Với những thực trạng trên thì yêu cầu về quản lý sử dụng tài nguyênrừng một cách bền vững, hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu về kinh tế, xã hội vàmôi trường là một trong những nội dung quan
Trang 1Tăng Văn Tân
nghiên cứu đề xuất nội dung cơ bản
trong quy hoạch rừng thuộc ban quản lý rừng phòng hộ Thanh chương - tỉnh nghệ an theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà Tây 2007
Trang 2-Tăng Văn Tân
nghiên cứu đề xuất nội dung cơ bản
trong quy hoạch rừng thuộc ban quản lý rừng phòng hộ Thanh chương - tỉnh nghệ an theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững
Chuyên ngành:Lâm học
Mã số: 60.62.60
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Bảo Lâm
Hà Tây 2007
Trang 3Đặt vấn đề
Rừng đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và sản xuất xãhội, rừng bảo vệ môi trường, điều hoà khí hậu, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đấtchống xói mòn rửa trôi, ngăn chặn sa mạc hoá , là đối tượng để con người lợidụng phục vụ cuộc sống, gắn liền với đời sống của một bộ phận nhân dân, cógiá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân Vì vậy sử dụng hợp lý và tiết kiệmtài nguyên rừng, đi đôi với công tác bảo vệ và phát triển rừng luôn là nội dungquan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các địa phương vàcủa đất nước
Trong nhiều thập kỷ qua, con người sử dụng tài nguyên này còn chưahợp lý đã làm cho tài nguyên rừng ngày càng giảm sút nghiêm trọng về cả sốlượng và chất lượng, gây ra những hậu quả nặng nề về kinh tế, xã hội và môitrường Nguyên nhân mất rừng chủ yếu do công tác quản lý sử dụng tàinguyên rừng chưa hợp lý, sản xuất lâm nghiệp mang tính truyền thống, nềnkinh tế kế hoạch tập trung bao cấp Việc quy hoạch, lập kế hoạch, xác địnhcác giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên rừng thường dựa trên hiện trạng sửdụng và chức năng của tài nguyên rừng Lấy mục tiêu sử dụng làm đối tượng
đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên rừng, ít xem xét đến tiềmnăng và khả năng đáp ứng của tài nguyên rừng đối với nhu cầu kinh tế, xã hội
và môi trường Chưa đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý sửdụng tài nguyên rừng một cách bền vững
Hơn 10 năm trở lại đây, ngành lâm nghiệp nước ta đã có định hướngtrong việc sử dụng tổng hợp tài nguyên rừng, quản lý rừng bền vững và khaithác hợp lý tài nguyên rừng bằng các giải pháp về chính sách, tổ chức quản lý,xã hội hoá nghề rừng song các tiêu chí QLRBV chủ yếu mới chỉ dừng lại ởmức định tính
Trang 4Với những thực trạng trên thì yêu cầu về quản lý sử dụng tài nguyênrừng một cách bền vững, hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu về kinh tế, xã hội vàmôi trường là một trong những nội dung quan trọng hiện nay, được cộng đồngquốc tế cũng như nhiều quốc gia cùng quan tâm thiết lập một hệ thống tiêu chí
về QLRBV, nhằm phát huy tác dụng nhiều mặt của rừng đối với con người vàxã hội một cách lâu dài và liên tục
Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Chương đóng trên địa bàn thuộchuyện miền núi Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, tiền thân là Lâm trường ThanhChương được thành lập và hoạt động hơn 45 năm; nhiệm vụ chủ yếu của Lâmtrường (cũ) là bảo vệ, khai thác, chế biến lâm sản, xây dựng và phát triển vốnrừng, ngoài ra Lâm trường còn thực hiện một số các dịch vụ khác để nâng cao
đời sống cho cán bộ công nhân viên Thực hiện Nghị định 200/2004/NĐ-CPcủa Chính phủ về việc sắp xếp, đổi mới và phát triển Lâm trường quốc doanh,năm 2006 Lâm trường đã chuyển đổi thành BQL rừng phòng hộ, chức năngnhiệm vụ và tài nguyên rừng của BQL rừng phòng hộ Thanh Chương có nhiềuthay đổi do đó hoạt động quản lý rừng, sản xuất kinh doanh có những biến
động và thay đổi đáng kể, mặt khác tình hình sử dụng đất của đơn vị còn chưahợp lý Từ đó công tác quản lý rừng, trồng, khoanh nuôi, bảo vệ, khai thácrừng, giao khoán đất lâm nghiệp đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi cần phải cónhững phương án, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay của đơn vị
Để góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng theo xu hướng pháttriển bền vững, đáp ứng với yêu cầu thực tiễn trong quản lý rừng và trong sản
xuất kinh doanh, tác giả thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất nội dung cơ bản trong quy hoạch rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Chương tỉnh Nghệ An theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững".
Trang 5Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1 Quy hoạch lâm nghiệp:
1.1.1 Quy hoạch lâm nghiệp trên thế giới:
Sự phát sinh của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tếtư bản chủ nghĩa Do công nghiệp phát triển mạnh nên yêu cầu về gỗ ngàycàng tăng, sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của phong kiến vàbước vào thời đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâmnghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải cóngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi dụng lâu dài chocác chủ rừng Vì thế công tác quy hoạch lâm nghiệp được hình thành và pháttriển, được thể hiện ở cả mặt lý luận và thực tiễn
Đầu thế kỷ thứ XVIII, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyếtviệc "khoanh khu chặt luân chuyển" hay phương pháp "phân phối", có nghĩa là
đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu
kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặcdiện tích để đảm bảo thu hoạch lâu dài và liên tục Phương thức này thích hợpvới cây lá rộng kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
Sau cách mạng công nghiệp ở thế kỷ 19, phương thức kinh doanh rừngchồi phục vụ cho chất đốt ngày đã được thay thế bằng phương thức kinh doanhlợi dụng rừng hạt chuyên sản xuất hàng hoá cây lá kim Người ta thấy như vậyluân kỳ quá dài, khó có thể thực hiện được phương pháp "phân phối", do đóxuất hiện phương pháp "chia đều" của Hartig[27] Theo phương pháp này, chiachu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chếlượng chặt hàng năm Sau đó phương pháp "bình quân thu hoạch" ra đời, quan
điểm phương pháp này là giữ đều thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại,
đồng thời đảm bảo được tính liên tục trong chu kỳ sau Trên cơ sở đó yêu cầu
về mặt thời gian, có trình tự nhất định từ tuổi non đến tuổi già trong phạm viluân kỳ khai thác; về mặt không gian cần có sự sắp đặt lâm phần từ già đến
Trang 6non ngược với hướng gió để đảm bảo gieo hạt tự nhiên và tránh gió đổ, do đóxuất hiện kết cấu "rừng tiêu chuẩn" Diện tích khai thác hàng năm ít hay nhiềuthì dựa vào mức chênh lệch giữa phân phối cấp tuổi thực tế và phân phối "tiêuchuẩn" mà quyết định, nhằm mục đích khiến cho những lâm phần kinh doanh
đạt tới sự phân phối cấp tuổi tiêu chuẩn
Đến cuối thế kỷ XIX, với sự phát triển mạnh của Chủ nghĩa tư bản, lấymục tiêu là thu nhập để quyết định luân kỳ khai thác, từ đó xuất hiện phươngpháp "lâm phần kinh tế" của Judeich, ông cho rằng những lâm phần nào đảmbảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác, sau đó dựavào cấp tuổi mà định lượng khai thác hàng năm [27]
