NGUYỄN THỊ THÙY GIANGVẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀO VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NINH THUẬN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂ
Trang 1NGUYỄN THỊ THÙY GIANG
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀO VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
NINH THUẬN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2NGUYỄN THỊ THÙY GIANG
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀO VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
NINH THUẬN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ VĂN HÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGUYỄN THỊ THÙY GIANG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 3
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 3
6 Bố cục của luận văn 3
7 Tổng quan tài liệu 4
CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC 8
1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC 8
1.1.1 Truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam 8
1.1.2 Tinh hoa tư tưởng giáo dục nhân loại 10
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giáo dục 14
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC 19
1.2.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu giáo dục 19
1.2.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về nội dung giáo dục 21
1.2.3 Quan điểm Hồ Chí Minh về phương châm giáo dục 28
1.2.4 Quan điểm Hồ Chí Minh về người thầy 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NINH THUẬN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 41
2.1 VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở NINH THUẬN 41
2.1.1 Vài nét về giáo dục THPT ở nước ta hiện nay 41
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển giáo dục ở Ninh Thuận 43
Trang 52.2 TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
NINH THUẬN HIỆN NAY 48
2.2.1 Đặc điểm đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay 48
2.2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên THPT với quá trình phát triển ngành giáo dục – đào tạo ở Ninh Thuận hiện nay 56
2.2.3 Những thuận lợi và khó khăn của đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay 63
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NINH THUẬN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 67
3.1 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC KHI VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NINH THUẬN HIỆN NAY 67
3.1.1 Nguyên tắc lý luận gắn với thực tiễn 67
3.1.2 Nguyên tắc toàn diện và hệ thống 69
3.1.3 Quan điểm kế thừa và phát triển 70
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NINH THUẬN HIỆN NAY 72
3.2.1 Đẩy mạnh công tác quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu giáo dục 73
3.2.2 Đổi mới công tác bồi dưỡng giáo viên 78
3.2.3 Hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện và động lực cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn 82
3.2.4 Xây dựng hệ thống các chuẩn mực đạo đức người giáo viên nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh 85
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBVC : Cán bộ viên chức
CĐSP : Cao đẳng Sƣ phạm CNXH : Chủ nghĩa xã hội
Trang 72.2 số liệu về giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy và số
lượng học sinh và học sinh THPT của nước ta 42
2.3 Số liệu về cán bộ quản lý và giáo viên THPT ở Ninh
2.4 Số liệu cán bộ và giáo viên THPT theo biên chế hiện có 51
2.6 Số liệu biểu hiện trình độ cán bộ quản lý và giáo viên
2.7 Số lượng sáng kiến kinh nghiệm và danh hiệu chiến sĩ
thi đua của giáo viên THPT tỉnh Ninh Thuận 53
2.9 Lương thực lĩnh của giáo viên THPT chưa có thời gian
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 28 năm đổi mới, đất nước đã thay da đổi thịt và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, chuyển biến từ chỗ đủ ăn, đủ mặc thì đến nay đã đòi hỏi phải ăn ngon, mặc đẹp, trật tự xã hội luôn đảm bảo, an ninh chính trị ổn định Cùng với sự phát triển chung về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo đã có bước phát triển trên cả ba mặt: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Mỗi năm, giáo dục – đào tạo đã góp phần đào tạo ra hàng triệu lao động có tay nghề, có trình
độ khoa học kỹ thuật cao đáp ứng cho quá trình sản xuất chuyên môn hóa Nhiều học sinh, sinh viên của nước ta đã giành được nhiều giải cao trong các
kỳ thi của quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam với thế giới
Trong những năm qua, giáo dục đào tạo đã có những bước phát triển vượt bậc Chúng ta đã xây dựng được một mô hình giáo dục với nhiều cấp học, từ mầm non cho đến đại học và sau đại học, nhiều hình thức đào tạo từ chuyên tu, tại chức cho đến chính quy phục tốt cho yêu cầu xã hội hóa giáo dục Chúng ta
đã xây dựng được đội ngũ giảng viên, giáo viên ngày càng đông đảo, có trình
độ lý luận, phẩm chất đạo đức và chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao Đảng và Nhà nước luôn dành nhiều quan tâm cho giáo dục đào tạo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” Trong đó, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo là nòng cốt và có vai trò quan trọng Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục”, “học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu” Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển giáo dục trong
Trang 9thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố kinh tế thị trường và mặt trái của nó Đội ngũ giảng viên, giáo viên ở nước ta nói chung, đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông (THPT) ở Ninh Thuận nói riêng vẫn đang tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Số lượng giáo viên vẫn còn thiếu, mất cân đối về cơ cấu giáo viên giữa các bộ môn, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu, một số nhà giáo tha hóa về đạo đức Tình hình ấy đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài, thực hiện tốt nhiệm vụ và trách nhiệm mà Đảng, Nhà nước giao phó cho Sở giáo dục tỉnh Ninh Thuận
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc xây dựng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông ở Ninh Thuận hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đề tài hướng đến mục đích xây dựng các giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
- Phân tích những thực trạng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên THPT
ở Ninh Thuận hiện nay
- Xây dựng các giải pháp góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định phạm vi, đối tượng
Trang 10nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề là những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, thực trạng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và tập trung vào phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên THPT trong phạm vi tỉnh Ninh Thuận Ninh Thuận
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
về các vấn đề giáo dục và sự phát triển của giáo dục đào tạo
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau Nhưng chủ yếu sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: phương pháp thống nhất giữa lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần khẳng định những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tư tưởng về giáo dục của Người
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành triết học trong việc học tập và nghiên cứu các tác phẩm triết học Hồ Chí Minh Những giải pháp của luận văn có thể góp phần cho việc tham mưu cho việc hoạch định chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên THPT
