SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT NGUYỄN QUÁN NHO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY ĐỂ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP CỦA HỌC SINH HƯỚNG TỚI LĨNH HỘI NỘI D
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN QUÁN NHO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY ĐỂ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP CỦA HỌC SINH HƯỚNG TỚI LĨNH HỘI NỘI DUNG GIẢI CÁC BÀI TOÁN LƯỢNG GIÁC
TRONG TAM GIÁC
Người thực hiện: Trương Thị Yến Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn tổ toán Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Quán Nho
SKKN thuộc môn: Toán
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
1.2 mục đích nghiên cứu
1.3.Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3 Kết luận, kiến nghị
3.1 Kết luận
3.2 Kiến nghị
Trang 3
-TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Sách giáo khoa đại số 10 nâng cao
2/ Sách bài tập đại số 10 nâng cao
3/ Sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao
4/ Sách bài tập đại số và giải tích 11 nâng cao
5, Tài liệu tập huấn kĩ thuật dạy học của sở GD và ĐT Thanh Hóa.6/ Tài liệu tập huấn kiểm tra đánh giá của Sở GD và ĐT Thanh Hóa.7/ Tài liệu tập huấn ra đề thi của Sở GD và ĐT Thanh Hóa
8/ Các đề thi cao đẳng và đại học các năm
Trang 4
-DANH MỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP CAO
HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trương Thị Yến
Chức vụ và đơn vị công tác: Tổ trưởng chuyên môn -Trường THPT Nguyễn Quán Nho
TT Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá xếp loại
Kết quả đánh giá xếp loại
Năm học đánh giá xếp loại
1. Phân tích các sai lầm và khó
khăn học sinh mắc phải khi giải
bài tập giới hạn hàm số
2 Phân tích các sai lầm của học
sinh khi giải phương trình lượng
giác
3 Áp dụng kĩ thuật “khăn phủ bàn”
phối hợp với phân bậc hoạt động
giúp học sinh giải bài tập
phương trình lượng giác được tốt
hơn
Trang 5
-1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
+ Bài toán tam giác lượng là bài toán nghiên cứu cá mối quan hệ giữa các yếu tố củatam giác với nhau, các mối quan hệ có thể là: một đẳng thức, bất đẳng thức, dấu hiệunhận dạng tam giác Đây là một nội dung tương đối phức tạp đối với học sinh.Tuy nhiên,đây lại là một nội dung rất quan trọng trong một đề thi THPT đặc biệt là đối với học sinhnăm thứ hai, thứ ba thi THPT Quốc Gia kỳ thi đang đến rất gần
+ Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để các em giải tốt các bài toán tam giác lượng đặcbiệt là các bất đẳng thức tam giác trong khi quĩ thời gian cho mỗi bài giải là rất ít (2 đến 3phút) Trong khi đó, để đạt điểm 8;9 cần phải thành thạo những kiến thức này
+ Hình thức thi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đối với hoc sinh lớp 11 lênlớp 12 và thi trắc nghiệm khách quan với bốn hình thức đối với học sinh lớp 10 đây làmột điểm mới trong cả cách ra đề đối với giáo viên toán cũng như là học sinh học toánđặc biệt là vào nội dung tam giác lượng này Vì vậy, đòi hỏi người dạy lẫn người học đềuphải thay đổi phương pháp một cách tích cực
+ Lược đồ tư duy là một hệ thống có tính cách mạng trong việc lập kếhoạch và ghi chú nhanh những công việc cần làm đã giúp thay đổicuộc sống của hàng triệu người trên toàn thế giới Lược đồ tư duy làmột hệ thống kiến thức được tóm tắt ngắn gọn bằng những “nhánhcây”, những ký hiệu và những hình ảnh sinh động nhằm mô tả phầnkiến thức mà ta muốn biểu thị Vì đặc điểm ngắn gọn mà người học cóthể ghi nhớ kiến thức một cách nhanh chóng, và những tri thức cũngđược sắp xếp vào não bộ một cách hết sức khoa học Bên cạnh nhữngđặc tính ưu việt trên, lược đồ tư duy với sự phong phú về hình ảnh và màusắc đã kích thích trí tưởng tượng và niềm say mê, hứng thú của người
học, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.
