1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang

106 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 4,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iii LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh Portun

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN NGỌC TOẢN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN VÀ CHẾ PHẨM SINH HỌC ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN

THÁI CỦA ẤU TRÙNG GHẸ XANH Portunus pelagicus

(Linnaeus, 1766) TẠI KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN NGỌC TOẢN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN VÀ CHẾ PHẨM SINH HỌC ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN

THÁI CỦA ẤU TRÙNG GHẸ XANH Portunus pelagicus

(Linnaeus, 1766) TẠI KIÊN GIANG

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ,

thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766) tại Kiên Giang” là công trình nghiên cứu

của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày 22 tháng 3 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Toản

Trang 4

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quí Thầy Cô, gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Khánh Hòa, ngày 22 tháng 3 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Toản

Trang 5

v

MỤC LỤC

Lời cam đoan ……….iii

Lời cảm ơn ……….iv

Mục lục …….……… v

Danh mục chữ viết tắt ……… viii

Danh mục bảng ……… ix

Danh mục hình ……… x

Danh mục đồ thị……….xi

Trích yếu luận văn ……… ……….xii

MỞ ĐẦU ……… ……….1

1 Đặt vấn đề ………… ……… 1

2 Mục tiêu của đề tài ………… ……… 2

3 Nội dung nghiên cứu ……… ……… 2

4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của nghiên cứu ………… ………2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… ……… 3

1.1 Đặc điểm sinh học ghẹ xanh ……… ……… 3

1.1.1 Phân loại và hình thái ……… ……… 3

1.1.2 Phân bố ……… ……… 4

1.1.3.Vòng đời ……… ……….5

1.1.4 Sinh trưởng ……… 5

1.1.5 Môi trường sống và thức ăn ……….6

1.1.6 Sinh sản……….7

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới ……….9

1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước ……… ……… 12

1.4 Nghiên cứu ứng dụng CPSH trong nuôi trồng thủy sản ……… ….14

Trang 6

vi

1.4.1 Khái niệm và vai trò của CPSH ……… …14

1.4.2 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng CPSH trên thế giới……….18

1.4.3 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng CPSH trong nước … ……….20

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… ……… ……….22

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu ……… …….…………22

2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm…… ……… 22

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu ……….……… 22

2.2.2 Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với mật độ khác nhau… ………23

2.2.2.1 Ương ghẹ xanh từ Z1 đến Me với mật độ khác nhau (thí nghiệm 1) …… 23

2.2.2.2 Ương ghẹ xanh từ Me đến G1 với mật độ khác nhau (thí nghiệm 2)……… 23

2.2.3 Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1với thức ăn khác nhau (thí nghiệm 3).… …….24

2.2.4 Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với CPSH khác nhau (thí nghiệm 4) …………25

2.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu ……… ……… 26

2.3.1 Kiểm tra các yếu tố môi trường……… 26

2.3.2 Xác định các chỉ tiêu sinh học ………27

2.4 Phương pháp xử lý số liệu, phân tích thống kê……….27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ……….………….29

3.1 Kết quả ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với mật độ khác nhau ……… ……… 29

3.1.1 Kết quả ương ghẹ xanh từ Z1 đến Me với mật độ khác nhau…… ………… 30

3.1.1.1 Yếu tố môi trường ương ghẹ xanh từ Z1 đến Me với mật độ khác nhau….…29 3.1.1.2 Tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh được ương từ Z1 đến Me với mật độ khác nhau……… ……… 30

3.1.1.3 Tỷ lệ ấu trùng chuyển sang giai đoạn Me tại ngày ương thứ 10……….32

3.1.1.4 Tỷ lệ sống ghẹ xanh được ương từ Z1 đến Me với mật độ khác nhau……….33

Trang 7

vii

3.1.2 Kết quả ương ghẹ xanh từ Me đến G1 với mật độ khác nhau ………… …… 35

3.1.2.1 Yếu tố môi trường ương ghẹ xanh từ Me đến G1 với mật độ khác nhau….…35 3.1.2.2 Tỷ lệ ấu trùng chuyển sang giai đoạn G1 tại ngày ương thứ 3… ………… 36

3.1.2.3 Tỷ lệ sống ghẹ xanh được ương từ Me đến G1 với mật độ khác nhau… … 38

3.2 Kết quả ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với thức ăn khác nhau…… ……….39

3.2.1 Yếu tố môi trường ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với thức ăn khác nhau ……39

3.2.2 Tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh được ương từ Z1 đến G1 với thức ăn khác nhau ……… ……… 41

3.2.3 Tỷ lệ ấu trùng chuyển sang giai đoạn G1 tại ngày ương thứ 14….……….43

3.2.4.Tỷ lệ sống ghẹ xanh được ương từ Z1 đến G1 với thức ăn khác nhau……… 44

3.3 Kết quả ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với CPSH khác nhau ……….47

3.3.1 Yếu tố môi trường ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với CPSH khác nhau……… 47

3.3.2 Tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh được ương từ Z1 đến G1 với CPSH khác nhau……… ……… 48

3.3.3 Tỷ lệ ấu trùng chuyển sang giai đoạn G1 tại ngày ương thứ 14……….….49

3.3.4 Tỷ lệ sống ghẹ xanh được ương từ Z1 đến G1 với CPSH khác nhau………….51

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….53

4.1 Kết luận ………53

4.2 Khuyến nghị……… 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….………54

Tài liệu tiếng Việt……… 54

Tài liệu tiếng nước ngoài.……… 55

PHỤ LỤC……….………-1-

Trang 9

ix

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.2 Các nghiệm thức về thức ăn khác nhau ……… …… 24 Bảng 2.3 Các nghiệm thức sử dụng CPSH khác nhau……….………25 Bảng 3.1 Các thông số môi trường nước ương ghẹ xanh từ Z1 đến Me với mật độ khác nhau……… ……….29 Bảng 3.2 Các thông số môi trường ương ghẹ xanh từ Me đến G1 với mật độ khác nhau ……… 35 Bảng 3.3 Các thông số môi trường nước ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với thức ăn khác nhau……… 40 Bảng 3.4: Các thông số môi trường nước ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với CPSH khác nhau……… 47

Trang 10

x

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Ghẹ anh đực và cái……….……… 3 Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu………22 Hình 2.2 Ghẹ xanh mang trứng và ấu trùng Z1 dùng để thí nghiệm……… …… 26

Trang 12

xii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Ghẹ xanh Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766), là đối tượng đặc sản biển có

giá trị dinh dưỡng và thương phẩm cao so với nhiều loại đặc sản biển khác, có chất lượng thịt thơm ngon được ưa chuộng Ở nước ta, ghẹ xanh phân bố rộng khắp các vùng biển và hải đảo trong cả nước, là loài có tiềm năng quan trọng đối với nuôi trồng

và khai thác thủy sản

Nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm ghẹ xanh đã được thực hiện ở nhiều quốc gia và một số tỉnh ven biển của Việt Nam nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng

và góp phần giảm áp lực cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên tại Kiên Giang hiện chưa có cơ

sở nào sản xuất giống ghẹ xanh, nên vấn đề thiếu con giống là một trong những trở

ngại đối với phát triển nuôi ghẹ xanh thương phẩm Vì vậy đề tài “Nghiên cứu ảnh

hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766) tại Kiên Giang” được

thực hiện với mục tiêu: Xác định mật độ ương, loại thức ăn và CPSH thích hợp cho ấu trùng ghẹ xanh ương từ giai đoạn zoea 1 (Z1) đến ghẹ 1 (G1)

Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm:

(i) Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống và biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến G1

(ii) Ảnh hưởng của thức ăn khác nhau đến tỷ lệ sống và biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến G1

(iii) Ảnh hưởng của CPSH đến tỷ lệ sống và biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến G1

Nghiên cứu gồm 4 thí nghiệm:

- Thí nghiệm 1: Ương ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến Megalopa (Me) với các mật

độ khác nhau, được bố trí với 5 nghiệm thức là 80Z1/L, 100Z1/L, 120Z1/L, 140Z1/L

và 160Z1/L Kết quả cho thấy ở các mật độ ương 80Z1/L, 100Z1/L và 120Z1/L, thì tỷ

lệ biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng và tỷ lệ sống lần lượt là 32,16%, 30,83% và 29,60%, tốt hơn so với các mật độ ương 140Z1/L và 160Z1/L; tỷ lệ biến thái chuyển sang giai đoạn Me tại ngày ương thứ 10 ở các mật độ từ 80-100Z1 tốt hơn, kết thúc

Trang 13

- Thí nghiệm 3: Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với thức ăn khác nhau, được bố

trí 5 nghiệm thức là Artemia, luân trùng + Artemia, Artemia + Frippak, luân trùng + Frippak và luân trùng giàu hóa DHA Protein selco + Artemia giàu hóa DHA Protein selco Kết quả là ở các nghiệm thức sử dụng thức ăn sống (luân trùng + Artemia) hoặc (luân trùng giàu hóa DHA Protein selco + Artemia giàu hóa Protein selco), thì tỷ lệ

biến thái chuyển giai đoạn ấu trùng ghẹ xanh tốt hơn, kết thúc giai đoạn Me chuyển thành G1 vào ngày ương thứ 15, sớm hơn so với các nghiệm thức khác; tỷ lệ biến thái chuyển sang G1 tại ngày ương thứ 14 và tỷ lệ sống của ấu trùng tốt hơn so với nghiệm

thức cho ăn Artemia + thức ăn tổng hợp Frippak

- Thí nghiệm 4: Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với chế phẩm sinh học (CPSH) khác nhau là DC (không sử dụng CPSH), Super BZT Water với liều lượng 2ppm, T-Zyme 003 với liều lượng 2 ppm và kết hợp BZT Water với T-Zyme 003 theo tỷ lệ 1:1 Kết quả các nghiệm thức có sử dụng CPSH thì tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng tốt hơn, ấu trùng chuyển hoàn toàn từ Me sang G1 ở ngày thứ 15, sớm hơn so với nhóm đối chứng Kết hợp (Super BZT Water + T-Zyme 003), thì tỷ lệ G1 tại ngày ương thứ 14 cao nhất trong thí nghiệm là 92,14%, tỷ lệ sống là 10,86% và khác biệt có

ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng; nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê

so với các nghiệm thức Super BZT Water và T-Zyme 003

Từ khóa: Mật độ ương ghẹ, thức ăn ương ghẹ, chế phẩm ương ghẹ

Trang 14

1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ghẹ xanh Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766), là đối tượng đặc sản biển có

giá trị dinh dưỡng và thương phẩm cao, có tiềm năng quan trọng đối với nuôi trồng và khai thác thủy sản [1], [3] Đây là loài giáp xác được phân bố khá rộng ở các vùng biển từ Ấn Độ Dương đến Tây Thái Bình Dương [99] Nhu cầu tiêu thụ và cường độ khai thác đang ngày một tăng cao, nên nguồn lợi ghẹ xanh trong tự nhiên đang có xu hướng suy giảm

Nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm ghẹ xanh để đáp ứng nhu cầu

sử dụng, đã được thực hiện ở nhiều quốc gia Nuôi ghẹ xanh thương phẩm cũng đã được thử nghiệm dưới nhiều hình thức như nuôi trong ao, trong bể và nuôi trong lồng,… ở ven biển các nước Philippines, Malaysia, Việt Nam [25], [97] Ở Ấn Độ, sản xuất giống và nuôi thương phẩm ghẹ xanh được xem là có tiềm năng quan trọng đối với ngành nuôi trồng thủy sản [64]