ở Ninh Thuận nói riêng và nước ta nói chung
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn được chia làm 3 chương
Trang 117 Tổng quan tài liệu
Nghiên cứu và luận giải tư tưởng của Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về giáo dục của Người nói riêng đã và đang thu hút rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Hiện nay ở nước ta, có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau về vấn đề này Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc khảo cứu,
có thể phân chia thành các nhóm vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất: Nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh,
trong đó có tư tưởng về giáo dục Các công trình này thực hiện nghiên cứu và luận giải tổng quát nhiều tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng,
về độc lập dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam… Trong đó, các tác giả đã luận giải một số nội dung về tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục như: Về vai trò, mục đích, nhiệm vụ, phương pháp… của giáo dục
Trong nhóm này phải kể đến các công trình cơ bản sau: “Giáo trình tư
tưởng Hồ Chí Minh” do Bộ giáo dục và đào tạo và nhà xuất bản (Nxb) Chính
trị Quốc gia Hà Nội ấn hành và tái bản trong nhiều năm từ 1994 đến nay, phục vụ cho giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng trong cả nước Trong giáo trình, tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhiều vấn đề được trình bày có hệ thống và lôgic, từ những điều kiện và quá trình hình thành tư tưởng đến việc
đi vào luận giải hệ thống các tư tưởng của Người Trong đó, tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh được trình bày ở tiết 3, mục I của chương VII Trong phần này, nhóm tác giả đã trình bày tư tưởng của Hồ Chí Minh về mục tiêu của giáo dục Theo đó, nền giáo dục hướng đến mục tiêu và nhiệm vụ mở mang dân trí, xây dựng nền giáo dục toàn diện, nền giáo dục toàn dân, nền giáo dục tiên tiến, nền giáo dục đào tạo ra những con người mới xã hội chủ
nghĩa (XHCN) Trong cuốn “Giáo trình giới thiệu một số tác phẩm kinh điển tư
Trang 12tưởng Hồ Chí Minh” do Hoàng Ngọc Vĩnh và Thái Ngọc Tăng biên soạn, Nxb
Đại học Huế ấn hành năm 2010 Ngoài lời mở đầu và kết luận, tác phẩm gồm hai phần Phần thứ nhất nêu về những bối cảnh ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh Phần thứ hai tác giả tập trung giới thiệu một số tác phẩm kinh điển tiêu biểu tư tưởng
Hồ Chí Minh Trong công trình nghiên cứu này, tác giả giới thiệu những nội dung
cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua các tác phẩm mà Người đã để lại Trong các tác phẩm ấy đã chứa đựng nhiều tư tưởng giáo dục có giá trị, tư tưởng
về vai trò của giáo dục đào tạo cho cách mạng Việt Nam, giáo dục đạo đức cách mạng, đào tạo và xây dựng đội ngũ trí thức… Đây là một trong những nguồn tư liệu quý góp phần làm sáng tỏ những vấn đề mà đề tài đang nghiên cứu
Thứ hai: Nhóm các công trình đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục Đây là nhóm các công trình thực hiện theo hướng nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu những nội dung cụ thể của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Trong nhóm này có công trình nghiên cứu của tiến sĩ Ngô Văn Hà
với “Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng đội ngũ giảng
viên đại học hiện nay” Công trình này do Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản
năm 2013 Công trình đã đi sâu nghiên cứu các quan điểm của Hồ Chí Minh
về vai trò, đạo đức, trình độ chuyên môn và phương pháp giảng dạy của người thầy giáo Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu còn trình bày quan điểm của
Hồ Chí Minh về trọng dụng trí thức – nhân tài và yêu cầu cần có của một nhà giáo cách mạng Sau khi nghiên cứu các vấn đề về thực trạng đội ngũ giảng viên đại học ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI, tác giả đã đưa ra một loạt các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên đại học ở nước ta hiện nay trên tinh thần tư tưởng Hồ Chí Minh như: thực hiện đổi mới công tác bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ giảng dạy hiện có, làm tốt công tác quy hoạch cán bộ giảng viên… Đây không chỉ là những giải pháp cần thiết trong xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên giảng dạy ở bậc đại
Trang 13học, cao đẳng mà việc nghiên cứu này sẽ tạo điều kiện trong quá trình nghiên cứu xây dựng giải pháp đối với xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên THPT
Công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào đào tạo
đại học hiện nay”, do Hoàng Anh (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, 2013
Cuốn sách đã trình bày quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục theo từng thời kỳ gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Cuốn sách phân tích tương đối toàn diện, có hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và nêu bật tầm quan trọng của việc vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay Từ việc phân tích một số vấn đề trong công tác đào tạo đại học hiện nay như chất lượng sinh viên, đội ngũ giảng viên, nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay
Cuốn sách: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” do Lê Văn Yên (chủ
biên), Nxb Lao động Hà Nội ấn hành năm 2006 Cuốn sách là một công trình tập hợp khá đầy đủ các bài viết quan trọng của các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, các nhà tư tưởng, nhà giáo dục, chuyên gia giáo dục Đây
là một tập tư liệu quý để nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp cải cách, đổi mới và phát triển giáo dục nước ta hiện nay Sách có các bài viết quan trọng của các Tổng Bí thư: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhất là loạt bài sâu sắc của Thủ tướng - nhà văn hóa Phạm Văn Đồng về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với giáo dục, dân trí Ngoài ra, còn có bài của các giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo dục, nhà tư tưởng, như: Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Đỗ Nguyên Phương, Nguyễn Phú Trọng, Phan Ngọc Liên Đây là nguồn tài liệu
Trang 14quan trọng cho việc nghiên cứu lý luận cho đề tài
Thứ ba: Các bài báo viết về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và việc
vận dụng vào xây dựng đội ngũ giáo viên nói riêng và phát triển nền giáo dục Việt Nam nói chung Trong nhóm này có thể liệt kê một số bài viết tiêu biểu
như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy giáo”, đăng trên tạp chí Khoa
học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 5(40).2010 Bài báo do hai tác giả: Ngô Văn Hà và Đỗ Thị Hằng Nga viết, bài báo đã đề cập về những quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò, nhiệm vụ, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ của
người thầy giáo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo”, do Đào Ngọc
Đệ viết, đăng trên báo Nhân dân, số ra ngày 17/05/2013 Bài báo đề cập đến các quan điểm của Hồ Chí Minh về yêu cầu xây dựng một nền giáo dục toàn diện, một nền giáo dục độc lập và tiến bộ Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác
như: Ngô Văn Hà với “Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức của người
thầy giáo”, Tạp chí Giáo dục, số 177, 2007 “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” của Trịnh Doãn Chính, Nguyễn Anh Quốc, đăng tại Tạp chí Triết học,