+ Nhằm hướng đến một phương pháp học tập chủ động tích cực Không chỉ giúphọc sinh khám phá các kiến thức mới mà còn giúp hệ thống đượcnhững kiến thức đó Từ đó, giúp học sinh có được phương pháp học tậptích cực, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy Tôi
đã chọn đề tài: “Giải pháp ứng dụng lược đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tậpcủa học sinh hướng tới lĩnh hội nội dung giải bài toán tam giác lượng”
1.2 Mục đích nghiên cứu.
+ Trên thế giới hiện nay đang diễn ra những chuyển biến trong lĩnhvực giáo dục Xu hướng giáo dục đang phát triển với mục tiêu: đổi mớinội dung, chương trình, phương pháp, phát huy tính tích cực, chủ độngcũng như khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học
+ Đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi hướng đến mục tiêu ứng dụng lược đồ tư duy
để đổi mới phương pháp học tập của học sinh góp phần giải quyết nhóm bài toán lượng
Trang 6giác trong tam giác (bài toán tam giác lượng) bao gồm: Đổi mới phương pháp tự học, đổimới phương pháp học nhóm, đổi mới phương pháp làm đề cương ôn tập.
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp học tập (trên lớp và tự học) của học sinh lớp 10A1 (năm học 2016), 10A4, 11B1 (năm học 2016-2017) của trường THPT Nguyễn Quán Nho – ThiệuHóa – Thanh Hoá dành cho nội dung lượng giác nói chung và bài toán tam giác lượng nóiriêng
2015-1.4 Phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên quá trình kinh nghiệm giảng dạycủa bản thân 17 năm qua và dựa trên các tài liệu tập huấn do sở GD&ĐT Thanh Hóa pháthành dành cho giáo viên THPT hàng năm
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phân tích và đánh giá số liệu của học sinhbản thân tôi dạy hàng năm và đặc biệt trong hai năm học 2015-2016 và năm học 2016-
2017 kể từ khi hình thức thi trắc nghiệm được thực hiện ở trường ĐH Bách Khoa
1.5 Những điểm mới của SKKN:
Tập trung vào hướng dẫn kỹ năng tự học của học sinh theo lược đồ tư duy và hướngtới những bài tập thi dạng trắc nghiệm khách quan của kì thi THPT Quốc Gia
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1.
a, Khái niệm phương pháp học tập
i) Khái niệm phương pháp
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phương pháp là cách thức tiến hành để có
hiệu quả”.
Theo quan điểm Triết học: “Phương pháp là hình thái chiếm lĩnh hiện
thực, sự chiếm lĩnh hiện thực trong các hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn” (Bách khoa toàn thư triết học (Liên Xô),tập III, tr409) Phương pháp chính là cách thức làm
việc của chủ thể, cách thức này tùy thuộc vào nội dung“Phương pháp
là sự vận động bên trong của nội dung” (Hêghen).
Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) cónghĩa là con đường để đạt mục đích Theo đó, Phương pháp học tập làcon đường để đạt mục đích học tập
Như vậy, tóm lại có thể hiểu: “Phương pháp là cách thức, con đường,
phương tiện để đạt tới mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn”.
ii) Khái niệm học tập
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện ngôn
ngữ học: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết và có kỹ năng”.
Trang 7Như vậy, ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về học tập
là: “Học tập là một loại hình hoạt động được thực hiện trong mối quan
hệ chặt chẽ với hoạt động dạy, giúp người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phương thức hành vi nhằm phát triển nhân cách toàn diện”.
iii) Phương pháp học tập
Tùy theo quan niệm về mối quan hệ trong quá trình học tập , đã cónhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp học tập Từ khái niệm
“phương pháp” và “học tập” ta có thể định nghĩa về phương pháp học
tập như sau: “ Phương pháp học tập là hệ thống tác động liên tục của
giáo viên và học sinh nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định” hay nói một cách khái quát
chung: “Phương pháp học tập là con đường để đạt mục đích học tập”
b, Khái niệm đổi mới , đổi mới phương pháp học tập
i) Khái niệm đổi mới
Theo từ điển Tiếng Việt, năm 2008: “ Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho
thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển” Đổi mới là cải cách cái lỗi thời, cái cũ thay vào đó là thừa kế cái
tốt thay cái mới hợp với thời đại mới Đó là con đường tiến hóa của nềnvăn minh Đổi mới không bao giờ là đủ cả, nó kéo dài theo chiều dài
của lịch sử Như vậy: “Đổi mới là thay đổi, kế thừa cái cũ và tiếp thu
những cái mới một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay”.
ii) Khái niệm đổi mới phương pháp học tập
Đổi mới phương pháp học tập có thể hiểu là “con đường tốt nhất để
đạt chất lượng và hiệu quả học tập cao” Đổi mới phương pháp học tập
về bản chất là sự đổi mới cách thức tổ chức học tập theo quan điểmphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học
* Quan điểm về đổi mới phương pháp học tập
Đổi mới giáo dục nói chung, và đổi mới phương pháp học tập nói riêng
là quy luật tất yếu của chính bản thân người làm công tác giáo dục,của giáo viên và học sinh trongđiều kiện mới
Đổi mới phương pháp học tập là thay đổi, kế thừa các phương pháp họctập truyền thống và tiếp thu các phương pháp học tập mới một cáchlinh hoạt, phù hợp với điều kiện Hoàn cảnh, để đáp ứng yêu cầu của
xã hội trong giai đoạn hiện nay
Trang 82.1.2 Khái niệm bản đồ tư duy, lịch sử hình thành, tác dụng và cách thành lập bản đồ tư duy
a, Khái niệm bản đồ tư duy
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Bản đồ tư duy (Mindmap) là
phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não”.