Ở Việt Nam, ghẹ xanh phân bố rộng khắp các vùng biển và hải đảo trong cả nước, nhưng sản lượng hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào nguồn khai thác từ tự nhiên vốn đang ngày càng bị cạn kiệt [3] Nuôi ghẹ xanh ở nước ta chỉ mới được chú trọng trong khoảng hơn mười năm trở lại đây nhờ thành công trong sản xuất giống nhân tạo đối tượng này [6] Năm 2003 sản xuất giống ghẹ xanh đã thành công và xu hướng nuôi thương phẩm cũng đã bắt đầu hình thành, phát triển và bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao ở một số tỉnh [1] Một số ao, đầm nuôi tôm gặp trở ngại được chuyển sang nuôi ghẹ xanh và đã đạt một số kết quả khả quan

Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí thuận lợi và tiềm năng phát triển thủy sản rất lớn Ngành thủy sản Kiên Giang là một ngành kinh tế thủy sản tổng hợp cả trong đất liền, trên biển và hải đảo về các mặt khai thác, nuôi trồng, chế biến và hậu cần dịch vụ nghề cá Trong thời gian qua, ngành thủy sản đạt được sự tăng trưởng đáng khích lệ và có đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế của địa phương Tuy nhiên, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Hải sản (2015) về tình hình khai thác ghẹ xanh thì tổng sản lượng ghẹ xanh khai thác tại vùng biển Kiên Giang năm 2014 đạt 6,2 nghìn tấn, cường lực khai thác ghẹ xanh tăng nhưng sản lượng

Trang 15

2

khai thác giảm 20,5% so với năm 2013; trong đó sản lượng chủ yếu là ghẹ xanh chưa thành thục hoặc có kích thước nhỏ hơn kích thước lần đầu sinh sản Từ đó mà nguồn lợi ghẹ xanh tự nhiên tại vùng biển Kiên Giang có nguy cơ bị suy giảm rõ rệt

Nghiên cứu sản xuất giống và thử nghiệm nuôi thương phẩm ghẹ xanh tại Kiên Giang hiện nay là rất cần thiết, nhằm góp phần đa dạng hóa đối tượng thủy sản nuôi có giá trị cao, đồng thời góp phần giảm áp lực đối với nguồn lợi ghẹ xanh tự nhiên Tuy nhiên, tại Kiên Giang hiện chưa có cơ sở nào sản xuất giống ghẹ xanh, nên vấn đề thiếu con giống là một trong những trở ngại đối với phát triển nuôi ghẹ xanh thương phẩm Trên cở sở các nghiên cứu trước đây và nhu cầu thực tế ở địa phương,… được

sự chấp thuận của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang,

đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ

sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766) tại Kiên Giang” được thực hiện

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định mật độ ương, loại thức ăn và chế phẩm sinh học (CPSH) thích hợp cho ấu trùng ghẹ xanh được ương từ giai đoạn Zoea 1 (Z1) đến ghẹ 1 (G1)

3 Nội dung nghiên cứu

Xác định mật độ ương, thức ăn thích hợp và ảnh hưởng của CPSH đến các giai đoạn phát triển của ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến G1

(i) Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống và biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến G1

(ii) Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn khác nhau đến tỷ lệ sống và biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến G1

(iii) Nghiên cứu ảnh hưởng của CPSH đến tỷ lệ sống và biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến G1

4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của nghiên cứu

Cung cấp các dữ liệu về mật độ ương, thức ăn và CPSH trong ương ghẹ xanh từ giai đoạn Z1 đến G1 Thành công của đề tài sẽ góp phần tích cực cho sản xuất giống ghẹ xanh, nhằm đa dạng hóa đối tượng thủy sản nuôi tại địa phương

Trang 16

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm sinh học ghẹ xanh

1.1.1 Phân loại và hình thái

Ghẹ xanh ở vùng biển nước ta, tên tiếng Anh là Blue Swimming Crab, là loài

thuộc họ cua bơi Theo Kangas (2000) [50], loài Portunus pelagicus có vị trí phân loại

Loài: Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766)

Hình 1.1 Ghẹ xanh đực (trên) và cái (dưới) [41]

Ghẹ xanh Portunus pelagicus Linnaeus (1766) có nhiều màu sắc khác nhau tùy

theo giai đoạn phát triển Khi còn nhỏ, ghẹ xanh đực và ghẹ xanh cái đều có màu xanh nhạt; đến khi trưởng thành, con đực có nhiều đốm nhỏ màu trắng trên cơ thể, các chân bò

có màu tím xanh; ở con cái, toàn bộ cơ thể có màu xanh vàng và cũng có các chấm trắng

Trang 17

4

trên cơ thể nhưng màu sắc không sặc sỡ như con đực [6] Ở giai đoạn còn nhỏ, rất khó phân biệt giữa con đực và con cái thông qua màu sắc vì chúng đều có màu xanh nhạt [11], [12]

Ghẹ xanh có kích thước lớn so với nhiều loài cua, ghẹ, trong thiên nhiên có những con nặng 2 kg Cơ thể ghẹ xanh dẹp theo hướng lưng bụng và được chia thành

2 phần: phần đầu ngực lớn, được che phủ bởi giáp đầu ngực, phần bụng nhỏ và gập lại dưới phần đầu ngực [1] Theo Potter và cộng sự (1983), ở kích thước về chiều rộng mai tương đương nhau, ở giai đoạn nhỏ ghẹ xanh cái nặng hơn so với ghẹ xanh đực nhưng ở giai đoạn kích thước mai trên 120 mm thì ghẹ xanh đực năng hơn ghẹ xanh cái [76]

1.1.2 Phân bố

Ghẹ xanh là loài được phân bố rộng ở vùng Tây Ấn Độ Dương đến Hawaii, từ phía Bắc nước Úc đến phía Nam Nhật Bản [25] Ghẹ xanh có phân bố ở các khu vực duyên hải của châu Á cũng như vùng duyên hải Trung - Đông của Địa Trung Hải Loài này cũng có phân bố rộng ở miền Đông Châu Phi, Đông Nam Á, Nhật Bản, Australia

và New Zealand [76] Chúng thường có phân bố ở vùng thềm lục địa, nơi có chất đáy thường là cát hoặc cát bùn, nơi nước có độ sâu đến 50 m ở khu vực các vịnh [31], [98]

Ghẹ xanh là loài không thể sống được lâu ngoài môi trường nước và sống hoàn toàn ở nước lợ - mặn [3] Ở mỗi giai đoạn phát triển, ghẹ xanh phân bố ở độ sâu có sự thay đổi khá rõ rệt Trong thời kỳ ấu trùng thì chúng sống trôi nổi, đến giai đoạn ghẹ bột thì sống định cư ở các vùng biển nông ven bờ của đầm, vịnh, vũng hoặc ven bờ hải đảo Khi trưởng thành, chúng di chuyển ra các vùng biển sâu xa bờ rồi bắt cặp, thụ tinh và đẻ trứng Ấu trùng phát triển, biến thái qua các giai đoạn Zoea đến Megalopa (Me) và ghẹ bột trong khoảng 17 đến 22 ngày, sau đó ghẹ xanh con lại trở về sống ở các vùng biển nông

Ở Việt Nam, ghẹ xanh phân bố ở khắp các vùng biển và hải đảo từ Bắc đến Nam Mặc dù gọi là “ghẹ xanh”, nhưng màu sắc của chúng có thể thay đổi tùy thuộc vào môi trường sống Chúng phân bố nhiều ở các khu vực bờ biển, nơi có chất đáy là cát, bùn cát hay san hô chết, nước có độ mặn dao động từ 200/00 - 350/00 và sâu khoảng

10 - 30 m [12]

Trang 18

5

1.1.3 Vòng đời

Vào mùa sinh sản, ghẹ xanh thường theo thủy triều vào vùng biển ven bờ, vùng cửa sông để giao vĩ Khi tuyến sinh dục phát triển đầy đủ, ghẹ xanh cái lột xác tiền giao vĩ và giao vĩ với ghẹ xanh đực; sau khi giao vĩ xong, ghẹ xanh cái di cư ra vùng biển có độ mặn cao hơn và giữ tinh dịch từ 2-5 tháng hay lâu hơn, ghẹ xanh cái tiết trứng và thụ tinh, mang trứng ngoài vỏ để ấp và phôi phát triển thành ấu trùng; ấu trùng nở ra thoát khỏi vỏ trứng rời khỏi ghẹ xanh mẹ [1]

Sự phát triển của ấu trùng ghẹ xanh trải qua 4 giai đoạn Zoea và 1 giai đoạn Me [25] Ấu trùng ở các giai đoạn Zoea sống trôi nổi trong nước trải qua 4 lần lột xác biến thái thành ấu trùng Me sống trôi nổi hay sống bám vào các giá thể và lột xác biến thái lần cuối thành ghẹ bột [1] Lúc mới nở, ấu trùng Z1 có chiều dài 1,25mm, ấu trùng

ở các giai đoạn Zoea ăn lọc và sống ở tầng mặt nơi có độ mặn cao gần khu vực bãi đẻ;

ấu trùng ghẹ xanh thường di chuyển theo chiều thẳng đứng trong cột nước [3]

Ấu trùng ghẹ xanh ở giai đoạn Me có chiều dài khoảng 2,5mm thường sống bám vào các giá thể ở tầng đáy Ấu trùng Me thường phân bố ở vùng cửa sông trong khu vực nước lợ, thức ăn trong giai đoạn này chủ yếu là động vật đáy, mảnh vụn hữu

cơ hay cá nhỏ Sau khi lột xác thì ấu trùng Me chuyển thành G1 Theo Josileen và Menon (2004), các giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh gồm 4 giai đoạn Zoea và 1 giai đoạn Me; giai đoạn Z1 kéo dài khoảng 3 đến 4 ngày, các giai đoạn Zoea kế tiếp, mỗi giai đoạn khoảng 2 đến 3 ngày; giai đoạn Me kéo dài khoảng 3 ngày, thời gian để phát triển của ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến G1 khoảng 15 đến 17 ngày [46] G1 có chiều rộng mai vào khoảng 2,5 mm và có tập tính ăn gần giống với ghẹ xanh trưởng thành Thức ăn của chúng khá đa dạng, từ động vật hai mảnh vỏ, giáp xác, cá và ít hơn là các loại tảo lớn [3]

1.1.4 Sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng của ghẹ xanh khá nhanh, chúng dễ nuôi và tham gia sinh sản sớm [71], [72] Theo Josileen (2011), ghẹ xanh là loài có tốc độ phát triển khá nhanh, tương quan giữa chiều rộng và chiều dài mai với khối lượng tùy thuộc vào giới tính; tương quan chiều rộng với khối lượng ở ghẹ xanh đực là 3,607 và ở ghẹ xanh cái

là 3,293; tương quan về chiều dài mai với khối lượng ở ghẹ xanh đực là 3,049 và ở ghẹ

Trang 19

6

xanh cái là 2,774 Giai đoạn nhỏ với chiều rộng mai tương ứng thì con cái có trọng lượng lớn hơn so với con đực, cho đến khi chiều rộng mai khoảng 120-125 mm trở lên thì trọng lượng con đực lớn hơn so với trọng lượng con cái tương ứng [48] Theo Williams (1982), ghẹ xanh có chiều rộng của mai lớn nhất là khoảng 21 cm và có trọng lượng khoảng trên 1kg [98]