Hai phương pháp "bình quân thu hoạch" và "lâm phần kinh tế" chính làtiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau.Phương pháp “bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “cấp tuổi”chịu ảnh hưởng của “lý luận tiêu chuẩn rừng”, có nghĩa là phải có kết cấu tiêuchuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi caovào diện tích khai thác Còn phương pháp “lâm phần kinh tế” và hiện nay làphương pháp “lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụthể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện phápkinh doanh, phương thức điều chế rừng Cũng từ phương pháp này còn pháttriển thành “phương pháp kinh doanh lô” và “phương pháp kiểm tra”
Quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng hình thành môn học đầu tiên ởnước Đức, áo và mãi đến thế kỷ 18 mới hình thành môn học hoàn chỉnh độclập Thời kỳ đầu môn học quy hoạch lâm nghiệp lấy việc xác định sản lượngrừng làm nhiệm vụ duy nhất nên gọi là môn học "tính thu hoạch rừng" Sau đónội dung quy hoạch lâm nghiệp chuyển sang bàn về việc lợi dụng bền vữngnên môn học đổi tên thành môn "quy ước thu hoạch rừng" Sau này nội dungmôn học chuyển sang nghiên cứu về điều kiện sản xuất và tổ chức kinh doanhrừng, tổ chức rừng với sự chi phối về giá cả, lợi nhuận và môn học có tên là
"quy ước kinh doanh rừng"
Trang 7Hiện nay tuỳ theo mục đích, nhiệm vụ của quy hoạch lâm nghiệp phải
đảm bảo trong từng nước mà môn học có tên gọi và nội dung khác nhau, ở cácnước thuộc Liên Xô cũ có tên là "quy hoạch rừng", các nước có trình độ kinhdoanh cao và công tác quy hoạch yêu cầu tỷ mỷ hơn (Đức, áo, Thuỵ Điển )môn học có tên là "thiết kế rừng", các nước Anh, Mỹ, Canada gọi tên mônhọc là "quản lý rừng"
1.1.2 Quy hoạch lâm nghiệp ở Việt Nam :
Do việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng chưa bền vững và nhu cầu rấtlớn về khai hoang đất rừng, khai thác lâm sản cho phát triển kinh tế - xã hội,nên diện tích và chất lượng rừng trong nhiều năm trước đây đã bị suy giảmliên tục, từ năm 1943 đến năm 1990 diện tích rừng suy giảm nhanh chóng từ14,3 triệu ha với độ che phủ là 43% vào năm 1943 xuống còn 9,18 triệu ha, độche phủ rừng là 27,2% năm 1990[23] Sự suy giảm về tài nguyên rừng khôngchỉ giảm về trữ lượng gỗ mà còn kéo theo sự suy giảm về tính đa dạng sinhhọc, khả năng bảo vệ môi trường và các nguồn lợi khác của người dân địaphương
QHLN ở nước ta được nghiên cứu từ thời Pháp thuộc, đến nay lực lượngquy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng Viện điều traquy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các sởlâm nghiệp không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệpcủa các nước cho phù hợp với điều kiện, trình độ tài nguyên rừng ở nước ta.Tuy nhiên so với sự phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệpnước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy những nghiên cứu cơbản về kinh tế - xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tácquy hoạch lâm nghiệp chưa được giải quyết nên công tác này ở nước ta đangtrong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng
Môn học quy hoạch lâm nghiệp cũng đã được đưa vào giảng dạy ở cáctrường đại học thuộc ngành Lâm nghiệp Trước năm 1975 bài giảng môn họcnày ở miền Bắc chủ yếu dựa vào giáo trình quy hoạch rừng, ở miền Nam là
Trang 8giáo trình điều chế rừng của nước ngoài Nội dung của các giáo trình này chủyếu phục vụ cho việc tổ chức kinh doanh rừng và tổ chức rừng đồng tuổi, ítloài cây chưa phù hợp với điều kiện tài nguyên rừng nước ta Đồng thời mớichỉ dừng lại ở tổ chức kinh doanh rừng mà chưa giải quyết sâu sắc về tổ chứcrừng Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong thực tiễn sản xuất lâm nghiệp, mônquy hoạch lâm nghiệp đã được đổi mới ngày càng phù hợp hơn.
Về thực tiễn, quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta từ thời kỳ Phápthuộc như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, rừng sản xuất Đếnnăm 1955 -1957 tiến hành sơ thám mô tả để ước lượng tài nguyên rừng Năm
1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Từ năm 1965 –
1990, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới tiến hành sơ thám, mô tả để ướclượng tài nguyên rừng và chỉ dừng ở việc cải tiến phương pháp quy hoạch đểphù hợp với trình độ và thực tế tài nguyên rừng nước ta Từ năm 1990 đến nay,công tác quy hoạch lâm nghiệp đã thực sự được coi trọng nhằm bảo vệ tàinguyên rừng hiện có, phát triển vốn rừng và đưa nghề rừng trở thành mộtngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế đất nước
Theo các cấp quản lý, quy hoạch lâm nghiệp được chia thành các cấpsau:
- Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ: ở nước ta, cáccấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính từ toàn quốc tớitỉnh, huyện và xã Để phát triển mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương án quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sảnxuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội
- Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh: Baogồm quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp, lâm trường, cáckhu rừng phòng hộ, bảo tồn… Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho cáccấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể củamỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp Các đơn
vị quản lý, sản xuất kinh doanh rừng như các lâm trường, công ty lâm nghiệp,ban quản lý rừng phòng hộ, quy hoạch lâm nghiệp luôn giữ vai trò rất quan
Trang 9trọng, nó là kế hoạch, phương án thực hiện kinh doanh trong một giai đoạnnhất định.
Các văn bản chính sách của Nhà nước đề cập đến quy hoạch phát triểnlâm nghiệp thể hiện qua: Hiến pháp của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992 nêu "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quyhoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, Nhà nướcgiao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài".Luật đất đai năm 1993 quy định rõ 6 loại đất với 5 quyền sử dụng, tùy theotừng loại đất và mục đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý
và sử dụng Luật đất đai năm 2003 quy định rõ 3 nhóm đất với 5 chủ thể đượcgiao và thuê đất, tuỳ theo từng loại đất và mục đích sử dụng mà được giao cho
tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991phân định rõ 3 loại rừng làm cơ sở cho phát triển lâm nghiệp Luật này đượcsửa đổi năm 2004 đã quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và pháttriển rừng phù hợp và đồng bộ với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quyhoạch phát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp Để cụ thể vàchi tiết cho việc quản lý rừng, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định ban hànhquy chế quản lý rừng, tại quy chế quản lý rừng ban hành theo quyết định186/2006/QĐ-TTg quy định rõ về việc tổ chức quản lý, bảo vệ, phát triển và
sử dụng ba loại rừng Luật đất đai, luật bảo vệ và phát triển rừng trong quyhoạch và giao đất nông - lâm nghiệp đã xác định rõ vai trò của địa phươngtrong quy hoạch và giao đất giao rừng Năm 1999 thực hiện tổng kiểm kê rừngtoàn quốc nhằm chuẩn bị cho thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng vàphát triển kinh tế lâm nghiệp nhiều địa phương đã lập dự án quy hoạch rừngcủa địa phương Kể từ đó công tác quy hoạch lâm nghiệp ngày càng đượcquan tâm
1.2 Quản lý rừng bền vững:
1.2.1 Những quan điểm về quản lý rừng bền vững:
Trong nhiều thập kỷ qua, vấn đề sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bềnvững đã được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước có sự quan tâm đặc