số 3 (142), 2003 “Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh qua Bài nói chuyện tại
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của Nguyễn Bá Cường, Bản tin Đại học
Sư phạm Hà Nội, số 2/2011…
Thứ tư: Nhóm các bài viết về tình hình giáo dục đào tạo, thực trạng đội
ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận được đăng tải trên các website của tỉnh
Ninh Thuận, như: “Tập trung đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn”
của đồng chí: Nguyễn Bá Ninh, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào
tạo “Ninh Thuận: liên kết đào tạo 170 giáo viên THPT”, “Ninh Thuận: Biểu
dương giáo viên dạy giỏi, học sinh học giỏi” và các Báo cáo Quy hoạch tổng
thể kinh tế - xã hội, Quy hoạch phát triển giáo dục… Đây là nguồn tài liệu quý tạo điều kiện thuận lợi để tác giả tiến hành nghiên cứu, hoàn thiện luận văn này
Trang 15Với tinh thần cầu sự học, cầu tiến bộ, sẵn sàng tiếp thu cái mới, cái tiến
bộ Qua đó đã hình thành truyền thống “Tôn sư trọng đạo” tốt đẹp, xã hội đề cao vai trò của người thầy giáo, “không thầy đố mày làm nên” hay “muốn
sang phải bắt cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” Thậm chí trong
tam cương, người xưa còn đặt người cha tinh thần trước người cha đẻ của mình (Quân - Sư - Phụ) Nhưng nếu Nho giáo coi hiếu học và cầu thị là hai phẩm chất quan trọng của một người trí thức, coi việc học chủ yếu là học chữ
Trang 16thánh hiền, điều này giống với quan niệm của dân gian (học ăn, học nói, học gói, học mở), thì Nguyễn Trãi đã chỉ ra rằng, sự học là nguồn cội của tất thẩy những thành công dù đó là nghề gì, dù người ấy là ai:
“Nên thợ nên thầy vì có học
Có ăn có mặc bởi hay làm”
Như vậy, làm nghề gì cũng cần học Có học mới tinh thông nghề nghiệp
bởi “nghề nào cũng có trạng nguyên” Trong mọi hoàn cảnh khó khăn, các
gia đình, làng xã, họ tộc đã tạo mọi điều kiện cho con cháu được học Đã có nhiều gia đình có cuộc sống hết sức khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nhưng con cái luôn được học hành đến nơi đến chốn Nhiều làng xã đã quy định sự học trong các hương ước của làng Ở đó, truyền thống hiếu học luôn được bồi đắp và củng cố bằng các điều khoản, thể hiện các chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân tài, trọng dụng của triều đình đối với những người đỗ đậu khoa bảng Nhiều hương ước đã ghi các điều khoản hỗ trợ, khuyến khích
và giúp đỡ những người theo học thành tài, đề cao các dòng họ có có người hiếu học Ví dụ như:
Hương ước xã Tử Vi huyện Tiên Dung (nay là huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh) năm 1915 có 55 điều thì đã có 21 điều liên quan đến học tập, quy định việc dựng trường mở lớp, đặt học điền, trách nhiệm của gia đình và thầy giáo, việc khen thưởng các học sinh học giỏi, thi đỗ Hương ước làng Dã Lê Thượng xã Thuỷ Phương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế soạn năm Duy Tân thứ 6 gồm 24 điều, có những điều quy định đặt lễ mừng, tiền thưởng và ruộng đất xứng đáng cho những người đỗ đạt mang vinh dự về cho làng Hương ước làng Phúc Xá (tổng Phúc Lâm huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội) soạn năm 1923, trong điều thứ 5 có ghi: Nhà nào có con từ 6,7 tuổi trở lên, bất cứ hạng nào cũng phải cho con ra trường học
Trang 17Những nhà túng quá, cho con đi học mà không thể lấy tiền đâu được, thì tường trình với tộc họ mình để làm giấy nhận thực trình Hội đồng, toà Hội đồng xét thực rồi sẽ cấp giấy bút cho ba năm Học trò nào học hết ba năm rồi phải thi, xem hễ có tư cách thông minh có thể ra trường tỉnh học được, thì bố
mẹ em ấy phải cho đi học, không được bắt con bỏ học để làm việc khác Nếu nhà nào nghèo khổ, không thể cho con đi học ở tỉnh được, sau xét thực thì nhân dân sẽ quyên góp cấp tiền cho trẻ ấy ra tỉnh học Người nào đã được tiền cấp mà không siêng năng học hành thì dân không chu cấp nữa mà lại phải bồi
số tiền ấy để trả dân Nếu không trả dân thì dân sẽ ghi tên học trò ấy vào sổ, trước khi muốn mua ngôi thứ gì trong dân thì phải chồng số tiền ấy trả cho dân đã Với truyền thống hiếu học của dân tộc, Hồ Chí Minh đã thừa hưởng
và phát triển lên một tầm cao mới Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương hiếu học và học tập suốt đời, vượt qua mọi khó khăn gian khổ và thách thức trên con đường cứu nước Người đã không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận và thực tiễn, Người có thể học mọi lúc, mọi nơi với mọi hoàn cảnh Bên cạnh đó, bản thân từng là một nhà giáo dục khi người dạy học ở trường Dục Thanh Sau đó, giảng dạy, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam… Người
đã có nhiều quan điểm về giáo dục tiến bộ Đây chính là một trong những cơ
sở để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
1.1.2 Tinh hoa tư tưởng giáo dục nhân loại
Nho giáo ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên(tr.CN) dưới thời Xuân Thu, do Khổng Tử (551 – 479 tr.CN) sáng lập Đến thời Chiến Quốc, tư tưởng của ông được các học trò kế thừa và hoàn thiện Trong
đó, Nho giáo Khổng – Mạnh có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài trong lịch sử Trung Hoa, các nước lân cận và Việt Nam, được giai cấp phong kiến sử dụng vào việc trị nước Những bộ sách kinh điển của Nho giáo là Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử) và Ngũ kinh (Thư, Thi, Lễ, Dịch, Xuân
Trang 18thu) đã trở thành giáo khoa cho việc học tập và thi cử đỗ đạt làm quan trong chế độ phong kiến Trung Quốc và nhiều nước ở Châu Á, trong đó có cả ở Việt Nam Trong hệ thống tư tưởng chính trị - xã hội, Nho giáo cũng có một
số quan điểm đề cập đến vai trò, đạo đức… của người thầy giáo
Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo, đồng thời ông cũng được coi là
một nhà giáo dục của mọi thời đại, người đời xưng ông là “Vạn thế sự biểu”
Trong những quan điểm về giáo dục, Khổng Tử đã đưa ra một số quan điểm
về người thầy Trong tư tưởng về giáo dục, ông có tư tưởng phân chia đối
tượng giữa “quân tử” và “tiểu nhân”, theo đó ông chỉ chủ trương dạy cho
những người quân tử Nhưng ông không có sự phân chia đẳng cấp giữa người giàu và người nghèo Nếu như, thời trước việc học tập do nhà nước tổ chức để dạy con cái giới quý tộc Đến thời Khổng Tử các trường tư đã được mở ra, ai cũng có thể vào học được, miễn là có khả năng tiếp thu và chí tiến thủ, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn Đây là điểm tiến bộ trong chủ trương giáo dục của Khổng Tử Khổng Tử nói: “Kẻ nào đến ta xin nhập môn, dâng lên ta (một xâu thịt khô hay một bó nem), ta chưa hề chê lễ mọn mà từ chối dạy”.[43, tr.1220] Đối với với Khổng Tử, người thầy dạy học không nên vì vật chất, tiền bạc mà lựa chọn người học bởi theo ông, người thầy chính là
mẫu người “quân tử”, cuộc sống của người thầy chỉ cần “nghèo mà vui” Và
như thế sẽ: học không biết chán, dạy không biết mệt Khổng Tử và các học trò coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ nền tảng của xã hội
Theo đó thì người quân tử phải là người có “Nhân” và “Đức nhân” Nhân theo nghĩa thứ nhất là “Ái nhân” Là lòng thương người, là đạo làm người, là
cách cư xử với mình với người Phàn Trì, một học trò hỏi về nhân, Khổng Tử
đáp: “Ái nhân”.[2, tr.48] Trung và thứ là hai khía cạnh của nhân Khi nói về
chữ trung, ông cho rằng: “Phù nhân giả, kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân”,[17, tr.340] theo đó thì điều gì mình muốn làm cho mình thì cũng