Phương pháp này được nhiều người biết đến nhưng nó chưa bao giờđược hệ thống hóa và được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến mà chỉđược dùng tản mạn trong giới học sinh trước các mùa thi
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản
đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó cácđối tượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó,các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn.Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúcchi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thứccủa đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liênquan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đềlớn
b, Lịch sử hình thành bản đồ tư duy
Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20)bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” màchỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh Cách ghi chép này sẽ nhanhhơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn
Đến giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ
đã truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như
các học viện giáo dục
c, Tác dụng (lợi ích) của việc ứng dụng bản đồ tư duy
* Trong cuộc sống:
– Ghi chú: Khi thông tin được gợi ra, Bản đồ tư duy (Mind maps) giúp tổ
chức thông tin theo một hình thức mà dễ dàng được xuất hiện và ghinhớ Được sử dụng để ghi chú tất cả các loại sách vở, bài giảng, hộihọp, phỏng vấn, và đàm thoại
Trang 9– Gợi nhớ, hồi tưởng: Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong
bộ não thì Mind maps cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanhngay sau khi nó được sinh ra vào một hệ được tổ chức Vì thế chẳngcần phải viết cả một câu Nó như một phương tiện nhanh và hiệu quảtrong việc tổng quát và vì thế có thể giữ lại các hồi tưởng rất nhanhgọn
– Sáng tạo: Bất cứ khi nào bạn muốn khuyến khích sự sáng tạo, Mind
maps sẽ giúp bạn giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thứcghi chép sự kiện theo dòng cho phép các ý tưởng mới được hình thànhnhanh chóng theo luồng tư duy xuất hiện
* Trong giáo dục, đào tạo:
– BĐTD giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện
phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nângcao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học
– BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực: Một số kết quả
nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và inđậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữcủa mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực,huy động tối đa tiềm năng của bộ não
-BĐTD có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào củacác nhà trường hiện nay Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảngphụ,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy
d, Cách thành lập bản đồ tư duy
Cho dù vẽ bằng tay hay bằng máy chúng ta đều có thể thực hiện theocác bước sau:
– Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
hoặc trên máy
+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Hình ảnh
có thể thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trítưởng tượng của mình Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ
– Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to
để làm nổi bật
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm
Trang 10+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thểđược vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
– Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻcong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu.Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thểhơn
– Bước 4: Người vẽ có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan
trọng thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Học sinh trước năm 2015 thi theo hình thức tự luận, hầu hết các em học sinh và giáoviên ít đề cập đến nội dung bài toán tam giác lượng, có cũng chỉ một vài ví dụ SGK phầncông thức biến đổi lượng giác đối với học sinh đại trà Còn đối với đối tượng học sinh cóchất lượng cao hơn, thuộc lớp mũi nhọn thì đây cũng là những bài toán đề cập sau cácdạng toán khác cũng chỉ vì độ khó kiến thức nên tần số xuất hiện của chúng không nhiềuthậm chí là không có trong đề thi đại học Học sinh học phần này chủ yếu là đối phó: ghichép bài hời hợt, trả bài ở phần này không có độ sâu của kiến thức và các em tự đánh giá
và tự cho mình “bỏ qua” phần này chứ chưa nói đến là tìm tòi đọc thêm tài liệu, nghiêncứu tài liệu và hình thành phương pháp tự học cho phần nội dung kiến thức này Khi giáoviên yêu cầu tổ chức học nhóm, làm đề cương ôn tập thì các em cũng thực hiện chiếu lệcùng lắm là tóm tắt lại bài học, làm lại một số bài tập SGK, bài tập trong SBT làm khônghết được tìm cách bao biện là bởi vì “thi gì học nấy” không thi các em học làm gì?
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
+ Hình thành cho học sinh có thói quen sử dụng lược đồ tư duy kể cả trên lớp, sautiết học hoặc sau một nhóm bài tập hoặc một chương kiến thức nhằm lĩnh hội và ghi nhớkiến thức kiểm soát chúng theo trình tự tư duy riêng và kể cả hoàn thành những nhiệm vụhọc tập ở nhà