1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tiểu luận Bàn về hai nguyên tắc người gây thiệt hại, ô nhiễm phải bồi hoàn và người sử dụng phải trả tiền”.

23 612 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 392 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ I. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, cùng với quá trình hội nhập thế giới và đà tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng lớn tới đời sống người dân ở nhiều khu vực. Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà nước và nhân dân, song để thực thi việc này không dễ… Theo đánh giá của các chuyên gia, rất nhiều vụ việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng khiến người dân bức xúc, tuy nhiên mức phạt, bồi thường vẫn còn quá ít, chưa “tương xứng” với vi phạm. Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực môi trường ngày càng tinh vi; trong khi đó, khâu kiểm tra, xử lý tại các địa phương còn hạn chế, việc khắc phục hậu quả chưa tương xứng với mức độ thiệt hại gây ra đối với môi trường. Hệ quả là tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên tại Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) năm 1993, theo đó “tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Nhưng phải đến khi Luật BVMT (2005) được ban hành, vấn đề này mới được đề cập một cách rõ ràng hơn. Với việc dành riêng 5 điều cho các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm (từ Điều 131 đến Điều 135, Mục 2), Luật BVMT (2005) đã thể hiện một bước tiến đáng kể trong quá trình “hiện thực hóa” nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền một nguyên tắc được xem là đặc trưng của lĩnh vực môi trường. Tuy nhiên, để có thể áp dụng được trách nhiệm này một cách đầy đủ trên thực tế, pháp luật môi trường cần phải quy định rõ ràng, cụ thể hơn nữa việc xác định các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây nên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường. Trong phạm vi bài Tiểu luận này, tôi xin đi sâu phân tích: Bàn về hai nguyên tắc người gây thiệt hại, ô nhiễm phải bồi hoàn và người sử dụng phải trả tiền”.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

I Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, cùng với quá trình hội nhập thế giới và đà tăng trưởng kinh tế,Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng lớntới đời sống người dân ở nhiều khu vực Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môitrường là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà nước và nhân dân, song đểthực thi việc này không dễ… Theo đánh giá của các chuyên gia, rất nhiều vụ việcgây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng khiến người dân bức xúc, tuy nhiên mứcphạt, bồi thường vẫn còn quá ít, chưa “tương xứng” với vi phạm Các hành vi viphạm trong lĩnh vực môi trường ngày càng tinh vi; trong khi đó, khâu kiểm tra, xử

lý tại các địa phương còn hạn chế, việc khắc phục hậu quả chưa tương xứng vớimức độ thiệt hại gây ra đối với môi trường Hệ quả là tài nguyên thiên nhiên cạnkiệt, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững củađất nước

Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được pháp luật ghinhận lần đầu tiên tại Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) năm 1993, theo đó “tổchức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệthại theo quy định của pháp luật” Nhưng phải đến khi Luật BVMT (2005) được banhành, vấn đề này mới được đề cập một cách rõ ràng hơn Với việc dành riêng 5điều cho các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm (từ Điều 131 đến Điều

135, Mục 2), Luật BVMT (2005) đã thể hiện một bước tiến đáng kể trong quá trình

“hiện thực hóa” nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền - một nguyên tắc đượcxem là đặc trưng của lĩnh vực môi trường Tuy nhiên, để có thể áp dụng được tráchnhiệm này một cách đầy đủ trên thực tế, pháp luật môi trường cần phải quy định rõràng, cụ thể hơn nữa việc xác định các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây nên,trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường Trong phạm vi bài Tiểu luận này,

Trang 2

tôi xin đi sâu phân tích: "Bàn về hai nguyên tắc người gây thiệt hại, ô nhiễm phải

II Cơ sở pháp lí

- Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29-11-2005, cóhiệu từ ngày 01/7/2006 là văn bản pháp luật chủ yếu trong lĩnh vực bảo vệ môitrường thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 1993

- Nghị định 21/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường

- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vựcbảo vệ môi trường, ngày 31/12/2009, củaThủ tướng Chính phủ

- Ngày 17/6/2004 Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại

do ô nhiễm dầu 1992 có hiệu lực tại Việt Nam

- Một số văn bản pháp luật khác có liên quan công tác bảo vệ môi trường

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn gọi là là trách nhiệmdân sự do gây thiệt hại Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm được hiểu

là bổn phận, nghĩa vụ của người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệthại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợiích hợp pháp mà giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có giao kếthợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi củahợp đồng

Trang 3

2 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng

Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung vàluật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có 4 điều kiệnđược quy định tại Nghị quyết số 03/2006/HĐTP – TANDTC ngày 08/7/2006hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại:

2.1 Phải có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích của người xác định đượctrên thực tế

Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.a/ Thiệt hại về vật chất bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy địnhtại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều

609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại Điều 610 BLDS; thiệthại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611BLDS

b/ Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe,danh dự, nhân phẩm, uy tín mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm

mà người thân thích, gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền,mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc uy tín, bị bạn bè xa lánh do hiểu nhầm… vàcần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu

Thiệt hại do tổn thất tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải

là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm,

tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và phảibồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu

2.2 Phải có hành vi trái pháp luật

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiệnthông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật

Trang 4

Người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật thì người đó phải bồi thường.Pháp luật loại trừ những hành vi sau tuy có gây ra thiệt hại nhưng không bị coi làtrái pháp luật: gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng, trong trường hợp bất khảkháng, trong tình thế cấp thiết, trong sự kiện bất ngờ.

2.3 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật

Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngượclại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại

Hành vi phải là nguyên nhân của thiệt hại và nguyên nhân bao giờ cũng làmphát sinh một kết quả hoặc nhiều kết quả

2.4 Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

Người gây thiệt hại cho dù có lỗi cố ý hoặc vô ý đều phải bồi thường toàn bộthiệt hại Người gây thiệt hại không bị coi là có lỗi trong các trường hợp bất khảkháng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ và người bị thiệt hại có lỗi

a/ Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình

sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mongmuốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra

b/ Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi củamình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽxảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằngthiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệthại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trongtrường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó

3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

3.1 Khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cầnphải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 605 BLDS

Trang 5

Cần phải tôn trọng thoả thuận của các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường

và phương thức bồi thường, nếu thoả thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội

3.2 Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì khi giải quyết tranhchấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần chú ý:

a/ Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giảiquyết bồi thường thiệt hại do tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uytín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của BLDS quy định trongtrường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra làbao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường cáckhoản thiệt hại tương xứng đó

b/ Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Toà án phải giải quyết nhanhchóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định Trong trường hợpcần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyđịnh của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự

c/ Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ haiđiều kiện sau đây:

- Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại;

- Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài củangười gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường sovới hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không thể có khảnăng bồi thường được toàn bộ hoặc phần thiệt hại đó

d/ Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do có

sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả mà mức bồi thườngđang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sự thay đổi

về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức bồithường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi vềkhả năng kinh tế của người gây thiệt hại…

Trang 6

II TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM

MÔI TRƯỜNG

1 Hành vi làm ô nhiễm môi trường

Theo quy định tại Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005: “ 1 Môi trường baogồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởngđến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật

2 Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất,nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chấtkhác.”

Theo qui định trên, hành vi làm ô nhiễm môi trường được hiểu là nhữnghành vi tác động đến các yếu tố của môi trường và gây ô nhiễm các yếu tố đó làmtổn hại đến các yếu tố nguyên thuỷ của môi trường dẫn đến thiệt hại về tài sản, sứckhoẻ, tính mạng của người khác Và cũng theo giải thích thuật ngữ tại Điều 3 Luậtbảo vệ môi trường, thì các hành vi sau đây của con người là nhân tố gây ra ô nhiễmmôi trường: Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, dịch vụ và các hoạtđộng khác đã thải ra chất thải ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các dạng khác mà các chất

đó là những nhân tố làm cho môi trường trở nên độc hại Hành vi gây ô nhiễm môitrường là hành vi làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn củamôi trường Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong sinh hoạt, hành vi của conngười đã làm ô nhiễm môi trường dẫn đến suy thoái môi trường, làm thay đổi chấtlượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống củacon người và thiên nhiên

2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

2.1 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Trang 7

Căn cứ vào điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và điều 624 Bộ luậtDân sự 2005, chúng ta có thể hiểu chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dolàm ô nhiễm môi trường là những cá nhân, tổ chức.

Các tổ chức từ khi thành lập đã có năng lực pháp luật, có năng lực chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại Khi các tổ chức khi tham gia vào các quan hệ pháp luậtmôi trường mà có hành vi làm ô nhiễm môi trường dẫn tới gây thiệt hại thì phảichịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình Các tổ chức có thể làpháp nhân (chẳng hạn, doanh nghiệp Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phần, các viện nghiên cứu…) hoặc tổ chức khác không phải là pháp nhân(doanh nghiệp tư nhân…)

Đối với cá nhân, những người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy đủthì tự mình phải bồi thường thiệt hại Trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ

18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tàisản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của họ.Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường thiệthại toàn bộ Nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêngthì lấy tài sản riêng đó để bồi thường phần còn thiếu cho người bị hại

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà

có cá nhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân đó được dùng tài sản của người được giám

hộ để bồi thường Nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản

để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình Nhưngngười giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì khôngphải lấy tài sản của mình để bồi thường

Trong thực tế, các chủ thể gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là các doanhnghiệp Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh do không có thiết bị xử lý chất thải,hoặc không tuân thủ các quy định khác về bảo vệ môi trường… nên đã làm suythoái môi trường, ô nhiễm môi trường Như vậy, chủ thể “tiềm tàng” chịu trách

Trang 8

nhiệm bồi thường thiệt hại, trước hết là các cơ sở kinh doanh, các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế.