Nghiên cứu của Josileen và Menon (2004) về tăng trưởng của ghẹ xanh nuôi trong điều kiện thí nghiệm từ G1, qua 16 lần lột xác, đối với ghẹ xanh đực: từ lần lột xác thứ nhất có chiều rộng mai trung bình 2,38 mm, khối lượng trung bình ban đầu 0,008 g/con, đến lần lột xác thứ 16 thì chiều rộng mai trung bình 159,86 mm, ứng với khối lượng trung bình 275g/con; số ngày nuôi trung bình là 272 ngày (tối đa 455 ngày) Đối với ghẹ xanh cái: từ lần lột xác thứ nhất có chiều rộng mai trung bình 2,43mm, khối lượng trung bình ban đầu là 0,006g/con, đến lần lột xác thứ 16, chiều rộng mai trung bình 154,31 mm ứng với khối lượng trung bình 210,33g; số ngày nuôi trung bình đối với ghẹ xanh cái là 332 ngày Về tỷ lệ tăng trưởng sau mỗi lần lột xác, tác giả cũng chỉ ra rằng: tăng chiều rộng mai trung bình ở ghẹ xanh đực cao nhất là 77,73% (lần 1-2) và thấp nhất là 13,06% (lần 15-16); tăng chiều rộng mai ở ghẹ xanh cái cao nhất là 68,72% (lần 1-2) và thấp nhất là 10,78% (ở lần thứ 15-16) Chiều rộng mai của ghẹ xanh cái tăng nhanh đến lần lột xác thứ 12, sau đó giảm dần [45]

1.1.5 Môi trường sống và thức ăn

Khác với một số loài cua cùng thuộc họ Portunidae, ghẹ xanh không thể sống được một thời gian dài mà không có nước [3], [72], [76] Ở điều kiện nhiệt độ dưới

13oC, chúng thường tìm nơi nước cạn hơn để vùi mình dưới cát bùn [66] Khi nhiệt độ thấp dưới 20oC thì ghẹ xanh thường giảm hoạt động [83]

Độ mặn của nước có ảnh hưởng đến mỗi thời kỳ sống của ghẹ xanh, chúng có khả năng thích ứng với thay đổi độ mặn của nước và có thể chịu đựng được độ mặn khoảng 11-530/00; nhưng phần lớn ghẹ xanh phát triển ở độ mặn từ 20-350/00 Trong thời kỳ đẻ hay ấp trứng cũng như thời kỳ ấu trùng, đòi hỏi môi trường có độ mặn từ 28-320/00 Ở giai đoạn còn nhỏ, ghẹ xanh không thể sống được ở môi trường nước có

độ mặn thấp trong khoảng thời gian dài; nguyên nhân có thể do khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu còn hạn chế; từ đó có thể giải thích vì sao chúng di cư hàng loạt từ vùng cửa sông ra biển khơi vào mùa mưa [71] Theo Wang và cộng sự (1997), độ mặn

Trang 20

7

thích hợp khi ương ấu trùng ghẹ xanh từ giai đoạn Z1 đến Zoea 3 (Z3) từ 27-350/00 và

từ giai đoạn Zoea 4 (Z4) đến Me là khoảng từ 23-310/00 (trích dẫn theo [3])

Theo Chen và Jeng (1980), khi nhiệt độ nước càng cao thì thời gian biến thái

của ấu trùng cua biển (Scylla serrata) và một số loài thuộc họ Portunidea diễn ra

nhanh hơn, đồng thời khoảng nhiệt độ 25-30oC là thích hợp nhất cho ấu trùng các giai

đoạn Zoea phát triển [23], [103] Theo Cheng và cộng sự (2001), thì ương ấu trùng ghẹ

xanh cho tỷ lệ sống thấp nhất ở 22oC, cao nhất ở 28oC và tỷ lệ sống bị giảm dần khi nhiệt độ nước tăng trên 31oC [24] Ghẹ xanh sống trong vùng nước có pH vào khoảng 7,5-9,2, thích hợp nhất là 8-8,5; tuy nhiên ghẹ có thể chịu đựng được nước có pH thấp dưới 7,0; nhưng nếu pH thấp dưới 6,5 thì chúng có thể chết [1]

Ghẹ xanh có khả năng chịu được nồng độ nitrat và ammoniac cao khá tốt [71], [72] Theo Wassenberg và Hill (1987), ghẹ xanh có tính rất háu ăn và chúng có thể ăn

no trong vòng 8 phút, đồng thời tiêu hóa hết thức ăn trong khoảng thời gian 6 giờ [96]

Từ đó mà ghẹ xanh được xem là một trong những đối tượng quan trọng trong nuôi trồng thủy sản

Ghẹ xanh thường đi tìm kiếm thức ăn vào thời điểm thủy triều lên, thức ăn của chúng khá đa dạng, từ động vật hai mảnh vỏ, giáp xác, cá và ít hơn là các loại tảo lớn Theo Chande và Mgaya (2004), thì ở dạ dày của ghẹ xanh có 51,3% là động vật thân mềm, 24,1% là giáp xác, 18,0% là cá xương và 6,6% là những loại khác chưa xác định được [22] Theo Josileen (2011), ở ghẹ xanh có chiều rộng mai từ 61-180 mm thì trong

dạ dày của chúng chủ yếu là giáp xác và các động vật thân mềm; vì vậy thức ăn ưa thích của chúng thường là các loại giáp xác [47]

1.1.6 Sinh sản

Theo Nguyễn Chung (2006), khi nhiệt độ ấm dần lên vào mùa xuân, theo chu

kỳ sinh học ghẹ xanh rời khỏi nơi cư trú đi tìm thức ăn và ghép đôi sinh sản Chúng thường giao vĩ sinh sản vào khoảng thời từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm; ở những nơi có nhiệt độ ấm áp, mùa giao vĩ sinh sản của ghẹ xanh có thể kéo dài từ tháng 2 đến tháng 10 trong năm Ghẹ xanh đực trưởng thành có thể giao vĩ trong suốt đời sống của chúng và tiếp tục lột xác để tăng trưởng Ghẹ xanh cái chỉ giao vĩ 1 lần duy nhất trong đời sống của chúng sau khi lột xác tiền giao vĩ, và là lần lột xác sau cùng [1]

Trang 21

8

Theo Prasad và cộng sự (1953), ghẹ xanh cái ôm trứng chỉ được tìm thấy ở những nơi có nước biển mặn, do chúng thường có tập tính di cư ra biển trong quá trình thành thục (trích dẫn theo [3]) Theo Potter cộng sự (1983) thì ghẹ xanh cái phân bố ở khu vực Tây Úc thường thành thục lần đầu khi đạt chiều rộng mai thấp nhất là 89 mm;

có khoảng 50% ghẹ xanh cái thành thục lần đầu khi chiều rộng mai là 98mm; trong khi con đực thành thục ở kích thước nhỏ hơn so với con cái, chiều rộng mai trung bình ở con đực khi thành thục lần đầu là 84mm [76]

Khoảng thời gian ở mỗi chu kì sinh sản của ghẹ xanh thường có sự thay đổi tùy theo nhiệt độ trong năm Chúng sinh sản quanh năm ở các vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và chủ yếu tập trung vào mùa xuân và mùa hè [25] Ở những vùng biển ôn đới thì ghẹ xanh thường sinh sản vào khoảng thời điểm những tháng có nhiệt độ ấm áp hơn Quá trình bắt cặp và giao vĩ của ghẹ xanh thường xảy ra vào thời điểm cuối của mùa hè Khi ghẹ cái vừa lột xác xong, cơ thể còn rất mềm thì quá trình giao vĩ xảy ra [12], [75], [76] Theo Chuang (1961), ghẹ xanh cái giữ túi tinh của con đực trong túi chứa tinh để thụ tinh cho trứng khi đẻ; khi đẻ, trứng được thụ tinh và dính thành khối được ấp dưới yếm ghẹ xanh mẹ đến khi nở (trích dẫn theo [3])

Khi ghẹ xanh cái chuẩn bị đẻ trứng, chúng di cư đến những vùng cửa sông, bãi triều nơi có cát đáy Trứng mới đẻ ban đầu có màu vàng cam, và sau đó chuyển dần chuyển sang màu xám đen trước khi nở Thời gian ấp trứng tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường; ở nhiệt độ 20oC thời gian ấp trứng khoảng 18 ngày thì nở; ở 24oC trứng nở sau khi đẻ khoảng 15 ngày và ở điều kiện 25oC thì chỉ khoảng 8 ngày thì trứng nở thành ấu trùng [76], [84] Theo William (1982), ấu trùng ghẹ xanh sống trôi nổi và có thể trôi dạt ra xa đến hơn 80 km ra phía biển trước khi chúng trở lại vùng nước cạn ở ven bờ [98] Đến giai đoạn Me, ấu trùng ghẹ xanh đã hình thành đôi càng để bắt mồi Quá trình phát triển từ giai đoạn Me đến giai đoạn ghẹ con chúng tiếp tục sống ở vùng cửa sông, ven bờ do môi trường vẫn thích hợp để tìm kiếm thức ăn và trú ẩn [51],[65]

Sức sinh sản của ghẹ xanh thường tăng theo chiều rộng mai và đạt tối đa ở chiều rộng mai 134 mm, sau đó giảm dần với ghẹ xanh có chiều rộng mai lớn hơn 134

mm Sức sinh sản đạt 83,9% khi chiều rộng mai tăng từ 105 đến 125 mm [55] Theo Nguyễn Thị Bích Thúy (2000), ở Việt Nam, ghẹ xanh thường bắt đầu tham gia sinh sản khi cỡ chiều rộng mai đạt 74,5 mm, khối lượng cơ thể là 30,4g; ghẹ xanh càng lớn

Trang 22

9

thì sức sinh sản càng cao; sức sinh sản trung bình 68.200 trứng/cá thể, khi chiều rộng mai từ 70-75 mm và 1.025.900 trứng/cá thể, khi chiều rộng mai 135-140 mm [11] Ghẹ xanh có khả năng sinh sản 3 lần và sức sinh sản khoảng 180.000 đến 2.000.000 trứng trong mỗi lần đẻ [65] Ở ghẹ cái có kích cỡ lớn hơn sẽ cho số lượng trứng nhiều hơn [25] Theo Josileen (2013), thì số lượng trứng ở mỗi ghẹ xanh cái khoảng từ 60.000 trứng đến 1.976.398 trứng, tùy theo cỡ chiều rộng mai ghẹ [44]

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Đã có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống một số loài cua, ghẹ biển,

nhất là những loài thuộc họ Portunidea như: ghẹ xanh (Portunus pelagicus), ghẹ 3 chấm (Portunus trituberculatus) và ghẹ khác như Portunus sanquinolentus… Đối với loài ghẹ 3 chấm (Portunus trituberculatus), được phân bố nhiều ở Nhật Bản, Hàn

Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines,… và đã được nghiên cứu sản xuất giống khá thành công ở những nước này với tỷ lệ sống đạt từ 3-11% [24], [25], [59], [85], [97], [104]

Ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Bangladesh, Mỹ, Nhật Bản, hay Philippines, Indonesia, Thái Lan, Úc và Việt Nam,… đã rất quan tâm nghiên cứu về sản xuất giống một số loài cua, ghẹ nói chung trong đó có nghiên cứu sản xuất giống ghẹ xanh Nghiên cứu sản xuất giống ghẹ xanh đã được thực hiện ở Malaysia thông qua thu ghẹ

mẹ mang trứng từ biển, chuyển về trại sản xuất cho ấp nở và thu ấu trùng để ương Kết quả khi kết thúc giai đoạn ấu trùng Z1 tỷ lệ sống đạt 71,6% và ương đến G1 đạt tỷ lệ sống 4,3% [86]

Đánh giá về sản xuất giống và nuôi ghẹ xanh thương phẩm tại Tamil Nadu thuộc Ấn Độ, được thí nghiệm với nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có các thí nghiệm về các mật mật độ ương ấu trùng từ giai đoạn Z1 đến G1; ương G1 trong bể ngoài trời đến 15 ngày và nuôi thương phẩm ghẹ xanh cho kết quả rất triển vọng, góp phần đưa ghẹ xanh trở thành loài có tiềm năng quan trọng đối với ngành nuôi trồng thủy sản [44], [64]

Theo Liao và cộng sự (2001), sự phát triển của ấu trùng ghẹ xanh được ương trong điều kiện phòng thí nghiệm, sau khi nở ra từ trứng chúng phát triển qua các giai đoạn Zoea và một giai đoạn Me; có thể phân biệt sự phát triển qua từng giai đoạn và

Trang 23

từ 2-3 ngày, giai đoạn ấu trùng Me khoảng 3-5 ngày; toàn bộ quá trình phát triển của ghẹ xanh từ Z1 đến G1là khoảng 15-17 ngày [43]

Nghiên cứu ảnh hưởng của các mật độ ương 50, 200, 300 và 400 Z1/lít đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng ghẹ xanh của Ikhawanuddin và cộng sự (2012), cho kết quả về tỷ lệ sống ở nghiệm thức mật độ ương 200Z1/lít là tốt nhất; nhưng chỉ số tăng trưởng của ấu trùng ghẹ xanh ở mật độ ương 50Z1/lít là tốt nhất Vì vậy, mật độ ương có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng ghẹ xanh [62]

Ương ấu trùng ghẹ xanh từ Z1 đến Me và từ Me đến G1 tại Trại Nghiên cứu thủy sản Klongwan thuộc Thái Lan, với số lần và thời điểm cho ăn khác nhau trong ngày gồm 2 lần, 4 lần và 6 lần, kết quả có ảnh hưởng không khác biệt đến tỷ lệ sống của ấu trùng Trong khi bố trí các loại giá thể trú ẩn khác nhau ở giai đoạn ương từ Me đến G1 có ảnh đến tỷ lệ sống của ấu trùng ghẹ xanh được ương với mật độ 100 Z1/lít;

do đó việc bố trí giá thể trú ẩn trong quá trình ương ấu trùng ghẹ xanh, nhất là giai đoạn từ Me là rất cần thiết [94] Theo Josileen (2013), bể composite hình tròn có thể tích 1-5 m3/bể hay bể kính thường được sử dụng để ương ấu trùng ghẹ xanh; nước biển được lọc kỹ qua túi lọc trước khi thả ấu trùng vào ương, mật độ ương là 50Z1/lít Trong quá trình ương, bể ương phải được sục khí liên tục và thay khoảng 30-40% nước và buổi sáng hàng ngày; đáy bể ương phải được rút sạch thức ăn thừa và ấu trùng chết [44]

Mật độ tối ưu khi ương ấu trùng ghẹ xanh từ giai đoạn Z1 đến Z4 đã được thử nghiệm trong hệ thống tuần hoàn (RAS) là 150 Z1/lít, ứng với mỗi bể ương có thể tích

300 lít Thí nghiệm được thực hiện với 3 mật độ khác nhau là 100, 150 và 200 Z1/lít;

thức ăn dùng cho thí nghiệm là luân trùng và Artemia Tuy nhiên, tốc độ sinh trưởng

và phát triển của ấu trùng từ Z1đến Z4 ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê [68]

Trang 24

11

Theo Dody và cộng sự (2015), ương ấu trùng ghe xanh có nguồn gốc từ ghẹ bố mẹ đã được thuần dưỡng chọn lọc ở thế hệ thứ 3, cho tỷ lệ sống cao hơn, biến thái nhanh hơn và đồng đều hơn so với ấu trùng ghẹ xanh được sản xuất từ những con ghẹ mẹ hoang dã được khai thác ngoài tự nhiên trong cùng điều kiện ương như: thức ăn, mật

độ và môi trường [29]

Cua xanh (Scylla paramamosain) là một trong những loài thuộc họ Portunidea

và đã được nghiên cứu sản xuất giống từ năm 1964 bởi Ong Kah Sin, Malaysia, đến nay có nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất giống cua biển (trích dẫn theo [4]) Tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển được ương từ Z1 đến cua 1, với các mật độ 50, 75, và 100 Z1/lít đạt tỷ lệ sống từ 6,6-9,11% và có triển vọng áp dụng vào thực tế sản xuất [49], [102]

Theo nghiên cứu của Liao và Dong (2000) về sự ảnh hưởng thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh, được thực hiện với các nhóm thức

ăn gồm: luân trùng, luân trùng + Artemia, luân trùng + Artemia + Platymonas và

Artemia kết hợp với Platymonas; thì tỷ lệ sống của ấu trùng ghẹ xanh đạt cao nhất

(15%) ứng với sử dụng nhóm thức ăn là luân trùng + Artemia + Platymonas; tiếp theo

là nhóm thức ăn luân trùng + Artemia, cho tỷ lệ sống 11% Tuy nhiên về thời gian biến

thái của ấu trùng ghẹ xanh khi sử dụng các nhóm thức ăn này thì không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê [59]

Theo Cheng và cộng sự (2001), khi cho ấu trùng ghẹ xanh ăn bằng thức ăn là

Branchionus plicatilis và Artemia salina, thì tỷ lệ sống có thể đạt được 93,3% và tỷ lệ

sống bị giảm đến 50% nếu như không cho ấu trùng ghẹ xanh ăn trong những ngày đầu, hoặc khi cho ăn chậm trễ sẽ làm giảm sự phát triển của ấu trùng ghẹ xanh, nhất là ở giai đoạn biến thái đầu tiên [24]

Nghiên cứu của Hamasaki và cộng sự (1998) khi ương ấu trùng loài ghẹ 3 chấm

(Portunus trituberculatus), được cho ăn bằng luân trùng làm giàu với axít béo cao

không no (n-3HUFA) đã giúp cho ấu trùng của loài ghẹ này phát triển tốt hơn so với cho ăn bằng luân trùng không được làm giàu; và được khuyến cáo thường xuyên sử dụng axít béo cao không no (n-3HUFA) để làm giàu thức ăn cho ấu trùng ghẹ trong quá trình sản xuất giống [39]

Trang 25

12

Takeuchi và cộng sự (1999), đã dùng Artemia giàu hóa với n-3HUFA cho ăn từ

giai đoạn ấu trùng Z3, cho kết quả tốt hơn so với cho ăn bằng luân trùng được giàu hóa

bằng n-3HUFA, đối với ương ấu trùng loài ghẹ 3 chấm (Portunus trituberculatus) Giàu hóa luân trùng và Artemia bằng các thức ăn giàu HUFA giúp cho tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng cua biển (Scylla serrata) đạt kết quả tốt hơn [53], [89].

Nghiên cứu của Hamasaki và cộng sự (1998) về ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ

lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ 3 chấm (P trituberculatus) bằng cách cho ăn luân trùng và Artemia được giàu hóa bằng các loại men bánh mì, men bánh mì trộn dầu cá, tảo Chlorella và tảo Nanochloropsis nước mặn; kết quả thu được cho thấy

tỷ lệ sống cao nhất và thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ nhanh nhất trong thí

nghiệm, khi hàm lượng n-3 HUFA ở luân trùng và Artemia cao nhất [39]

1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu sản xuất giống và ương ấu trùng ghẹ xanh ở trong nước, đã được thực hiện từ những năm 2000 bởi Nguyễn Thị Bích Thúy (2000), Đoàn Xuân Diệp và cộng sự (2004), Trần Ngọc Hải (2008),… đã đạt được những kết quả khả quan và được khuyến cáo áp dụng vào thực tế sản xuất

Có nhiều cách để tuyển chọn ghẹ xanh mẹ, nuôi vỗ để thực hiện sản xuất giống như: nuôi vỗ từ ghẹ bố mẹ thành thục nhưng chưa giao vĩ, nuôi từ ghẹ mẹ đã thành thục giao vĩ nhưng chưa đẻ trứng, hoặc nuôi ghẹ mẹ đang ấp trứng ngoài vỏ Mật độ

ấu trùng ghẹ xanh có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của chúng, mật độ ương từ 50 đến 200Z1/Lít là phù hợp, khi ấu trùng phát triển đến giai đoạn Me cần bố trí giá thể bám

để hạn chế hao hụt [1]

Theo Nguyễn Thị Bích Thúy (2000), ương ghẹ xanh (Portunus pelagicus) với

quy mô nhỏ trong môi trường nước xanh với mật độ tảo khoảng 3-5.106 tế bào/lít; thức

ăn cho ầu trùng ghẹ gồm luân trùng, Artemia và thức ăn tổng hợp; với mật độ ương

ban đầu 120 ấu trùng/lít, sau 18 đến 22 ngày thì ấu trùng biến thái hoàn toàn thành ghẹ bột và đạt tỷ lệ sống 8,43% [11] Cũng theo nghiên cứu này, ghẹ xanh bột được ương thành ghẹ giống trong bể xi măng với mật độ 15-20 con/m2, và thức ăn được sử dụng

là cá và giáp xác nhỏ, kết quả sau 25-33 ngày ương đạt tỷ lệ sống trung bình 31,66%

Trang 26

13

Nghiên cứu của Đoàn Xuân Diệp và cộng sự (2004) về ảnh hưởng của các loại thức ăn và mật độ ương khác nhau lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng ghẹ xanh được ương từ Z1 đến G1 Kết quả tốt nhất về tỷ lệ sống (10,3%) và phát triển của

ấu trùng ghẹ xanh khi sử dụng thức ăn gồm Artemia bung dù ở giai đoạn Z1 đến Z3 và

Artemia mới nở cho các giai đoạn sau Tỷ lệ sống của ấu trùng ghẹ xanh đạt cao nhất

trong thí nghiệm là 12,4%, ứng với mật độ ương 100Z/lít; nhưng số lượng ấu trùng thu được ở mỗi lít nước ương cao nhất là ở mật độ 300Z1/lít và 400Z1/lít (14,9 và 15,8 G1/lít nước ương) [2]

Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ Artemia và giá thể lên sự

phát triển và tỷ ệ sống ấu trùng ghẹ xanh, được thực hiện bởi Trần Ngọc Hải và Trần Minh Nhứt (2008), kết quả cho thấy tỷ lệ sống đạt cao nhất (13,86%) và ấu trùng biến thái hoàn toàn thành G1 ở ngày ương thứ 14, khi mật độ ương là 100Z1/lít và thức ăn

cho ấu trùng là Artemia mật độ vừa phải (4 Artemia/ml nước ương) Ở mật độ ương

200Z1/lít và sử dụng giá thể là chùm dây nilon và lưới đáy đạt tỷ lệ sống cao nhất