Trang 10biệt Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của vấn đề sử dụng
đất đai, tài nguyên rừng của mỗi quốc gia đều phụ thuộc cách nhìn nhận vàtrình độ quản lý, trình độ tiếp cận khoa học kỹ thuật của nhân loại Quan điểm
về sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đã được nhiều đề tài ở các quốcgia khác nhau đề cấp tới, việc đưa ra một quan điểm thống nhất là một điềukhó có thể thực hiện, nhưng các khái niệm đều cho thấy những điểm giốngnhau khi nói đến quản lý sử dụng đất đai tài nguyên rừng bền vững đều đượcthể hiện ở ba vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường
Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và cácnhu cầu của con người ở các quốc gia, vùng lãnh thổ nên công tác quản lý sửdụng tài nguyên rừng bền vững cũng gặp những khó khăn, phức tạp và đadạng cho mỗi vùng sinh thái khác nhau Nhưng cuối cùng người ta cũng đã cốgắng đưa ra một định nghĩa về QLRBV nhằm diễn đạt bản chất của nó, đồngthời để từ đó xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản trong công tác QLRBV.Theo Tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO) thì : “QLRBV là quá trình quản lý nhữngdiện tích rừng cố định, nhằm đạt được những mục tiêu là đảm bảo sản xuấtliên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng như mong muốn mà không làm giảm
đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ranhững tác động tiêu cực đối với môi trường vật lý và xã hội”[24] Còn theoTiến trình Helsinki thì “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừngmột cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh,sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh
tế, xã hội và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp
địa phương, quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với các hệsinh thái khác”[24]
Mặc dầu có sự diễn đạt khác nhau về ngôn từ , nhưng các khái niệmQLRBV đều có chung ý nghĩa như sau: "QLRBV là quá trình quản lý rừng để
đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đồng thời xem xét đến việc phát triểnsản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp, không làm giảm giá trị hiện có và
Trang 11ảnh hưởng đến năng suất sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu
đến môi trường tự nhiên và xã hội"[24]
Như vậy QLRBV được hiểu là hoạt động nhằm ngăn chặn được tìnhtrạng mất rừng, mà trong đó việc khai thác lợi dụng rừng không mâu thuẫn vớiviệc duy trì diện tích và chất lượng của rừng, đồng thời duy trì và phát huy
được chức năng bảo vệ môi trường sinh thái lâu bền QLRBV nhằm phát huy
đồng thời những giá trị về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của rừng.Trên quan điểm kinh tế sinh thái thì hiệu quả về mặt môi trường có thể xác
định bằng giá trị kinh tế Thực chất việc nâng cao giá trị về môi trường sinhthái của rừng sẽ góp phần giảm chi phí cần thiết để phục hồi và ổn định môitrường sống Với ý nghĩa này QLRBV đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách,một giải pháp quan trọng cho sự tồn tại lâu dài của con người và thiên nhiên
1.2.2 Quản lý rừng bền vững trên thế giới:
Đầu thế kỷ XVIII là thời kỳ cách mạng công nghiệp, nhu cầu gỗ tănglên đột biến Vì vậy vào thời điểm đó mục tiêu kinh doanh rừng chủ yếu làkhai thác được nhiều gỗ và liên tục Các nhà lâm học kinh điển thời đó nhưG.L.Hartig, J.C.Hurdeshagen đã đề xướng lý luận "rừng chuẩn", đặt nền móngban đầu cho lý thuyết quản lý rừng gắn với quá trình tổ chức kinh doanh rừng
từ khâu điều tra rừng đến tổ chức đơn vị kinh doanh rừng, xác định phươngthức kinh doanh và xây dựng phương án thiết kế kinh doanh rừng
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX lâm nghiệp trở thành một ngànhchuyên môn riêng, trong quản lý rừng bắt đầu chú ý đến nuôi dưỡng rừng, đãhiểu sâu hơn về rừng qua việc phân tích kết cấu rừng, tìm hiểu các công năngkhác của rừng như lâm sản ngoài gỗ, săn bắn, du lịch, chăn nuôi dưới tán rừng
Đến thời điểm này quan niệm về rừng không chỉ là cung cấp gỗ mà còn cungcấp và bảo hộ cho nhiều lợi ích khác, rừng là tổng hợp của nhiều tài nguyên vàcông năng hữu ích, là một hệ thống đang vận hành và phát triển
Đến những năm 80 của thế kỷ 20, công nghiệp phát triển mạnh, môi trường
bị ô nhiễm nặng nề, cân bằng sinh thái bị đảo lộn, tài nguyên rừng đã bị suythoái nghiêm trọng thì con người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là
Trang 12có hạn và cần được bảo vệ Nếu theo đà mỗi năm mất khoản 15 triệu ha như
số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn một trăm năm nữa rừng nhiệt đới sẽhoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ phải chịu những thảm họa khôn lường vềkinh tế, xã hội và môi trường[10]
Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều
tổ chức, đề xuất nhiều cam kết và Công ước bảo vệ và phát triển rừng, trong
đó có Chiến lược bảo tồn quốc tế (năm 1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổchức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO, 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt
đới (TFAP, 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển (UNCED,1992), công ước về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITES), Công
ước về Đa dạng sinh học (CBD, 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu(CGCC, 1994), công ước về chống sa mạc hoá (CCD, 1996), Hiệp định quốc
tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) Những năm gần đây nhiều hội nghị, hội thảoquốc tế và quốc gia về QLRBV đã liên tục được tổ chức[10], đã đưa ra kháiniệm về QLRBV "QLRBV là quá trình quản lý những diện tích rừng cố địnhnhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý đã đề ra một cách
rõ ràng của công tác quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm phẩm vàdịch vụ rừng mà không làm giảm đi đáng kể những giá trị vốn có và khả năngsản xuất sau này của rừng, không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực thái quá
đến môi trường vật chất và xã hội"[10]
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế đã biên soạn một số tài liệu quan trọng như
"Hướng dẫn quản lý rừng tự nhiên nhiệt đới" (ITTO, 1990), "Tiêu chí đánh giáquản lý bền vững rừng tự nhiên nhiệt đới" (ITTO 1992), "Hướng dẫn thiết lập
hệ thống quản lý bền vững các khu rừng trồng trong rừng nhiệt đới" (ITTO1993) Tổ chức ITTO đã xây dựng chiến lược quản lý bền vững rừng nhiệt
đới, buôn bán lâm sản nhiệt đới cho năm 2000
Hiện nay trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vữngcấp quốc gia (Canada, Thuỵ điển, Malaysia, Indonesia ) và cấp quốc tế (FSC,PEFC, SFI ) Hội đồng quản trị rừng quốc tế và tổ chức gỗ nhiệt đới đã có bộtiêu chuẩn "Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng" đã được công nhận và áp
Trang 13dụng ở nhiều nước trên thế giới, các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộtiêu chí này để đánh giá tình trạng quản lý rừng và xét cấp chứng chỉ QLRBVcho các chủ rừng Tính đến tháng 11/2005, trên thế giới đã có 341,95 triệu harừng được chứng chỉ[5] Với số lượng đó tuy chưa lớn nhưng cho thấy cácnước trên thế giới đã nhận thức và thực hiện việc QLRBV.
