1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trình bày hoàn cảnh đất nước và chủ trương “Kháng chiến – kiến quốc ngày 25111945 của Trung ương Đảng. Ý nghĩa của chủ trương đó

23 557 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 3,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày hoàn cảnh đất nước và chủ trương “Kháng chiến – kiến quốc” ngày 25111945 của Trung ương Đảng. Ý nghĩa của chủ trương đó? Hoàn cảnh đất nước Chủ trương “Kháng chiến – Kiến quốc Xác định đúng kẻ thù của dân tộc Việt Nam là thực dân Pháp xâm lược, “phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”. Bảo vệ được nền độc lập của đất nước, giữu vững được chính quyền Cách Mạng Xây dựng được những nề móng đầu tiên và cơ bản của một chế độ mới. Chuẩn bị những điều kiện cần thiết, trực tiếp cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau đó.

Trang 1

Đường lối Cách Mạng Đảng Cộng Sản Việt Nam

Nhóm 7

1 Trần Quang Đôn

2 Trần Đình Sơn

3 Đào Quý Chính

4 Nguyễn Anh Tuấn

Giảng viên hướng dẫn: Lê Thị Lan

Trang 2

Câu 4: Trình bày hoàn cảnh đất nước và chủ trương

“Kháng chiến – kiến quốc” ngày 25/11/1945 của

Trung ương Đảng Ý nghĩa của chủ trương đó?

Trang 3

1 Hoàn cảnh đất nước

a) Thuận lợi:

• Chính quyền giành được trong toàn

quốc, nhân dân phấn khởi xây dựng

Trang 4

Hình ảnh Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945

Trang 5

b.Khó khăn

Thù trong giặc ngoài bao vây tứ phía.

Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc, dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật Bản, lũ lượt kéo vào Việt Nam,

Trang 6

- Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam

có hơn 1 vạn quân Anh kéo vào, tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, lợi dụng tình hình đó, bọn phản động trong nước ngóc đầu

dậy, làm tay sai cho Pháp

chống phá cách mạng

Trang 7

- Ngoài ra còn quân Nhật

đang chờ để giải giáp Một bộ phận theo lệnh đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm

đóng Nam Bộ

Trang 8

– Về chính trị:

+ Chính quyền cách mạng còn non trẻ, chưa được củng cố Đảng và

nhân dân Việt Nam chưa có kinh nghiệm giữ chính quyền

+ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao Cách mạng Việt Nam ở trong tình thế bị bao vây, cô lập

Trang 9

+ Ruộng đất hoang hoá

+ Công thương nghiệp đình đốn

+ Công nhân không có việc làm

+ Hàng hoá khan hiếm

Trang 13

-Ngân sách Nhà nước hầu như trống rỗng, Chính quyền cách mạng chưa quản lí được ngân hàng Đông Dương.

-Trong khi đó quân Trung

Hoa Dân quốc tung ra thị

trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá, càng làm

cho nền tài chính thêm rối

loạn

Trang 15

2 Chủ trương “Kháng chiến – Kiến quốc”

Ngày 25 – 11 – 1945, Trung ương đảng ra bản chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc”, xác định:

+ Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam “vẫn là giải phóng dân tộc”, khẩu hiệu của nhân dân là “dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”;

+ Kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược;

+ 4 nhiệm vụ cấp bách trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân;

+ Phương hướng đối ngoại là kiên trì nguyên tắc bình đẳng, hợp tác”, “thêm bạn, bớt thù”, đối với quân Trung Hoa dân quốc thực hiện khẩu hiệu “Hoa, Việt thân thiện”, đối với Pháp thực hiện “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”

Trang 16

Ngày 6/1/1946, Chính phủ nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hoà tổ chức cuộc Tổng tuyển

cử bầu Quốc hội trong cả nước.

Ngày 2/3/1946, Quốc hội Khoá I Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà họp phiên đầu tiên

Trang 17

Chống thực dân Pháp quay trở lại nam bộ.

Trang 18

Nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và noi gương Người:

“Cứ 10 ngày 

nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”, 

Trang 19

Tuần lễ vàng

Riêng trong Tuần lễ Vàng, các tầng lớp nhân dân đã

quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kilôgam vàng. Một cụ già tám mươi tuổi mang tới một gói lụa điều, bên trong là nén vàng gia bảo nặng mười bảy lạng.

Trang 20

Bình dân học vụ

Một lớp bình dân học vụ Bác Hồ đến thăm lớp bình dân học vụ Phường Lương Yên

Trang 21

Tính đến cuối năm 1945, Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được hơn 22.100 lớp học với gần

30 nghìn giáo viên và đã dạy biết chữ cho hơn 500 nghìn học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả Đến cuối năm 1946, Bộ Quốc gia giáo dục báo cáo có 74.975 lớp với 95.665 giáo viên,

riêng ở Bắc Bộ và  Trung Bộ  đã có 2.520.678 người biết đọc, biết viết.

Trang 23

Cảm ơn cô và các bạn đã theo dõi bài thuyết trình

Ngày đăng: 24/11/2017, 11:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w