phần 3: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán các khoản nợ phải trả do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện.Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo ThS. Phan Trung Kiên cùng sự giúp đỡ của toàn thể các anh chị kiểm toán viên trong công ty đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.Hà Nội, tháng 62006 PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNHI.KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH1.Khái niệm và mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính1.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chínhThuật ngữ “kiểm toán” mới chỉ thực sự xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từ hơn chục năm trở lại đây. Trên thế giới, có rất nhiều quan niệm về kiểm toán và cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất. Song nhìn chung có thể khái quát quan niệm hiện đại về kiểm toán như sau: “Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”.Kiểm toán có thể phân loại dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau: theo đối tượng cụ thể, theo phương pháp áp dụng, theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán...Nếu căn cứ theo đối tượng cụ thể thì kiểm toán bao gồm ba loại: kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán nghiệp vụ (hoạt động) và kiểm toán liên kết. Trong đó kiểm toán báo cáo tài chính được xem là loại hình kiểm toán lâu đời và có ý nghĩa nhất ngay từ khi ra đời và phát triển “kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về sự trình bày trung thực và hợp lý của các bảng khai tài chính do các kiểm toán viên chuyên nghiệp tiến hành theo luật định”.1.2. Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chínhTrong cơ chế thị trường, có rất nhiều người quan tâm đến tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: các cơ quan nhà nước cần có thông tin để điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh tế nói chung đối với mọi thành phần kinh tế, các nhà đầu tư cần có thông tin để có hướng đầu tư đúng dắn, các khách hàng và nhà cung cấp cũng cần hiểu rõ về tình hình hoạt động của doanh nghiệp để có quyết định kinh doanh phù hợp... Những thông tin quan trọng về doanh nghiệp lại được phản ánh khá đầy đủ trên Báo cáo tài chính: “báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu của đơn vị” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính). Do đó các bảng khai tài chính mà bộ phận quan trọng là các Báo cáo tài chính trở thành đối tượng quan tâm của nhiều người. Tuy nhiên, để những thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp thực sự hữu ích thì những thông tin đó phải là những thông tin trung thực, hợp lý, phản ánh được khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Do đó kiểm toán tài chính ra đời với ý nghĩa quan trọng là tạo niềm tin cho những người quan tâm. Điều này là nhân tố quyết định chi phối mục tiêu hoạt động của loại hình kiểm toán này. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính “mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?”. Như vậy có thể thấy rằng mục tiêu của kiểm toán tài chính là nhằm đảm bảo báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu chứ không đảm bảo rằng tất cả các thông tin trên báo cáo tài chính đều là những thông tin trung thực vì hoạt động kinh tế của doanh nghiệp rất đa dạng, các nghiệp vụ phát sinh nhiều, việc đảm bảo rằng tất cả các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính đều trung thực,hợp lý là điều rất khó khăn, tốn kém và cũng không cần thiết đối với những người sử dụng Báo cáo tài chính. Ngoài mục tiêu trên, “mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200). Những yếu điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như cách thức khắc phục được kiểm toán viên trình bày trong thư quản lý. Tuy nhiên, người sử dụng báo cáo tài chính cũng cần hiểu rằng “ý kiến của kiểm toán viên làm tăng thêm sự tin cậy của báo cáo tài chính nhưng người sử dụng báo cáo tài chính không thể cho rằng ý kiến của kiểm toán viên là sự đảm bảo về khả năng tồn tại của doanh nghiệp trong tương lai cũng như hiệu quả và hiệu lực điều hành của bộ máy quản lý” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, đoạn 12). Trên thực tế đã xảy ra khá nhiều vụ kiện các công ty kiểm toán do quan niệm sai lầm này.2.Phương pháp tiếp cận của kiểm toán báo cáo tài chínhCác cuộc kiểm toán được thực hiện bằng cách chia các báo cáo tài chính thành từng phần nhỏ hoặc từng yếu tố cấu thành. Việc phân chia này giúp cho cuộc kiểm toán được thực hiện dễ dàng hơn. Có hai cách cơ bản để phân chia các Báo cáo tài chính thành các phần hành cơ bản: phân theo khoản mục hoặc phân theo chu trình.Phân theo khoản mục là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự trong các Báo cáo tài chính vào một phần hành. Cách phân chia này đơn giản nhưng không hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau nhưng lại có liên hệ chặt chẽ với nhau như: doanh thu và các khoản phải thu khách hàng. Tuy nhiên hiện nay, cách thức tiếp cận này vẫn được phần lớn các công ty kiểm toán ở Việt Nam áp dụng.Phân theo chu trình là cách chia các loại nghiệp vụ và các khoản mục có mối liên hệ chặt chẽ với nhau vào cùng một phần hành. Ví dụ như các nghiệp vụ về tiền lương, các khoản trích theo lương... đều nằm trong chu trình lao động và tiền lương. Cách phân chia này hiệu quả hơn do đã tính đến mối liên hệ vốn có của các nghiệp vụ và khắc phục được nhược điểm của phương pháp tiếp cận các báo cáo tài chính theo khoản mục. Theo cách phân chia này, kiểm toán báo cáo tài chính thường gồm các phần hành cơ bản sau: + Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền+ Kiểm toán tiền mặt (tại két, tại ngân hàng hoặc tiền đang chuyển)+ Kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán+ Kiểm toán chu trình tiền và nhân viên+ Kiểm toán chu trình hàng tồn kho+ Kiểm toán chu trình huy động – hoàn trả vốnII.QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH1.Khái quát chung về khoản mục nợ phải trả1.1Nội dung khoản mục nợ phải trảNợ phải trả là các nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp, phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp sẽ phải thanh toán từ các nguồn lực của mình.Nợ phải trả là một chỉ tiêu quan trọng góp phần hình thành nên tài sản của doanh nghiệp, thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các nguồn lực bên ngoài. Trên thực tế, không có một doanh nghiệp nào chỉ sử dụng hoàn toàn nguồn vốn chủ sở hữu để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh vì hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng, nguồn vốn chủ sở hữu có thể không đủ để đáp ứng yêu cầu thanh toán của doanh nghiệp. Hơn nữa việc kết hợp sử dụng một cách đúng đắn giữa nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi chiếm dụng là một cách thức hiệu quả giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nếu nợ phải trả không được quản lý chặt chẽ sẽ làm cho doanh nghiệp mất cân đối về tài chính và mất khả năng thanh toán, đe dọa đến sự tồn tại của doanh nghiệp.Trong các khoản nợ phải trả thì nợ phải trả người bán và các khoản vay ngắn hạn, dài hạn được xem là nguồn tài trợ quan trọng cho tài sản của doanh nghiệp. Do đó trong phạm vi luận văn, ngoài các khoản nợ phải trả nói chung, em xin đi sâu vào nghiên cứu các khoản mục: nợ phải trả người bán và vay ngắn hạn, dài hạn.Nợ phải trả người bán là những món nợ chưa thanh toán về hàng hóa và dịch vụ nhận được trong tiến trình kinh doanh bình thường. Nợ phải trả người bán bao gồm các món nợ của việc mua vào nguyên vật liệu, thiết bị, điện nước, sửa chữa và rất nhiều sản phẩm, dịch vụ khác mà doanh nghiệp nhận được trước ngày kết thúc năm. 1.2. Phân loại các khoản nợ phải trả.Theo cách phân chia để trình bày trên BCĐKT thì nợ phải trả được phân thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn tùy theo thời hạn của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, cụ thể như sau:Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì nợ phải trả được thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm được xếp vào nợ ngắn hạn. Nợ phải trả được thanh toán sau 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm được xếp vào loại dài hạn.Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường dài hơn 12 tháng thì nợ phải trả được thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thường được xếp vào loại ngắn hạn. Nợ phải trả được thanh toán trong thời gian dài hơn một chu kỳ kinh doanh bình thường được xếp vào loại dài hạn.Đối với doanh nghiệp do tính chất hoạt động không thể dựa vào chu kỳ kinh doanh để phân biệt giữa ngắn hạn và dài hạn thì nợ phải trả được trình bày theo tính thanh khoản giảm dần.Thông thường các doanh nghịêp sử dụng các khoản nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động, còn khoản nợ dài hạn được sử dụng để tài trợ cho tài sản cố định và đầu tư dài hạn do các doanh nghiệp muốn đảm bảo khả năng thanh toán của mình ở mức an toàn.1.3. Kiểm soát nội bộ đối với các khoản nợ phải trả.Kiểm soát nội bộ đối với các khoản nợ phải trả là các thủ tục kiểm soát do đơn vị thiết lập nhằm ngăn chặn những gian lận và sai sót xảy ra đối với các khoản nợ phải trả. Các thủ tục kiểm soát này rất phong phú vì còn phụ thuộc vào nhu cầu của từng đơn vị cũng như phong cách điều hành của nhà quản lý. Ở đây, em xin tập trung vào các thủ tục kiểm soát nội bộ quan trọng được áp dụng đối với các khoản phải trả nhà cung cấp và các khoản vay.Kiểm soát nội bộ đối với các khoản phải trả nhà cung cấp: nợ phải trả người bán gắn liền với quá trình mua hàng và thanh toán do đó các thủ tục kiểm soát nội bộ đối với nợ phải trả người bán cũng gắn liền với chu trình mua hàng và thanh toán. Các thủ tục kiểm soát chủ yếu đó là:+Các hóa đơn mua hàng được đánh số thứ tự để tránh việc ghi trùng cũng như ghi thiếu các nghiệp vụ phát sinh.+Doanh nghiệp có thủ tục quy định việc ghi sổ càng sớm càng tốt sau khi nhận được hàng hóa và dịch vụ để các nghiệp vụ mua hàng được ghi sổ đúng lúc, tránh việc ghi thiếu cũng như ghi nhầm sang kỳ sau.+Đối với những hóa đơn mua hàng đã thanh toán phải được kẹp với phiếu chi (nếu doanh nghiệp thanh toán bằng tiền mặt).+Có sự tách biệt trách nhiệm giữa kế toán thanh toán và kế toán tiền mặt tránh việc cá nhân lợi dụng để rút tiền của đơn vị.+Đối với các nhà cung cấp thường xuyên, doanh nghiệp phải mở sổ chi tiết theo dõi cho từng đối tượng. Các nhà cung cấp vãng lai có thể được theo dõi trên cùng một sổ chi tiết.+Vào cuối tháng, doanh nghiệp có thực hiện việc đối chiếu giữa sổ chi tiết người bán với báo cáo hàng tháng của nhà cung cấp đó và báo cáo của ngân hàng. Công việc này phải được thực hiện bởi một người độc lập.Kiểm soát nội bộ đối với các khoản vay: Kiểm soát nội bộ đối với các khoản vay chủ yếu là thực hiện nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn từ lúc khoản vay được hình thành cho đến khi hoàn trả. Đối với các khoản vay nhỏ hay có tính chất tạm thời, Ban Giám đốc có thể quyết định theo chính sách của đơn vị. Những khoản vay lớn hay dài hạn cần có sự chấp thuận của Hội đồng quản trị hoặc người được ủy quyền. Người phụ trách về tài chính phải chuẩn bị một báo cáo về kế hoạch vay trong đó phải có giải trình về nhu cầu và hiệu quả của khoản vay.Các khoản vay phải được theo dõi trên sổ chi tiết mở cho từng chủ nợ và theo từng khoản vay. Hàng tháng, số liệu này phải được đối chiếu với sổ cái và những khoản vay dài hạn phải định kỳ đối chiếu với chủ nợ.2. Vai trò và mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính2.1Vai trò kiểm toán khoản mục nợ phải trả Nợ phải trả là một khoản mục quan trọng trên Báo cáo tài chính vì những sai lệch về các khoản nợ phải trả có thể gây ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính về các mặt: + Tình hình tài chính: Các tỷ suất quan trọng phản ánh khả năng thanh toán và tình hình tài chính của doanh nghiệp đều có liên quan đến khoản mục nợ phải trả:  Nhóm tỷ suất phản ánh khả năng năng thanh toán: Tỷ suất thanh toán hiện hành (Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn Nợ ngắn hạn): tỷ suất này bằng 2 được xem là hợp lý, tỷ suất này càng lớn hơn 2 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn tuy nhiên nếu tỷ suất này quá cao thì cũng không tốt vì doanh nghiệp nên đảm bảo sự phù hợp và cân bằng giữa việc bị chiếm dụng vốn và đi chiếm dụng vốn. Tỷ suất thanh toán nhanh (Vốn bằng tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn + Các khoản phải thu Nợ ngắn hạn) (tỷ suất này bằng 1 là thỏa đáng, càng lớn hơn 1 thì khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp càng cao, ngược lại thì doanh nghiệp càng khó khăn trong thanh toán công nợ ngắn hạn). Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn (Tổng tài sản lưu động Tổng số nợ phải trả): tỷ suất này không những có ý nghĩa đối với việc đánh giá khả năng thanh toán mà còn có tác dụng xem xét khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp để có ý kiến nhận xét thích hợp trong Báo cáo Kiểm toán. Tỷ suất này càng nhỏ hơn 1 thì nguy cơ phá sản của doanh nghiệp càng lớn.Ngoài ra nợ phải trả còn có liên quan đến một số tỷ suất phản ánh khả năng thanh toán khác như: tỷ suất khả năng thanh toán tức thời (Vốn bằng tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạnNợ ngắn hạn)... Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính: tỷ suất nợ (Tổng số nợ phải trả Tổng nguồn vốn); tỷ suất tự tài trợ (1 tỷ suất nợ): tỷ suất nợ càng nhỏ (có nghĩa là tỷ suất tự tài trợ càng lớn) thì khả năng độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp đối với các chủ nợ càng lớn.Các tỷ suất tài chính trên có ảnh hưởng rất lớn đến đánh giá về tình hình tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp nên những sai lệch về nợ phải trả sẽ dẫn đến những sai lệch về tình hình tài chính cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp. + Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà cung cấp, phần lớn hoạt động mua bán này không được thanh toán ngay, do bút toán ghi sổ kép nên những sai lệch về khoản nợ phải trả có thể sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các khoản mục khác: nguyên vật liệu, chi phí quản lý doanh nghiệp,...những sai lệch này sẽ làm ảnh hưởng đến các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp: giá vốn hàng bán, lợi nhuận trước thuế. Với tầm quan trọng như trên, các kiểm toán viên cần phải rất thận trọng khi xây dựng chương trình kiểm toán cho các khoản mục nợ phải trả.2.2. Mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải trảTính hợp lý chung: số dư các tài khoản nợ phải trả và các số dư chi tiết trong sổ hạch toán chi tiết nợ phải trả đều hợp lý.Các mục tiêu đặc thù:Tính có thật: các khoản nợ phải trả được phản ánh trên sổ sách kế toán là thực sự xảy ra, không có khoản nào bị ghi khống.Tính đầy đủ: tất cả các khoản nợ phải trả đều được ghi sổ, không có khoản nào bị bỏ sót.Sự đánh giá: các khoản nợ phải trả được đánh giá đúng đắn. Tính chính xác cơ học: các khoản nợ phải trả được tính toán và cộng dồn, chuyển sổ, sang trang chính xác.Phân loại và trình bày: các khoản nợ phải trả được phân loại và trình bày đúng theo các quy định của chuẩn mực kế toán hiện hành.Quyền và nghĩa vụ: tất cả các khoản nợ phải trả đang được phản ánh đều là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp.3. Quy trình kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính.Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán có hiệu lực làm căn cứ cho những ý kiến của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của các Báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, và kết thúc kiểm toán. Kiểm toán các khoản nợ phải trả là một phần hành trong kiểm toán do đó quy trình kiểm toán các khoản nợ phải trả cũng gắn liền với quy trình chung của cuộc kiểm toán.3.1. Lập kế hoạch kiểm toán Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 Lập kế hoạch kiểm toán: “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán đế đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả”, và “Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán”.Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán, có vai trò quan trọng chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Do đó các công ty phải xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp với đơn vị mình và phù hợp với từng nhóm khách hàng cụ thể.Ý nghĩa của lập kế hoạch kiểm toán:+ Kế hoạch kiểm toán được lập một cách đầy đủ sẽ giúp kiểm toán viên thu được bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực vì kế hoạch kiểm toán giúp cho các kiểm toán viên phối hợp ăn ý với nhau trong công việc cũng như không thực hiện sót các công việc cần thiết. Cuộc kiểm toán được thực hiện tốt sẽ giúp công ty giữ vững được uy tín nghề nghiệp và duy trì được khách hàng.+ Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên có thể kiểm soát và giữ chi phí ở mức phù hợp. Các công ty kiểm toán cũng là một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, lợi nhuận là yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của công ty. Chi phí kiểm toán cao dẫn đến phí dịch vụ kiểm toán cao, do đó công ty khó có đủ sức cạnh tranh trên thị trường.+ Kế hoạch kiểm toán thích hợp giúp công ty kiểm toán hạn chế những bất đồng với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểm toán thống nhất với khách hàng về nội dung công việc cần thực hiện, sự phối hợp, giúp đỡ của khách hàng đối với các kiểm toán viên, trách nhiệm của mỗi bên...+ Ngoài ra, kế hoạch kiểm toán còn là căn cứ để kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả cuộc kiểm toán.Lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch kiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc như sau: Sơ đồ 1.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán 3.1.1. Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán Quy trình kiểm toán được bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán thu nhận một khách hàng. Trong một lĩnh vực phải chịu nhiều cạnh tranh như kiểm toán, việc có và giữ được một khách hàng tuy có thể khó khăn nhưng kiểm toán viên vẫn cần thận trọng khi tiếp nhận khách hàng bởi vì nếu cuộc kiểm toán không được thực hiện tốt thì trách nhiệm pháp lý mà các công ty kiểm toán phải gánh chịu là rất lớn. Nhìn chung các công ty kiểm toán phải cân nhắc các vấn đề sau đây:Đánh giá khả năng thực hiện kiểm toán: việc đánh giá này dựa vào:+ Khả năng có thể kiểm toán của khách hàng: khả năng có thể kiểm toán của khách hàng được xác định căn cứ vào một số yếu tố: tính liêm chính của Ban Giám đốc và hệ thống kế toán của khách hàng... + Năng lực và tính độc lập của công ty kiểm toán: Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán “Trong quá trình duy trì khách hàng hiện có và đánh giá khách hàng tiềm năng, công ty kiểm toán phải cân nhắc đến tính độc lập và năng lực phục vụ khách hàng của công ty kiểm toán”. Công ty kiểm toán không nên nhận lời kiểm toán khi tính độc lập không được đảm bảo hoặc xét thấy không đủ năng lực phục vụ khách hàng.