Tháng 9/1998, các nước trong khu vực Đông Nam á đã họp hội nghịlần thứ 18 tại Hà Nội để thoả thuận về đề nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêuchí và chỉ số về QLRBV ở vùng ASEAN (viết tắt là C&I ASEAN) Thực chấtC&I ASEAN cũng giống với C&I của ITTO là bao gồm 7 tiêu chí và cũngchia làm 2 cấp quản lý là cấp quốc gia và cấp đơn vị quản lý[9] Tuy nhiên,những tiêu chí và chỉ báo này chỉ mang tính chất định hướng, do đó khi ápdụng vào điều kiện mỗi Quốc gia cần được điều chỉnh bổ sung cho phù hợpvới đặc điểm điều kiện tự nhiên, sinh thái, điều kiện kinh tế - xã hội của từngnước
Nhìn chung, trong các châu lục thì Châu Âu, nhất là Tây Âu và Bắc Âu,
có diện tích rừng được cấp chứng chỉ nhiều và nhanh nhất, tiếp đó là BắcMỹ[5] Nguyên nhân do các nước ở hai châu lục này hầu hết là những nước đãphát triển, chất lượng quản lý rừng đã đạt trình độ cao, hầu như đã đạt tiêuchuẩn CCR của các quy trình ngay từ trước khi có tiêu chuẩn về QLRBV Quymô quản lý rừng thường là rất lớn, phần lớn là rừng trồng, nên việc đánh giácấp chứng chỉ dễ dàng và ít tốn kém hơn nhiều so với rừng tự nhiên nhiệt đới.Mặt khác quyền sở hữu rừng tại các quốc gia này chủ yếu là sở hữu tư nhân,
do vậy tính tự chủ, độc lập của chủ rừng trong mọi hoạt động về quản lý, tái
đầu tư, sử dụng tài chính trong kinh doanh và quản lý rừng rất cao, tạo điềukiện quan trọng cho việc nâng cao và duy trì quản lý rừng đạt được yêu cầucủa chứng chỉ rừng Còn ở khu vực Nam Mỹ, Châu á - Thái Bình Dương vàChâu Phi tiến triển rất chậm, diện tích được chứng chỉ mới chỉ chiếm khoảng8% tổng diện tích đã được chứng chỉ của thế giới, chủ yếu là chứng chỉFSC[5] Nguyên nhân là các nước trong các khu vực này phần lớn là kém pháttriển, quản lý rừng còn ở trình độ thấp, các chủ rừng không có đủ nguồn lực
Trang 14cải thiện quản lý rừng để đạt tiêu chuẩn CCR, mặt khác chi phí cho CCR cũng
là một yếu tố hạn chế đối với các chủ rừng
1.2.3 Quản lý rừng bền vững ở Việt Nam:
Do Việt Nam trải qua hai cuộc chiến tranh kéo dài đó là chiến tranhchống Pháp và chống Mỹ, cùng với việc quản lý sử dụng chưa bền vững vànhu cầu rất lớn về khai hoang đất rừng và lâm sản cho phát triển kinh tế - xãhội, nên diện tích và chất lượng rừng trong nhiều năm trước đây đã bị suygiảm liên tục, thời kỳ 1980 - 1990, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng
đã bị mất Nhưng từ 1990 trở lại đây, diện tích rừng đã tăng liên tục nhờ trồngrừng và phục hồi rừng tự nhiên, đến năm 2005, diện tích rừng toàn quốc là12,61 triệu ha (độ che phủ rừng 37%) trong đó 10,28 triệu ha rừng tự nhiên và2,33 triệu ha rừng trồng[2] Với vốn rừng như vậy, chỉ tiêu bình quân hiện nay
ở nước ta là 0,15 ha rừng/người, thuộc loại thấp so với chỉ tiêu của thế giới là0,97 ha/người[23]
Có thể tóm lược công tác tổ chức quản lý sử dụng TNR của Việt Namchia làm 3 giai đoạn theo quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhưsau:
* Giai đoạn trước năm 1945
Giai đoạn này TNR nước ta còn phong phú, nhu cầu sử dụng của xã hộicòn thấp, vấn đề khai thác sử dụng TNR được đặt dưới sự quản lý của nướcthuộc địa (Pháp), sản phẩm khai thác từ rừng chủ yếu cung cấp cho các ôngchủ thực dân dùng để đóng tàu thuyền, làm trụ mỏ hầm lò, giai đoạn nàyvấn đề QLRBV chưa được đề cập đến, mặt khác mức độ tác động của conngười vào TNR còn ít nên TNR còn phong phú đa dạng Diện tích rừng nước
ta vào năm 1943 khoảng 14,3 triệu ha, tương đương độ che phủ là 43% [16]
* Giai đoạn 1945 - 1990
Giai đoạn này hoạt động của ngành Lâm nghiệp có nhiều tiến triển khácnhau, sau hòa bình lập lại (1954) nhiều diện tích rừng và đất rừng ở miền Bắc
đều được quy hoạch đưa vào các lâm trường Quốc doanh Nhiệm vụ chủ yếu
là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế
Trang 15và đời sống nhân dân Nhiệm vụ xây dựng và phát triển vốn rừng được đề cập
đến nhưng các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp không quan tâm đúngmức, cùng với sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế các ngành nên việc khaithác rừng, chặt phá rừng làm đất nông nghiệp xảy ra với cường độ cao dẫn đếndiện tích mất rừng ngày càng tăng, cụ thể từ 14,3 triệu ha năm 1943 xuốngcòn 10 triệu ha vào năm 1985 [16]
Thời kỳ này công tác QLBVR được chia làm các giai đoạn khác nhau :
- Từ 1945 - 1960 công tác quản lý rừng chủ yếu là khoanh nuôi bảo vệ,hướng dẫn người dân miền núi sản xuất, canh tác trên đất nương rẫy, ổn địnhcông tác định canh định cư, khôi phục kinh tế sau chiến tranh chống Pháp
- Từ 1961 - 1975 công tác quản lý bảo vệ rừng được tăng cường và chútrọng, khoanh nuôi tái sinh rừng đã gắn liền với công tác định canh định cư,công tác khai thác rừng đã chú ý đến thực hiện theo quy trình quy phạm kỹthuật, đảm bảo tái sinh tự nhiên
- Từ 1976 đến 1990 : Công tác quản lý bảo vệ rừng được tổ chức chặtchẽ, thông qua lực lượng kiểm lâm và xuống tận cơ sở là các lâm trường Quốcdoanh, đồng thời quản lý đến tận tiểu khu Giai đoạn này Nhà nước thống nhấtquản lý toàn bộ TNR với hình thức quản lý là giao cho các lâm trường Quốcdoanh, là những đơn vị chủ rừng có trách nhiệm trước pháp luật, trước Nhànước về TNR mà đơn vị được giao cho sản xuất kinh doanh Còn người dân vàcộng đồng đã bị tách rời khỏi các hoạt động quản lý sử dụng TNR, đây cũng
là nguyên nhân gây nên tình trạng suy thoái TNR trầm trọng
* Giai đoạn từ năm 1991 đến nay
Giai đoạn này đất nước ta thực hiện chính sách đổi mới, chuyển đổi nềnkinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
điều tiết của Nhà nước Lâm nghiệp nước ta cũng chuyển đổi từ nền Lâmnghiệp Nhà nước sang nền Lâm nghiệp xã hội, vai trò của người dân đặc biệt
là người dân bản địa trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng được quantâm hơn Công tác QLBVR, sử dụng TNR được quan tâm và có định hướngphát triển tích cực
Trang 16Hệ thống luật pháp và những chính sách của nhà nước nhằm quản lý,bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững đã được từng bước hoàn thiện,trong đó đáng chú ý có một số văn bản pháp luật, các chỉ thị, nghị quyết củaChính phủ cũng như trong các quy chế, quy phạm của ngành:
+ Luật bảo vệ và phát triển rừng (năm 1991) được sửa đổi năm (2004).+ Luật Đất đai (1987) và được sửa đổi, bổ sung vào các năm (1993,
1998, 2001, 2003)
+ Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 30/12/1993;
được sửa đổi ngày 29/11/2005
+ Nghị định 139/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2004 của Chínhphủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng vàquản lý lâm sản
+ Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 của chính phủ về sửa đổi,
bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theonghị định 18/HĐBT ngày 17/01/1992 của HĐBT quy định danh mục thực vật,
động vật hoang dã quý hiếm và chế độ quản lý bảo vệ
+ Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Thủ tướng Chínhphủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
+ Quyết định 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hànhquy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất và rừng tựnhiên
+ Quyết định số 186/2006/ QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng
+ Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướngChính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao,
được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
+ Quyết định 327/QĐ/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành một số chủ trương, chính sách
sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước
Trang 17+ Quyết định số 661/1998/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướngChính phủ về trồng mới 5 triệu ha rừng.