Trang 19hãy cố gắng làm cho người khác Mình muốn lập thân thì hãy giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì hãy giúp người khác thành đạt Thứ tức là lòng vị tha Tử Cống hỏi: Có một chữ nào mà trọn đời mình có thể làm theo chăng? Khổng Tử đáp: “Có chữ thứ Nghĩa là: Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân).[2, tr.48-49] Đã
là người nhân thì phải biết thương người nhưng cũng phải biết ghét người, ghét những kẻ bất nhân cũng chính là việc thực hiện điều nhân vậy
Đối với bản thân mình thì tuân theo lễ là một điều kiện để thực hiện nhân đức (Khắc kỷ phục lễ vi nhân).[17, tr.471]
Nhân gắn liền với nghĩa Đó là hành vi đạo đức biểu hiện lòng thương người và theo đó thì người làm việc nghĩa thì sẽ hy sinh lợi ích của cá nhân
vì lợi ích của người khác Nghĩa và lợi thì không thể dung hợp với nhau Theo Khổng Tử thì: “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi” [2,tr.49] Muốn thực hiện điều nhân thì đòi hỏi có dũng và trí Có dũng mà không có trí thì sẽ hại mình, có trí thì sẽ biết giúp người mà không hại đến mình, đến người, mới biết nên yêu người hay là ghét người
Để thực hiện nhân luôn hợp với lễ, Nho giáo đưa ra thuyết chính danh Ông nói: “Danh bất chính tác ngôn bất thuận Ngôn bất thuận tắc sự bất thành Sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng Lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng Hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc”.[20, tr.196-197] Theo Khổng Tử thì người nào, phận nào thì phải làm đúng phận và danh đó Như vậy, theo quan điểm của ông thì người thầy giáo phải làm đúng cái danh mà người thầy giáo đảm nhận Cụ thể hơn, Nho giáo xếp người thầy giáo vào bậc quân tử
Những quan điểm về người thầy ít được Nho giáo đề cập, nó chỉ thể hiện
ở một số câu đối thoại giữa Khổng Tử và học trò của mình Các nhà nho sau này đã mượn hình tượng người thầy của mình để xây rèn luyện thân mình
Trang 20Nho giáo đã xây dựng nên hình tượng người quân tử với nhiều phẩm chất tốt đẹp, đó cũng chính là hình tượng người thầy giáo trong Nho giáo Khổng tử
đề ra mục tiêu của giáo dục là nhằm giúp cho người ta trở thành người nhân nghĩa, trung chính, hiểu được cái đạo của người quân tử Chính vì vậy, một
trong những nguyên tắc hàng đầu của nghề giáo là phương pháp “thân giáo”
(gương mẫu) Có nghĩa là lấy bản thân mình làm tấm gương cho học sinh noi theo, từ trong cách đi đứng, nói năng, xử sự… vì lẽ đó mà Không Tử đã được các học trò hết lời ca ngợi, đặc biệt là những phẩm chất đạo đức với nghề dạy
học Nho giáo rất đề cao sự học, theo họ “nữa chữ cũng nhờ thầy”, “không
thầy đố mày làm nên”… Nho giáo đặt vị trí người thầy lên hàng đầu, là yếu tố
quyết định đối với việc thịnh trị của xã hội Những tư tưởng này khi vào Việt Nam đã được các nhà nho yêu nước kế thừa và phát triển phù hợp vời truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc
Ngoài ra, Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh tuyệt vời, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được giáo dục Hán học và đã tiếp thu nền văn hóa phương Tây tại trường Quốc học Huế Khi bôn ba khắp năm châu, bốn bể, Người vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi không ngừng Người đã thông thạo các ngôn ngữ tiêu biểu cho nền văn minh của nhân loại,
am tường các nền văn hóa Đông, Tây, kim, cổ Khi tiếp thu các nền văn hóa, Người bao giờ cũng phân tích các yếu tố giá trị toàn nhân loại và vĩnh cửu Người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng tinh thần văn hóa nhân loại Người là tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa giữa các nền văn hóa và tỏa ra một nền văn hóa của tương lai Trong các chuyến đi và hoạt động cách mạng của mình, Người đã và được tiếp cận nhiều tư tưởng tiến bộ về giáo dục từ Tây sang Đông, từ tư tưởng giáo dục của các nhà Khai sáng như Rousseau, cho đến tư tưởng giáo dục của chủ nghĩa Mác – Lênin và các nhà giáo dục ở phương Đông như Khổng Tử, tư tưởng nhân sinh của Phật giáo, Lão giáo…
Trang 21ngay cả các nhà giáo dục ở Việt Nam Đây là điều kiện tiền đề cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giáo dục
Trong quá trình hình thành, phát triển và tiến bộ của xã hội loài người Nhu cầu lưu giữ và truyền đạt kinh nghiệm từ đời này sang đời khác đã trở nên thiết yếu trong quá trình tìm hiểu và chinh phục tự nhiên Trong quá trình
ấy, giáo dục chiếm một vị trí quan trọng Vào giữa thế kỷ XIX, học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết mang tính khoa học và cách mạng triệt để nhất trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Học thuyết Mác – Lênin đã vạch ra những quy luật khách quan trong sự vận động, phát triển của tự nhiên
và xã hội, nó đã chỉ ra quy luật của sự hình thành nhân cách của con người,
mở ra nhiều khả năng thực tế cho việc cải tạo xã hội và giới tự nhiên
Trong học thuyết của mình, các lãnh tụ vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin
đã trình bày nhiều nội dung quan trọng, đã luận giải hàng loạt các vấn đề của
tự nhiên, xã hội và tư duy Song trùng với những kiến giải hết sức khoa học – thực tiễn ấy, C Mác – Ph Ăngghen, Lênin cũng luôn quan tâm tới vấn đề giáo dục, chỉ rõ vai trò của giáo dục đối với việc phát triển kinh tế – xã hội và
sự phát triển nhân cách của con người C Mác, Ph Ăngghen và sau này là V
I Lênin khi thừa nhận vai trò quyết định của nhân tố kinh tế – xã hội trong việc hình thành con người và nhân cách con người Các ông đều khẳng định: Con người là chủ thể của lịch sử, là lực lượng tự giác, tích cực, sáng tạo ra lịch sử C Mác viết:
“Cái học thuyết duy vật cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó con người đã biến đổi
là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi, cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được
Trang 22giáo dục, Sự phù hợp giữa sự thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động của con người, chỉ có thể được quan niệm và được hiểu một cách hợp lý khi coi đó là thực tiễn cách mạng”.[22, tr.18]
Trong luận điểm này, C Mác đã vạch ra những hạn chế của những quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước mình Khi chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII ở Pháp luôn coi nhân cách của con người là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục Luận điểm này đã có những tác dụng nhất định trong việc chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo coi nhân cách con người là cái có sẵn, hoặc nhân cách
ấy theo họ là được thần thánh ban cho hay đó là sự “hồi tưởng” lại thế giới
mà kiếp trước con người đã sống Nhưng bản thân luận điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác vẫn mang tính phiến diện, bản thân nó chỉ thấy được một mặt của vấn đề Một mặt khác nữa là, con người đã biến đổi hoàn cảnh bằng những hoạt động thực tiễn của mình Theo đó, C Mác đã cho rằng: con người
là sản phẩm của một nền giáo dục nhất định, nhưng chúng ta không được tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục Nếu tuyệt đối hóa giáo dục sẽ dấn đến việc đặt một bộ phận (những người đi giáo dục, những nhà giáo dục) đứng lên trên
xã hội và bộ phận còn lại chỉ là sản phẩm thụ động của một chế độ giáo dục nhất định Thật ra mà nói, những nhà giáo dục chưa phải là những con người hoàn thiện nhất, họ luôn nhận được sự giáo dục từ xã hội Con người cũng không phải là sản phẩm của một nền giáo dục nhất định Bởi vì, những cá nhân tiên tiến tuy được giáo dục trong nhà nước của đế quốc, thực dân chẳng những không tiêm nhiễm những tư tưởng do nhà trường cũ nhồi nhét Ngược lại, bản thân họ đã có tư duy mang tính độc lập, họ phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, những gì là thành quả của sự phát triển văn minh nhân loại