+ Nhận diện các lí do kiểm toán của công ty khách hàng: thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việc xác định người sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sử dụng của họ: nếu các Báo cáo tài chính được sử dụng càng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên Báo cáo tài chính được đòi hỏi càng cao do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập càng nhiều.Về cơ bản, khách hàng của các công ty kiểm toán được chia thành hai nhóm: nhóm khách hàng tiềm năng và nhóm khách hàng cũ. Đối với nhóm khách hàng cũ, kiểm toán viên đã có những thông tin nhất định thu được qua lần kiểm toán trước, do đó kiểm toán viên chỉ cần cập nhật, bổ sung các thông tin mới về khách hàng. Đối với khách hàng mới: nếu những khách hàng này trước đây chưa từng được Công ty kiểm toán nào kiểm toán thì để có thông tin về khách hàng, kiểm toán viên có thể tìm hiểu qua sách báo, tạp chí chuyên ngành, thẩm tra các bên có liên quan như ngân hàng, cố vấn pháp lý, các bên có mối quan hệ tài chính buôn bán với khách hàng...thậm chí có thể thuê các nhà điều tra chuyên nghiệp để điều tra về vấn đề cần thiết khác. Trong trường hợp đơn vị khách hàng đã có kiểm toán viên tiền nhiệm thì kiểm toán viên mới phải chủ động liên lạc với kiểm toán viên cũ vì đây là nguồn thông tin đầu tiên để đánh giá khách hàng: tính chính trực của các nhà quản lý đơn vị, các bất đồng giữa hai bên (nếu có), lý do khiến họ không tiếp tục cộng tác với nhau...Tuy nhiên việc thiết lập mối quan hệ giữa kiểm toán viên kế tục với kiểm toán viên tiền nhiệm phải được sự chấp thuận của khách hàng. Kiểm toán viên phải rất thận trọng trong các trường hợp sau:+ Khách hàng không đồng ý cho tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm+ Đã xảy ra những bất đồng nghiêm trọng giữa kiểm toán viên tiền nhiệm với công ty khách hàng+ Qua ý kiến của kiểm toán tiền nhiệm, kiểm toán viên mới đã phát hiện ra những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên về khả năng có thể kiểm toán được của công ty khách hàng.Ngoài việc tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm, kiểm toán viên mới có thể thu thập thông tin về khách hàng tiềm năng giống như cách thức thu thập thông tin đối với khách hàng cũ.Lựa chọn đội ngũ nhân viên Sau khi đánh giá khả năng có thể chấp nhận cuộc kiểm toán, công ty kiểm toán tiến hành lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán. Đội ngũ nhân viên kiểm toán phải đảm bảo hai yếu tố: năng lực chuyên môn và tính độc lập. Theo Chuẩn mực Kiểm toán chung được thừa nhận GAAS “quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo như một kiểm toán viên”. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính có quy định: kiểm toán viên không được nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế cũng như những đơn vị mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc (bố, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị em ruột) với những người trong bộ máy quản lý của đơn vị được kiểm toán. Ngoài ra, đối với khách hàng lâu năm, một mặt tổ chức kiểm toán nên hạn chế việc thường xuyên thay đổi kiểm toán viên vì những kiểm toán viên đã thực hiện việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng thì họ đã nắm được những nét đặc thù trong kinh doanh cũng như đặc điểm quan trọng của công ty khách hàng, do đó tiết kiệm được chi phí kiểm toán năm tiếp theo và duy trì được mối liên hệ mật thiết giữa hai bên...Mặt khác, tổ chức kiểm toán phải có chính sách luân chuyển kiểm toán viên để tránh việc quá quen thuộc với khách hàng dẫn đến sức ỳ về tâm lý và kiểm tra theo lối mòn hoặc mất đi tính khách quan độc lập...Kí kết hợp đồng kiểm toán Khi đã chấp nhận kiểm toán cho khách hàng, bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán mà Công ty kiểm toán phải thực hiện là ký kết hợp đồng kiểm toán. Hợp đồng kiểm toán là sự thỏa thuận chính thức giữa khách hàng và công ty kiểm toán về các vấn đề liên quan đến cuộc kiểm toán. “Hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng và của công ty kiểm toán (Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 210 Hợp đồng kiểm toán).Hợp đồng kiểm toán thường bao gồm các nội dung chính sau: mục đích và phạm vi kiểm toán, trách nhiệm của Ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toán viên, hình thức thông báo kết quả kiểm toán, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán, căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.3.1.2. Thu thập thông tin cơ sởNhững thông tin cơ sở mà kiểm toán viên cần thu thập được để phục vụ cho quá trình lập kế hoạch bao gồm:Thu thập kiến thức chung về ngành nghề kinh doanh của khách hàng: để hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các thông tin thu được trong suốt cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải hiểu được những đặc thù nổi bật trong lĩnh vực kinh doanh của khách hàng. Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có hệ thống kế toán và nguyên tắc kế toán riêng. Thêm vào đó, tầm quan trọng của mỗi nguyên tắc kế toán cũng thay đổi theo ngành kinh doanh của khách hàng. Thí dụ, trong lĩnh vực bán lẻ thì việc đánh giá hàng tồn kho là rất quan trọng nhưng trong lĩnh vực xây dựng thì điều quan trọng lại là tiêu chuẩn xác định doanh thu. Những kiến thức này kiểm toán viên có thể thu thập thông qua sách báo chuyên ngành, các Hiệp hội ngành...số liệu của ngành có thể lấy từ Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hằng năm.Thu thập kiến thức về hoạt động kinh doanh của khách hàng: trong cùng một lĩnh vực, ngoài những đặc thù chung của ngành thì mỗi công ty lại có những đặc điểm riêng biệt khác nhau ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh: vốn, cơ cấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất... Kiểm toán viên có thể thu thập những kiến thức này thông qua:+Xem xét Báo cáo tài chính và hồ sơ kiểm toán các năm trước (nếu có) của đơn vị: những tài liệu này thường chứa đựng rất nhiều những thông tin đặc trưng của khách hàng và xu hướng thay đổi, phát triển của khách hàng trong tương lai.+Xem xét các chính sách của công ty: những chính sách này ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động của khách hàng: chính sách tín dụng... nhưng lại không được phản ánh trong số sách kế toán và có thể thay đổi qua các năm.+Tham quan nhà xưởng: việc tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt động kinh doanh của khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy tai nghe về quy trình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Ngoài ra, kiểm toán viên cũng có những nhận định ban đầu về phong cách quản lý của Ban giám đốc, tính hệ thống trong việc tổ chức, sắp đặt công việc...+Ngoài ra, kiểm toán viên có thể thu thập thông tin qua việc trao đổi với nhân viên của khách hàng, với các kiểm toán viên khác và các nhà tư vấn...Nhận diện các bên hữu quan: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 550 – Các bên liên quan: “các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả năng kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định tài chính và hoạt động”. Các nghiệp vụ giữa các bên hữu quan có có ảnh hưởng lớn đến nhận định của người sử dụng Báo cáo tài chính. Do vậy, kiểm toán viên phải xác định các bên hữu quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số Sử dụng tư liệu của chuyên gia: “chuyên gia là một cá nhân hoặc tổ chức có năng lực, kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn cao trong một lĩnh vực riêng biệt ngoài lĩnh vực kế toán và kiểm toán”. Kiểm toán viên phải dự kiến nhu cầu chuyên gia để đảm bảo chuyên gia đã có sẵn khi cần và có đủ năng lực, tính khách quan để đảm nhận công việc.3.1.3. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tíchThu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàngHoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự điều tiết của rất nhiều các quy định khác nhau. Những quy định này không chỉ là các văn bản pháp luật mang tính cưỡng chế của nhà nước đối với các tế bào trong nền kinh tế mà còn là các quy định riêng doanh nghiệp phải tuân thủ trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Những quy định này được thể hiện trong các tài liệu sau:+Giấy phép thành lập và điều lệ công ty: đây là tài liệu quy định những vấn đề mang tính chất nội bộ của đơn vị: cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu...+Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc: là những tài liệu chính thức về các vấn đề quan trọng: xét duyệt mua bán, phê chuẩn giải thể hoặc hợp nhất các đơn vị trực thuộc...+Các hợp đồng và cam kết quan trọng: hợp đồng mua, bán hàng...+Ngoài ra, các quy định mà doanh nghiệp phải tuân thủ còn được thể hiện trong các công văn của cơ quan quản lý. Thí dụ: công văn của Cục Hải quan đồng ý cho doanh nghiệp có sử dụng nguyên vật liệu, phụ tùng nhập khẩu áp dụng tỉ lệ nội địa hóa đối với một số mặt hàng.Thực hiện các thủ tục phân tíchTheo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520 – Quy trình phân tích: “Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”. Chuẩn mực này cũng quy định kiểm toán viên phải thực hiện thủ tục phân tích trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế hoạch, thủ tục phân tích giúp kiểm toán viên: +Tăng cường hiểu biết về công việc kinh doanh của khách hàng: thông qua thủ tục phân tích, kiểm toán viên có thể nhận biết được tình hình tài chính và những biến động quan trọng trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.+Xác định những vùng có thể có rủi ro: những chênh lệch lớn ngoài dự kiến giữa số liệu tài chính chưa được kiểm toán ở năm hiện hành so với số liệu so sánh là vấn đề quan trọng mà kiểm toán viên cần phải lưu ý và tìm ra nguyên nhân vì khả năng xảy ra sai phạm trong các trường hợp này là rất lớn. +Đánh giá khả năng hoạt động liên tục của khách hàng: giả định hoạt động liên tục là một nguyên tắc cơ bản khi lập và trình bày báo cáo tài chính do đó khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên không thể không xem xét đến tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp “trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải cân nhắc những sự kiện hoặc điều kiện có thể gây ra sự nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị” (Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 570 Hoạt động liên tục). Thủ tục phân tích chính là một công cụ hữu hiệu giúp kiểm toán viên đánh giá vấn đề này. Thí dụ: dựa trên các tỷ suất thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp, kiểm toán viên có thể đánh giá liệu doanh nghiệp có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với các đối tác không? Nếu không thì đây chính là một yếu tố quan trọng đe dọa đến khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp.Thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bản:+Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính. Các chỉ tiêu phân tích ngang thường sử dụng: So sánh số liệu giữa các kỳ với nhauSo sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch hoặc số liệu ước tính của kiểm toán viênSo sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu chung của ngành+Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên Báo cáo tài chính. Các tỷ suất tài chính thường dùng trong phân tích dọc bao gồm: các tỷ suất về khả năng thanh toán, tỷ suất về khả năng sinh, tỷ suất về cơ cấu vốn...Như vậy, thông qua thủ tục phân tích, kiểm toán viên có thể xác định được nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính. Mức độ, phạm vi và thời gian áp dụng các thủ tục phân tích thay đổi tùy thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp trong hoạt động kinh doanh của khách hàng. 3.1.4. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toánĐánh giá tính trọng yếuNhư trên đã nói, mục tiêu của kiểm toán Báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của các Báo cáo tài chính trên các khía cạnh trọng yếu. Điều này có nghĩa là khi thực hiện cuộc kiểm toán, kiểm toán viên chỉ cần quan tâm đến các sai phạm trọng yếu. Vậy, trọng yếu là gì? Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 – Tính trọng yếu trong kiểm toán: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong BCTC. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng Báo cáo tài chính” và “Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính”.Như vậy, để đưa ra mức trọng yếu thích hợp, kiểm toán viên phải có hiểu biết về những người sử dụng BCTC và các quyết định sẽ đưa ra của họ trong các trường hợp khác nhau. Do đó, xét đoán về tính trọng yếu là một công việc khó khăn và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của kiểm toán viên.Báo cáo Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế SAS 47 quy định “kiểm toán viên nên xem xét rủi ro kiểm toán và vấn đề trọng yếu trong khi lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế các thủ tục kiểm toán cũng như khi đưa ra kết luận kiểm toán”. Các bước công việc liên quan đến trọng yếu kiểm toán viên phải thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán:+ Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu: Sự ước lượng bước đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở mức đó các báo cáo có thể bị sai nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng hợp lý. Sự ước lượng này sẽ thường xuyên thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán khi các tình huống thay đổi hoặc có sự xuất hiện các nhân tố mới.Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu thường được kiểm toán viên đánh giá theo quy mô. Có hai hướng đánh giá: quy mô tuyệt đối và quy mô tương đối.Kiểm toán viên có thể sử dụng con số tuyệt đối để đánh giá tính trọng yếu. Tuy nhiên một sai số có quy mô nhất định có thể là trọng yếu đối với một công ty nhỏ nhưng lại không trọng yếu đối với một công ty lớn hơn. Do đó, quy mô tương đối được kiểm toán viên sử dụng phổ biến hơn.Căn cứ để tính toán mức trọng yếu có thể được quy định như sau:Bảng 1.1 Căn cứ để tính toán mức trọng yếuKhoản mụcChắc chắn không trọng Có thể trọng yếuChắc chắn trọng yếu yếuBCĐKT0.5% tổng tài sản sảnBCKQKD10% lợi nhuận trước thuếtrước thuế +Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: Mức trọng yếu đối với từng khoản mục chính là sai lệch tối đa được phép đối với từng khoản mục. Số tiền này được tính dựa trên mức trọng yếu tổng thể đã được ước lượng. Đây là một công việc cần thiết vì trước khi đưa ra ý kiến kết luận về tính trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá tính trung thực và hợp lý cho từng bộ phận, khoản mục trên Báo cáo tài chính.Kiểm toán viên thường phân bổ tính trọng yếu cho các tài khoản trên BCĐKT thay vì phân bổ cho các tài khoản trên BCKQKD vì: các sai phạm ảnh hưởng đến BCKQKD thì đều ảnh hưởng tới BCĐKT vì bút toán ghi sổ kép và hầu hết các thể thức thường tập trung vào các tài khoản trên BCĐKT.Kiểm toán viên phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục theo hai phía: sai số theo hướng lớn hơn tức là số liệu trên sổ sách lớn hơn thực tế (overstatement) và sai số theo hướng nhỏ hơn tức là số liệu trên sổ sách nhỏ hơn thực tế (understatement). Căn cứ để kiểm toán viên tiến hành phân bổ là:+Chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục+Kinh nghiệm của kiểm toán viên về khả năng sai phạm của từng khoản mục, nghiệp vụ và mức độ ảnh hưởng của sai phạm đó tới tính trung thực hợp lý của Báo cáo tài chính.Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản nợ phải trả: các khoản nợ phải trả thể hiện nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp nên các khoản này thường bị cố tình khai thiếu để làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hơn. Do đó, kiểm toán viên thường phân bổ mức trọng yếu theo hướng số liệu trên sổ sách nhỏ hơn so với thực tế. Ngoài ra, đối với nợ phải trả cho người bán và các khoản vay (vay ngắn hạn, vay dài hạn) là những khoản mục có liên quan đến bên thứ 3, đòi hỏi sự trình bày trung thực, hợp lý càng cao nên kiểm toán viên thường phân bổ mức trọng yếu thấp cho các khoản mục này.Đánh giá rủi ro kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm 3 bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau. Mức trọng yếu càng thấp thì rủi ro kiểm toán càng cao và ngược lại.Kiểm toán viên thường đưa ra một mức rủi ro kiểm toán mong muốn, là mức rủi ro chấp nhận được về việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét không xác đáng về Báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Mỗi kiểm toán viên sẽ đưa ra một mức rủi ro kiểm toán khác nhau cho các cuộc kiểm toán khác nhau. Điều này phụ thuộc vào xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên. Một số nhân tố có ảnh hưởng đến xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên về mức rủi ro kiểm toán mong muốn, đó là:+Số người sử dụng Báo cáo tài chính của đơn vị: Báo cáo tài chính của đơn vị được càng nhiều người quan tâm thì mức rủi ro kiểm toán mong muốn càng thấp. Để đánh giá xem liệu Báo cáo tài chính của đơn vị có được nhiều người quan tâm không, kiểm toán viên có thể dựa vào: quy mô của công ty khách hàng, số người sở hữu công ty và bản chất, quy mô công nợ.+Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán được công bố.+Quan niệm của kiểm toán viên về mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được: mỗi kiểm toán viên có quan niệm về mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được khác nhau. Một số kiểm toán rất thận trọng, họ luôn muốn hạn chế tối đa nguy cơ bị kiện và bị mất uy tín nghề nghiệp.+Trình độ, kinh nghiệm làm việc của kiểm toán viên: các kiểm toán viên giỏi sẽ dễ dàng thực hiện một cuộc kiểm toán có chất lượng cao với chi phí thấp. Do đó, họ thường đưa ra một mức rủi ro kiểm toán thấp hơn những kiểm toán viên khác.+Đạo đức của kiểm toán: một số kiểm toán viên luôn mong muốn thực hiện một cuộc kiểm toán chất lượng cao để đảm bảo quyền lợi cho những người sử dụng Báo cáo tài chính kể cả khi họ phải chấp nhận một mức lợi nhuận thấp hơn.Rủi ro kiểm toán mong muốn đối với các khoản nợ phải trả được kiểm toán viên xác định dựa vào rủi ro kiểm toán mong muốn đối với toàn bộ Báo cáo tài chính vì nhìn chung rủi ro kiểm toán thường được xác định ở cùng một mức cho tất cả các khoản mục, nghiệp vụ. Tuy nhiên, đối với một số khách hàng mà kiểm toán cho rằng các khoản công nợ phải trả là đặc biệt quan trọng thì rủi ro kiểm toán mong muốn đối với các khoản nợ phải trả sẽ thấp hơn.Mối quan hệ giữa các loại rủi ro được thể hiện qua mô hình sau:AR = IR x CR x DRHay: DR = AR(IR x CR)IR (rủi ro tiềm tàng): là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng khoản mục, nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ (Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ).Rủi ro tiềm tàng phải được xác định cụ thể cho từng khoản mục, nghiệp vụ liên quan đến từng cơ sở dẫn liệu. Mặc dù đối với những doanh nghiệp khác nhau thì đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng đối với các khoản nợ phải trả là khác nhau nhưng nhìn chung rủi ro tiềm tàng đối với các khoản nợ phải trả được đánh giá theo các cơ sở dẫn liệu như sau: Đầy đủ: đây là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm nhất liên quan đến các khoản nợ phải trả vì như trên đã nói: nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp nên dễ bị khai thiếu để làm cho tình hình tài chính phản ánh trên Báo cáo tài chính tốt hơn thực tế. Rủi ro tiềm tàng đối với cơ sở dẫn liệu này cao.Tồn tại hoặc phát sinh: mặc dù cơ sở dẫn liệu này ít bị vi phạm hơn nhưng vẫn có những trường hợp nợ phải trả bị khai khống để rút tiền của đơn vị một cách bất hợp pháp.Phân loại và trình bày: sự phân loại sai đối với các khoản nợ phải trả cũng làm người sử dụng Báo cáo tài chính hiểu sai khả năng thanh toán thực tế của đơn vị do đó đây cũng là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm. Rủi ro tiềm tàng đối với cơ sở dẫn liệu này cũng được đánh giá ở mức cao.Tính giá: đây là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm đối với các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ. Doanh nghiệp phải nắm vững và cập nhật các nguyên tắc hạch toán cơ bản đối với các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ.CR (rủi ro kiểm soát): phụ thuộc vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại. Vấn đề này sẽ được xem xét kỹ hơn trong phần sau.DR (rủi ro phát hiện): Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng khoản mục, nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện ra được. Rủi ro phát hiện là yếu tố chính của mô hình vì “mức độ rủi ro phát hiện có liên quan trực tiếp đến thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên” (Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400, đoạn 43).Rủi ro phát hiện được kiểm toán viên xác định dựa vào rủi ro kiểm toán, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng kiểm toán phải thu thập được thể hiện qua bảng sau:Bảng 1.2 Các mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng phải thu thậpTrường Rủi ro kiểm Rủi ro tiềm Rủi ro kiểm Rủi ro phát Số lượng bằng chứng hợp toán tàng soát hiện cần thu thập1CaoThấp ThấpCaoThấp2ThấpThấpThấpTrung bìnhTrung bình3ThấpCaoCaoThấpTrung bình4Trung bìnhTrung bìnhTrung bìnhTrung bìnhTrung bình5Cao ThấpTrung bìnhTrung bìnhTrung bìnhNguồn: Auditing – Alvin A.Arens, Jame K.Loebbecke3.1.5. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát.