2.2 Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã sử dụng những công

cụ kinh tế khác nhau (các loại phí, giấy phép có thể bán được, hệ thống ký quỹ vàhoàn trả, khuyến khích thực thi, các chính sách thuế môi trường và tài nguyên, quyđịnh đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường, v.v.) nhằm đem lại sự mềm dẻo, hiệuquả, chi phí – hiệu quả nhất Với những mức độ khác nhau, chúng sử dụng nhữngnguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” và “người hưởng lợi phải trả” Theonguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả, thì ở mức ô nhiễm cao sẽ chịu phạt vé tàichính cao hơn, còn ở mức ô nhiễm thấp hơn thì chịu phạt thấp hơn, hoặc thậm chícòn được thưởng nữa Theo nguyên tắc người hưởng lợi phải trả thì người sử dụngphải trả toàn bộ chi phí xã hội cho sự cung cấp nguồn lực đó, ví dụ trả tiền nước vàdịch vụ liên quan bao gồm cả các chi phí xử lý nước Trong khi một số công cụkinh tế ứng dụng các chi phí trực tiếp (ví dụ: phạt trên khối lượng chất độc thải ra,

hệ thống trả phí theo từng thứ chất thải rắn, phí cho phép thải khí tính theo khốilượng khí thải ra, tiền ký quý có thể được hoàn trả cho các bao bì), các công cụkhác lại sử dụng các chi phí gián tiếp như đánh thuế đầu ra (ví dụ: thuế nhiên liệu)

Người có hành vi xâm phạm môi trường phải bồi thường thiệt hại Hành vigây ô nhiễm môi trường là hành vi có lỗi hoặc không có lỗi Theo qui định Điều

624 BLDS, người gây ô nhiễm môi trường cho dù là có lỗi hoặc không có lỗi đều

có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi

gây ô nhiễm môi trường cần có đủ 3 điều kiện Thứ nhất, có hành vi gây ô nhiễm

môi trường Hành vi đó đã tác động đến các yếu tố của môi trường gây ra ô nhiễm

Thứ hai, hành vi gây ô nhiễm môi trường có mối quan hệ nhân quả với môi trường

bị gây ô nhiễm xác định được và thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra Thứ ba,

những thiệt hại về môi trường do hành vi xâm phạm môi trường gây ra xác định

Trang 9

được dựa trên những thiệt hại đã xảy ra và thiệt hại chắc chắn xảy ra cho môitrường, môi trường bị gây thiệt hại là cầu nối dẫn đến thiệt hại khác.

Người gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại theo trách nhiệmdân sự ngoài hợp đồng, người đó còn phải chịu trách nhiệm hình sự trong nhữngtrường hợp gây ô nhiễm về không khí, nguồn nước, đất theo qui định tại Điều 182BLHS 1999,sửa đổi bổ sung 2009

Theo pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường phát sinh khi

có các điều kiện sau đây:

a Có thiệt hại xảy ra:

Đây là điều kiện mang tính chất tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại,bởi mục đích của việc áp dụng trách nhhiệm này là khôi phục tình trạng tài sản, sứckhoẻ… cho người bị thiệt hại Các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây nên có thểbao gồm những thiệt hại sau đây:

Theo quy định tại Điều 131 Luật BVMT (2005), có 2 loại thiệt hại:

Thứ nhất, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên Đó là sự suy giảm chức

năng, tính hữu ích của môi trường Có thể hiểu sự suy giảm chức năng, tính hữu ích

của môi trường xảy ra khi: Một là, chất lượng của các yếu tố môi trường sau khi bị tác động thấp hơn so với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường; hai là, lượng tài

nguyên thiên nhiên bị khai thác, sử dụng lớn hơn lượng được khôi phục (đối với tàinguyên tái tạo) hoặc lớn hơn lượng thay thế (đối với tài nguyên không tái tạo

được); ba là, lượng chất thải thải vào môi trường lớn hơn khả năng tự phân hủy, tự

làm sạch của chúng Thiệt hại do môi trường bị xâm hại gây ra và trực tiếp gây thiệthại cho người khác xác định được theo những tổn hại thức tế ngay sau khi môitrường bị xâm hại và những thiệt hại gián tiếp chắc chắn xảy ra xác định được trên

cơ sở khách quan Thiệt hại do môi trường bị xâm hại gây ra cần phải xác định haimối quan hệ mật thiết với nhau, thiệt hại này là nguyên nhân của thiệt hại kia và

Trang 10

hành vi gây ô nhiễm môi trường là nguyên nhân của thiệt hại mang tính chất bắccầu, được biểu hiện như sau: Thứ nhất, hành vi xâm hại môi trường là nguyên nhânlàm cho môi trường bị gây ô nhiễm; Thứ hai, môi trường bị gây ô nhiễm có mốiliên hệ với thiệt hại xác định được.