(14,19%) [5] Có thể sử dụng hoàn toàn Artemia để ương trùng ghẹ xanh từ giai đoạn

ấu trùng Z1đến Me và từ ấu trùng Me đến G1, mật độ ấu trùng được ương tốt nhất là 100Z1/lít [3]

Cũng theo kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Hải (2008) về ảnh hưởng của loại tảo và mật độ tảo lên phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng ghẹ xanh, thì thời gian biến thái của ấu trùng tốt nhất, ấu trùng chuyển thành G1vào ngày ương thứ 15 (sớm hơn các nghiệm thức khác 1 ngày), khi sử dụng tảo khuê với mật độ 0,5, 1 và 2 triệu tế

bào/ml Tỷ lệ sống trung bình tốt nhất khi ương từ Z1 đến G1 là sử dụng tảo Chlorella với mật độ 1 triệu tế bào/ml (7,26%) và tảo Chaetoceros với mật độ 1 triệu tế bào/ml (3,04%) Qua đó, nghiên cứu đã đưa ra khuyến cáo nên sử dụng tảo Chlorella để ương

ấu trùng ghẹ xanh vì cho tỷ lệ sống đến G1 cao hơn, đồng thời tảo Chlorella dễ nuôi, ít tốn kém và bền vững hơn so với tảo Chaetoceros [3] Ương ấu trùng ghẹ xanh với quy

mô thể tích bể khác nhau, thì tỷ lệ sống đến G1cao nhất (11%) ở bể ương có thể tích 1m3/bể; tỷ lệ sống đến G1 thấp nhất (7,25%) ở bể ương có thể tích 2m3/bể [3]

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương lên sử phát triển và tỷ lệ sống của ấu

trùng cua biển (Scylla paramamosain) trong mô hình nước xanh của Trần Ngọc Hải và

Trương Trọng Nghĩa (2004), giai đoạn Z1 đến Z2 cho ăn 30-40 luân trùng/lít, từ Z3

Trang 27

14

trở đi cho ăn 8-10 Artemia/lít; đạt tỷ lệ sống (9,11%) ở mật độ ương 100 con/lít, các

mật độ 50 và 75 con/lít cho tỷ lệ sống thấp hơn [4]

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Minh Nhứt và cộng sự (2010) về ương cua

biển (Scylla paramamosain) từ giai đoạn Z1 đến Z5 và từ Z5 đến cua 1 với mật độ và

chế độ cho ăn khác nhau Ở thí nghiệm ương từ Z1 đến Z5 với các mật độ ương từ 100 đến 300Z1/lít ảnh hưởng không có ý nghĩa đến tỷ lệ sống (74,67-89%) của ấu trùng

cua; nhưng chế độ cho ăn gồm 30 luân trùng + 10 Artemia bung dù ở giai đoạn Z1 đến Z2 và 15 Artemia mới nở + 1,5 gr Frippak/m3/lần ở giai đoạn Z3 đến Z5 cho kết quả tốt nhất về tỷ lệ sống (89%) Ở thí nghiệm ương từ Z5 đến cua 1, thì mật độ ương 25

Z5/lít và chế độ cho ăn 10 Artemia mới nở/ml, cho kết quả về tỷ lệ sống tốt nhất

(24,03%) [8]

Ương ấu trùng ghẹ xanh với Artemia được giàu hóa bằng các chế phẩm khác nhau, được thực hiện bởi Trần Ngọc Hải (2008) gồm: Artemia không giàu hóa,

Artemia giàu hóa bằng ICES 30/06/C, Artemia giàu hóa bằng Lansy, và Artemia giàu

hóa bằng Frippak Kết quả, ấu trùng ghẹ xanh đạt tỷ lệ sống tốt nhất khi cho ăn

Artemia giàu hóa bằng ICES (18,62% ở giai đoạn Me và 9,04% ở giai đoạn G1); với

thức ăn là Artemia giàu hóa ICES thì thời gian biến thái của ấu trùng cũng tốt hơn,

giai đoạn ấu trùng Me kết thúc sớm hơn 1 ngày (ngày thứ 13) so với các nghiệm thức

khác [3] Thay thế hoàn toàn luân trùng, tảo đơn bào và 50% Artemia bằng thức ăn Cyclop-eeze và EZ LARVA trong ương ấu trùng cua xanh (Scylla paramamosain) ở

các giai đoạn Zoea, cho tỷ lệ sống thấp và thời gian chuyển giai đoạn kéo dài, nhưng

có thể dùng thay thế tạm thời khi gặp khó khăn về thức ăn sống cho ấu trùng Zoea cua xanh trong sản xuất [14]

1.4 Nghiên cứu ứng dụng CPSH trong nuôi trồng thủy sản

1.4.1 Khái niệm và vai trò của CPSH

Theo Gatesoupe (1999), probiotics là các tế bào vi sinh vật sống đưa vào cơ thể qua đường tiêu hóa, nhằm nhằm cải thiện sức khỏe động vật nuôi [35] Gram và cộng

sự (1999), probiotics là một sản phẩm chứa một loại vi sinh vật sống nào đó có lợi và được bổ sung cho vật chủ, giúp cho vật chủ cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột Moriarty (1999) đã đề nghị thuật ngữ “probiotics” trong nuôi trồng thủy sản là bao

Trang 28

15

gồm các vi khuẩn sống được cho vào các bể nuôi và ao nuôi thủy sản [69]

Probiotics được gọi là “chế phẩm vi sinh” hay “vi khuẩn có lợi” hoặc “vi sinh vật hiệu quả”

CPSH là bao gồm những vi khuẩn có lợi, và trong nuôi trồng thủy sản thì hầu

hết những vi sinh vật này là vi khuẩn lactic (Lactobacillus plantarum, L acidophilus,

L casei, L rhamnosus, L bungaricus… ); giống Vibrio (Vibrio alginolyticus); giống

Bacillus (B suptilis, B lichenifomis, B megaterium, B polymyxa,…), Actinomycetes,

Nitrobacteria… Chế phẩm sinh học thường được áp dụng trong các bể hay ao ương

nuôi,… nhằm hạn chế sự nhiễm bệnh do các vi khuẩn gây bệnh cho động vật thủy sản

Trong nuôi trồng thủy sản, probiotics có một số vai trò chủ yếu như: (i) cải thiện chất lượng môi trường nước, (ii) nâng cao khả năng phòng bệnh cho động vật thủy sản, (iii) kích thích tăng trưởng cho vật nuôi Probiotics có vai trò quan trọng như [32]: loại trừ được sức cạnh tranh của các tác nhân gây bệnh do vi khuẩn [17], [18], [93]; là nguồn dinh dưỡng và cung cấp bổ sung thêm các enzyme tiêu hóa cho vật nuôi, tác dụng trực tiếp phân hủy hay hấp thu vật chất hữu cơ [34]; kích thích sự đáp ứng miễn dịch chống lại các vi sinh vật [17], [18], [37], [40], [79]; tác dụng kháng virus [28]

CPSH giúp cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi thủy sản khi tham gia vào quá trình chuyển đổi các chất hữu cơ trong ao, bể ương nuôi thủy sản Vi khuẩn có lợi

có thể tham gia điều hòa sự cân bằng giữa NH3/NO2/NO3, loại bỏ được NH3 và NO2 ra khỏi môi trường nước ao nuôi Động vật thủy sản thải ra NH3 hoặc NH4+, và nhanh chóng làm gia tăng nồng độ NH3 gây độc cho vật nuôi [38] Tuy nhiên nitrate (NO3)

không gây độc cho cá Vi khuẩn Nitrosomonas chuyển đổi NH3 thành NO2 (độc) và vi

khuẩn Nitrobacter thì có tác dụng chuyển hóa NO2 thành NO3 Những vi khuẩn chuyển hóa nitơ được sử dụng trong hệ thống lọc sinh học tuần hoàn nhằm loại bỏ nitơ

khỏi môi trường nước nuôi thủy sản Nhóm vi khuẩn Bacillus sp cũng có tác dụng cải

thiện chất lượng nước Nhóm vi khuẩn này có khả năng chuyển đổi các hợp chất hữu

cơ thành khí CO2, nhất là nhóm vi khuẩn Gram (+) Bacillus sp không những giúp cải

thiện chất lượng nước mà còn có tác dụng giúp nâng cao tỷ lệ sống, cải thiện tốc độ

tăng trưởng và sức khỏe cho tôm sú (P monodon) ở giai đoạn nhỏ và làm giảm được tác nhân gây bệnh do vi khuẩn Vibrio [26]

Trang 29

16

CPSH có khả năng tiết ra các loại hợp chất gây ức chế đối với vi khuẩn thuộc

cả 2 nhóm Gram (-) và Gram (+) Các hợp chất này gồm: bacteriocin, lysozyme, siderophere, protease, hydrogen peroxide… Theo Nair và cộng sự (1985), vi khuẩn lactic và một số nhóm vi khuẩn khác có khả năng tiết ra các chất gây ức chế vi khuẩn

gây bệnh như Aeromonas hydrophila và Vibrio parahaemolyticus Việc sử dụng các nhóm vi khuẩn có lợi được phân lập từ ruột của cá bơn (Scophthalmus maximus) đưa vào ao nuôi, có thể kìm hãm được sự phát triển của vi khuẩn Vibrio anguillarium gây

bệnh (trích dẫn theo [32]) Như vậy, chứng tỏ các nhóm vi khuẩn có lợi đã có sự cạnh tranh hiệu quả với các nhóm vi khuẩn gây bệnh cho động vật thủy sản

Sự đối kháng giữa các vi khuẩn là hiện tượng phổ biến trong tự nhiên và đã tạo

ra sự cân bằng giữa các loài vi khuẩn có lợi và vi khuẩn là tác nhân gây bệnh tiềm ẩn trong tự nhiên; trạng thái cân bằng tự nhiên có thể bị thay đổi do sự tác động theo chiều hướng có lợi của con người, làm giảm hay loại bỏ các tác nhân gây bệnh cơ hội

[19] Theo Nogami và cộng sự (1997), vi khuẩn Thalassobacter utilis có thể gây ức chế vi khuẩn Vibrio anguillarium, giúp tăng tỷ lệ sống cho ấu trùng ghẹ 3 chấm (Portunus trituberculatus) cũng như làm giảm mật số vi khuẩn Vibio sp trong môi trường ương nuôi Vibrio alginolyticus được xem như một probiotic khi giúp tăng tỷ lệ

sống và kích thích tăng trưởng đối với tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn hậu ấu trùng tại các trại ương giống ở Ecuador Sự cạnh tranh và loại trừ các vi khuẩn gây bệnh giúp cho nghề nuôi tôm thâm canh phát triển, đồng thời giúp giảm đáng kể việc sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng trị bệnh [73]

Các nhóm vi sinh vật có lợi cạnh tranh với các vi sinh vật gây bệnh về vị trí, giá

thể bám dính và thức ăn ở bề mặt trong mô ruột dẫn đến cản trở chúng hình thành các khuẩn lạc [91] Vi khuẩn gây bệnh Vibrio anguillatum và Aeromonas hydrophyla đã