Trang 1

Luận văn tốt nghiệp

MỞ ĐẦU

Trên thế giới, dịch vụ kiểm toán được coi là một trong những dịch vụ có tínhchuyên nghiệp cao và có ý nghĩa lớn trong việc tạo lập một môi trường kinh doanhminh bạch và hiệu quả Ở Việt Nam, mặc dù hoạt động kiểm toán độc lập mới chỉthực sự xuất hiện từ sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế nhưng do đòi hỏi khách quancủa nền kinh tế cũng như sự khuyến khích phát triển của nhà nước, ngành dịch vụkiểm toán đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam Cho tới nay, số lượng các công tykiểm toán đã tăng lên đáng kể, các dịch vụ cung cấp không ngừng được đa dạnghóa Tuy nhiên, kiểm toán tài chính vẫn được xem là một dịch vụ quan trọng hơn cả

vì các Báo cáo tài chính do các doanh nghiệp lập ra là đối tượng quan tâm của rấtnhiều người Trong các phần hành của kiểm toán Báo cáo tài chính thì kiểm toán nợphải trả là một nội dung quan trọng vì nó có liên quan trực tiếp tới khả năng thanhtoán và do đó cũng ảnh hưởng tới sự tồn tại của đơn vị Chính vì vậy, kiểm toánkhoản mục nợ phải trả được xem là một phần việc quan trọng đối với các công tykiểm toán

Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam là một trong những công ty có uy tínlớn trong ngành kiểm toán Qua thời gian thực tập tại công ty, em đã nắm bắt đượcrất nhiều kiến thức thực tiễn liên quan đến kiểm toán Báo cáo tài chính nói chung vàkiểm toán khoản mục nợ phải trả nói riêng Đây chính là cơ sở để em hoàn thành

luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán

Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện” Trong

phạm vi luận văn, em xin tập trung đi sâu vào nghiên cứu kiểm toán các khoản phảitrả nhà cung cấp và vay ngắn hạn, vay dài hạn

Nội dung của luận văn gồm 3 phần chính:

Phần 1: Cơ sở lí luận về kiểm toán khoản mục nợ phải trả trong kiểm toán Báocáo tài chính

Phần 2: Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính doCông ty Kiểm toán và định giá Việt Nam (VAE) thực hiện

Trang 2

Luận văn tốt nghiệp

Phần 3: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán cáckhoản nợ phải trả do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo ThS PhanTrung Kiên cùng sự giúp đỡ của toàn thể các anh chị kiểm toán viên trong công ty

đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Hà Nội, tháng 6/2006

Trang 3

Luận văn tốt nghiệp

PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

I. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1 Khái niệm và mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính

1.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính

Thuật ngữ “kiểm toán” mới chỉ thực sự xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từhơn chục năm trở lại đây Trên thế giới, có rất nhiều quan niệm về kiểm toán và chođến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất Song nhìn chung có thể khái quátquan niệm hiện đại về kiểm toán như sau: “Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày

tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp

kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên

có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệulực”

Kiểm toán có thể phân loại dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau: theo đối tượng

cụ thể, theo phương pháp áp dụng, theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểmtoán Nếu căn cứ theo đối tượng cụ thể thì kiểm toán bao gồm ba loại: kiểm toánbáo cáo tài chính, kiểm toán nghiệp vụ (hoạt động) và kiểm toán liên kết Trong đókiểm toán báo cáo tài chính được xem là loại hình kiểm toán lâu đời và có ý nghĩanhất ngay từ khi ra đời và phát triển “kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động xácminh và bày tỏ ý kiến về sự trình bày trung thực và hợp lý của các bảng khai tàichính do các kiểm toán viên chuyên nghiệp tiến hành theo luật định”

1.2 Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính

Trong cơ chế thị trường, có rất nhiều người quan tâm đến tình hình tài chính

và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: các cơ quan nhà nước cần có thông tin đểđiều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh tế nói chungđối với mọi thành phần kinh tế, các nhà đầu tư cần có thông tin để có hướng đầu tưđúng dắn, các khách hàng và nhà cung cấp cũng cần hiểu rõ về tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệp để có quyết định kinh doanh phù hợp Những thông tin quantrọng về doanh nghiệp lại được phản ánh khá đầy đủ trên Báo cáo tài chính: “báo

Trang 4

Luận văn tốt nghiệp

cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiệnhành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu củađơn vị” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bảnchi phối kiểm toán báo cáo tài chính) Do đó các bảng khai tài chính mà bộ phậnquan trọng là các Báo cáo tài chính trở thành đối tượng quan tâm của nhiều người.Tuy nhiên, để những thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp thực sự hữuích thì những thông tin đó phải là những thông tin trung thực, hợp lý, phản ánh đượckhái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp Do đó kiểm toán tài chính ra đời với

ý nghĩa quan trọng là tạo niềm tin cho những người quan tâm Điều này là nhân tốquyết định chi phối mục tiêu hoạt động của loại hình kiểm toán này

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bảnchi phối kiểm toán báo cáo tài chính “mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính làgiúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáotài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đượcchấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trêncác khía cạnh trọng yếu hay không?” Như vậy có thể thấy rằng mục tiêu của kiểmtoán tài chính là nhằm đảm bảo báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp

lý xét trên các khía cạnh trọng yếu chứ không đảm bảo rằng tất cả các thông tin trênbáo cáo tài chính đều là những thông tin trung thực vì hoạt động kinh tế của doanhnghiệp rất đa dạng, các nghiệp vụ phát sinh nhiều, việc đảm bảo rằng tất cả cácthông tin trình bày trên báo cáo tài chính đều trung thực,hợp lý là điều rất khó khăn,tốn kém và cũng không cần thiết đối với những người sử dụng Báo cáo tài chính Ngoài mục tiêu trên, “mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp chođơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng caochất lượng thông tin tài chính của đơn vị” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200).Những yếu điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như cách thức khắc phục đượckiểm toán viên trình bày trong thư quản lý

Tuy nhiên, người sử dụng báo cáo tài chính cũng cần hiểu rằng “ý kiến củakiểm toán viên làm tăng thêm sự tin cậy của báo cáo tài chính nhưng người sử dụngbáo cáo tài chính không thể cho rằng ý kiến của kiểm toán viên là sự đảm bảo về