Thứ hai, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích

hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữuích của môi trường gây ra Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người đượcthể hiện qua các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng

bị mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt

hại về tính mạng, sức khỏe có nguyên nhân từ ô nhiễm, suy thoái môi trường Ví

dụ: khi môi trường sống bị ô nhiễm ( ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm

đất…) sức khoẻ con người bị giảm sút, bị mắc các bệnh về đường hô hấp, đườngtiêu hoá… Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm Đó có thể là: tài sản bị huỷ hoại hoặc

bị hư hỏng, thiệt hại gắn liền với việc thu hẹp hoặc mất những lợi ích gắn liền vớiviệc không sử dụng, không khai thác hoặc bị hạn chế trong việc sử dụng, khai thác

công dụng của tài sản; những chi phí để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại Ví dụ:

Sự kiện tràn dầu tại vùng biển Vũng Tàu.1 giờ 20 phút sáng ngày 7/9/2001 tại vùngbiển Vũng Tàu, tàu chở dầu Formosa One quốc tịch Liberia đâm vào tàu chở dầuPetrolimex 01 làm 900 tấn dầu từ tàu Petrolimex 01 tràn ra biển gây ô nhiễm Uỷban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường,Vietsovpetro đã huy động lực lượng khắc phục dầu tràn, thu gom dầu tràn để giảmthiểu ô nhiễm môi trường Sự cố tràn dầu đã làm sút giảm 5/6 lượng khách du lịchtới Vũng Tàu gây thiệt hại cho ngành du lịch khoảng 43 000 000 000 VND Cácngành nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt ven bờ và dịch vụ hậu cần thủy sản bị thiệt hại

là 108 000 000 000 VND; ngành muối thiệt hại 27 080 000 000 VND, ảnh hưởngsức khoẻ cộng đồng là 11 210 000 000 VND, chi phí làm sạch môi trường là 60

Trang 11

000 000 VND Tổng mức thiệt hại là 260 000 000 000 VND tương đương 17.2triệu USD.

Những thiệt hại do hành vi làm cho môi trường bị ô nhiễm đã dẫn đến nhữngthiệt hại không những về mặt thực tế, mà còn là những nguy cơ tiềm ẩn lâu dài tồntại trong không gian và thời gian nhất định, có thể gây thiệt hại rất lớn, lâu dài chocon người và môi trường tự nhiên Những thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môitrường phải dựa vào những căn cứ khoa học của nhiều chuyên ngành để xác định,theo những số liệu thống kê được và qua phân tích mức độ môi trường bị ô nhiễm,

để có căn cứ xác định thiệt hại Thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường có thểdẫn đến những thiệt hại rất lớn, có thể ảnh hưởng lâu dài đến các thế hệ sau, nhưhành vi: phá hoại, khai thác trái phép hoặc khai thác không có kế hoạch rừng đầunguồn, nguồn nước đầu nguồn làm nguồn nước nhiễm bẩn, nhiễm độc bầu khíquyển…Hành vi gây ô nhiễm môi trường đã dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền, lợi ích của các nhà sản xuất, gây độc hại cho người tiêu dùng, đặc biệt tronglĩnh vực thực phẩm, lương thực và nguyên liệu sản xuất dược phẩm…Hành vi gây

ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của nhiều ngànhnghề như du lịch, dịch vụ và sản xuất, lưu thông phân phối sản phẩm cũng như cácdịch bệnh tiềm ẩn từ môi trường bị gây ô nhiễm không thể xác định được hết trongmột thời gian ngắn

Thiệt hại do môi trường bị phá vỡ do bị nhiễm bẩn, nhiễm độc là những thiệthại được xác định ngay sau khi có hành vi làm ô nhiễm môi trường, mà còn lànhững thiệt hại vẫn đang và sẽ diễn ra theo phản ứng dây chuyền, sự vân động củamôi trường khách quan và xã hội Những hành vi gây ô nhiễm môi truờng có thể bịchấm dứt hoặc người có hành vi tác động gây ô nhiễm môi trường không thực hiệnhành vi ô nhiễm môi trường nữa nhưng hậu quả của hành vi đó vẫn diễn biến theomột quy luật bảo tồn và biến hoá năng lượng, tạo ra những phản ứng dây truyềngây thiệt hại cho người khác( như thải chất độc xuống nguồn nước sinh hoạt, tàn

Ngày đăng: 19/10/2017, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w