và những gì chỉ là sản phẩm của một chế độ xã hội lỗi thời
Trong lĩnh vực giáo dục, Ph Ăngghen cũng có những cống hiến đặc biệt nổi bật, cùng với C.Mác, người đã đặt nền móng vững chắc cho việc xây
Trang 23dựng và phát triển nền giáo dục vô sản Ph Ăngghen cho rằng, mỗi chế độ xã hội cần có một nền giáo dục tương ứng với trình độ phát triển của xã hội và sản xuất Bằng phương pháp duy vật lịch sử, Ph Ăngghen đã phân tích một cách khoa học và rõ ràng mối quan hệ biện chứng thúc đẩy lẫn nhau và tạo điều kiện cho nhau giữa xã hội, giữa nền sản xuất và con người Theo đó, xã hội cần có và tạo điều kiện cho con người phát triển, đồng thời chính con người đến lượt mình, lại thúc đẩy xã hội phát triển Giáo dục có trọng trách to lớn trong việc tạo nên những con người đó cho xã hội và cho sản xuất Ph Ăngghen nhấn mạnh: “Muốn thay đổi những điều kiện xã hội phải có một chế
độ giáo dục thích hợp”[24, tr.771], và
“nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và
có kế hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất”.[23, tr.474] Ông luận giải một cách khoa học đầy thuyết phục về vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội, ông đã chỉ rõ giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, thông qua đó giáo dục góp phần quyết định sự vận động và phát triển của xã hội Những vấn đề cơ bản, chủ yếu của nền giáo dục trong xã hội mới như vấn đề mục đích, bản chất, tính chất, phương châm, nguyên tắc, nguyên lý giáo dục, vai trò của nhà nước, của xã hội đối với giáo dục… đều được Ph Ăngghen trình bày và luận giải một cách sâu sắc, tạo nền tảng lý luận rất cơ bản cho sự hình thành và phát triển nền giáo dục vô sản tương lai Theo Ph Ăngghen, nền giáo dục XHCN là một nền giáo dục “thống nhất cho tất cả mọi người, tiến hành cho đến lứa tuổi mà người ta có thể trở thành một thành viên độc lập của xã hội”[21, tr.370], là nền giáo dục thực hiện “giáo dục phổ thông
do nhà nước cấp kinh phí cho tất cả trẻ em, không trừ một ngoại lệ nào”.[21,
tr.370] Đó còn là nền giáo dục thực hiện “công bằng” trong giáo dục, tạo
Trang 24điều kiện để mọi người phát triển toàn diện tài năng của mình, đảm bảo cung cấp một cách hậu hỉ học phí cho những tài năng để “họ có thể hoàn thành việc học tập” và cất nhắc họ nhanh chóng về chức vụ, tạo điều kiện cho họ cống hiến và phát triển Và, Giáo dục phải “làm cho những thành viên trong xã hội
đó có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của mình”[23, tr.475], phải “phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng những phương tiện”.[23, tr.474]
Ph Ăngghen nêu lên những tư tưởng rất cơ bản về nguyên lý, phương châm, phương pháp, hình thức và nội dung giáo dục, khẳng định dạy học phải lấy người học làm trung tâm, dạy học phải phát huy tối đa tính sáng tạo và tích cực của người học, giáo dục phải kết hợp với tự giáo dục, giáo dục phải đảm bảo học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục gắn liền với lao động, sản xuất Luận đề cơ bản mà Ph Ăngghen nêu lên: “Kết hợp việc giáo dục với lao động trong công xưởng” [23, tr.471] đã chỉ rõ phương châm, nguyên lý giáo dục gắn với thực tiễn, gắn với sản xuất, học đi đôi với hành, giáo dục phải phục vụ cho sản xuất và nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, của sản xuất, chỉ rõ yêu cầu của giáo dục và yêu cầu của sản xuất phải gắn bó chặt chẽ với nhau, quy định và đòi hỏi lẫn nhau, phải kết hợp với nhau
Lênin đã kế thừa, vận dụng và phát triển những tư tưởng của C.Mác và
Ph Ăngghen về giáo dục vào trong thực tiễn cách mạng nước Nga, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước Nga vào những thập niên đầu của thế kỷ
XX Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của công tác giáo dục, coi đó là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng CNXH Lênin nói:
“Sự nghiệp của nhà trường chúng ta cũng là đấu tranh đánh
đổ giai cấp tư sản, chúng ta tuyên bố công khai rằng: nói nhà trường đứng ngoài cuộc sống, ngoài chính trị, là nối dối và lừa
Trang 25bịp”, “ Những người lao động khao khát có tri thức, vì tri thức cần cho họ để chiến thắng Chín phần mười quần chúng lao động đã hiểu rõ rằng tri thức là một vũ khí trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của họ, rằng sở dĩ họ thất bại là do thiếu học thức, rằng giờ đây việc làm cho mọi người có thể thực sự được học hành, là do bản thân họ quyết định Sự nghiệp của chúng ta sẽ thắng vì bản thân quần chúng đã bắt tay xây dựng một nước Nga mới, xã hội chủ nghĩa”.[18, tr.103-106]
Theo đó, một trong những điều kiện cơ bản, tiên quyết để nâng cao năng suất lao động là phải nâng cao trình độ học vấn và văn hóa cho quần chúng nhân dân lao động Điều này, chỉ có thể thực hiện được và thực hiện đạt hiệu quả tối ưu nhất là thông qua giáo dục và bằng giáo dục Nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của công tác giáo dục trong sự nghiệp chấn hưng đất nước nên trong Dự thảo cương lĩnh của Đảng Cộng sản Nga tháng 2/1919 Lênin nói:
“Nhà trường phải trở thành một công cụ của chuyên chính vô sản, nghĩa là nhà trường không những phải truyền bá những nguyên
lý của chủ nghĩa cộng sản nói chung, mà còn phải là một công cụ truyền bá ảnh hưởng về tư tưởng, về tổ chức và giáo dục của giai cấp vô sản vào những tầng lớp nửa vô sản và không phải vô sản trong quần chúng lao động, nhằm hoàn toàn đập tan sự kháng cự của bọn bóc lột và thực hiện chế độ cộng sản, Kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục với lao động sản xuất” [19, tr.140-141]
Bên cạnh những quan điểm về giáo dục và đào tạo nêu trên, Lênin còn
đưa ra khẩu hiệu nổi tiếng: “Học, học nữa, học mãi!”, đã trở thành khẩu hiệu,
thành câu châm ngôn của hàng triệu, triệu các thế hệ không chỉ của nền giáo dục ở Nga, mà còn là khẩu hiệu của nền giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế
Trang 26giới, trong đó có Việt Nam
Như vậy, cả C Mác, Ph Ănghen và Lênin đều khẳng định vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội và sự tác động trở lại của phát triển kinh tế – xã hội đối với giáo dục và đào tạo, chỉ rõ
ý nghĩa lớn lao và vai trò quyết định của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển con người
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ GIÁO DỤC
1.2.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu giáo dục
Với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tìm đường,
mở đường và dẫn đường cho nhân dân ta đi đến độc lập tự do, nước mạnh dân giàu Gắn liền với sự nghiệp cách mạng vĩ đại đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn
là người sáng lập ra nền giáo dục khoa học và cách mạng của dân tộc, tạo ra được nguồn động lực to lớn đưa Việt Nam sánh vai cùng các nước trên thế giới Từng là nhà giáo dục, người thầy giáo, với tầm nhìn thời đại, Hồ Chí Minh đã đưa ra những mục tiêu của giáo dục cách mạng Trong “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường năm học mới đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945 Người viết:
“Trước đây cha anh các em, và mới năm ngoái cả các em nữa,
đã phải chịu nhận một nền học vấn nô lệ, nghĩa là nó chỉ đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.[49, tr.71-72]
Theo đó, nền giáo dục cách mạng sẽ hướng đến mục tiêu đào tạo ra