Trang 5

Luận văn tốt nghiệp

khả năng tồn tại của doanh nghiệp trong tương lai cũng như hiệu quả và hiệu lựcđiều hành của bộ máy quản lý” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, đoạn 12).Trên thực tế đã xảy ra khá nhiều vụ kiện các công ty kiểm toán do quan niệm sailầm này

2 Phương pháp tiếp cận của kiểm toán báo cáo tài chính

Các cuộc kiểm toán được thực hiện bằng cách chia các báo cáo tài chính thànhtừng phần nhỏ hoặc từng yếu tố cấu thành Việc phân chia này giúp cho cuộc kiểmtoán được thực hiện dễ dàng hơn Có hai cách cơ bản để phân chia các Báo cáo tàichính thành các phần hành cơ bản: phân theo khoản mục hoặc phân theo chu trình

Phân theo khoản mục là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặc nhóm

các khoản mục theo thứ tự trong các Báo cáo tài chính vào một phần hành Cáchphân chia này đơn giản nhưng không hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vịtrí khác nhau nhưng lại có liên hệ chặt chẽ với nhau như: doanh thu và các khoảnphải thu khách hàng Tuy nhiên hiện nay, cách thức tiếp cận này vẫn được phần lớncác công ty kiểm toán ở Việt Nam áp dụng

Phân theo chu trình là cách chia các loại nghiệp vụ và các khoản mục có mối

liên hệ chặt chẽ với nhau vào cùng một phần hành Ví dụ như các nghiệp vụ về tiềnlương, các khoản trích theo lương đều nằm trong chu trình lao động và tiền lương.Cách phân chia này hiệu quả hơn do đã tính đến mối liên hệ vốn có của các nghiệp

vụ và khắc phục được nhược điểm của phương pháp tiếp cận các báo cáo tài chínhtheo khoản mục Theo cách phân chia này, kiểm toán báo cáo tài chính thường gồmcác phần hành cơ bản sau: + Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền

+ Kiểm toán tiền mặt (tại két, tại ngân hàng hoặc tiền đang chuyển)

+ Kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán

+ Kiểm toán chu trình tiền và nhân viên

+ Kiểm toán chu trình hàng tồn kho

+ Kiểm toán chu trình huy động – hoàn trả vốn

II. QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Trang 6

Luận văn tốt nghiệp

1 Khái quát chung về khoản mục nợ phải trả

1.1 Nội dung khoản mục nợ phải trả

Nợ phải trả là các nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp, phát sinh từ các giaodịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp sẽ phải thanh toán từ các nguồn lực củamình

Nợ phải trả là một chỉ tiêu quan trọng góp phần hình thành nên tài sản củadoanh nghiệp, thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các nguồn lực bênngoài Trên thực tế, không có một doanh nghiệp nào chỉ sử dụng hoàn toàn nguồnvốn chủ sở hữu để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh vì hoạt động củadoanh nghiệp rất đa dạng, nguồn vốn chủ sở hữu có thể không đủ để đáp ứng yêucầu thanh toán của doanh nghiệp Hơn nữa việc kết hợp sử dụng một cách đúng đắngiữa nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi chiếm dụng là một cách thức hiệu quảgiúp doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh Tuy nhiên, nếu nợ phải trả không được quản lý chặt chẽ sẽ làm chodoanh nghiệp mất cân đối về tài chính và mất khả năng thanh toán, đe dọa đến sựtồn tại của doanh nghiệp

Trong các khoản nợ phải trả thì nợ phải trả người bán và các khoản vay ngắnhạn, dài hạn được xem là nguồn tài trợ quan trọng cho tài sản của doanh nghiệp Do

đó trong phạm vi luận văn, ngoài các khoản nợ phải trả nói chung, em xin đi sâuvào nghiên cứu các khoản mục: nợ phải trả người bán và vay ngắn hạn, dài hạn

Nợ phải trả người bán là những món nợ chưa thanh toán về hàng hóa và dịch

vụ nhận được trong tiến trình kinh doanh bình thường Nợ phải trả người bán baogồm các món nợ của việc mua vào nguyên vật liệu, thiết bị, điện nước, sửa chữa vàrất nhiều sản phẩm, dịch vụ khác mà doanh nghiệp nhận được trước ngày kết thúcnăm

1.2 Phân loại các khoản nợ phải trả.

Theo cách phân chia để trình bày trên BCĐKT thì nợ phải trả được phân thành

nợ ngắn hạn và nợ dài hạn tùy theo thời hạn của chu kỳ kinh doanh bình thường củadoanh nghiệp, cụ thể như sau:

Trang 7

Luận văn tốt nghiệp

Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 thángthì nợ phải trả được thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toánnăm được xếp vào nợ ngắn hạn Nợ phải trả được thanh toán sau 12 tháng kể từngày kết thúc kỳ kế toán năm được xếp vào loại dài hạn

Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường dài hơn 12 tháng thì

nợ phải trả được thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thường đượcxếp vào loại ngắn hạn Nợ phải trả được thanh toán trong thời gian dài hơn một chu

kỳ kinh doanh bình thường được xếp vào loại dài hạn

Đối với doanh nghiệp do tính chất hoạt động không thể dựa vào chu kỳ kinhdoanh để phân biệt giữa ngắn hạn và dài hạn thì nợ phải trả được trình bày theo tínhthanh khoản giảm dần

Thông thường các doanh nghịêp sử dụng các khoản nợ ngắn hạn để tài trợ chotài sản lưu động, còn khoản nợ dài hạn được sử dụng để tài trợ cho tài sản cố định

và đầu tư dài hạn do các doanh nghiệp muốn đảm bảo khả năng thanh toán của mình

ở mức an toàn

1.3 Kiểm soát nội bộ đối với các khoản nợ phải trả.

Kiểm soát nội bộ đối với các khoản nợ phải trả là các thủ tục kiểm soát do đơn

vị thiết lập nhằm ngăn chặn những gian lận và sai sót xảy ra đối với các khoản nợphải trả Các thủ tục kiểm soát này rất phong phú vì còn phụ thuộc vào nhu cầu củatừng đơn vị cũng như phong cách điều hành của nhà quản lý Ở đây, em xin tậptrung vào các thủ tục kiểm soát nội bộ quan trọng được áp dụng đối với các khoảnphải trả nhà cung cấp và các khoản vay

Kiểm soát nội bộ đối với các khoản phải trả nhà cung cấp: nợ phải trả người

bán gắn liền với quá trình mua hàng và thanh toán do đó các thủ tục kiểm soát nội

bộ đối với nợ phải trả người bán cũng gắn liền với chu trình mua hàng và thanhtoán Các thủ tục kiểm soát chủ yếu đó là:

+Các hóa đơn mua hàng được đánh số thứ tự để tránh việc ghi trùng cũng nhưghi thiếu các nghiệp vụ phát sinh

Trang 8

Luận văn tốt nghiệp

+Doanh nghiệp có thủ tục quy định việc ghi sổ càng sớm càng tốt sau khi nhậnđược hàng hóa và dịch vụ để các nghiệp vụ mua hàng được ghi sổ đúng lúc, tránhviệc ghi thiếu cũng như ghi nhầm sang kỳ sau

+Đối với những hóa đơn mua hàng đã thanh toán phải được kẹp với phiếu chi(nếu doanh nghiệp thanh toán bằng tiền mặt)

+Có sự tách biệt trách nhiệm giữa kế toán thanh toán và kế toán tiền mặt tránhviệc cá nhân lợi dụng để rút tiền của đơn vị

+Đối với các nhà cung cấp thường xuyên, doanh nghiệp phải mở sổ chi tiếttheo dõi cho từng đối tượng Các nhà cung cấp vãng lai có thể được theo dõi trêncùng một sổ chi tiết

+Vào cuối tháng, doanh nghiệp có thực hiện việc đối chiếu giữa sổ chi tiếtngười bán với báo cáo hàng tháng của nhà cung cấp đó và báo cáo của ngân hàng Công việc này phải được thực hiện bởi một người độc lập

Kiểm soát nội bộ đối với các khoản vay:

Kiểm soát nội bộ đối với các khoản vay chủ yếu là thực hiện nguyên tắc ủyquyền và phê chuẩn từ lúc khoản vay được hình thành cho đến khi hoàn trả Đối vớicác khoản vay nhỏ hay có tính chất tạm thời, Ban Giám đốc có thể quyết định theochính sách của đơn vị Những khoản vay lớn hay dài hạn cần có sự chấp thuận củaHội đồng quản trị hoặc người được ủy quyền Người phụ trách về tài chính phảichuẩn bị một báo cáo về kế hoạch vay trong đó phải có giải trình về nhu cầu và hiệuquả của khoản vay

Các khoản vay phải được theo dõi trên sổ chi tiết mở cho từng chủ nợ và theotừng khoản vay Hàng tháng, số liệu này phải được đối chiếu với sổ cái và nhữngkhoản vay dài hạn phải định kỳ đối chiếu với chủ nợ

2 Vai trò và mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính

2.1 Vai trò kiểm toán khoản mục nợ phải trả

Nợ phải trả là một khoản mục quan trọng trên Báo cáo tài chính vì những sailệch về các khoản nợ phải trả có thể gây ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính

về các mặt: + Tình hình tài chính: Các tỷ suất quan trọng phản ánh khả năng thanh

Trang 9

Luận văn tốt nghiệp

toán và tình hình tài chính của doanh nghiệp đều có liên quan đến khoản mục nợphải trả:

 Nhóm tỷ suất phản ánh khả năng năng thanh toán:

-Tỷ suất thanh toán hiện hành (Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn/ Nợ ngắnhạn): tỷ suất này bằng 2 được xem là hợp lý, tỷ suất này càng lớn hơn 2 thì khả năngthanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn tuy nhiên nếu tỷ suất này quácao thì cũng không tốt vì doanh nghiệp nên đảm bảo sự phù hợp và cân bằng giữaviệc bị chiếm dụng vốn và đi chiếm dụng vốn

-Tỷ suất thanh toán nhanh (Vốn bằng tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn + Cáckhoản phải thu/ Nợ ngắn hạn) (tỷ suất này bằng 1 là thỏa đáng, càng lớn hơn 1 thìkhả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp càng cao, ngược lại thì doanh nghiệpcàng khó khăn trong thanh toán công nợ ngắn hạn)

-Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn (Tổng tài sản lưu động/ Tổng số nợ phảitrả): tỷ suất này không những có ý nghĩa đối với việc đánh giá khả năng thanh toán

mà còn có tác dụng xem xét khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp để có ýkiến nhận xét thích hợp trong Báo cáo Kiểm toán Tỷ suất này càng nhỏ hơn 1 thìnguy cơ phá sản của doanh nghiệp càng lớn

Ngoài ra nợ phải trả còn có liên quan đến một số tỷ suất phản ánh khả năngthanh toán khác như: tỷ suất khả năng thanh toán tức thời (Vốn bằng tiền + Đầu tưtài chính ngắn hạn/Nợ ngắn hạn)

 Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính: tỷ suất nợ (Tổng số nợ phải trả/ Tổngnguồn vốn); tỷ suất tự tài trợ (1 - tỷ suất nợ): tỷ suất nợ càng nhỏ (có nghĩa là tỷ suất

tự tài trợ càng lớn) thì khả năng độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp đối vớicác chủ nợ càng lớn

Các tỷ suất tài chính trên có ảnh hưởng rất lớn đến đánh giá về tình hình tàichính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp nên những sai lệch về nợ phải trả sẽdẫn đến những sai lệch về tình hình tài chính cũng như khả năng thanh toán củadoanh nghiệp

+ Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: để phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh, doanh nghiệp cần phải mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà cung cấp, phần

Trang 10

Luận văn tốt nghiệp

lớn hoạt động mua bán này không được thanh toán ngay, do bút toán ghi sổ kép nênnhững sai lệch về khoản nợ phải trả có thể sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các khoản mụckhác: nguyên vật liệu, chi phí quản lý doanh nghiệp, những sai lệch này sẽ làm ảnhhưởng đến các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp: giá vốn hàngbán, lợi nhuận trước thuế

Với tầm quan trọng như trên, các kiểm toán viên cần phải rất thận trọng khixây dựng chương trình kiểm toán cho các khoản mục nợ phải trả

2.2 Mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải trả

Tính hợp lý chung: số dư các tài khoản nợ phải trả và các số dư chi tiết trong

sổ hạch toán chi tiết nợ phải trả đều hợp lý

Các mục tiêu đặc thù:

Tính có thật: các khoản nợ phải trả được phản ánh trên sổ sách kế toán là thực

sự xảy ra, không có khoản nào bị ghi khống

Tính đầy đủ: tất cả các khoản nợ phải trả đều được ghi sổ, không có khoản nào

bị bỏ sót

Sự đánh giá: các khoản nợ phải trả được đánh giá đúng đắn

Tính chính xác cơ học: các khoản nợ phải trả được tính toán và cộng dồn,chuyển sổ, sang trang chính xác

Phân loại và trình bày: các khoản nợ phải trả được phân loại và trình bày đúngtheo các quy định của chuẩn mực kế toán hiện hành

Quyền và nghĩa vụ: tất cả các khoản nợ phải trả đang được phản ánh đều lànghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp

3 Quy trình kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính.

Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểmtoán cũng như để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán có hiệu lực làm căn cứ chonhững ý kiến của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của các Báo cáo tàichính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn: lập

kế hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, và kết thúc kiểm toán Kiểm

Trang 11

Luận văn tốt nghiệp

toán các khoản nợ phải trả là một phần hành trong kiểm toán do đó quy trình kiểmtoán các khoản nợ phải trả cũng gắn liền với quy trình chung của cuộc kiểm toán

3.1 Lập kế hoạch kiểm toán

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán:

“Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán đế đảm bảo cuộckiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả”, và “Kế hoạch kiểm toán phải đượclập cho mọi cuộc kiểm toán”

Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán, có vaitrò quan trọng chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểmtoán Do đó các công ty phải xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp với đơn vị mình

và phù hợp với từng nhóm khách hàng cụ thể

Ý nghĩa của lập kế hoạch kiểm toán:

+ Kế hoạch kiểm toán được lập một cách đầy đủ sẽ giúp kiểm toán viên thuđược bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực vì kế hoạch kiểm toán giúp cho các kiểmtoán viên phối hợp ăn ý với nhau trong công việc cũng như không thực hiện sót cáccông việc cần thiết Cuộc kiểm toán được thực hiện tốt sẽ giúp công ty giữ vữngđược uy tín nghề nghiệp và duy trì được khách hàng

+ Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên có thể kiểm soát và giữ chi phí ởmức phù hợp Các công ty kiểm toán cũng là một doanh nghiệp hoạt động vì mụctiêu lợi nhuận, lợi nhuận là yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển củacông ty Chi phí kiểm toán cao dẫn đến phí dịch vụ kiểm toán cao, do đó công tykhó có đủ sức cạnh tranh trên thị trường