được chứng minh, chúng có thể bám dính và sinh trưởng trên bề mặt hoặc trong mô ruột của cá [54] Các vi khuẩn không gây bệnh thường không xâm nhập vào trứng của

cá mà chúng chỉ bám dính trên bề mặt, có vai trò như một rào cản chống lại sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh cũng như sự hình thành các khuẩn lạc trên bề mặt trứng của cá Một hệ vi sinh có trạng thái giống với tự nhiên có khả năng chống lại sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh được thiết lập [92] Đối với ương, nuôi giáp xác, thì probiotics cũng có vai trò quan trọng trong ức chế sự phát triển và xâm nhập của các

Trang 30

17

vi khuẩn gây hại, thông qua ngăn cản chúng bám dính vào bề mặt thành ruột, làm giảm thiểu khả năng phát triển của quần thể vi khuẩn gây hại [32] Sự cạnh tranh về không gian sống trong ống ruột hoặc trên các mô khác của ống tiêu hóa,… được cho là cơ chế ngăn cản vi khuẩn bất lợi bám dính và hình thành lạc khuẩn trên thành ruột [58], [92], [93]

Vi sinh vật có lợi được bổ sung vào môi trường, chúng có khả năng cạnh tranh các chất dinh dưỡng với những vi sinh vật bất lợi Sự cạnh tranh về dinh dưỡng có vai

trò quan trọng trong hệ vi sinh vật Khi vi khuẩn Lactobacillus phát triển tăng lên về số

lượng, chúng thường ức chế sự phát triển của quần thể vi sinh vật gây hại có sẵn trong môi trường [33] Ngoài ra, còn có khả năng cạnh tranh sắt với nhóm vi sinh vật gây hại

và làm giảm khả năng phát triển của chúng Theo Sakai và cộng sự (1995), vi khuẩn

Clostridium butyricum được bổ sung vào cho cá hồi đã giúp nâng cao được khả năng

kháng bệnh do Vibrio gây ra, bằng cách gia tăng hoạt động thực bào của các tế bào

bạch cầu [80] Rengpipat và cộng sự (2000), đã đề cập đến việc dùng chủng vi khuẩn

Bacillus sp S11 để kích hoạt cả đáp ứng miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể trên

tôm sú (Penaeus monodon) [79] CPSH giúp cải thiện khả năng miễn dịch của vật chủ

theo 3 hướng: tăng khả năng sản xuất các kháng thể; tăng lượng kháng thể trên bề mặt biểu mô thành ruột; nâng cao khả năng hoạt động của các đại thực bào [32] Theo Irianto và Asutin (2002), vi khuẩn probiotics kích thích gia tăng về số lượng các tế bào máu, các đại thực bào, lympho bào cũng như tăng hoạt động của lysoxyme sau 2 tuần

bổ sung cho vật chủ [42]

Kamei và cộng sự (1998), đã tiến hành phân lập được vi khuẩn Pseudomonas

sp, vi khuẩn Vibrio sp, và vi khuẩn Aetomonas sp từ cơ sở sản xuất giống cá hồi và

cho biết về khả năng kháng virus IHNV (trích dẫn theo [32]) Một hỗn hợp vi khuẩn

gồm Bacillus sp và Vibrio sp cho hiệu quả tốt đến sinh trưởng và cải thiện tỷ lệ sống

của tôm thẻ chân trắng trong giai đoạn nhỏ; giúp vật chủ chống lại vi khuẩn gây bệnh

Vibrio harveiyi và virus gây bệnh đốm trắng [36]

Ngoài ra, một số vi sinh vật có thể có tác động tốt đến quá trình tiêu hóa của

động vật thủy sản Vi khuẩn Bacteroides và Clostridium sp được xem như nguồn chất

dinh dưỡng cho cá, nhất là khả năng cung cấp các acid béo và Vitamine C [81] Một số

vi khuẩn có thể tham gia vào quá trình tiêu hóa của động vật thân mềm thông qua cơ

Trang 31

Sử dụng CPSH để phòng ngừa bệnh cho động vật thủy sản, giúp giảm nguy cơ kháng thuốc của vi khuẩn có hại hơn so với sử dụng thuốc kháng sinh Vi khuẩn có tổ chức tế bào lỏng lẻo, dễ bị tổn thương nhưng bên cạnh đó cũng dễ tạo ra nhiều những thay đổi dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh cũng như hóa chất Trước đây, vi

khuẩn Vibrio haveyi rất nhạy cảm với thuốc kháng sinh Chloramphenicol và

Oxytetracyline, Streptomycine,… nhưng hiện đã không còn chịu tác động nữa [32]

1.4.2 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng CPSH trên thế giới

Kennedy (1998), đã dùng vi khuẩn probiotics để ương giống một số đối tượng

cá biển Kết quả cho thấy tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá được nâng cao, kích cỡ

cá giống đồng đều Qua đó, tác giả cũng cho rằng việc sử dụng brobiotcs trong giai đoạn ấp trứng cá, giúp làm giảm rõ rệt sự phát triển của vi khuẩn gây hại khi nuôi cá thương phẩm; đồng thời làm giảm được tỷ lệ cá chết so với điều kiện ấp trứng cá

không sử dụng probiotics [52] Dùng vi khuẩn Lactobacillus fructivorans phân lập từ ống tiêu hóa của cá tráp sau đó bổ sung vào luân trùng và Artemia để ương giống cá

tráp được thực hiện bởi Carnevali và cộng sự (2004), kết quả đã giúp giảm đáng kể tỷ

lệ chết ở cá giống trong quá trình ương [21]

Lara-Flores và cộng sự (2003), đã chứng minh được những ưu thế vượt trội của probiotics với vai trò thúc đẩy tăng trưởng của con giống cá rô phi [56] Sử dụng bào

tử Bacillus như một tác nhân sinh học cũng đã giúp giảm đáng kể bệnh do vi khuẩn

Vibrio trong nuôi trồng thủy sản nói chung cũng như trong nuôi cá [83] Dùng bào tử

vi khuẩn Bacillus IP5832 đưa vào làm giàu luân trùng sau đó dùng luân trùng làm thức

ăn cho cá bơn, cho kết quả tốt [35] Nghiên cứu về vai trò của Bacillus trong ương

nuôi cá da trơn, được thực hiện bởi Balcázar và cộng sự (2004) cho kết quả là vi khuẩn

Bacillus giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng và cải thiện tỷ lệ sống ở cá nuôi [18]

Trang 32

19

Nghiên cứu của Moriarty (1999), đã sử dụng thành công probiotics thay thế cho

thuốc kháng sinh để kiểm soát nhóm vi khuẩn Vibrio gây bệnh phát sáng trên tôm ở Negros, Philippine [69] Nghiên cứu ảnh hưởng của vi khuẩn Bacillus S11 đến tỷ lệ sống và thay đổi mật độ vi khuẩn Vibrio harveyi trên tôm sú (Pennaeus monodon)

được thực hiện bởi Meunpol và cộng sự (2003), kết quả cho thấy tỷ lệ sống của tôm

tăng đáng kể so với nhóm đối chứng, đồng thời Bacillus S11 có tác dụng chống lại vi khuẩn Vibrio gây bệnh trên tôm đã được kiểm chứng [66]

Khi đưa dòng vi khuẩn Vibrio alginolyticus vào bể ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) mỗi ngày, tỷ lệ sống trung bình và khối lượng thân cao

nhất ở bể ương có bổ sung thêm vi khuẩn hữu ích so với bể xử lý bằng kháng sinh

Oxytetracyline và đối chứng Những bể ương được bổ sung dòng vi khuẩn Vibrio

alginolyticus thì không thấy xuất hiện vi khuẩn gây bệnh Vibrio parahaemolyticus,

trong khi các nghiệm thức còn lại có 10% mẫu có xuất hiện vi khuẩn gây bệnh [34]

Dòng BY-9 được cấy vào bể ương ấu trùng tôm sú với mật độ 106 CFU/ml, làm

giảm mật độ vi khuẩn Vibrio và cho tỷ lệ sống cao hơn đối chứng [88] Dòng vi sinh

PM-4 được được phân lập từ ao nuôi ghẹ, đem cấy liên tục vào bể ương ấu trùng loài ghẹ

3 chấm (Portunus trituberculatus) có thể tích 200 m3 Kết quả mật độ vi khuẩn Vibrio tỷ

lệ nghịch với mật độ PM-4 Tỷ lệ sống trung bình của ấu trùng ghẹ qua 7 lần thử nghiệm với dòng PM-4 là 27,2%, tỷ lệ sống của 6 trong 9 lần thử nghiệm không có PM-4 là 6,8% [63],[74]

Theo Griffith (1995), nhờ sử dụng chế phẩm sinh học trong quá trình ương tôm giống ở Ecuador vào năm 1992, giúp tăng được sản lượng tôm giống lên 32%, đồng thời giảm được sử dụng các chất diệt khuẩn đến 94% (trích dẫn theo [32]) Theo Zhermant và

cộng sự (1997), bổ sung probiotics vào bể ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus

vanamei) với mật độ 103 tế bào/ml, có thể ngăn được sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh ở mật độ 107 tế bào/ml (trích dẫn theo [32])

Ương ấu trùng ghẹ xanh trong giai đoạn đầu thường tỷ lệ sống rất thấp mà nguyên nhân chủ yếu do nhiễm khuẩn Allah và cộng sự (2013), đã thử nghiệm bổ sung probiotic

Lactobacillus plantarum vào bể ương ấu trùng ghẹ xanh hàng ngày với các nồng độ khác

nhau: 106CFU/ml, 5x106CFU/ml, 107CFU/ml và đối chứng (không sử dụng probiotic) Kết quả ở các thí nghiệm có sử dụng chế phẩm sinh học thì tỷ lệ sống của ấu trùng được

Trang 33

20

cải thiện tốt hơn; mật số vi khuẩn gây bênh Vibrio giảm thấp rõ rệt so với nhóm đối

chứng Ngoài ra, trong nghiên cứu này cũng đã đề cập đến sự ảnh hưởng của chế phẩm

probiotic L plantarum đến hàm lượng nitơ và độ pH của môi trường ương; đặc biệt là

làm tăng hoạt tính của các enzyme tiêu hóa protease và amylase Kết quả này có nghĩa

rằng việc bổ sung L plantarum 5x106 CFU/ml là có hiệu quả, có thể nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng, nâng cao hoạt động của enzyme và cải thiện chất lượng nước ương

ấu trùng ghẹ xanh [15]

Ở giai đoạn đầu của quá trình nuôi thủy sản, do lượng thức ăn và chất thải của vật nuôi còn ít nên môi trường nước thường chưa có vấn đề gây trở ngại cho vật nuôi Tuy nhiên, càng về sau khi lượng thức ăn tăng dần, vật chất thải từ quá trình trao đổi, chuyển hóa từ vật nuôi tăng; sự phân hủy thức ăn dư thừa và sự phát triển mạnh của các sinh vật trong môi trường nước ương, nuôi thủy sản [77] Việc bổ sung các nhóm

vi sinh vật có lợi vào môi trường nước trong thời gian này sẽ giúp cải thiện chất lượng nước và điều khiển các vi sinh vật có hại cho động vật thủy sản [42], [77], [82]