Trang 27những con người có ích cho xã hội, cho đất nước Việt Nam Con người phải được đào tạo trên nền tảng kiến thức vững chắc, có kỹ năng sáng tạo nhưng đồng thời mỗi cá nhân được giáo dục phải có ý thức về dân tộc để ra sức không ngừng học tập chinh phục những đỉnh cao tri thức để phục vụ, công hiến cho xã hội Bên cạnh đó cá nhân được giáo dục phải có sức khỏe tốt để lao động tốt, “một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn
có của các em”.[26, tr.40] Đồng thời “Học để sửa chữa tư tưởng” “Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng”.[28, tr.50] Học không chỉ đơn thuần để hiểu, để biết mà còn để sửa mình, chấn chỉnh, rèn luyện mình Học còn để sửa chữa tư tưởng vì có rất nhiều tư tưởng phi cách mạng, nhiều tư tưởng chưa thật đúng, phải học tập để sửa lại cho đúng Khi tư tưởng đã đúng thì hành động không sai lạc, như thế mới làm tròn được nhiệm vụ cách mạng Bên cạnh tài năng người rất coi trọng đức của con người Người yêu cầu phải học để tu dưỡng đạo đức của người cách mạng Người khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.[27, tr.489]
Theo quan điểm của Người, những mục tiêu đó của giáo dục có quan hệ biện chứng với nhau Có phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn, mà thiếu phẩm chất đạo đức với ý nghĩa là gốc, là nguồn thì cũng vô dụng Người dạy rằng: “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã
hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì ?”.[27, tr.490] Ngoài ra, “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân,
Tổ quốc và nhân loại”.[27, tr.684]
Trang 281.2.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về nội dung giáo dục
Bên cạnh việc đưa ra mục tiêu mà giáo dục cần hướng đến Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến nội dung của giáo dục Theo đó, nội dung giáo dục phải toàn diện từ văn hóa, chính trị, khoa học – kỹ thuật cho đến chuyên môn nghiệp vụ, lao động Các nội dung đó có mối quan hệ mật thiết với nhau Theo Người, học chính trị là học chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Cách học phải sáng tạo, không giáo điều Học để nắm các quan điểm có tính nguyên tắc, phương pháp luận Học chủ nghĩa Mác – Lê nin, như Người nói, không phải để “thuộc sách lầu lầu” , mà là
“ Học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta Học để mà làm”.[31, tr.299-300]
Học tập khoa học kỹ thuật để đáp ứng đòi hỏi của thời đại mới, thời đại của cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bão Có thể khái quát tư tưởng về nội dung giáo dục của Người qua các điểm sau đây:
Một là: Cần phải giáo dục tinh thần yêu nước, nâng cao trình độ lý luận
chính trị cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân
Đây là nội dung giáo dục cơ bản nhất đã được thể hiện trong hầu hết các bài phát biểu, bài viết, trong từng việc làm và hành động của Người Đối với dân tộc Việt Nam, truyền thống yêu nước không chỉ là một tình cảm tự nhiên,
mà nó còn là sản phẩm của lịch sử được hun đúc từ chính lịch sử đau thương
mà hào hùng của dân tộc Việt Nam Lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ nền độc lập tự chủ từ tay bao kẻ thù xâm lược Nếu nhìn lại lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta dưới thời đấu tranh chống phong kiến phương Bắc thì đây là khoảng thời gian khá dài nó tương đương trên dưới cả thiên niên kỷ Chính vì vậy mà tinh thần yêu
Trang 29nước đã ngấm sâu vào tình cảm, vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua tất cả các thời đại, làm nên một sức mạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác, cho dù chúng có hùng mạnh đến đâu Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết trong Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, tháng 2 năm 1951:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh
mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”.[28, tr.171-172]
Đối với mỗi con người Việt Nam dù sinh sống ở đâu trên khắp trái đất này thì lòng luôn hướng về Tổ quốc, nếu cần họ cũng sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc thân yêu, nhất là mỗi khi Tổ quốc cần Lòng yêu nước ở mỗi người dân Việt nam đã được thể hiện ở tinh thần dám xả thân vì nước, sẵn sàng đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích riêng tư của bản thân mình, đấu tranh không biết mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc Có thể nói rằng, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc luôn là đỉnh cao trong mọi giá trị của dân tộc Hồ Chí Minh cho rằng việc giáo dục tinh thần yêu nước là yếu tố cốt lõi nhất, cơ bản nhất và quan trọng nhất trong các nội dung giáo dục Bởi vì, tinh thần yêu nước và tự giáo dục, trau dồi, bồi dưỡng tinh thần yêu nước là một trong những yếu tố của đạo “Nhân”, để thực hiện đạt “đạo làm người” nhất thiết mỗi cá nhân phải có lòng yêu thương con
Trang 30người, đặc biệt là tình yêu thương giống nòi, yêu thương đồng loại không chỉ
cá thể của những con người trong một quốc gia, dân tộc mà còn phải có tinh thần quốc tế trong sáng Hồ Chí Minh từng nói:
“Tinh thần yêu nước cũng giống như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy Nhưng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”.[28, tr.172] Người còn nói: “Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần
“vị quốc” của bọn đế quốc phản động Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”.[28, tr.172] Theo Người, tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong điện chúc mừng tới Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên Kim Nhật Thành nhân kỷ niệm
ba năm kháng chiến của nhân dân Triều Tiên, ký bút danh Đ.X, đăng báo Cứu
quốc, số 2367 Người đã nhấn mạnh: Tinh thần yêu nước và tinh thần Quốc tế
liên hệ khăng khít với nhau Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hoà bình thế giới Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hoặc chủ nghĩa bành trướng bá quyền, kỳ thị chủng tộc… Những khuynh hướng sai lệch ấy có thể dẫn đến chỗ phá vỡ một quốc gia dân tộc hay một liên bang đa quốc gia dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung, thậm chí có thể đưa đến tình trạng đối đầu đối địch
Nói về vai trò của lòng yêu nước và tính thực tiễn đầy giá trị của nó trước khi yêu cầu phải xem nội dung này ở vị trí đỉnh cao Người dẫn chứng:
“Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân Liên
Trang 31Xô đã đánh tan bọn phát xít Đức – Nhật và giữ vững tổ quốc xã hội chủ nghĩa, và do đó mà giúp đỡ giai cấp công nhân và các dân tộc
bị áp bức trên thế giới Chính do tinh thần yêu nước mà quân giải phóng Trung Quốc đã đánh tan bọn bán nước và Tưởng Giới Thạch
và đuổi được bọn đế quốc Mỹ… Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”[28, tr.173]
Bên cạnh yêu cầu phải giáo dục tinh thần yêu nước Hồ Chí Minh rất quan tâm chú trọng đến việc giáo dục, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho mọi người Đây là một công việc có ý nghĩa sâu sắc, là động lực quan trọng trong đấu tranh chống kẻ thù Theo Hồ Chí Minh, lý luận đã giúp con người hiểu được bản chất, quy luật, xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng và thực tiễn đã và luôn đặt ra yêu cầu cần có lý luận khoa học hướng dẫn, soi đường Người nói:
“Lý luận quan trọng đối với Đảng ta như thế nào? Lênin, người thầy vĩ đại của chúng ta đã tóm tắt tầm quan trọng của lý luận trong mấy câu như sau: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và chỉ có Đảng nào có lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ xung phong”[30, tr.497]