+ Kế hoạch kiểm toán thích hợp giúp công ty kiểm toán hạn chế những bấtđồng với khách hàng Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểm toán thống nhấtvới khách hàng về nội dung công việc cần thực hiện, sự phối hợp, giúp đỡ củakhách hàng đối với các kiểm toán viên, trách nhiệm của mỗi bên

+ Ngoài ra, kế hoạch kiểm toán còn là căn cứ để kiểm soát và đánh giá chấtlượng công việc kiểm toán, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả cuộc kiểmtoán

Trang 12

Luận văn tốt nghiệp

Lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạchkiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc như sau:

Sơ đồ 1.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán

3.1.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Quy trình kiểm toán được bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán thunhận một khách hàng Trong một lĩnh vực phải chịu nhiều cạnh tranh như kiểmtoán, việc có và giữ được một khách hàng tuy có thể khó khăn nhưng kiểm toánviên vẫn cần thận trọng khi tiếp nhận khách hàng bởi vì nếu cuộc kiểm toán khôngđược thực hiện tốt thì trách nhiệm pháp lý mà các công ty kiểm toán phải gánh chịu

là rất lớn Nhìn chung các công ty kiểm toán phải cân nhắc các vấn đề sau đây:

Đánh giá khả năng thực hiện kiểm toán: việc đánh giá này dựa vào:

+ Khả năng có thể kiểm toán của khách hàng: khả năng có thể kiểm toán củakhách hàng được xác định căn cứ vào một số yếu tố: tính liêm chính của Ban Giámđốc và hệ thống kế toán của khách hàng

+ Năng lực và tính độc lập của công ty kiểm toán: Theo chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam số 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán “Trong quá trình duytrì khách hàng hiện có và đánh giá khách hàng tiềm năng, công ty kiểm toán phải

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Thu thập thông tin cơ sở

Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi

ro kiểm soát

Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo

chương trình kiểm toán

Trang 13

Luận văn tốt nghiệp

cân nhắc đến tính độc lập và năng lực phục vụ khách hàng của công ty kiểm toán”.Công ty kiểm toán không nên nhận lời kiểm toán khi tính độc lập không được đảmbảo hoặc xét thấy không đủ năng lực phục vụ khách hàng

+ Nhận diện các lí do kiểm toán của công ty khách hàng: thực chất của việcnhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việc xác định người sửdụng Báo cáo tài chính và mục đích sử dụng của họ: nếu các Báo cáo tài chính được

sử dụng càng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên Báo cáotài chính được đòi hỏi càng cao do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thậpcàng nhiều

Về cơ bản, khách hàng của các công ty kiểm toán được chia thành hai nhóm:nhóm khách hàng tiềm năng và nhóm khách hàng cũ Đối với nhóm khách hàng cũ,kiểm toán viên đã có những thông tin nhất định thu được qua lần kiểm toán trước,

do đó kiểm toán viên chỉ cần cập nhật, bổ sung các thông tin mới về khách hàng.Đối với khách hàng mới: nếu những khách hàng này trước đây chưa từng đượcCông ty kiểm toán nào kiểm toán thì để có thông tin về khách hàng, kiểm toán viên

có thể tìm hiểu qua sách báo, tạp chí chuyên ngành, thẩm tra các bên có liên quannhư ngân hàng, cố vấn pháp lý, các bên có mối quan hệ tài chính buôn bán vớikhách hàng thậm chí có thể thuê các nhà điều tra chuyên nghiệp để điều tra về vấn

đề cần thiết khác Trong trường hợp đơn vị khách hàng đã có kiểm toán viên tiềnnhiệm thì kiểm toán viên mới phải chủ động liên lạc với kiểm toán viên cũ vì đây lànguồn thông tin đầu tiên để đánh giá khách hàng: tính chính trực của các nhà quản

lý đơn vị, các bất đồng giữa hai bên (nếu có), lý do khiến họ không tiếp tục cộng tácvới nhau Tuy nhiên việc thiết lập mối quan hệ giữa kiểm toán viên kế tục với kiểmtoán viên tiền nhiệm phải được sự chấp thuận của khách hàng Kiểm toán viên phảirất thận trọng trong các trường hợp sau:

+ Khách hàng không đồng ý cho tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm

+ Đã xảy ra những bất đồng nghiêm trọng giữa kiểm toán viên tiền nhiệm vớicông ty khách hàng

Trang 14

Luận văn tốt nghiệp

+ Qua ý kiến của kiểm toán tiền nhiệm, kiểm toán viên mới đã phát hiện ranhững vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên về khả năng

có thể kiểm toán được của công ty khách hàng

Ngoài việc tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm, kiểm toán viên mới có thểthu thập thông tin về khách hàng tiềm năng giống như cách thức thu thập thông tinđối với khách hàng cũ

Lựa chọn đội ngũ nhân viên

Sau khi đánh giá khả năng có thể chấp nhận cuộc kiểm toán, công ty kiểm toántiến hành lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán Đội ngũ nhân viên kiểmtoán phải đảm bảo hai yếu tố: năng lực chuyên môn và tính độc lập Theo Chuẩnmực Kiểm toán chung được thừa nhận GAAS “quá trình kiểm toán phải được thựchiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo như một kiểmtoán viên” Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bảnchi phối kiểm toán báo cáo tài chính có quy định: kiểm toán viên không được nhậnlàm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tếcũng như những đơn vị mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc (bố, mẹ, vợ,chồng, con cái, anh chị em ruột) với những người trong bộ máy quản lý của đơn vịđược kiểm toán

Ngoài ra, đối với khách hàng lâu năm, một mặt tổ chức kiểm toán nên hạn chếviệc thường xuyên thay đổi kiểm toán viên vì những kiểm toán viên đã thực hiệnviệc cung cấp dịch vụ cho khách hàng thì họ đã nắm được những nét đặc thù trongkinh doanh cũng như đặc điểm quan trọng của công ty khách hàng, do đó tiết kiệmđược chi phí kiểm toán năm tiếp theo và duy trì được mối liên hệ mật thiết giữa haibên Mặt khác, tổ chức kiểm toán phải có chính sách luân chuyển kiểm toán viên đểtránh việc quá quen thuộc với khách hàng dẫn đến sức ỳ về tâm lý và kiểm tra theolối mòn hoặc mất đi tính khách quan độc lập

Kí kết hợp đồng kiểm toán

Khi đã chấp nhận kiểm toán cho khách hàng, bước cuối cùng trong giai đoạnchuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán mà Công ty kiểm toán phải thực hiện là ký kết hợpđồng kiểm toán Hợp đồng kiểm toán là sự thỏa thuận chính thức giữa khách hàng

Trang 15

Luận văn tốt nghiệp

và công ty kiểm toán về các vấn đề liên quan đến cuộc kiểm toán “Hợp đồng kiểmtoán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằmbảo vệ lợi ích của khách hàng và của công ty kiểm toán (Chuẩn mực Kiểm toán ViệtNam số 210 - Hợp đồng kiểm toán)

Hợp đồng kiểm toán thường bao gồm các nội dung chính sau: mục đích vàphạm vi kiểm toán, trách nhiệm của Ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toánviên, hình thức thông báo kết quả kiểm toán, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán,căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán

3.1.2 Thu thập thông tin cơ sở

Những thông tin cơ sở mà kiểm toán viên cần thu thập được để phục vụ choquá trình lập kế hoạch bao gồm:

Thu thập kiến thức chung về ngành nghề kinh doanh của khách hàng: để hiểu

được đầy đủ ý nghĩa của các thông tin thu được trong suốt cuộc kiểm toán, kiểmtoán viên phải hiểu được những đặc thù nổi bật trong lĩnh vực kinh doanh của kháchhàng Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có hệ thống kế toán và nguyên tắc kếtoán riêng Thêm vào đó, tầm quan trọng của mỗi nguyên tắc kế toán cũng thay đổitheo ngành kinh doanh của khách hàng Thí dụ, trong lĩnh vực bán lẻ thì việc đánhgiá hàng tồn kho là rất quan trọng nhưng trong lĩnh vực xây dựng thì điều quantrọng lại là tiêu chuẩn xác định doanh thu Những kiến thức này kiểm toán viên cóthể thu thập thông qua sách báo chuyên ngành, các Hiệp hội ngành số liệu củangành có thể lấy từ Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hằng năm

Thu thập kiến thức về hoạt động kinh doanh của khách hàng: trong cùng một

lĩnh vực, ngoài những đặc thù chung của ngành thì mỗi công ty lại có những đặcđiểm riêng biệt khác nhau ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh: vốn, cơcấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất Kiểm toán viên có thể thu thậpnhững kiến thức này thông qua:

+Xem xét Báo cáo tài chính và hồ sơ kiểm toán các năm trước (nếu có) củađơn vị: những tài liệu này thường chứa đựng rất nhiều những thông tin đặc trưngcủa khách hàng và xu hướng thay đổi, phát triển của khách hàng trong tương lai

Trang 16

Luận văn tốt nghiệp

+Xem xét các chính sách của công ty: những chính sách này ảnh hưởng quantrọng tới hoạt động của khách hàng: chính sách tín dụng nhưng lại không đượcphản ánh trong số sách kế toán và có thể thay đổi qua các năm

+Tham quan nhà xưởng: việc tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạtđộng kinh doanh của khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắtthấy tai nghe về quy trình sản xuất kinh doanh của khách hàng Ngoài ra, kiểm toánviên cũng có những nhận định ban đầu về phong cách quản lý của Ban giám đốc,tính hệ thống trong việc tổ chức, sắp đặt công việc

+Ngoài ra, kiểm toán viên có thể thu thập thông tin qua việc trao đổi với nhânviên của khách hàng, với các kiểm toán viên khác và các nhà tư vấn

Nhận diện các bên hữu quan: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 550 –

Các bên liên quan: “các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả năng kiểmsoát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định tài chính vàhoạt động” Các nghiệp vụ giữa các bên hữu quan có có ảnh hưởng lớn đến nhậnđịnh của người sử dụng Báo cáo tài chính Do vậy, kiểm toán viên phải xác định cácbên hữu quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này ngay trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán

Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam

số - Sử dụng tư liệu của chuyên gia: “chuyên gia là một cá nhân hoặc tổ chức cónăng lực, kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn cao trong một lĩnh vực riêng biệtngoài lĩnh vực kế toán và kiểm toán” Kiểm toán viên phải dự kiến nhu cầu chuyêngia để đảm bảo chuyên gia đã có sẵn khi cần và có đủ năng lực, tính khách quan đểđảm nhận công việc

3.1.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích

Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự điều tiết của rất nhiều các quyđịnh khác nhau Những quy định này không chỉ là các văn bản pháp luật mang tínhcưỡng chế của nhà nước đối với các tế bào trong nền kinh tế mà còn là các quy địnhriêng doanh nghiệp phải tuân thủ trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình

Trang 17

Luận văn tốt nghiệp

+Giấy phép thành lập và điều lệ công ty: đây là tài liệu quy định những vấn đềmang tính chất nội bộ của đơn vị: cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của cácphòng ban, thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu

+Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc: là nhữngtài liệu chính thức về các vấn đề quan trọng: xét duyệt mua bán, phê chuẩn giải thểhoặc hợp nhất các đơn vị trực thuộc

+Các hợp đồng và cam kết quan trọng: hợp đồng mua, bán hàng

+Ngoài ra, các quy định mà doanh nghiệp phải tuân thủ còn được thể hiệntrong các công văn của cơ quan quản lý Thí dụ: công văn của Cục Hải quan đồng ýcho doanh nghiệp có sử dụng nguyên vật liệu, phụ tùng nhập khẩu áp dụng tỉ lệ nộiđịa hóa đối với một số mặt hàng

Thực hiện các thủ tục phân tích

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520 – Quy trình phân tích: “Quytrình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng qua đótìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn vớicác thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”.Chuẩn mực này cũng quy định kiểm toán viên phải thực hiện thủ tục phân tích trongtất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán Trong giai đoạn lập kế hoạch, thủ tục phântích giúp kiểm toán viên: +Tăng cường hiểu biết về công việc kinh doanh của kháchhàng: thông qua thủ tục phân tích, kiểm toán viên có thể nhận biết được tình hình tàichính và những biến động quan trọng trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.+Xác định những vùng có thể có rủi ro: những chênh lệch lớn ngoài dự kiếngiữa số liệu tài chính chưa được kiểm toán ở năm hiện hành so với số liệu so sánh làvấn đề quan trọng mà kiểm toán viên cần phải lưu ý và tìm ra nguyên nhân vì khảnăng xảy ra sai phạm trong các trường hợp này là rất lớn

+Đánh giá khả năng hoạt động liên tục của khách hàng: giả định hoạt độngliên tục là một nguyên tắc cơ bản khi lập và trình bày báo cáo tài chính do đó khilập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên không thể không xem xét đến tính liên tụchoạt động của doanh nghiệp “trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toánviên và công ty kiểm toán phải cân nhắc những sự kiện hoặc điều kiện có thể gây ra

Trang 18

Luận văn tốt nghiệp

sự nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị” (Chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam số 570 - Hoạt động liên tục) Thủ tục phân tích chính là một công cụhữu hiệu giúp kiểm toán viên đánh giá vấn đề này Thí dụ: dựa trên các tỷ suất thểhiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp, kiểm toán viên có thể đánh giá liệudoanh nghiệp có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với các đối tác không?Nếu không thì đây chính là một yếu tố quan trọng đe dọa đến khả năng hoạt độngliên tục của doanh nghiệp

Thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bản:

+Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở sosánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính Các chỉ tiêu phân tíchngang thường sử dụng:

 So sánh số liệu giữa các kỳ với nhau

 So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch hoặc số liệu ước tính của kiểm toán viên

 So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu chung của ngành

+Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các

tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên Báo cáo tài chính.Các tỷ suất tài chính thường dùng trong phân tích dọc bao gồm: các tỷ suất về khảnăng thanh toán, tỷ suất về khả năng sinh, tỷ suất về cơ cấu vốn

Như vậy, thông qua thủ tục phân tích, kiểm toán viên có thể xác định được nộidung cơ bản của cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính Mức độ, phạm vi và thời gian ápdụng các thủ tục phân tích thay đổi tùy thuộc vào quy mô và tính chất phức tạptrong hoạt động kinh doanh của khách hàng 3.1.4 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Đánh giá tính trọng yếu

Như trên đã nói, mục tiêu của kiểm toán Báo cáo tài chính là giúp cho kiểmtoán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của các Báocáo tài chính trên các khía cạnh trọng yếu Điều này có nghĩa là khi thực hiện cuộckiểm toán, kiểm toán viên chỉ cần quan tâm đến các sai phạm trọng yếu Vậy, trọngyếu là gì? Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 – Tính trọng yếu trong

Trang 19

Luận văn tốt nghiệp

kiểm toán: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thôngtin (một số liệu kế toán) trong BCTC Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa lànếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đếncác quyết định của người sử dụng Báo cáo tài chính” và “Tính trọng yếu của thôngtin phải xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính”

Như vậy, để đưa ra mức trọng yếu thích hợp, kiểm toán viên phải có hiểu biết

về những người sử dụng BCTC và các quyết định sẽ đưa ra của họ trong các trườnghợp khác nhau Do đó, xét đoán về tính trọng yếu là một công việc khó khăn và chủyếu dựa vào kinh nghiệm của kiểm toán viên