+ Nghị định 02/CP (1994) của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp cho tổchức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
+ Nghị định 01/CP (1995) của Chính phủ về việc Giao khoán sử dụng
đất lâm nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông lâm ngư nghiệp trong cácdoanh nghiệp Nhà nước
+ Nghị định 163/1999/NĐ/TTg của Thủ tướng chính phủ về giao đất,cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dàivào mục đích lâm nghiệp (thay thế cho Nghị định 02/CP, 1994)
+ Quyết định 40/2005/QĐ-BNN ngày 07/7/2005 của Bộ Trưởng BộNông Nghiệp và PTNT ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản khác
+ Nghị định 200/TTg ngày 03/12/2004 của chính phủ về sắp xếp, đổimới và phát triển Lâm trường quốc doanh
Tháng 2 năm 1998, Cục phát triển lâm nghiệp cùng với sứ quán Vươngquốc Hà Lan và WWF Đông dương, Hội đồng quản trị rừng thế giới đã tổchức hội thảo quốc gia về QLRBV và CCR Hội thảo nhằm làm rõ các kháiniệm, nguyên tắc, tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá về QLRBV của quốc tế, hiệntrạng quản lý rừng của Việt Nam Cũng từ đó "Tổ công tác quốc gia" về chứngchỉ rừng được thành lập, tổ công tác quốc gia đã biên soạn tài liệu "Tiêu chuẩnViệt Nam QLRBV" dựa trên bộ tiêu chuẩn của FSC quốc tế, có điều chỉnh bổsung cho phù hợp với điều kiện Việt Nam Tháng 7/2006, Việt nam đã khaitrương và đưa vào hoạt động Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng,
đây là tổ chức phi Chính phủ, phi lợi nhuận, là thành viên của hội đồng quảntrị rừng thế giới Viện được thành lập nhằm đẩy mạnh quá trình QLRBV tạicác địa phương; hỗ trợ các khu vực trọng điểm rừng quốc gia xây dựng cáctiêu chuẩn rừng được quốc tế công nhận trước khi các sản phẩm rừng ViệtNam được chế biến thương mại[22]
Hiện nay chúng ta đang xây dựng dự thảo Bộ tiêu chuẩn quốc gia vềQLRBV và chứng chỉ rừng, sau nhiều lần chỉnh sửa nay đã đi tới phiên bản 9c
Trang 18với nội dung ngày càng phù hợp với điều kiện nước ta Bộ tiêu chuẩn bao gồm
10 tiêu chuẩn có thể tóm tắt, như sau:
- Tiêu chuẩn 1: Tuân theo pháp luật và FSC Việt Nam
- Tiêu chuẩn 2: Những quyền và trách nhiệm trong sử dụng đất
- Tiêu chuẩn 3: Những quyền của nhân dân địa phương
- Tiêu chuẩn 4: Mối quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân
- Tiêu chuẩn 5: Những lợi ích từ rừng
- Tiêu chuẩn 6: Tác động môi trường
- Tiêu chuẩn 7: Kế hoạch quản lý
- Tiêu chuẩn 8: Kiểm tra đánh giá
- Tiêu chuẩn 9: Duy trì các khu rừng có giá trị bảo tồn cao
- "Du canh với vấn đề QLRBV ở Việt Nam" của Đỗ Đình Sâm[21];
- "Rừng lá rộng rụng lá ở miền Nam Việt Nam và quản lý bền vững"của Hoàng Sỹ Động;
- "Nghiên cứu một số giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên rừng bềnvững tại khu vực rừng phòng hộ hồ Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh BắcGiang" của Nhữ Văn Kỳ (luận văn Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp) [14]
- "Nghiên cứu cơ sở và thực tiễn làm căn cứ đề xuất các giải pháp quyhoạch quản lý rừng bền vững tại lâm trường Ba Rền - công ty lâm nghiệpLong Đại - tỉnh Quảng Bình" của Lê Văn Hùng (luận văn Thạc sỹ khoa họclâm nghiệp) [13]
Trang 19Những nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần vàocông tác QLRBV của Quốc gia nói chung và các địa phương nói riêng, thểhiện được sự cam kết của Việt nam đối với quốc tế trong vấn đề QLRBV Tuynhiên, đây mới chỉ là những nghiên cứu mang tính chất về cơ sở lý luận, mớichỉ phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng tài nguyên rừngbền vững và bước đầu đưa các nghiên cứu áp dụng vào một số địa phương.
Về thực tiễn, ở Việt Nam đã có một số công trình, chương trình nghiêncứu, thực thi về QLRBV:
- Năm 2003 Phân viện điều tra quy hoạch rừng Trung Trung bộ đã thựchiện công trình "điều tra, đánh giá tình hình lợi dụng gỗ cây đứng và khảo sátkhả năng lợi dụng của một số loài cây chủ yếu trong rừng tự nhiên khu vựcTrung Trung bộ theo mục tiêu QLRBV"
- Trong những năm gần đây, việc thực hiện QLRBV ở Việt Nam chủyếu là từ các dự án tài trợ của nước ngoài, như:
Dự án "Kết nối: Tạo hành lang liên kết và quản lý bền vững vườnquốc gia Kon Ka Kinh và khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng" do quỹ môitrường toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua UNDP với tổng vốn đầu tư gần 3 triệuUSD, trong đó có mục tiêu tạo điều kiện để quản lý rừng bền vững và chứngnhận chứng chỉ rừng bền vững ở lâm trường Dăkroong và Trạm lập
Dự án "Khôi phục và QLRBV ở các tỉnh Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định và Phú Yên" do Chính phủ Đức viện trợ với tổng vốn đầu tư
là 12,3 triệu Euro (năm 2005) Mục tiêu của dự án là nhằm nâng cao mức sốngcủa người dân nông thôn chủ yếu sống dựa vào rừng thông qua tạo việc làm,tăng thu nhập nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều hoà nguồnnước tại các vùng được phục hồi và khu vực lân cận, điều hoà tiểu khí hậu vàtăng tính đa dạng sinh học
Dự án "Chương trình hỗ trợ quản lý và sử dụng rừng bền vững,thương mại và tiếp thị các sản phẩm lâm sản chính ở Việt Nam" do Chính phủ
Đức viện trợ với tổng vốn đầu tư là 4,5 triệu Euro (năm 2005) Mục tiêu của
dự án là đảm bảo tính hiệu quả và tính bền vững trong công tác quản lý rừng,
Trang 20cải thiện việc tiếp thị các sản phẩm của ngành lâm nghiệp Việt Nam trongtương lai.
- Bên cạnh đó, nhận thức được xu hướng phát triển, một số cơ sở sảnxuất đã và đang tiến hành thử nghiệm, thẩm tra đánh giá rừng và có nguyệnvọng được cấp chứng chỉ rừng như: Công ty lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn(Tỉnh Hà Tĩnh), Công ty lâm nghiệp Hoà Bình (Tỉnh Hoà Bình)
Nhìn chung, trình độ quản lý rừng ở Việt Nam đang còn rất thấp so vớitiêu chuẩn QLRBV quốc tế[5], việc cải thiện quản lý rừng để đạt tiêu chuẩncần những nguồn lực lớn và thời gian dài; các chủ rừng Việt Nam phần lớnnhỏ bé, phân tán, hoạt động ở địa bàn khó khăn nên giá thành chứng chỉ có thể
sẽ rất cao, ngoài khả năng chi trả của rất nhiều chủ rừng; lượng gỗ khai thác từrừng tự nhiên ở Việt Nam quá nhỏ bé, không đủ làm động lực thị trường choCCR, trong khi đó các động lực khác như thu hút hỗ trợ, đầu tư, hưởng lợi ích
từ các chính sách ưu đãi hay miễn giảm thuế của Nhà nước, phát triển du lịchsinh thái cũng chưa xuất hiện hoặc chưa có tác dụng; sự hiểu biết vềQLRBV và CCR còn rất hạn chế, chủ rừng vẫn chưa hiểu về tiêu chuẩnQLRBV, mục tiêu, lợi ích và quá trình của CCR
Như vậy, QLRBV đã được nhận thức từ rất sớm trên Thế giới, hiện nay
đã được nhiều nước áp dụng QLRBV đã thâm nhập vào ngành Lâm nghiệpnước ta, tuy nhiên công tác nghiên cứu về QLRBV còn rất mới mẻ, việc quyhoạch kinh doanh rừng cho các lâm trường, công ty lâm nghiệp, các BQL rừngphòng hộ theo các tiêu chí QLRBV còn ít được nghiên cứu và ứng dụng trênthực tế
BQL rừng phòng hộ Thanh Chương – Tỉnh Nghệ An tiền thân là Lâmtrường Thanh Chương, thực hiện Nghị định 200/2004/NĐ-CP về việc sắp xếp
đổi mới và phát triển Lâm trường Quốc doanh đã chuyển đổi thành BQL rừngphòng hộ có địa bàn hoạt động ở Huyện Thanh Chương Tỉnh Nghệ An, quản
lý đất lâm nghiệp với tổng diện tích là 27.520,6 ha, trong đó diện tích đất rừngphòng hộ là 19.693,5 ha, rừng sản xuất là 7.827,1 ha Thực hiện những nhiệm
vụ quản lý, bảo vệ, xây dựng, phát triển và sử dụng rừng phòng hộ; đồng thời
Trang 21tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh: khai thác gỗ từ rừng tự nhiên và rừngtrồng, trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, nuôi dưỡng, làm giàurừng, quản lý và bảo vệ rừng[1] BQL đã đẩy mạnh việc thực hiện các biệnpháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh lợi dụng rừng và đã có những thànhcông đáng kể Tuy nhiên việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng như thế nào để
đáp ứng với tình hình và nhiệm vụ mới, đáp ứng nhu cầu lâm sản cho cácngành kinh tế và nhu cầu xã hội, nhưng vẫn đảm bảo được tính bền vững trongkinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đó là vấn đề cần có lời giải cho côngtác tổ chức quản lý, xây dựng phát triển và kinh doanh lợi dụng tài nguyênrừng bền vững trong giai đoạn hiện nay của BQL Chính vì thế, việc nghiêncứu một số nội dung cơ bản trong quy hoạch rừng cho BQL rừng phòng hộThanh Chương theo các tiêu chuẩn QLRBV được đặt ra là một yêu cầu cấpthiết, sẽ giúp cho đơn vị quản lý bền vững tài nguyên rừng, phát triển sản xuất
và cân đối hài hoà các nhu cầu, lợi ích về kinh tế, xã hội, môi trường cho đơn