Theo Douilett (1998), khi sử dụng probiotic trong hệ thống nuôi thủy sản thâm canh đã làm tăng khả năng cải thiện chất lượng nước của hệ thống; cụ thể là làm giảm

sự tập trung của các chất khoáng hữu cơ và ammonia nhờ hàng loạt các enzyme được

tạo ra từ các vi khuẩn probiotic được sử dụng [30] Các nhóm vi khuẩn Bacillus,

Pseudomonas, Nitrosomonas, Nitrobacter, và Cellulomonas có vai trò khoáng hóa các

chất hữu cơ trong nước, giảm thiểu sự tích tụ của các hợp chất hữu cơ Ngoài ra, vi

khuẩn Bacillus vừa cải thiện chất lượng nước, vừa có vai trò giảm mật độ dòng vi khuẩn Vibrio và kéo theo kiểm soát được bệnh gây ra bởi vi khuẩn Vibrio

1.4.3 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng CPSH trong nước

Nghiên cứu của Dang Thi Hoang Oanh và cộng sự (2000), về tác dụng của men

vi sinh Bio-dream lên các yếu tố vô sinh và hữu sinh trong ương nuôi ấu trùng tôm càng

xanh (Macrobrachium rosenbergii) với liều lượng 1g/m3 và nhịp sử dụng khác nhau Qua đó, với nghiệm thức không sử dụng, sử dụng hàng ngày và sử dụng 10 ngày 1 lần thì nghiệm thức sử dụng hàng ngày là tốt nhất, ấu trùng chuyển sang tôm bột ở ngày thứ

18, mật số vi khuẩn Vibrio tổng cũng thấp và các yếu tố môi trường cũng luôn giữ được

ổn định Điều này cho thấy hiệu quả tích cực của men vi sinh trong sản xuất giống tôm càng xanh [27]

Trang 34

21

Theo Nguyễn Thanh Phương (2007), sử dụng 3 loại men vi sinh Ecomarine, Bio-dream và BZT trong ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh theo mô hình nước xanh cải tiến, cho kết quả về các yếu tố môi trường phù hợp cho sự phát triển của ấu trùng,

men vi sinh góp phần hạn chế số lượng vi khuẩn Vibrio spp trong môi trường bể ương,

tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh khá cao, dao động từ 59,1-76,6% Kết quả này

là cơ sở cho những nghiên cứu về hiệu quả và phương thức sử dụng men vi sinh trong môi trường ương tôm càng xanh nhằm cải thiện môi trường và nâng cao năng suất ương ấu trùng tôm [9]

Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh (2010), đã tiến hành phân lập vi khuẩn phân hủy

quorum sensing và đối kháng Vibrio spp, để làm giàu với thức ăn sống và bổ sung vào

nước bể ương ấu trùng cá chẽm và ấu trùng tôm sú; kết quả về tỷ lệ sống của ấu trùng

cá chẽm và tôm sú cao hơn so với nhóm đối chứng Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng

khẳng định vi khuẩn phân hủy quorum sensing và đối kháng Vibio spp được phân lập,

có tác dụng làm giảm mật độ Vibrio tổng số trong nước bể ương vào những ngày cuối

của thí nghiệm [13]

Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Liên và cộng sự (2014), đã sử dụng 2 chủng vi

khuẩn tía quang thuộc loài Rhodobacter sphaeroides (QN71 và QN52) và 1 chủng vi khuẩn thuộc loài Rhodovulum sulfidophillum (TH21) Các chế phẩm có chức năng xử

lý sulfide và hợp chất hữu cơ đáy ao nuôi để thử nghiệm trên ao nuôi cá rô phi thâm canh đã thu được một số kết quả tốt về chất lượng nước trong môi trường ao nuôi Hàm lượng BOD3 đã giảm rõ rệt từ 9,6- 9,8 mg/lít xuống 3,2-3,4 mg/l sau 2,5 tháng Hàm lượng H2S trong nước giảm từ 0,03-0,04 mg/lít xuống 0 mg/lít và hàm lượng này trong bùn giảm từ 5,4-6,67 mg/g xuống 3,5-4,5 mg/g Trong khi ở các ao đối chứng, hàm lượng BOD3 và H2S đều tăng cao Kết quả này cho thấy, sử dụng chế phẩm vi khuẩn tía quang hợp ảnh hưởng tốt đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của cá rô phi nuôi thâm canh [7]

Trang 35

22

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 4/2016 đến tháng 10/2016

Địa điểm nghiên cứu: đề tài được thực hiện tại trại Thực nghiệm và Sản xuất giống Thủy sản Hòn Chông, xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

Đối tượng nghiên cứu: ấu trùng ghẹ xanh Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766)

2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và CPSH đến tỷ lệ sống, thời gian biến

thái của ấu trùng ghẹ xanh

Ương ghẹ xanh từ

Z1 đến G1 với

mật độ khác nhau

Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với thức ăn khác nhau

Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với

NT1: Art NT2: Lt+ Art NT3: Art+Frippak NT4: Lt+Frippak NT5: Lt giàu hóa DHA+Art giàu hóa

DHA

DC: Không sử dụng CPSH CP1: Super BZT Water CP2: T-Zyme 003 CP1+2: Super BZT Water + Tzyme 003

- Kiểm tra, theo dõi các thông số môi trường

- So sánh chỉ tiêu biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng ghẹ xanh

- So sánh chỉ tiêu tỷ lệ sống của ấu trùng ghẹ xanh

Trang 36

23

2.2.2 Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với mật độ khác nhau

2.2.2.1 Ương ghẹ xanh từ Z1 đến Me với mật độ khác nhau (thí nghiệm 1)

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức về mật độ ương khác nhau: 80Z1/L, 100Z1/L, 120Z1/L, 140Z1/L và 160Z1/L

Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, đơn vị thí nghiệm là bể nhựa có thể tích

mới nở với mật độ 4-6 con/ml nước ương

Ấu trùng ghẹ xanh ở các giai đoạn Zoea trong thí nghiệm, được cho ăn 3 lần/ngày vào thời điểm: 7-8h, 14-15h và 20-21h

Rút cặn ở đáy bể ương với chu kỳ 3 ngày/lần và không thay nước trong suốt quá trình ương Các bể ương ấu trùng ghẹ xanh trong thí nghiệm được sục khí liên tục

Kiểm tra, theo dõi thông số môi trường: nhiệt độ và pH nước được đo 2 lần mỗi ngày vào lúc 7h-8h và 13h-14h; NH4+/NH3, NO2- được đo 3 ngày/lần vào lúc 7h - 8h; hàm lượng oxy hòa tan được đo 3 ngày/2lần vào lúc 7h đến 8h và 13h đến 14h trong cùng ngày

Các chỉ tiêu sinh học để đánh giá kết quả được theo dõi ở thí nghiệm gồm: tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ấu trùng, tỷ lệ ấu trùng chuyển sang giai đoạn Me tại ngày ương thứ 10 và tỷ lệ sống đến giai đoạn ấu trùng Me

2.2.2.2 Ương ghẹ xanh từ Me đến G1 với mật độ khác nhau (thí nghiệm 2)

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức về mật độ ương khác nhau: 10Me/L, 20Me/L, 30Me/L, 40Me/L và 50 Me/L

Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, đơn vị thí nghiệm là bể nhựa có thể tích

Trang 37

24

100 lít (chứa 50 lít nước ương ấu trùng)

Nguồn nước dùng để ương ấu trùng ghẹ xanh, đồng nhất về các yếu tố như: độ mặn = 300/00, độ kiềm = 83 mg CaCO3/lít, pH = 8,0

Ấu trùng Me thu được từ thí nghiệm 1, được dùng để bố trí ương trong thí nghiệm

Thức ăn cho ấu trùng Me là Artemia mới nở với mật độ cho ăn 4-6 con/ml

Ấu trùng Me trong thí nghiệm, được cho ăn 3 lần/ngày: 7-8h, 14-15h và 20-21h Trong suốt quá trình ương, không thay nước và rút cặn đáy Các bể ương ấu trùng Me được sục khí liên tục và bố trí giá thể bám là chùm dây nilon

Kiểm tra, theo dõi thông số môi trường: được thực hiện như ở thí nghiệm 1 Các chỉ tiêu sinh học để đánh giá kết quả được theo dõi ở thí nghiệm gồm: tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn sang G1 tại ngày ương thứ 3, tỷ lệ sống đến giai đoạn G1

2.2.3 Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với thức ăn khác nhau (thí nghiệm 3)

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức về thức ăn khác nhau (bảng 2.2)

Bảng 2.2 Các nghiệm thức về thức ăn khác nhau

Nghiệm thức

Thức ăn

Giai đoạn Z1→ Z2 Giai đoạn Z3 → Me→ G1

Lt + Art 15-20 luân trùng/ml 10 luân trùng + 4Artemia mới nở/ml

Art + Frippak 4-6 Artemia bung dù/ml 2g Frippak /m3

Lt + Frippak 15-20 luân trùng 10 luân trùng/ml+1,5g Frippak/m3

Lt giàu hóa DHA

+ Art giàu hóa

DHA

15-20 luân trùng giàu hóa

Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, đơn vị thí nghiệm là bể nhựa có thể tích

100 lít/bể

Trang 38

2.2.4 Ương ghẹ xanh từ Z1 đến G1 với CPSH khác nhau (thí nghiệm 4)

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức về sử dụng chế phẩm sinh học khác nhau (bảng 2.3)

Trang 39

- Ở giai đoạn Z3 đến G1: mỗi ngày cho ăn 4-6 Artemia mới nở giàu hóa bằng

DHA/ml nước ương

Chăm sóc, kiểm tra các yếu tố môi trường và chỉ tiêu sinh học: được thực hiện như ở thí nghiệm 3

Hình 2.2 Ghẹ xanh mang trứng và ấu trùng Z1 dùng để thí nghiệm

2.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu

2.3.1 Kiểm tra các yếu tố môi trường

- Nhiệt độ nước (được đo bằng nhiệt kế) với tần suất 2 lần/ngày, vào lúc 7h đến

Trang 40

27

2.3.2 Xác định các chỉ tiêu sinh học

Định lượng ấu trùng Z1 bố trí mật độ ương: dùng bạt màu đen che kín thùng nhựa (50 lít) chứa ấu trùng, sau 5 phút, dùng tay khuấy tròn 3 vòng theo 1 chiều và 1 vòng theo chiều ngược lại; lấy đầy cốc thủy tinh 50 ml nước chứa ấu trùng, pha loãng

và đếm số ấu trùng trong 50 ml; lặp lại 3 lần lấy mẫu và xác định số lượng ấu trùng trung bình có trong 1ml nước để bố trí thí nghiệm

Kiểm tra tỷ lệ các giai đoạn ấu trùng ghẹ xanh trong các thí nghiệm: được xác định bằng cách thu mẫu 10 ấu trùng/bể ương mỗi ngày, quan sát dưới kính hiển vi, ghi nhận và tính tỷ lệ các giai đoạn

Tỷ lệ ấu trùng ghẹ xanh chuyển giai đoạn sang Me tại ngày ương thứ 10: được xác định qua lấy mẫu ngẫu nhiên mỗi bể 10 ấu trùng/lần để quan sát và lặp lại 3 lần lấy mẫu/bể, tính tỷ lệ ấu trùng Me theo công thức sau:

Tỷ lệ sống ấu trùng ghẹ xanh được ương từ giai đoạn Z1 đến Me: xác định qua thu hoạch kết thúc thí nghiệm, khi toàn bộ ấu trùng ở giai đoạn Me, tiến hành thu và đếm số lượng ấu trùng Me còn lại ở mỗi nghiệm thức, so sánh với tổng số ấu trùng Z1 thả ban đầu theo công thức sau:

Tỷ lệ chuyển giai đoạn sang G1 ở các thí nghiệm: được xác định qua lấy mẫu ngẫu nhiên mỗi bể 10con/lần, để quan sát và lặp lại 3 lần lấy mẫu/bể, xác định tỷ lệ G1 theo công thức sau:

Tỷ lệ sống ghẹ xanh được ương từ giai đoạn Me đến giai đoạn G1: xác định qua thu hoạch kết thúc thí nghiệm, khi toàn bộ ấu trùng đã chuyển thành G1, tiến hành thu

và đếm số lượng G1 còn lại ở mỗi nghiệm thức, so sánh với tổng số ấu trùng Me thả ban đầu theo công thức sau:

Số lượng ấu trùng Me thu hoạch TLSMe (%) = x 100

Số lượng ấu trùng Z1 thả ương

Số ấu trùng ở giai đoạn Me TLMe (%) = x 100

Tổng số ấu trùng quan sát

Số lượng G1 xuất hiện TLG1 (%) = x 100

Tổng số ấu trùng quan sát

Ngày đăng: 19/11/2017, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Chung, Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi ghẹ xanh, cua biển, Nhà xuất bản Nông nghiệp 2006, 149 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi ghẹ xanh, cua biển
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp 2006
2. Đoàn Xuân Diệp, Trần Ngọc Hải, Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Thanh Phương, Ảnh hưởng của thức ăn và mật độ ương lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng ghẹ xanh (Portunus pelagicus), Tạp chí Nghiên cứuKhoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 2, 2004, 41-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thức ăn và mật độ ương lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng ghẹ xanh (Portunus pelagicus)
3. Trần Ngọc Hải, Nghiên cứu ương ấu trùng ghẹ xanh (Portunus pelagicus), Báo cáo khoa học đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Khoa Thủy sản-Trường Đại học Cần Thơ, 2008, 41 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ương ấu trùng ghẹ xanh (Portunus pelagicus)
4. Trần Ngọc Hải và Trương Trọng Nghĩa, Ảnh hưởng của mật độ ương lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển ((Scylla paramamosain) trong mô hình nước xanh, Tạp chí Khoa học, Đại học Cần Thơ, chuyên ngành Thủy sản, 2004, trang 187-192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mật độ ương lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển ((Scylla paramamosain) trong mô hình nước xanh
5. Trần Ngọc Hải và Trần Minh Nhứt, Ảnh hưởng của mật độ ương, Artemia và giá thể lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng Ghẹ Xanh (Portunus pelagicus), Tạp chí Khoa học, Đại học Cần Thơ, chuyên ngành Thủy sản, (2), 2008, 124-132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mật độ ương, Artemia và giá thể lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng Ghẹ Xanh (Portunus pelagicus)
6. Phạm Nguyễn Hậu, Nghiên cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (Portunus pelagicus Linnaeus, 1766) tự nhiên ở vùng biển Nha Trang - Khánh Hòa, Luận văn thạc sỹ Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, 2012, 53 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (Portunus pelagicus Linnaeus, 1766) tự nhiên ở vùng biển Nha Trang - Khánh Hòa
7. Đỗ Thị Liên, Nguyễn Thị Diệu Phương, Nguyễn Thị Biên Thùy, Đỗ Thị Tố Uyên và Đinh Duy Kháng, Ảnh hưởng của chế phẩm vi khuẩn tía quang hợp đến chất lượng môi trường ao nuôi cá rô phi thâm canh, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 3: 379-383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chế phẩm vi khuẩn tía quang hợp đến chất lượng môi trường ao nuôi cá rô phi thâm canh
8. Trần Minh Nhứt, Trần An Xuyên và Trần Ngọc Hải, Ương ấu trùng cua biển (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn zoea1-zoea5 và zoea5- cua1 với các mật độ và chế độ cho ăn khác nhau, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 2010, 287-297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ương ấu trùng cua biển (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn zoea1-zoea5 và zoea5-cua1 với các mật độ và chế độ cho ăn khác nhau
9. Nguyễn Thanh Phương, Nghiên cứu nâng cao năng suất ương tôm càng xanh áp dụng quy trình nước xanh cải tiến, Báo cáo khoa học, Tổng kết đề tài, Đại học Cần Thơ - Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, 2007,70 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nâng cao năng suất ương tôm càng xanh áp dụng quy trình nước xanh cải tiến
10. Nguyễn Cơ Thạch, Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cua biển loài Scylla serrata và bước đầu xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo cua biển,Báo cáo đề tài Khoa học cấp Nhà nước, 2001, 145 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cua biển loài Scylla serrata và bước đầu xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo cua biển
11. Nguyễn Thị Bích Thúy, Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản, sản xuất giống nhân tạo và công nghệ nuôi thương phẩm ghẹ xanh Portunus pelagicus, Báo cáo đề tài khoa học, Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản, sản xuất giống nhân tạo và công nghệ nuôi thương phẩm ghẹ xanh Portunus pelagicus
12. Nguyễn Thị Bích Thúy, Một số đặc điểm sinh học và công nghệ sản xuất giống ghẹ xanh (Portunus pelagicus Linnaeus, 1766), Tóm tắt báo cáo hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học và công nghệ sản xuất giống ghẹ xanh (Portunus pelagicus Linnaeus, 1766)
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
13. Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, Sử dụng chế phẩm vi sinh đối kháng Vibrio trong sản xuất giống tôm sú và cá biển, Báo đề tài khoa học, Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp lần thứ 6, Chuyên đề sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản, 2010, trang 10-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm vi sinh đối kháng Vibrio trong sản xuất giống tôm sú và cá biển
14. Đoàn Văn Tùng, Ảnh hưởng của thức ăn Cyclop-eeze và EZ LARVA lên tỷ lệ sống và sự biến thái giai đoạn zoea của ấu trùng cua xanh (Scylla paramamosain) trong sản xuất giống tại Ninh Thuận. Luận văn thạc sỹ Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại Học Nha Trang, 2006, 56 trang.Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thức ăn Cyclop-eeze và EZ LARVA lên tỷ lệ sống và sự biến thái giai đoạn zoea của ấu trùng cua xanh (Scylla paramamosain) trong sản xuất giống tại Ninh Thuận
15. Allah, D.T., Mhd, Ikhwanuddin, M.D.D. Abdullah, Abol-Munafi A.B, Indigenous Lactobacillus plantarum as probiotic for larviculture of blue swimming crab, Portunus pelagicus (Linnaeus, 1758): Effects on survival, digestive enzyme activities and water quality, Aquaculture Volumes 416417, 5 December, 2003,173-178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indigenous Lactobacillus plantarum as probiotic for larviculture of blue swimming crab, Portunus pelagicus (Linnaeus, 1758): Effects on survival, digestive enzyme activities and water quality
17. Balcaza, J. L., Evaluation of probiotic bacterial strains in Litopenaeus vanamei, Final Report, National Center fo Marine and Aquaculture Research, Guayaquil, Ecuador, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of probiotic bacterial strains in Litopenaeus vanamei
18. Balcaza, J. L., de Blas I., Vendrell D. And Muzquiz J. L., Probiotics: a tool for the future of fish and shellfish health manage ment, Journal of Aquaculture Troppics, 19, 2004, pp, 239 – 242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Probiotics: a tool for the future of fish and shellfish health manage ment
19. Balcázar, J. L., Use of probiotics in aquaculture: general aspects, In: de Blas I.(Ed.), Memorias del Primer Congreso Iberroamericano Virtual de Acuiculture, Zaragoza, Spain, 2002, pp. 877-881 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of probiotics in aquaculture: general aspects
20. Boyd, C.E., Water quality for pond Aquaculture. Deparment of Fisheries and Applied Aquacultures, Auburn University, Alabana 36849 USA, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Water quality for pond Aquaculture
21. Carnevali, O., Zamponi M. C., Sulpizio R., Nardi M., Orpianesi C. Silvi S., Caggiono M., Polzonetti A. M. and Cresci A., Adiministration of probiotics strain to improve sea bream wellness during development, Aquaculture International, 12, 2004, pp. 377-386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adiministration of probiotics strain to improve sea bream wellness during development

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2. Ghẹ xanh  mang trứng và ấu trùng  Z1 dùng để thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
Hình 2.2. Ghẹ xanh mang trứng và ấu trùng Z1 dùng để thí nghiệm (Trang 39)
Đồ thị 3.1. Tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ghẹ xanh từ Z1 đến Me ở - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.1. Tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ghẹ xanh từ Z1 đến Me ở (Trang 44)
Đồ thị 3.2. Tỷ lệ ấu trùng Me tại ngày ương thứ 10 ở các nghiệm thức ương - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.2. Tỷ lệ ấu trùng Me tại ngày ương thứ 10 ở các nghiệm thức ương (Trang 45)
Đồ thị 3.3. Tỷ lệ sống ghẹ xanh ở các nghiệm thức ương từ Z1 đến Me với - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.3. Tỷ lệ sống ghẹ xanh ở các nghiệm thức ương từ Z1 đến Me với (Trang 47)
Bảng 3.2. Các thông số môi trường ương ghẹ xanh từ Me đến G1 với mật độ khác - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
Bảng 3.2. Các thông số môi trường ương ghẹ xanh từ Me đến G1 với mật độ khác (Trang 48)
Đồ thị 3.4. Tỷ lệ G1 tại  ngày ương thứ 3 ở các nghiệm thức ương từ Me - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.4. Tỷ lệ G1 tại ngày ương thứ 3 ở các nghiệm thức ương từ Me (Trang 50)
Đồ thị 3.7. Tỷ lệ G1 tại  ngày ương thứ 14 ở các nghiệm thức ương từ Z1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.7. Tỷ lệ G1 tại ngày ương thứ 14 ở các nghiệm thức ương từ Z1 (Trang 56)
Đồ thị 3.8. Tỷ lệ sống ghẹ xanh ở các nghiệm thức ương từ Z1 đến G1 với - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.8. Tỷ lệ sống ghẹ xanh ở các nghiệm thức ương từ Z1 đến G1 với (Trang 58)
Đồ thị 3.9. Tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ghẹ xanh từ Z1 đến G1 ở các - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.9. Tỷ lệ biến thái chuyển giai đoạn của ghẹ xanh từ Z1 đến G1 ở các (Trang 62)
Đồ thị 3.10. Tỷ lệ G1 tại  ngày ương thứ 14 ở các nghiệm thức ương ghẹ - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.10. Tỷ lệ G1 tại ngày ương thứ 14 ở các nghiệm thức ương ghẹ (Trang 63)
Đồ thị 3.11. Tỷ lệ sống ghẹ xanh ở các nghiệm thức ương từ Z1 đến G1 với - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
th ị 3.11. Tỷ lệ sống ghẹ xanh ở các nghiệm thức ương từ Z1 đến G1 với (Trang 64)
Hình 4: Các giai đoạn phát triển của ấu trúng ghẹ xanh từ Z1 đến G1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
Hình 4 Các giai đoạn phát triển của ấu trúng ghẹ xanh từ Z1 đến G1 (Trang 103)
Hình 6: Bể ương ấu trùng và thức ăn tổng hợp, CPSH - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
Hình 6 Bể ương ấu trùng và thức ăn tổng hợp, CPSH (Trang 104)
Hình 9: Các giai đoạn phát triển của ấu trùng ghẹ xanh - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và chế phẩm sinh học đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng ghẹ xanh portunus pelagicus (linnaeus, 1776) tại kiên giang
Hình 9 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng ghẹ xanh (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w