Báo cáo Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế SAS 47 quy định “kiểm toán viên nênxem xét rủi ro kiểm toán và vấn đề trọng yếu trong khi lập kế hoạch kiểm toán vàthiết kế các thủ tục kiểm toán cũng như khi đưa ra kết luận kiểm toán” Các bướccông việc liên quan đến trọng yếu kiểm toán viên phải thực hiện trong giai đoạn lập

kế hoạch kiểm toán:

+ Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu: Sự ước lượng bước đầu về tính trọng yếu

là lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở mức đó các báo cáo có thể bị sai nhưngvẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng hợp lý Sự ướclượng này sẽ thường xuyên thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán khi các tình huốngthay đổi hoặc có sự xuất hiện các nhân tố mới

Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu thường được kiểm toán viên đánh giá theoquy mô Có hai hướng đánh giá: quy mô tuyệt đối và quy mô tương đối

Kiểm toán viên có thể sử dụng con số tuyệt đối để đánh giá tính trọng yếu.Tuy nhiên một sai số có quy mô nhất định có thể là trọng yếu đối với một công tynhỏ nhưng lại không trọng yếu đối với một công ty lớn hơn Do đó, quy mô tươngđối được kiểm toán viên sử dụng phổ biến hơn

Căn cứ để tính toán mức trọng yếu có thể được quy định như sau:

Bảng 1.1 Căn cứ để tính toán mức trọng yếu

Khoản mục Chắc chắn không trọng Có thể trọng yếu Chắc chắn trọng

Trang 20

Luận văn tốt nghiệp

-10% lợi nhuận >-10% lợi nhuận trướcthuế trước thuế

+Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: Mứctrọng yếu đối với từng khoản mục chính là sai lệch tối đa được phép đối với từngkhoản mục Số tiền này được tính dựa trên mức trọng yếu tổng thể đã được ướclượng Đây là một công việc cần thiết vì trước khi đưa ra ý kiến kết luận về tínhtrung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá tính trungthực và hợp lý cho từng bộ phận, khoản mục trên Báo cáo tài chính

Kiểm toán viên thường phân bổ tính trọng yếu cho các tài khoản trên BCĐKTthay vì phân bổ cho các tài khoản trên BCKQKD vì: các sai phạm ảnh hưởng đếnBCKQKD thì đều ảnh hưởng tới BCĐKT vì bút toán ghi sổ kép và hầu hết các thểthức thường tập trung vào các tài khoản trên BCĐKT

Kiểm toán viên phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục theo hai phía: sai

số theo hướng lớn hơn tức là số liệu trên sổ sách lớn hơn thực tế (overstatement) vàsai số theo hướng nhỏ hơn tức là số liệu trên sổ sách nhỏ hơn thực tế(understatement) Căn cứ để kiểm toán viên tiến hành phân bổ là:

+Chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục

+Kinh nghiệm của kiểm toán viên về khả năng sai phạm của từng khoản mục,nghiệp vụ và mức độ ảnh hưởng của sai phạm đó tới tính trung thực hợp lý của Báocáo tài chính

Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản nợ phải trả: các khoản nợ phải trả thểhiện nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp nên các khoản này thường bị cố tình khaithiếu để làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hơn Do đó, kiểm toánviên thường phân bổ mức trọng yếu theo hướng số liệu trên sổ sách nhỏ hơn so vớithực tế Ngoài ra, đối với nợ phải trả cho người bán và các khoản vay (vay ngắnhạn, vay dài hạn) là những khoản mục có liên quan đến bên thứ 3, đòi hỏi sự trìnhbày trung thực, hợp lý càng cao nên kiểm toán viên thường phân bổ mức trọng yếuthấp cho các khoản mục này

Trang 21

Luận văn tốt nghiệp

Đánh giá rủi ro kiểm toán

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soátnội bộ: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ýkiến nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn cónhững sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm toán bao gồm 3 bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi

ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”

Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Mứctrọng yếu càng thấp thì rủi ro kiểm toán càng cao và ngược lại

Kiểm toán viên thường đưa ra một mức rủi ro kiểm toán mong muốn, là mứcrủi ro chấp nhận được về việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét không xác đáng

về Báo cáo tài chính đã được kiểm toán Mỗi kiểm toán viên sẽ đưa ra một mức rủi

ro kiểm toán khác nhau cho các cuộc kiểm toán khác nhau Điều này phụ thuộc vàoxét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên Một số nhân tố có ảnh hưởng đến xétđoán nghề nghiệp của kiểm toán viên về mức rủi ro kiểm toán mong muốn, đó là:+Số người sử dụng Báo cáo tài chính của đơn vị: Báo cáo tài chính của đơn vịđược càng nhiều người quan tâm thì mức rủi ro kiểm toán mong muốn càng thấp

Để đánh giá xem liệu Báo cáo tài chính của đơn vị có được nhiều người quan tâmkhông, kiểm toán viên có thể dựa vào: quy mô của công ty khách hàng, số người sởhữu công ty và bản chất, quy mô công nợ

+Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toánđược công bố

+Quan niệm của kiểm toán viên về mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được: mỗikiểm toán viên có quan niệm về mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được khác nhau.Một số kiểm toán rất thận trọng, họ luôn muốn hạn chế tối đa nguy cơ bị kiện và bịmất uy tín nghề nghiệp

+Trình độ, kinh nghiệm làm việc của kiểm toán viên: các kiểm toán viên giỏi

sẽ dễ dàng thực hiện một cuộc kiểm toán có chất lượng cao với chi phí thấp Do đó,

họ thường đưa ra một mức rủi ro kiểm toán thấp hơn những kiểm toán viên khác

Trang 22

Luận văn tốt nghiệp

+Đạo đức của kiểm toán: một số kiểm toán viên luôn mong muốn thực hiệnmột cuộc kiểm toán chất lượng cao để đảm bảo quyền lợi cho những người sử dụngBáo cáo tài chính kể cả khi họ phải chấp nhận một mức lợi nhuận thấp hơn

Rủi ro kiểm toán mong muốn đối với các khoản nợ phải trả được kiểm toánviên xác định dựa vào rủi ro kiểm toán mong muốn đối với toàn bộ Báo cáo tàichính vì nhìn chung rủi ro kiểm toán thường được xác định ở cùng một mức cho tất

cả các khoản mục, nghiệp vụ Tuy nhiên, đối với một số khách hàng mà kiểm toáncho rằng các khoản công nợ phải trả là đặc biệt quan trọng thì rủi ro kiểm toánmong muốn đối với các khoản nợ phải trả sẽ thấp hơn

Mối quan hệ giữa các loại rủi ro được thể hiện qua mô hình sau:

AR = IR x CR x DRHay: DR = AR/(IR x CR)

IR (rủi ro tiềm tàng): là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng khoản mục,

nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu khi tính riêng

rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ (Chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ)

Rủi ro tiềm tàng phải được xác định cụ thể cho từng khoản mục, nghiệp vụliên quan đến từng cơ sở dẫn liệu Mặc dù đối với những doanh nghiệp khác nhauthì đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng đối với các khoản nợ phải trả làkhác nhau nhưng nhìn chung rủi ro tiềm tàng đối với các khoản nợ phải trả đượcđánh giá theo các cơ sở dẫn liệu như sau:

Đầy đủ: đây là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm nhất liên quan đến các khoản nợphải trả vì như trên đã nói: nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp nên dễ

bị khai thiếu để làm cho tình hình tài chính phản ánh trên Báo cáo tài chính tốt hơnthực tế Rủi ro tiềm tàng đối với cơ sở dẫn liệu này cao

Tồn tại hoặc phát sinh: mặc dù cơ sở dẫn liệu này ít bị vi phạm hơn nhưng vẫn

có những trường hợp nợ phải trả bị khai khống để rút tiền của đơn vị một cách bấthợp pháp

Phân loại và trình bày: sự phân loại sai đối với các khoản nợ phải trả cũng làm người sử dụng Báo cáo tài chính hiểu sai khả năng thanh toán thực tế của đơn vị do

Trang 23

Luận văn tốt nghiệp

đó đây cũng là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm Rủi ro tiềm tàng đối với cơ sở dẫn liệu này cũng được đánh giá ở mức cao

Tính giá: đây là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm đối với các khoản nợ phải trả cógốc ngoại tệ Doanh nghiệp phải nắm vững và cập nhật các nguyên tắc hạch toán cơbản đối với các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ

CR (rủi ro kiểm soát): phụ thuộc vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Hệ

thống kiểm soát nội bộ của đơn vị càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp vàngược lại Vấn đề này sẽ được xem xét kỹ hơn trong phần sau

DR (rủi ro phát hiện): Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong

từng khoản mục, nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp

mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện

ra được Rủi ro phát hiện là yếu tố chính của mô hình vì “mức độ rủi ro phát hiện cóliên quan trực tiếp đến thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên” (Chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam số 400, đoạn 43)

Rủi ro phát hiện được kiểm toán viên xác định dựa vào rủi ro kiểm toán, rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát Mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng kiểm toán phảithu thập được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.2 Các mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng phải thu thập

Trường Rủi ro kiểm Rủi ro tiềm Rủi ro kiểm Rủi ro phát Số lượng bằng chứng hợp toántàng soát hiện cần thu thập

2 Thấp Thấp Thấp Trung bình Trung bình

4 Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình

5 Cao Thấp Trung bình Trung bình Trung bình

Nguồn: Auditing – Alvin A.Arens, Jame K.Loebbecke

3.1.5 Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát.

Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểmsoát là một phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện tronggiai đoạn lập kế hoạch kiểm toán “Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống

kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán

Trang 24

Luận văn tốt nghiệp

tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả” (Chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiếm soát nội bộ)

Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từngkhoản mục trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kếtoán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửachữa kịp thời Ngoài ý nghĩa là giúp kiểm toán viên đưa ra mức rủi ro phát hiện dựkiến, rủi ro kiểm soát còn có ảnh hưởng trực tiếp đến các phương pháp kiểm toáncần áp dụng: vấn đề này sẽ được xem xét dưới đây

Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục nhằm bốnmục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảođảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả hoạt động

Hệ thống kiểm soát của đơn vị bao gồm 4 yếu tố chính:

+Môi trường kiểm soát: gồm các yếu tố bên trong (đặc thù về quản lý, cơ cấu

tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban kiểm soát ) và các yếu tốbên ngoài đơn vị (sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, môitrường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước ) Môi trường kiểm soát mạnh sẽ

hỗ trợ đáng kể cho các thủ tục kiểm soát phát huy tác dụng

+Hệ thống kế toán: là các quy định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn vịđược kiểm toán áp dụng để thực hiện các ghi chép kế toán và lập Báo cáo tài chính +Các thủ tục kiểm soát: là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiếtlập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể Cácthủ tục kiểm soát này được thiết lập trong đơn vị dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản:nguyên tắc phân công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc ủyquyền và phê chuẩn

+Kiểm toán nội bộ: là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiếnhành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộđơn vị

Kiểm toán viên xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị trên hai mặt:thiết kế và hoạt động liên tục, có hiệu lực của kiểm soát nội bộ Những hiểu biết củakiểm toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ thường được thể hiện theo một trong 3cách sau: bảng tường thuật về kiểm soát nội bộ, bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát

Trang 25

Luận văn tốt nghiệp

nội bộ và lưu đồ Ngoài ra, kiểm toán viên có thể sử dụng kết hợp cả ba loại trên để

có hiểu biết rõ nét hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng

Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là có hiệu quả thì rủi ro kiểmsoát thấp và ngược lại Rủi ro kiểm soát luôn tồn tại do hệ thống kiểm soát nội bộ dùđược thiết kế hoàn hảo đến đâu cũng không thể ngăn ngừa hay phát hiện mọi saiphạm có thể xảy, đó là những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ

Quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát đối với các khoản nợ phải trả được thựchiện theo các bước sau:

+Nhận diện các mục tiêu kiểm soát chủ yếu đối với các khoản nợ phải trả: mụctiêu kiểm soát chủ yếu đối với các khoản nợ phải trả cũng là các cơ sở dẫn liệu dễ bị

vi phạm vì hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế để ngăn chặn, phát hiện và sửachữa những sai phạm có thể xảy ra trong đơn vị Do đó, mục tiêu quan trọng đối vớicác khoản nợ phải trả là đầy đủ và trình bày

+Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù: Quá trình kiểm soát đặc thù là cácthủ tục kiểm soát có ảnh hưởng lớn nhất đến việc thỏa mãn các mục tiêu kiểm soátchủ yếu Thí dụ: đối với cơ cở dẫn liệu “đầy đủ” của nợ phải trả người bán thì quátrình kiểm soát đặc thù là đánh số thứ tự các hóa đơn mua hàng, có sự đối chiếugiữa Sổ chi tiết công nợ phải trả với Báo cáo của người bán vào cuối tháng Quátrình kiểm soát nội bộ đối với nợ phải trả người bán đã được trình bày ở phần trên.+Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ: sựthiếu sót của các quá trình kiểm soát thích đáng sẽ làm tăng rủi ro kiểm soát Kiểmtoán viên so sánh giữa thủ tục kiểm soát cần có với thủ tục kiểm soát hiện tại củadoanh nghiệp để tìm ra nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ

+Đánh giá rủi ro kiểm soát: theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 –Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểmsoát ở mức độ cao đối với cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài chính trong trường hợp:

 Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không đầy đủ

 Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả

Trang 26

Luận văn tốt nghiệp

 Kiểm toán viên không được cung cấp đầy đủ cơ sở để đánh giá

sự đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộcủa khách hàng

Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức tối đa thì kiểm toán viên sẽ bỏ qua các thử nghiệm kiểm soát nhưng nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp hơn tối đa thì các thử nghiệm kiểm soát sẽ được thực hiện ở giai đoạn hai của cuộc kiểm toán Các thử nghiệm này sẽ chứng minh liệu đánh giá ban đầu của kiểm toán viên về rủi

ro kiểm soát là đúng hay sai

3.1.6 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và soạn thảo chương trình kiểm toán.

Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán: “Kếhoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược và phương pháptiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểmtoán” và “Kế hoạch kiểm toán tổng thể phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán”.Hình thức và nội dung của kế hoạch kiểm toán tổng thể phụ thuộc vào quy môkhách hàng và tính chất phức tạp của công việc kiểm toán Những vấn đề mà kiểmtoán viên phải trình bày trong kế hoạch kiểm toán tổng thể là các thông tin chung

mà kiểm toán viên đã thu thập trong 5 bước trên: hiểu biết về hệ thống kế toán và hệthống kiểm soát nội bộ; đánh giá rủi ro và mức độ trọng yếu

Soạn thảo chương trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán là những chỉ dẫn cho kiểm toán viên và trợ lý kiểmtoán về mục tiêu kiểm toán từng phần hành, nội dung, lịch trình và phạm vi của cácthủ tục kiểm toán cụ thể cũng như thời gian ước tính cần thiết cho từng phần hành.Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán quy định:

“Chương trình kiểm toán phải được lập và thực hiện cho mọi cuộc kiểm toán trong

đó xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần thiết đểthực hiện kế hoạch kiểm toán tổng thể”

Kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán sẽ được sửa đổi, bổsung trong quá trình kiểm toán nếu có những tình huống mới phát sinh nằm ngoài

dự đoán hoặc đánh giá ban đầu của kiểm toán viên

Trang 27

Luận văn tốt nghiệp

Chương trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả là những chỉ dẫn cho kiểm toánviên và trợ lý kiểm toán viên về mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải trả, nộidung, lịch trình, phạm vi cũng như thời gian của các thủ tục kiểm toán cần thực hiệnđối với các khoản nợ phải trả

Kiểm toán khoản mục nợ phải trả là một bộ phận quan trọng của kiểm toánBCTC nên việc xây dựng chương trình kiểm toán cho khoản mục này là một côngviệc không thể thiếu trong bất kỳ cuộc kiểm toán nào

Chương trình kiểm toán đối với các khoản phải trả gồm bốn nội dung sau:+Các thủ tục kiểm toán cần sử dụng: là những hướng dẫn chi tiết về các thủtục kiểm toán cần sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán về các khoản phải trả.Các thủ tục này bao gồm: thử nghiệm kiểm soát, thủ tục phân tích và thủ tục kiểmtra chi tiết Các thủ tục kiểm toán này sẽ được trình bày cụ thể trong phần thực hiệnkiểm toán

+Quy mô mẫu chọn: kiểm toán viên phải tiến hành chọn mẫu do các nghiệp vụphát sinh liên quan đến nợ phải trả rất lớn, kiểm toán viên không thể kiểm tra hếtđược Riêng đối với các khoản vay, đặc biệt là vay dài hạn, các nghiệp vụ phát sinh

có thể không nhiều nên kiểm toán viên có thể kiểm toán đối với toàn bộ tổng thể.+Khoản mục được chọn: kiểm toán viên phải chọn được mẫu có tính đại diện

để giảm rủi ro do chọn mẫu Rủi ro chọn mẫu là khả năng mà kết luận của kiểmtoán viên dựa trên mẫu sai lệch so với kết luận mà kiểm toán viên cũng dùng thửnghiệm tương tự để áp dụng đối với toàn bộ tổng thể Đối với các khoản nợ phải trả,đặc biệt là nợ phải trả người bán, kiểm toán viên thường tiến hành chọn mẫu bằng

kỹ thuật phân tầng (phân tổ):

 Phân chia các nghiệp vụ phát sinh vào các nhóm khác nhau dựa theoquy mô (sự phân chia này được áp dụng đối với từng nhà cung cấp) Thí dụ: đối vớinhà cung cấp A, kiểm toán viên xếp các nghiệp vụ phát sinh có quy mô từ 1 triệuđến 50 triệu vào một nhóm vì kiểm toán viên cho rằng mức trọng yếu và rủi ro ởquy mô này gần như nhau Việc phân tầng sẽ làm giảm sự khác biệt trong cùng mộttầng và giúp kiểm toán viên tập trung vào những nghiệp vụ chứa đựng nhiều khảnăng sai phạm Ngoài việc phân nhóm dựa theo quy mô nghiệp vụ phát sinh, kiểm

Trang 28

Luận văn tốt nghiệp

toán viên có thể dựa vào thuộc tính của các khoản phải trả để đưa vào một nhóm:kiểm toán viên có thể xếp tất cả các khoản có số dư Có vào một nhóm vì nhữngkhoản này có khả năng xảy ra sai phạm lớn hơn

 Đối với mỗi nhóm, kiểm toán viên áp dụng cách thức chọn mẫu khácnhau Ví dụ: đối với nhóm có quy mô nghiệp vụ và số lượng phát sinh nhỏ (khôngtrọng yếu) kiểm toán viên có thể bỏ qua, đối với nhóm có quy mô nghiệp vụ lớn màkiểm toán viên đánh giá là rất trọng yếu thì kiểm toán viên có thể kiểm tra toàn bộtổng thể, các nhóm khác có thể áp dụng cách thức chọn mẫu ngẫu nhiên hoặc chọnmẫu phi xác suất

+Thời gian thực hiện: là thời gian bắt đầu và kết thúc việc thực hiện kiểm toáncác khoản nợ phải trả

3.2 Thực hiện kiểm toán

Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình triển khai một cách chủ động vàtích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực

về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứngđầy đủ và tin cậy Như vậy, kế hoạch kiểm toán chỉ là những hướng dẫn chi tiết, còntrong quá trình thực hiện kiểm toán, kinh nghiệm và xét đoán của kiểm toán viên rấtquan trọng vì khi lập kế hoạch, kiểm toán viên không thể lường hết những sự kiệnbất ngờ có thể xảy ra cũng như xét đoán ban đầu của kiểm toán viên về một số vấn

đề có thể chưa đúng Mặc dù vậy, tính khoa học của tổ chức vẫn đòi hỏi kiểm toánviên phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản sau:

+Kiểm toán viên phải tuân thủ chương trình kiểm toán đã xây dựng Mọi thayđổi về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán đều phải có ý kiến thống nhất giữachủ nhiệm kiểm toán và khách hàng

+Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chépnhững nhận định về các nghiệp vụ, các con số, các sự kiện nhằm tích lũy bằngchứng cho các kết luận kiểm toán

+Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán để nhận định rõ mức độ thực hiện so vớikhối lượng công việc chung

Trang 29

Luận văn tốt nghiệp

Dựa trên chương trình kiểm toán đã xây dựng cho các khoản nợ phải trả, kiểmtoán viên thực hiện các thủ tục kiểm toán sau: thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm

cơ bản (thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết số dư, nghiệp vụ) Trong đó thủtục kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ được xem là thủ tục tốn nhiều thời gian vàchi phí nhất nên kiểm toán viên cố gắng hạn chế quy mô của các thủ tục này

Thử nghiệm kiểm soát

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500 - Bằng chứng kiểm toán: “Thửnghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát) là việc kiểm tra để thu thập bằngchứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kếtoán và hệ thống kiểm soát nội bộ” Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện càngnhiều thì thử nghiệm cơ bản được thực hiện càng ít do đó tiết kiệm được thời gian

và chi phí kiểm toán

Tuy nhiên, kiểm toán viên chỉ sử dụng thử nghiệm kiểm soát khi đánh giá banđầu của kiểm toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là tồn tại vàhoạt động có hiệu lực

Các phương pháp cụ thể được áp dụng trong kiểm tra hệ thống kiểm soát nội

bộ bao gồm: điều tra, phỏng vấn, thực hiện lại, kiểm tra từ đầu đến cuối (walkthrough test) và kiểm tra ngược lại Để khẳng định rằng đánh giá ban đầu của kiểmtoán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là đúng, các bằng chứngkiểm toán phải chứng minh được:

+Thiết kế các hoạt động kiểm soát cụ thể của khách hàng thích hợp để ngănngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu

+Hoạt động kiểm soát đã được triển khai theo đúng yêu cầu của thiết kế.Đối với các khoản nợ phải trả, nếu đánh giá ban đầu của kiểm toán viên về hệthống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với các khoản nợ phải trả là tốt thì kiểmtoán viên sẽ thực hiện các thử nghiệm kiểm soát

Để thực hiện thử nghiệm kiểm soát cũng như để đưa ra kết luận về rủi ro kiểmsoát đối với các khoản nợ phải trả, kiểm toán viên cần phải hiểu rõ về các thủ tụckiểm soát nội bộ cơ bản cần có đối với các khoản mục này Sau khi thực hiện thửnghiệm kiểm soát, kiểm toán viên phải trả lời được các câu hỏi sau:

Trang 30

Luận văn tốt nghiệp

+Liệu thiết kế các thủ tục kiểm soát của khách hàng đối với khoản nợ phải trả

có đảm bảo yêu cầu kiểm soát chung cũng như đảm bảo các yêu cầu kiểm soát riêngphù hợp với tình hình của đơn vị hay không?

+Liệu doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm soát nội bộ đã đượcthiết kế đối với khoản mục nợ phải trả hay không?

Nếu sau khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên cho rằng hệ thốngkiểm soát nội bộ đối với các khoản nợ phải trả không tốt như đánh giá ban đầu thìkiểm toán viên phải mở rộng phạm vi các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệpvụ

Cần phân biệt sự khác nhau giữa thể thức để đạt được sự hiểu biết về hệ thốngkiểm soát nội bộ và thử nghiệm kiểm soát đối với các khoản nợ phải trả:

+Các thể thức để có được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với cáckhoản nợ phải trả được thực hiện trong tất cả các cuộc kiểm toán nhưng thử nghiệmkiểm soát chỉ được thực hiện khi đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát của các khoản

nợ phải trả thấp hơn mức tối đa

+Thể thức để đạt được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ được thựchiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán trong khi thử nghiệm kiểm soát đối vớicác khoản nợ phải trả được thực hiện trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

+Các thể thức để đạt được sự hiểu biết chỉ được thực hiện cho một hoặc một

số nghiệp vụ kinh tế để có được đánh giá sơ bộ về tính đầy đủ và hiệu quả của cácthủ tục kiểm soát đối với các khoản nợ phải trả trong khi các thử nghiệm kiểm soátđược áp dụng với quy mô lớn hơn Hơn nữa, các thể thức của thử nghiệm kiểm soátkhông chỉ bao gồm các phương pháp của thể thức để đạt được sự hiểu biết mà còn

có thêm phép thử walk through (kiểm tra từ đầu đến cuối)

Thủ tục phân tích

Như trên đã nói, thủ tục phân tích được áp dụng trong tất cả các giai đoạn củacuộc kiểm toán Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, thủ tục phân tích được sửdụng để so sánh, đối chiếu và đánh giá tính hợp lý trên số dư các tài khoản Nếu thủtục phân tích cho thấy biểu hiện bất thường về mức độ biến động của một khoảnmục hay một loại tài sản thì kiểm toán viên sẽ thận trọng khi tiến hành kiểm tra chi

Trang 31

Luận văn tốt nghiệp

tiết số dư và nghiệp vụ Thủ tục phân tích thường được áp dụng đối với nợ phải trảngười bán và các khoản vay như sau:

+Đối với nợ phải trả người bán:

 So sánh tổng chi phí mua hàng năm nay với năm trước

 Tính tỷ lệ nợ phải trả người bán so với tổng hàng mua trong kỳ

 Tính tỷ lệ nợ phải trả người bán trên tổng nợ ngắn hạn

 So sánh các khoản phải trả của từng nhà cung cấp với các nămtrước

 Xem xét sổ chi tiết phải trả người bán nhằm tìm ra những quan

hệ đối ứng bất thường Ví dụ: những khoản phải trả lớn thường được thanhtoán qua ngân hàng, nếu kiểm toán viên thấy rằng những khoản này đượcđơn vị thanh toán bằng tiền mặt thì kiểm toán viên sẽ đặt ra nghi vấn đốivới những nghiệp vụ này

+Đối với các khoản vay:

 So sánh giữa chi phí lãi vay với số ước tính của kiểm toán viên(căn cứ vào số dư nợ vay bình quân và lãi suất bình quân)

 So sánh chi phí lãi vay năm nay với các năm trước So sánh số

dư nợ vay cuối năm và đầu năm

Sau khi đã áp dụng thủ tục phân tích, kiểm toán viên sử dụng đánh giá chuyênmôn để để rút ra kết luận về bằng chứng thu thập được:

+Nếu chênh lệch giữa dự đoán của kiểm toán viên với số liệu thực tế lớn hơnrất nhiều so với mức chênh lệch theo kế hoạch thì kiểm toán viên phải điều tra, tìmhiểu nguyên nhân, tính chất của chênh lệch

+Nếu chênh lệch thấp hơn đáng kể mức chênh lệch theo kế hoạch, kiểm toánviên có thể kết luận rằng mục tiêu kiểm toán đã đạt được

+Nếu chênh lệch này xấp xỉ chêch lệch theo kế hoạch, kiểm toán viên sử dụngđánh giá của mình để xem xét liệu có nên chấp nhận chêch lệch này là chênh lệchkiểm toán và chuyển nó vào bảng tóm tắt chênh lệch kiểm toán chưa được điềuchỉnh hay tiến hành kiểm tra chi tiết để bổ sung thêm cho ý kiến của mình

Trang 32

Luận văn tốt nghiệp

Thủ tục kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ

Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệmtin cậy thuộc trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toántừng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ Kiểm tra chi tiết được xem là thủ tục kiểm toán đem lại bằng chứng có độ tincậy cao nhất và không thể thiếu được trong mọi cuộc kiểm toán Tuy nhiên việcthực hiện thủ tục này mất nhiều thời gian và chi phí nên các kiểm toán viên thườngtăng cường áp dụng thử nghiệm kiểm soát và thủ tục phân tích để giảm thủ tục kiểmtra chi tiết trên số dư và nghiệp vụ

Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với Nợ phải trả người bán và thủ tục kiểm tra chitiết đối với các khoản vay được thể hiện ở Bảng 1.3 và Bảng 1.4 như sau:

Bảng 1.3 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với Nợ phải trả người bán

Nợ phải trả người bán

Tính hợp lý chung So sánh chi phí mua hàng của năm nay với

Số dư tài khoản nợ phải trả người bán năm trước và các số dư trong sổ hạch toánchi tiết Xem xét các khoản phải trả nhằm phát hiện các khoản phải trả, các tài khoảntài những khoản bất hợp lý

sản và chi phí liên quan đều hợp lý Đối chiếu các khoản phải trả trong sổ chi tiết

của năm nay với các năm trước để pháthiện những biến động bất thường

Các mục tiêu đặc thù Cộng tổng danh sách (Bảng kê) các khoản

Trang 33

Luận văn tốt nghiệp

Các khoản phải trả trong danh sách

(Bảng kê) thống nhất với sổ hạch toán

chi tiết Các khoản phải trả Số tổng

Trang 34

Luận văn tốt nghiệp

người bán và số tiềnCác khoản phải trả trong sổ hạch toán Đối chiếu danh sách các khoản phải trả vớichi tiết phải có căn cứ hợp lý các hóa đơn và các Bảng kê (nếu có) của người bán

Lấy xác nhận các khoản phải trả, chú trọngcác khoản phải trả lớn và bất thường Các khoản phải trả hiện có đều ở trong Kiểmtra chi tiết các khoản nợ quá hạn

danh sách (Bảng kê) các khoản phải trả

Các khoản phải trả trong danh sách Kiểm tra sổ hạch toán chi tiết các khoản

(Bảng kê) được đánh giá đúng đắn phải trả

Việc phản ánh nợ phải trả người bán Thực hiện việc kiểm tra công nợ quá hạn.trong chu kỳ mua hàng và thanh toán Đối chiếu với số liệu kiểm toán chu trình đượcvào sổ đúng kỳ Hàng tồn kho, xem xét hồ sơ hàng mua đi đường