vị cũng như vì sự phát triển của cộng đồng dân cư trong khu vực
Trang 22Chương 2 Mục tiêu, đối tượng, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định như sau :
2.1.1 Mục tiêu tổng quát:
Quy hoạch rừng thuộc BQL rừng phòng hộ Thanh Chương- tỉnh Nghệ
An ổn định trong 10 năm tới (2008 - 2017) trên cơ sở đảm bảo phát triển bềnvững về kinh tế - xã hội và môi trường
2.1.2 Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởnghưởng đến hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của BQL
- Đánh giá tình hình thực hiện các tiêu chuẩn QLRBV tại BQL
- Đề xuất nội dung cơ bản xây dựng phương án quy hoạch rừng và cácgiải pháp thực hiện theo các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững cho BQL trong
10 năm (2008 - 2017)
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các hoạt động quản lý rừng, sản xuấtkinh doanh, hiện trạng sử dụng đất, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tếxã hội, các chính sách liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của BQLrừng phòng hộ Thanh Chương
- Giới hạn nghiên cứu:
Vì thời gian có hạn nên đề tài nghiên cứu sử dụng các số liệu được cungcấp của các cơ quan chuyên ngành và BQL rừng phòng hộ Thanh Chương
đồng thời phúc tra tài nguyên rừng
2.3 Nội dung nghiên cứu:
Xuất phát từ mục tiêu, phạm vi và giới hạn nghiên cứu, đề tài tiến hànhnghiên cứu một số nội dung sau:
Trang 231 Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn của BQLrừng phòng hộ Thanh Chương Phân tích những thế mạnh những hạn chế vàthách thức liên quan đến QLRBV tại khu vực nghiên cứu;
2 Nghiên cứu ảnh hưởng của ĐKTN, KTXH, TNR và các yếu tố chínhsách chủ yếu đến QLRBV trên địa bàn;
3 Đánh giá tình hình hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của BQLrừng trong những năm gần đây và việc thực hiện các tiêu chuẩn QLRBV củaViệt Nam tại BQL;
4 Đề xuất một số nội dung cơ bản trong quy hoạch rừng cho BQL rừngphòng hộ Thanh Chương theo các tiêu chuẩn QLRBV
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Quan điểm phương pháp luận:
Quản lý rừng bền vững là một vấn đề mới mẻ ở Việt nam nhưng mangtính cấp thiết liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy quy hoạch rừngcho BQL rừng phòng hộ Thanh Chương - tỉnh Nghệ An theo tiêu chuẩnQLRBV phải dựa trên các quan điểm sau:
- Kết hợp hài hoà giữa ngành lâm nghiệp với các ngành khác
- Kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và môi trường
- Đáp ứng nhu cầu trước mắt và duy trì được lợi ích lâu dài
- Kết hợp hài hoà giữa các ưu tiên Quốc gia và của toàn xã hội vớinhững nhu cầu, nguyện vọng của người dân với cộng đồng
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu:
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa:
- Kế thừa các tư liệu trong và ngoài nước: những số liệu, tài liệu thống
kê, các công trình nghiên cứu liên quan đến quy hoạch rừng, QLRBV
- Khai thác, sử dụng các loại bản đồ (đất, hiện trạng rừng) tài liệu khítượng thuỷ văn, kết quả điều tra đất, thực vật, động vật, giá cả thị trường, cáctài liệu văn bản chủ trương chính sách, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh
và phương hướng, nhiệm vụ của BQL được thu thập từ các nguồn: Chi cụcLâm nghiệp, Đoàn điều tra quy hoạch lâm nghiệp Tỉnh, BQL
Trang 24- Những tài liệu tổng kết về chính sách lâm nghiệp Việt nam.
2.4.2.2 Phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA)
Những chủ đề phỏng vấn tập trung vào:
2.4.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia sử dụng để điều chỉnh và hoàn thiện nhữnggiải pháp đã được hình thành sau khi phân tích tài liệu ngoại nghiệp Vớiphương pháp này đề tài sẽ gửi báo cáo sơ bộ của luận án cho một số chuyêngia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý rừng và phát triển nông thôn miềnnúi Những ý kiến của họ sẽ được sử dụng để điều chỉnh và hoàn thiện các giảipháp quản lý bền vững rừng ở địa phương
2.4.2.4 Phương pháp khảo sát hiện trường
Điều tra khảo sát hiện trường nhằm bổ sung số liệu về điều kiện tựnhiên, hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháplập ô tiêu chuẩn điều tra thu thập các chỉ tiêu lâm học chủ yếu và bổ sung cácthông tin liên quan khác:
- Thu thập số liệu dân sinh - kinh tế - xã hội: Trực tiếp từ BQL, cácphòng ban trong huyện, các xã có đất của BQL kết hợp phỏng vấn CBCNV
- Phúc tra trữ lượng rừng tự nhiên, rừng trồng:
+ Lập ÔTC đại diện trên các lô có rừng:
Đối với rừng gỗ tự nhiên: ÔTC diện tích 1000 m2 (20m x 50m)
Đối với rừng gỗ trồng: ÔTC diện tích 500 m2 (20m x 25m)
Đối với rừng tre nứa: ÔTC diện tích 100 m2(10m x 10m)
Trang 25+ Số lượng ÔTC: Đối với rừng trồng, mỗi cấp tuổi tiến hành điều tra
3 ÔTC; đối với rừng tự nhiên, mỗi trạng thái lập 3 ÔTC Trong mỗi
ÔTC tiến hành điều tra thu thập các chỉ tiêu lâm học
- Điều tra tình hình tái sinh:
+ Đối với đất có rừng: Tại các ô đo đếm trữ lượng rừng gỗ, cạnh trụcxuyên tâm ô về phía bên phải, lập giải đo đếm tái sinh kích thước 2m x 25m =50m2 (tương đương 10 ô dạng bản, kích thước mỗi ô là 2m x 2,5m = 5m2)
+ Đối với đất trống IC và IB: Mỗi trạng thái lập 5 giải đo đếm tái sinh,kích thước giải đo đếm 5x20m = 100m2
Nội dung thu thập trong ô: Đo đếm tất cả các cây tái sinh trong giải theoloài, cấp chiều cao và cấp chất lượng (A, B, C)
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin:
2.4.3.1 Các thông tin về kinh tế – xã hội
- Nhóm tài liệu về dân sinh kinh tế – xã hội, khí hậu thuỷ văn, tàinguyên sinh vật rừng… được tổng hợp, phân tích qua hệ thống phụ biểu báocáo tuỳ theo mục đích của đề tài
2.4.3.2 Các thông tin về hiện trạng tài nguyên rừng
- Nhóm tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất
đai được tổng hợp với các chỉ tiêu về diện tích, trữ lượng rừng
- Đối với diện tích được tổng hợp từ lô, khoảnh đến tiểu khu và phântheo trạng thái
- Trữ lượng rừng được tính toán thông qua các chỉ tiêu trữ lượng bìnhquân/ha của từng trạng thái
2.4.3.3 Tính toán và xử lý số liệu:
- Chỉnh lý số liệu
+ Sắp xếp D1.3các cây trong các ÔTC theo cỡ kính 4 cm
+ Sắp xếp Hvn các cây trong các ÔTC theo cỡ chiều cao 2 m
- Tính trữ lượng rừng/ha:
+ Xác định thể tích cây bình quân (Vcây): Dùng biểu thể tích 2 nhân tố
để tra thể tích cây
Trang 26+ Tính tổng thể tích các cây trong từng cỡ kính:
Mcỡ kính= Vcâyx Ncây trong từng cỡ kính (2-1)Trong đó: Mcỡ kính là trữ lượng ở cỡ kính
Vcây là thể tích cây bình quân trong cỡ kính
Ncây trong từng cỡ kính là số cây trong từng cỡ kính
Xác định theo công thức: L=M*Z*R*K (m3gỗ lớn/năm) (2-4)Trong đó: L: Sản lượng gỗ lớn được phép khai thác tối đa cho một năm
M: Tổng trữ lượng rừng giầu và rừng trung bình (m3)Z: Lượng tăng trưởng của rừng (m3/năm)
R: Tỉ lệ lợi dụng cây đứng (%)K: Hệ số tiếp cận về diện tích khai thác+ Xác định diện tích khai thác:
Xác định diện tích khai thác hàng năm theo công thức:
Trong đó: Sn: Diện tích được phép khai thác tối đa cho một năm
L : Sản lượng gỗ lớn được phép khai thác tối đa cho 1 năm.l: Sản lượng gỗ được phép khai thác bình quân (m3/ha),
được tính theo công thức: l=Mtb*C*R (m3/ha)Mtb : Trữ lượng bình quân của rừng khai thác (m3/ha)
C : Cường độ khai thác bình quân (%)
R : Tỷ lệ lợi dụng gỗ cây đứng bình quân (%)
Trang 272.4.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế :
Để đánh giá hiệu quả kinh tế cho mỗi mô hình kinh doanh rừng,chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua cácchỉ tiêu NPV, BCR, IRR với sự trợ giúp của máy tính và phần mềmMicrosoft Excel 7.0
Đề tài chọn hai phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế đó làphương pháp tĩnh và phương pháp động
* Phương pháp tĩnh:
Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập tương đối và khôngchịu tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động của giátrị đồng tiền
Xem xét chi phí và thu nhập trong mối quan hệ động với mục tiêu
đầu tư, thời gian, giá trị đồng tiền Dùng các chỉ tiêu sau:
- Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng NPV: NPV là hiệu số giữa giátrị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các môhình khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại
- i: Tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)
- t: Thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
Trang 28NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tếhay các phương thức canh tác Nếu NPV>0 thì mô hình đầu tư có lãi, nếuNPV=0 thì hoà vốn, nếu NPV<0 thì đầu tư bị lỗ vốn.