Và, thực tiễn mà không có lý luận không khác gì “đi trong đêm tối vừa chậm chạp, vừa hay vấp váp”, có lý luận mới thấy được con đường sáng tỏ,
có được định hướng, hành động mới thật sự đúng hướng và mang lại kết quả cao Để nâng cao trình độ nhận thức về lý luận chính trị cho mọi người, Hồ
Trang 32Chí Minh yêu cầu phải chú trọng giáo dục lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
Vì lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là
“Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học
về xây dựng chủ nghĩa cộng sản”.[30, tr.499-500]
Do đó, nâng cao trình độ lý luận là yêu cầu nhất thiết trong đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cách mạng “vừa hồng vừa chuyên”
Hai là: Phải giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho mọi tầng lớp nhân
dân Người yêu cầu phải không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, theo đó đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối
Người phân tích: Người nào có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai, nhưng cũng chẳng có ích
gì Ngược lại, nếu có tài mà không có đức thì cũng chẳng khác gì một anh làm kinh doanh giỏi, đem lại nhiều lãi, nhưng lãng phí, tham ô, ăn cắp của công, thì như vậy chỉ có hại cho dân, cho nước, còn sự nghiệp của bản thân thì sớm muộn cũng đổ vỡ Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực, tài năng để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
“Có tài mà không có đức là người vô dụng
Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”
Suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình, vấn đề đạo đức cách mạng luôn được Người quan tâm ở vị trí hàng đầu, với “ham muốn tột bậc là nước phải hoàn toàn được độc lập, dân phải hoàn toàn được tự do, đồng bào
ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng phải được học hành” Đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm là đạo đức suốt đời vì hạnh phúc nhân dân Trong
Trang 33nội dung giáo dục đạo đức, Người cho rằng: “Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc”.[27, tr.1312] Đây là “tứ đức” không thể thiếu được của con người Người viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa thì không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người”.[27, tr.1312]
Bác cũng nhấn mạnh: Cần, kiệm, liêm, chính càng cần thiết đối với người cán bộ, đảng viên Nếu đảng viên mắc sai lầm thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước
đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, sự văn minh của dân tộc
Nó là cái cần thiết để “làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại” Ngoài
ra, Hồ Chí Minh còn kêu gọi mọi người phải ra sức chống tệ tham ô, lãng phí
và bệnh quan liêu Theo Người, cán bộ tham ô chính là kẻ ăn cắp của công, đục khoét nhân dân, nhân dân tham ô là cắp của công, khai gian, lậu thuế Người nói: “Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho chính phủ Có khi tai hại hơn tham ô.” Chính vì vậy,
“Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ”, “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”.[28, tr.489-490]
Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa sáng tạo, tiếp thu những giá trị đạo đức đã được đúc kết bởi truyền thống dân tộc nhằm xây dựng một hệ thống giá trị đạo đức mới mang tính giai cấp, tính dân tộc trong thời đại mới Ngoài ra, các
Trang 34tư tưởng về đạo đức còn xuất phát từ triết lý sống của Người, nội hàm tư tưởng rộng lớn, phong phú, thiết thực và rất đỗi sâu sắc, phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc và thời đại
Ba là: Cần phải giáo dục văn hóa, trình độ chuyên môn và tinh thần yêu
lao động cho con người Khi thực tiễn luôn vận động và phát triển, con người cần phải có những tri thức khoa học nhất định để hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng đặt ra trong tương lai gần, hay xa hơn nữa Người quan niệm:
“Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và
kỷ thuật”.[34, tr.409]
Giáo dục văn hóa có vai trò hết sức quan trọng, hướng đến việc tạo ra những con người có tư duy sáng tạo, biết tiếp thu, phát hiện và sáng tạo ra cái mới, hướng đến phục vụ tốt hơn cho cuộc sống con người Do đó, Người cho rằng nội dung văn hóa phải có tính giáo dục và giáo dục là giáo dục văn hóa Phải xem trọng văn hóa truyền thống của dân tộc bên cạnh tiếp thu những nét văn hóa có giá trị và phù hợp từ bên ngoài Người đã xác định văn hóa chính
là một mặt căn bản của xã hội, nó là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ để xây dựng con người mới
Ngoài ra, theo quan niệm của Hồ Chí Minh thì con người mới là con người phải có học thức Con người mới phải học văn hóa, chính trị và kỹ thuật, đó là cách tốt nhất để có con người mới có đủ đức lẫn tài đảm nhận được nhiệm vụ cách mạng cao cả
Trong nội dung tư tưởng giáo dục con người mới, Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm đến giáo dục tinh thần yêu nước, các phẩm chất đạo đức, trình
độ văn hóa… mà Người còn quan tâm đến việc giáo dục tinh thần hăng say
Trang 35lao động, yêu lao động và quý trọng lao động Người xem lao động là nghĩa
vụ thiêng liêng của người công dân đối với Tổ quốc, yêu Tổ quốc phải gắng liền với lòng hăng say lao động để tạo ra của cải, vật chất, làm cho dân giàu, nước mạnh Có như vậy mới đưa đất nước phát triển vững mạnh và trường tồn Bởi vì “chính thông qua lao động con người mới hiểu được bản thân mình, từng bước khẳng định sức mạnh đối với xã hội và tự nhiên”.[50, tr.209]
Bốn là: Phải giáo dục sức khỏe và mỹ dục cho mọi người Người cho
rằng: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khỏe Muốn giữ gìn sức khỏe thì phải thường xuyên tập thể dục, thể thao Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục, thể thao cho rộng khắp”.[32, tr.116] Bên cạnh đó, Người còn quan tâm đến việc giáo dục nâng cao trình độ thưởng thức thẩm mỹ cho mọi người Hồ Chí Minh giải thích: “Mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp”.[30, tr.14] Do đó, giáo dục thẫm
mỹ là yêu cầu tốt đẹp nhằm phục vụ cho cuộc sống tốt đẹp, làm cho con
người có lý tưởng sống tốt hướng đến “chân”, “thiện”, “mỹ”
1.2.3 Quan điểm Hồ Chí Minh về phương châm giáo dục
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt chú trọng đến phương châm giáo dục thiết thực, cụ thể và khoa học Người cho rằng: “Muốn học tập có kết quả tốt thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng”.[34, tr.96-97] Trong hệ thống tư tưởng về giáo dục, Người đã đề cập đến một số phương châm về giáo dục, cụ thể như sau:
Một là: Học phải đi đôi với hành, lý luận phải đi đôi với thực tiễn Đây
được xem là một trong những phương châm có tính nguyên tắc trong tư tưởng giáo dục của Người Nguyên tắc có ý nghĩa phương pháp luận, đã trở thành
“một nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh và là một trong những yếu tố góp phần làm cho tư tưởng của Người có sức sống trường tồn và có sức mạnh cải tạo vĩ đại”.[35, tr.41] Theo người, học và hành là hai khâu của
Trang 36quá trình nhận thức, luôn gắn bó khăng khít với nhau Hành bản thân nó là phương pháp học, hành không chỉ là vận dụng những điều đã học, mà còn là nguồn gốc của tri thức mới, là biện pháp rèn luyện con người một cách toàn diện, dẫn đến sự xác minh tri thức, lòng quyết tâm thực hiện những điều đã học, một khi những điều đó được công nhận là chân lý Chính vì vậy, học phải đi đôi với hành, lý luận phải được liên hệ với thực tiễn Học phải gắn với hành, học mà không hành, không áp dụng vào thực tế thì không khác nào chiếc hòm đựng đầy sách, hành mà không học thì hành không trôi chảy Minh chứng cho điều này, Người cho rằng:
“Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả Thế là y chỉ có trí thức một nửa Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải là trí thức hoàn toàn Y muốn thành người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”[27, tr.472]
Người chỉ rõ thêm:
“Lý luận phải đem ra thực hành Thực hành phải nhằm theo lý luận Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn) Thực hành cũng như cái đích để bắn Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế Chỉ học thuộc lòng, để đem loè thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành ”[27, tr.472] Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta Học là để làm việc, lý luận phải đi đôi với thực tiễn
Trang 37Trong bài nói chuyện với cán bộ, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngày 21-10-1964, Người đã ân cần chỉ bảo:
“Các cháu học sinh không nên học gạo, không nên học vẹt, Bác không cần giải thích học gạo, học vẹt là thế nào, vì các cháu biết cả rồi Học phải suy nghĩ, phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành Học với hành phải kết hợp với nhau”.[33, tr.333]
Hai là: Trong giáo dục cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình,
nhà trường và xã hội Để đạt được mục tiêu giáo dục, ngoài phương châm giáo dục đã nêu, cần coi trọng sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội Quan điểm này của Người từ lâu đã trở thành phương châm giáo dục được các cấp quản lý và các cơ sở giáo dục cố gắng thực hiện Người chỉ rõ giáo dục các em là việc chung của gia đình, trường học và xã hội Các bậc phụ huynh, thầy giáo phải cùng nhau phụ trách, trước hết phải gương mẫu cho các em trước mọi việc Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những người làm công tác giáo dục phải nhận thức đúng đắn giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, kết quả giáo dục tuỳ thuộc rất nhiều vào sự tham gia tích cực, sự giúp đỡ thiết thực và sự giác ngộ về trách nhiệm đối với giáo dục của các cấp
ủy, chính quyền, các ngành, các cấp và toàn xã hội Người chỉ rõ, để có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cần phát huy dân chủ, xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa thầy với thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa nhà trường với nhân dân Để gắn kết các yếu tố nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục cần chú trọng các phong trào thi đua Người dành sự quan tâm chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua,
như phong trào “Người tốt, việc tốt” trong toàn quốc, phong trào “Dạy tốt –
học tốt” trong nhà trường, đề xuất công tác Trần Quốc Toản, phong trào “Kế hoạch nhỏ” cho các cháu thiếu niên và nhi đồng,… nhằm tạo nên môi trường
Trang 38xã hội rộng lớn và thuận lợi cho công tác giáo dục
Ba là: Phải thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục Trong bài nói
chuyện tại buổi lễ khai mạc trường đại học nhân dân Việt Nam, ngày 19/1/1955 Hồ Chí Minh đã dạy:
“Trong trường cần có dân chủ Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, bàn cho thông suốt Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải là cá đối bằng đầu Đồng thời thầy và trò cần giúp đỡ những anh chị em phục vụ cho nhà trường Các anh chị em nhân viên thì nên thi đua sao cho cơm lành canh ngọt để cho học sinh ăn no, học tốt”.[29, tr.456]
Trong thư gởi các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới, đăng trên báo Nhân dân, số 5299, ra ngày 16 tháng 10 năm 1968, Bác Hồ nhắc nhở:
“…Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và
học tốt Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên
môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề
ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật… Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ…” [34, tr.409]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục ở nhà trường luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp giáo dục nói riêng của đất nước trong bối cảnh hội nhập
Trang 39hiện nay Với quan niệm dân chủ là tài sản quý báu nhất của nhân dân và thực
hành dân chủ là chìa khóa để giải quyết mọi khó khăn Trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh” ở nước ta, hơn bao giờ hết tư tưởng Hồ Chí Minh về việc thực hiện
dân chủ trong giáo dục ở nhà trường càng có ý nghĩa thiết thực và mang tính thời sự sâu sắc, vì rằng chỉ có thực hiện và phát huy được dân chủ trong nhà trường mới đảm bảo là cơ sở, nền tảng vững chắc cho việc khơi thông mọi tiềm năng về trí tuệ vốn sẳn có trong mỗi con người Việt Nam, nhất là tầng
lớp sinh viên, học sinh để đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, vừa “hiền” vừa “minh”, có tri thức khoa học kỹ thuật – tự
nhiên – xã hội, có lý tưởng XHCN, đạo đức, sức khoẻ
1.2.4 Quan điểm Hồ Chí Minh về người thầy
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nói chung và việc xây dựng đội ngũ nhà giáo nói riêng Bản thân Người cũng đã từng là thầy giáo đã trực tiếp giảng dạy cho học trò Trong tư tưởng của Người chúng ta luôn tìm thấy sự trăn trở lo âu, những lời dặn dò và sự kỳ vọng to lớn đối với việc xây dựng đội ngũ người thầy Người có quan niệm khá hoàn chỉnh về vai trò, nhiệm vụ, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức
và phương pháp giảng dạy của người thầy giáo Đây là những quan điểm quý giá phục vụ cho quá trình tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay
Một là, quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò và nhiệm vụ của người thầy giáo
Theo Hồ Chí Minh, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục chính là đội ngũ những người thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục Theo Người, vai trò và nhiệm vụ của người thầy giáo có mối quan hệ mật thiết và
Trang 40không tách rời nhau Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa”, truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của xã hội Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”,[30, tr.184]… “không có giáo dục, không có cán
bộ thì không nói gì đến kinh tế – văn hóa”,[31, tr.492] và “học trò tốt hay xấu
là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu”.[31, tr.492]
Hồ Chí Minh cho rằng, người thầy giáo có sứ mệnh đào tạo nên một lớp người vừa có đức, vừa có tài để kế tục sự nghiệp cách mạng Đây là sứ mệnh cao cả và hết sức nặng nề nhưng vẻ vang mà Đảng, Chính phủ và nhân dân đã giao phó Người viết:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt
và cán bộ tốt cho nước nhà Nhân dân, Đảng và Chính Phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho các cô, các chú”,[31, tr.222]
và “nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được”.[33, tr.331]
Xuất phát từ nguyên lý giáo dục: học phải đi đôi với hành, học tập phải gắn liền với thực tiễn lao động sản xuất Người cho rằng, vai trò của người thầy giáo không còn bó hẹp trong môi trường sư phạm, trong lớp học, trong trường học mà còn được thể hiện ở ngoài xã hội Người nói: “Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống của nhân dân Thầy giáo và học trò, tuỳ hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân” [30, tr.80] Chính vì vậy, sau Cách mạng tháng Tám 1945, Người xác định nhiệm vụ của người thầy giáo là trên mặt trận “chống nạn mù