Tài khoản nợ phải trả người bán trong Kiểm tra các khoản phải trả để đảm bảo nợchu trình mua hàng và thanh toán phải trả người bán, nợ ngắn hạn và dài hạn đượctrình bày đúng đắn (chịu lãi) được tách riêng

Nguồn: Kiểm toán tài chính – GS.TS Nguyễn Quang Quynh

Do khoản phải trả nhà cung cấp còn liên quan đến nhiều khoản mục khác:hàng tồn kho, vốn bằng tiền nên trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toánviên có thể trao đổi với các kiểm toán viên phụ trách các phần hành có liên quan để

bổ sung thêm thông tin về khoản mục này Sự hỗ trợ giữa các kiểm toán viên trongquá trình kiểm toán sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí và tăng hiệu quả cuộckiểm toán

Bảng 1.4 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các khoản vay

Trang 35

Mục tiêu kiểm toán

Tính hợp lý chung

Các khoản vốn vay và

lãiLuận văn tốt nghiệp

tính dồn, chi phí lãi vay

đều hợp lý

Các mục tiêu đặc thù Các

khoản vốn vay phải trả

hiện có đều được phản ánh

đầy đủ trên bảng kê tiền

Thủ tục khảo sát chi tiết phổ biến

So sánh các khoản vay hiện tại với niên độ trước Tínhlại chi phí lãi vay dựa trên lãi suất trung bình và số tiềnvay phải trả hàng tháng

So sánh tổng số dư các khoản vay, lãi tính dồn và chiphí lãi vay để thấy tính hợp lý của chúng

Đối chiếu từ chứng từ của các khoản vay với các sổ chitiết tiền vay để phát hiện những trường hợp bỏ sótThu thập các bảng xác nhận của ngân hàng và các chủvốn vay, đối chiếu cụ thể từng khoản vay với các bảngxác nhận đó để xác định sự tồn tại thực tế của cáckhoản vay

Thu thập các bảng xác nhận của ngân hàng và các chủ

nợ của các khoản vay trước đây nhưng hiện nay đãthanh toán hết để xác nhận rằng số dư của các khoảnvay này thực sự bằng 0

Phân tích chi phí lãi vay để phát hiện những khoảnthanh toán tiền vay hoặc lãi vay cho các chủ vốn vaykhông có thực

Xem xét lại các biên bản họp của Giám đốc, Hội đồngquản trị về các khoản vay đã được phê chuẩn nhưngchưa được vào sổ

khoản để xác định tính đúng đắn của việc hạch toánđược phân loại đúng

đắn

Trang 36

Luận văn tốt nghiệp

Tổng cộng các khoản tiền

vay, lãi phải trả trên sổ kế

toán tiền vay, đối chiếu

với số liệu tương ứng trên

bảng liệt kê tiền vay

Đối chiếu sổ chi tiết tiền

vay với các chứng từ có

liên quan để tìm ra những

trường hợp ghi khống

Kiểm tra việc đánh dấu

các chứng từ nợ đã thanh toán để bảo đảm là chúngkhông bị ghi sổ hai lần

Xác nhận các khoản vay phải trả

Kiểm tra vốn vay gốc và tỷ lệ lãi vay trên các khế ướcvay và bảng liệt kê tiền vay

Kiểm tra việc quy đổi các khoản vay bằng ngoại tệ vàlãi phải trả bằng ngoại tệ theo tỷ giá ngoại tệ bình quânliên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước công bố tạitừng thời điểm

Tính lại tiền lãi tính dồn và so sánh với tiền lãi tính dồn

33 Kiểm toán 44 đã hạch toán và ghitrên bảng liệt kê tiền vay

được phân loại đúng

đắn

Trang 37

Luận văn tốt nghiệp

Các khoản vốn vay đều Kiểm tra thời hạn vay, ngày đến hạn trả của từng Sau khitiến hành thực hiện các thể thức kiểm toán cho các khoản nợ phải trả, kiểm toánviên căn cứ vào các sai số trên mẫu để suy ra tổng sai số cho toàn bộ tổng thể (saisót dự kiến) Ví dụ: nếu kiểm toán viên tìm thấy sai số thiếu đối với các khoản phảitrả là 5 triệu đồng trong một mẫu 100 triệu của một tổng thể 900 triệu thì sai số ướctính cho toàn bộ các khoản phải trả là 45 triệu đồng Sau đó, kiểm toán viên so sánhsai sót dự kiến của các khoản nợ phải trả với mức trọng yếu được phân bổ cho cáckhoản mục này để đánh giá về sự trình bày trung thực và hợp lý của các khoản mụcnày trên Báo cáo tài chính

Theo nguyên tắc chung, kiểm toán viên chỉ tiến hành điều chỉnh những saiphạm có ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộptuy nhiên đối với các khoản phải trả có liên quan đến bên thứ 3, đặc biệt là khoảnphải trả người bán và các khoản vốn vay, các sai phạm dù không trọng yếu nhưngkiểm toán viên vẫn tiến hành điều chỉnh để đảm bảo sự thống nhất giữa hai bên

3.3 Kết thúc kiểm toán.

Khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính là công việc lập báocáo kiểm toán về Báo cáo tài chính Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính là loạibáo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thứccủa mình về Báo cáo tài chính của một đơn vị đã được kiểm toán Báo cáo kiểmtoán có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng tùy theo yêu cầu của khách hàng Tuynhiên, trước khi đưa ra ý kiến của mình, kiểm toán viên cần tổng hợp các kết quảthu được và thực hiện một số thử nghiệm có tính chất bổ sung Các công việc nàybao gồm:

Xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến

Trên thực tế, có những sự kiện đã phát sinh trong năm và có thể dẫn đến mộtkhoản công nợ hay thiệt hại mà cho đến thời điểm khóa sổ vẫn chưa thể xác định là

có chắc chắn xảy ra hay không và số tiền cụ thể là bao nhiêu Những khoản có thểphải bồi thường đó là công nợ ngoài dự kiến Nghĩa vụ này nằm ngoài khả năngkiểm soát của đơn vị Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng Báo cáotài chính, đơn vị vẫn phải công bố các khoản công nợ ngoài dự kiến trọng yếu trênthuyết minh báo cáo tài chính Để xem xét liệu đơn vị có các khoản công nợ ngoài

Trang 38

Luận văn tốt nghiệp

dự kiến hay không, kiểm toán viên có thể trao đổi với các nhà quản lý, luật sư hay

tư vấn pháp lý của đơn vị hoặc xem xét các biên bản họp Hội đồng quản trị

Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 560: “các sự kiện phát sinh sau ngàykhóa sổ kế toán lập Báo cáo tài chính là những sự kiện có ảnh hưởng đến Báo cáotài chính đã phát sinh trong khoảng thời gian từ sau ngày khóa sổ kế toán lập Báocáo tài chính để kiểm toán đến ngày ký báo cáo kiểm toán và những sự kiện đượcphát hiện sau ngày ký báo cáo kiểm toán” Có hai loại sự kiện xảy ra sau ngày khóa

sổ kế toán lập Báo cáo tài chính:

+Các sự kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính và đòi hỏi phảiđiều chỉnh Báo cáo tài chính: đây là những sự kiện cung cấp bằng chứng bổ sung về

sự việc đã xảy ra trước ngày kết thúc niên độ và chúng có ảnh hưởng đến sự đánhgiá đối với những khoản mục có liên quan trong Báo cáo tài chính: kết quả vụ kiện,các tài sản không sử dụng được và nhượng bán sau ngày khóa sổ

+Các sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính nhưng cần phảicông bố trên thuyết minh Báo cáo tài chính: đây là các sự kiện chỉ thực sự phát sinhsau ngày kết thúc niên độ, không phải điều chỉnh lại số liệu trên Báo cáo tài chínhnhưng do tầm quan trọng của vấn đề, đơn vị vẫn phải công bố trên thuyết minh Báocáo tài chính

Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 560 quy định: “Kiểm toán viên phải xâydựng và thực hiện các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểmtoán thích hợp để xác định tất cả những sự kiện đã phát sinh đến ngày ký báo cáokiểm toán xét thấy có ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính và phải yêu cầu đơn vị điềuchỉnh hoặc thuyết minh trong Báo cáo tài chính”

Để xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, kiểm toán viên có thểkiểm tra các nghiệp vụ quanh thời điểm khóa sổ, các kế hoạch tài chính, biên bảncác cuộc họp quan trọng hoặc yêu cầu giám đốc hay tư vấn pháp lý của đơn vịcung cấp thêm thông tin

Trang 39

Luận văn tốt nghiệp

Xem xét giả định hoạt động liên tục

“Một đơn vị được coi là hoạt động liên tục trong một tương lai gần có thể dựđoán được (ít nhất là một năm kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán) khi không có ýđịnh hoặc yêu cầu phải giải thể, ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạtđộng, tìm kiếm sự bảo hộ từ các chủ nợ theo pháp luật và các quy định hiện hành”(Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 570 - Hoạt động liên tục)

Chuẩn mực này cũng quy định: kiểm toán viên và công ty kiểm toán có tráchnhiệm xem xét tính hợp lý của giả định hoạt động liên tục mà BGĐ đơn vị đã sửdụng khi lập và trình bày BCTC

Kiểm toán viên có thể căn cứ vào một số dấu hiệu sau để đánh giá về khả nănghoạt động liên tục của công ty khách hàng:

 Dấu hiệu về mặt tài chính: đơn vị có các chỉ số tài chính xấu hơn mứcbình thường, không có khả năng thanh toán khi nợ đến hạn, mất nguồn hỗ trợ tàichính

 Dấu hiệu về mặt hoạt động: đơn vị bị thiếu thành phần lãnh đạo chủ chốtkhông thể thay thế, đơn vị bị mất một thị trường lớn hoặc mất một nhà cung cấpquan trọng

 Các dấu hiệu khác: thay đổi về mặt pháp luật hoặc chính sách của Nhànước làm ảnh hưởng bất lợi tới đơn vị

Đánh giá kết quả và đưa ra ý kiến kiểm toán

Trước khi lập báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá tổng quát vềcác kết quả thu được Thủ tục phân tích là một công cụ hữu hiệu để đánh giá tínhđồng bộ và xác thực của các thông tin tài chính thu thập được đồng thời hạn chếnhững thiếu sót hoặc phiến diện của các thủ tục kiểm toán áp dụng cho từng bộphận riêng lẻ

Kiểm toán viên so sánh mức trọng yếu ban đầu (hoặc đã điều chỉnh) của toàn

bộ BCTC với các sai sót tổng hợp chưa được điều chỉnh để đưa ra ý kiến Nếu cácsai sót tổng hợp lớn hơn mức trọng yếu thì kiểm toán viên sẽ đánh giá rằng đangcòn tồn tại một lượng lớn các sai phạm trọng yếu trên BCTC Ngược lại, kiểm toánviên phải xem xét, đánh giá từng khoản mục trên BCTC để xem xét liệu có khoảnmục nào còn tồn tại sai phạm trọng yếu

Trang 40

Luận văn tốt nghiệp

Căn cứ vào kết quả đánh giá, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến

về BCTC như sau:

 Ý kiến chấp nhận toàn phần: ý kiến chấp nhận toàn phần được sử dụngtrong trường hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng Báo cáo tài chínhphản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính củađơn vị được kiểm toán, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiệnhành (hoặc được chấp nhận)

 Ý kiến chấp nhận từng phần: ý kiến này được sử dụng khi kiểm toánviên cho rằng Báo cáo tài chính chỉ phản ánh trung thực và hợp lý nếu không bị ảnhhưởng bởi yếu tố ngoại trừ hoặc yếu tố tùy thuộc mà kiểm toán viên nêu trong báocáo kiểm toán

 Ý kiến không chấp nhận: ý kiến không chấp nhận được đưa ra trongtrường hợp các vấn đề không thống nhất với Giám đốc là quan trọng hoặc liên quanđến một số lượng lớn các khoản mục đến mức độ mà kiểm toán viên cho rằng ýkiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọngyếu của Báo cáo tài chính

 Ý kiến từ chối: ý kiến từ chối được đưa ra trong trường hợp hậu quả củaviệc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan đếnmột số lượng lớn các khoản mục tới mức mà kiểm toán viên không thể thu thập đầy

đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để có thể cho ý kiến về Báo cáo tài chính

Nợ phải trả là một khoản mục quan trọng trên BCTC nên kết quả kiểm toánkhoản mục này có ảnh hưởng rất lớn đến ý kiến của kiểm toán viên về BCTC: trongtrường hợp chưa xét đến kết quả kiểm toán các khoản mục khác, nếu kiểm toán viênnhận thấy có một lượng lớn sai phạm trọng yếu liên quan đến khoản mục nợ phảitrả chưa được điều chỉnh hoặc có những giới hạn về thời gian, phạm vi kiểm toánlàm cho kiểm toán viên không thể tiến hành đầy đủ các thủ tục kiểm toán đối vớikhoản mục này thì kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần Hơnnữa, do nợ phải trả là một trong hai nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệpnên trong một số trường hợp tùy vào tầm quan trọng của khoản mục này (ví dụ:

Ngày đăng: 07/01/2018, 11:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Sơ đồ 1.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán (Trang 12)
Bảng 1.1 Căn cứ để tính toán mức trọng yếu - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 1.1 Căn cứ để tính toán mức trọng yếu (Trang 19)
Bảng 1.2 Các mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng phải thu thập - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 1.2 Các mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng phải thu thập (Trang 23)
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động của công ty - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động của công ty (Trang 41)
Bảng 2.3: Số lượng hợp đồng tương ứng với các loại hình dịch vụ - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.3 Số lượng hợp đồng tương ứng với các loại hình dịch vụ (Trang 42)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty VAE - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty VAE (Trang 47)
Bảng 2.5 Phương pháp kiểm toán một số tài khoản chủ yếu - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.5 Phương pháp kiểm toán một số tài khoản chủ yếu (Trang 62)
Bảng 2.6 Dự kiến kế hoạch và nội dung kiểm toán - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.6 Dự kiến kế hoạch và nội dung kiểm toán (Trang 64)
Bảng 2.9 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các khoản phải trả người bán và - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.9 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các khoản phải trả người bán và (Trang 71)
Bảng 2.10 Giấy tờ làm việc WP – N100 (Khách hàng VIC) - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.10 Giấy tờ làm việc WP – N100 (Khách hàng VIC) (Trang 76)
Bảng 2.11 Trích giấy tờ làm việc WP – N100 (Khách hàng  STAR) - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.11 Trích giấy tờ làm việc WP – N100 (Khách hàng STAR) (Trang 77)
Bảng 2.13 Trích giấy tờ làm việc WP – N310/1 - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.13 Trích giấy tờ làm việc WP – N310/1 (Trang 80)
Bảng 2.14 Giấy tờ làm việc WP – N310/2 - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.14 Giấy tờ làm việc WP – N310/2 (Trang 81)
Bảng 2.18 Giấy tờ làm việc WP – N120 - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.18 Giấy tờ làm việc WP – N120 (Trang 89)
Bảng 2.19 Trích giấy tờ làm việc WP – N111 - Luận Văn Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.19 Trích giấy tờ làm việc WP – N111 (Trang 91)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w