t
i Ct i Bt CPV
BPV BCR
0
0
) 1 (
) 1
Trong đó:
- BCR: Tỷ lệ thu nhập trên chi phí (đồng/đồng)
- BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
- CPV: Giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
- Các ký hiệu khác được giải thích ở công thức (2-7)
Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào đó BCR > 1 thì
có lãi, BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao, ngược lại BCR < 1 thìkinh doanh bị lỗ
- Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR): IRR là chỉ tiêu đánh giá khả khả năngthu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu
IRR chính là tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ này làm cho NPV = 0
) 1 ( 0
Trang 292.4.3.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội gồm:
- Các chỉ tiêu định lượng: Giải quyết việc làm cho các lao động, thunhập bình quân đầu người…
- Các chỉ tiêu định tính: Cải thiện các điều kiện cơ sở vật chất, khả năngtiếp cận các nguồn lợi, nâng cao trình độ dân trí…
2.4.3.6 Phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường
Việc đánh giá hiệu quả môi trường chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá vaitrò của rừng đối với chức năng giữ đất, giữ nước, dựa trên cơ sở đặc điểm cấutrúc của rừng mưa nhiệt đới và đa dạng sinh học, độ tàn che, độ che phủ củarừng trên địa bàn nghiên cứu
Trang 30Chương 3
Đặc điểm cơ bản của khu vực nghiên cứu
3.1 Điều kiện tự nhiên, KT-XH và nhân văn khu vực nghiên cứu.
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên:
3.1.1.1 Vị trí địa lý:
BQL rừng phòng hộ Thanh Chương nằm ở phía Tây của huyện ThanhChương, văn phòng được đóng trên địa bàn xã Thanh Lĩnh - huyện ThanhChương, cách Thành phố Vinh khảng 50km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 46,
có tọa độ địa lý:
Từ 18033'18045'vĩ độ Bắc
Từ 10505'105030'kinh độ Đông
Ranh giới hành chính:
- Phía Đông giáp với đường Hồ Chí Minh
- Phía Tây giáp nước bạn Lào
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn:
* Khí hậu:
BQL rừng phòng hộ Thanh Chương chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt
đới gió mùa ẩm, năm phân ra 2 mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,40C
+ Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối vào mùa đông là 50C
Trang 31+ Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối vào mùa hè là 400C
+ Nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất là 140C
+ Nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất là 360C
+ Số giờ nắng: 1.720 giờ/năm, tháng cao nhất 210 giờ (tháng 7), thángthấp nhất 70 giờ (tháng 1)
- Chế độ mưa:
Lượng mưa hàng năm là 1750mm/năm, mưa phân bố không đồng đềuchủ yếu tập trung vào tháng 8 - tháng 11, lượng mưa cao nhất là tháng 9 -tháng 10 tới 452 mm, tháng 1 có lượng mưa thấp nhất chỉ khoảng 16 mm Sốngày mưa trung bình là 140 ngày
- Độ ẩm không khí:
Độ ẩm không khí trong khu vực nghiên cứu cũng không đều giữa cáctháng trong năm, độ ẩm trung bình là 85%, tháng có độ ẩm cao nhất là từtháng 10 đến tháng 3 năm sau (91%), độ ẩm tháng thấp nhất là tháng 6 đếntháng 7 (74%)
- Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình năm là 770mm
- Chế độ gió: hàng năm tại BQL thường xuất hiện các loại gió chính:Hướng gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam, tốc độ gió từ cấp 4
đến cấp 5, thời gian có gió bão từ cuối tháng 6 - tháng 9
- Đặc điểm tiêu cực của khí hậu: diễn biến thời tiết rất phức tạp, hàngnăm có gió bão kèm theo mưa lớn gây ra lũ lụt vào tháng 7-10, còn có hiệntượng sương muối xuất hiện khoảng 3 lần/năm vào tháng 1-2
* Thủy văn:
Trong địa bàn đơn vị quản lý có các sông suối chính sau đây:
+ Khe Chum vại bắt nguồn từ tiểu khu 990
+ Khe Trù, khe Đắng bắt nguồn từ tiểu khu 984
+ Rào Con đổ ra sông Giăng nhánh của nó là khu Lào bắt nguồn từ núiTuyền
+ Rào Lang bắt nguồn từ núi Vũ Trụ
+ Sông Hoa Quân đổ ra sông Lam, nó tập hợp của ngọn Rào chính.+ Rào Mạn Tắc bắt nguồn từ tiểu khu 996
Trang 32+ Rào Khai bắt nguồn từ tiểu khu 995b và phía Tây núi Vũ trụ.
Nhìn chung các khe này ngắn, có độ dốc lớn nên vào mùa mưa thườngxảy ra lũ lụt, vào mùa khô các khe này thường cạn và tạo lắm thác ghềnh nênviệc vận chuyển và đi lại gặp rất nhiều khó khăn
đang được che phủ bởi rừng tự nhiên, diện tích 570,5 ha chiếm 2,07%
- Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét và đất feralit vàng
đỏ phát triển trên đá Granit phân bố chủ yếu ở độ cao < 700m, đây là nhữngloại đất bị ảnh hưởng bởi các hoạt động sản xuất lâm nghiệp (khai thác, trồngrừng…) trạng thái thực bì gồm: Rừng thứ sinh, rừng trồng hoặc đất trống câybụi, trảng cỏ, diện tích 26.890,1 ha chiếm 97,71% Đặc tính của đất feralit cóthành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất còn tương đối dày, hàmlượng mùn trung bình Đất còn mang tính chất đất rừng, thuận lợi cho câyrừng sinh trưởng phát triển
- Đất bồi tụ phù sa ven sông suối: Gồm đất phù sa sông suối và đất dốc
tụ, phân bố ven sông Hoa Quân, khe Chum, Rào lang, Rào con và ở rải ráccác thung lũng nhỏ các loại đất này được sử dụng chủ yếu vào sản xuất nôngnghiệp diện tích 60 ha chiếm 0,22% Đặc tính của đất phù sa là do quá trìnhtích tụ lắng đọng phù sa, có thành phần cơ giới thịt trung bình, độ dày tầng đấtlớn, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
3.1.1.5 Tài nguyên sinh vật:
* Thảm thực vật rừng:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới:
Phân bố ở độ cao từ 200m đến 800m, có các họ thực vật chiếm ưu thếlà: họ Dầu, Re, Dẻ, Ba mảnh vỏ, họ Đậu, họ Trám Dưới tán các loài thuộc họBứa, họ Máu chó, Họ Na, Họ Du
Trang 33Hầu hết diện tích rừng ở khu vực nghiên cứu đều bị tác động ở mức độkhác nhau Kiểu này có mặt ở các trạng thái là rừng giầu, rừng trung bình,rừng nghèo và rừng phục hồi.
- Kiểu thứ sinh nhân tạo trên đất trống đồi trọc: Loài cây trồng chủ yếu
là Keo lai, Bồ đề, Bạch đàn
Thành phần thực vật có 521 loài thực vật bậc cao thuộc 420 chi, 182 họ.trong đó 145 loài cho gỗ, 127 loài cây làm thuốc, 28 loài cây cảnh có hoa đẹp
* Hệ động vật rừng:
Khu hệ động vật rừng trên địa bàn nghiên cứu khá phong phú, kết quả
điều tra bước đầu có 48 loài thú thuộc 21 họ 8 bộ, điển hình như Mang Trườngsơn, Lợn rừng, Cầy, Khỉ
Có 160 loài chim thuộc 42 họ 13 bộ, điển hình như Gà lôi trắng, Gàtiền Ngoài ra còn hàng trăm loài bò sát, côn trùng, cá tham gia vào khu hệ
động vật Nhìn chung đây là khu hệ động vật đặc trưng của vùng Bắc TrườngSơn
3.1.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội:
3.1.2.1 Dân số và lao động:
BQL rừng phòng hộ Thanh Chương nằm trên địa bàn hành chính của 6xã Hạnh Lâm, Thanh Thịnh, Thanh Hương, Thanh An, Thanh Mỹ, ThanhThuỷ Trên địa bàn có 11.550 hộ với tổng dân số 54.321 người hoàn toàn làdân tộc Kinh, số lao động nam là 17.249 người, lao động nữ là 14.403 người.Tình hình dân số được thể hiện cụ thể ở biểu 3.1 sau:
(Nguồn: Phòng Thống kê - UBND huyện Thanh Chương, 2006)
Trang 343.1.2.2 Phong tục tập quán:
Nhân dân địa phương có truyền thống làm lúa nước và canh tác nươngrẫy lâu đời, trước đây thường xuyên vào rừng khai thác trộm lâm sản, tuynhiên những năm gần đây BQL thực hiện dự án 327/661 đã khoán cho các hộdân làm nhiệm vụ khoanh nuôi bảo vệ, xây dựng vốn rừng Hiện nay đa số các
hộ dân đã có ý thức trách nhiệm cao, việc đốt nương làm rẫy không còn, việckhai thác trái phép gỗ rừng xảy ra rất ít
3.1.2.3 Các hoạt động kinh tế.
a Sản xuất nông nghiệp:
Trồng trọt là nghề có từ lâu đời, đến nay có khoảng 95% người dânsống bằng nghề nông, chủ yếu là canh tác lúa nước, rau màu và nương rẫy.Nhân dân đã biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt như đầutư thâm canh tăng năng suất cây trồng, trong đó khâu giống được chú trọng,các giống lúa lai, ngô lai nhờ vậy năng suất lúa nước đạt 5 tấn/ha, lạc
3 tấn/ha, ngô 4,3 tấn/ha Lương thực bình quân đầu người đạt325kg/người/năm
Song song với trồng trọt, chăn nuôi cũng là nghề phát triển mạnh, nhất
là chăn nuôi đại gia súc như trâu, bò, dê, lợn Bình quân mỗi hộ có 2,7 contrâu, 3,2 con bò, 1,8 con dê, 2,8 con lợn Đây là nguồn thu không nhỏ để trangtrải cho chi tiêu của gia đình Chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi hộgia đình kiểu chăn thả, các kiến thức về chăn nuôi cũng như phòng chữa một
số bệnh cho gia súc gia cầm còn rất hạn chế
b Sản xuất lâm nghiệp:
Tuy là huyện miền núi, có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ caonhưng hoạt động sản xuất lâm nghiệp chưa phát triển, chưa là một ngành sảnxuất chính của địa phương Nguyên nhân là do đất lâm nghiệp hầu hết thuộcquyền quản lý của Lâm trường (nay là BQL rừng phòng hộ), các hộ gia đìnhchỉ nhận khoán theo Nghị đinh 01/CP thông qua BQL, được hưởng lợi từ việcgiao khoán theo quyết định 178/QĐ-TTg và sự thoả thuận giữa bên khoán và
Trang 35bên nhận khoán BQL đã giao khoán cho 204 hộ với tổng diện tích giao khoán
là 4.520,5 ha Trong đó
Khoán bảo vệ rừng tự nhiên: 807 ha
Khoán khoanh nuôi bảo vệ : 3.056,8 ha
Khoán bảo vệ rừng trồng: 656,7 ha
Tổng vốn đầu tư 800 triệu đồng/năm
Đối với BQL, trong những năm qua sản xuất lâm nghiệp phát triểnmạnh và có hiệu quả cao Đặc biệt là công tác xây dựng và phát triển vốnrừng, đưa độ che phủ của rừng đạt cao hơn so với các vùng trong huyện vàtrong tỉnh (90%) Khối lượng công việc thực hiện như sau:
đồng/người/tháng
3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng:
Nhìn chung toàn bộ huyện Thanh Chương và khu vực nghiên cứu diệntích do BQL rừng phòng hộ quản lý có cơ sở hạ tầng khá phát triển so với cáchuyện miền núi trong tỉnh
* Điện: trong khu vực BQL đã có mạng lưới điện sáng đầy đủ rải khắpcác xã, về tận các thôn, không có hộ nào không có điện sáng phục vụ cuộcsống hàng ngày và phát triển sản xuất như bơm nước, xay xát
* Giao thông: toàn huyện Thanh Chương có đường Quốc lộ 46 chạy quavới chiều dài là 22 km từ đầu huyện đến cuối huyện Có đường Hồ Chí Minhchạy qua làm ranh giới phía đông của BQL với chiều dài 26 km
Trang 36Thanh Chương là huyện miền núi, mạng lưới giao thông đi lại liên xãcòn phức tạp, đường sá hiểm trở; riêng trên địa bàn thuộc vùng quản lý củaBQL thì có tới 120 km đường xe cơ giới đi lại, hiện nay một số đoạn đã xuốngcấp bị hư hỏng nhiều nhưng chưa đủ điều kiện để nâng cấp lại.
* Trường: trên địa bàn của BQL có 1 trường cấp III, có 5 trường cấp II
và 10 trường cấp I Hiện nay mới chỉ có trường cấp III có nhà học cao tầng,còn tất cả đang là phòng học cấp 4 Với đội ngũ giáo viên hầu hết đã đạtchuẩn, nhiệt tình trong giảng dạy Tuy nhiên do việc đi lại còn khó khăn cộngthêm kinh tế gia đình hạn hẹp nên học sinh vẫn còn bỏ học nhiều
* Y tế: Trong khu vực 5 xã có 1 bệnh viện đa khoa đóng tại trung tâmthị tứ Chợ Chùa, 5 trạm y tế thuộc 5 xã, có quy mô 10 giường bệnh có đội ngũbác sỹ, y tá nhiệt tình, đa số các bệnh thông thường đã được điều trị tại địabàn
* Thị trường tiêu thụ gỗ và lâm sản: do nhu cầu sử dụng gỗ của xã hộirất lớn, đời sống của nhân dân được nâng lên, giao thông thuận tiện nên gỗ
được khai thác chế biến đến đâu sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý được tiêu thụhết đến đấy
3.2 Tình hình hoạt động SXKD của đơn vị trong những năm qua:
3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của đơn vị:
Lâm trường Thanh Chương được thành lập theo quyết định số 937 ngày25/5/1960 của Uỷ ban hành chính Nghệ An Diện tích quản lý 26.963 ha đóngtrên địa bàn 2 xã Thanh Đức và Thanh Mỹ huyện Thanh Chương với nhiệm vụchính là khai thác lâm sản phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Tháng 3 năm 1974 Lâm trường sát nhập với Lâm trường Rào Rộ, lấytên là Lâm trường Thanh Chương, với diện tích rừng quản lý là 48.368 ha
Năm 1992 theo Nghị định 388/HĐBT ngày 21/11/1991 của Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Lâm trường được thành lập lại theoquyết định số 1739 ngày 29/9/1992 cuả Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An Diệntích rừng quản lý là 17.808 ha Nhiệm vụ chủ yếu là quản lý bảo vệ xây dựng
Trang 37và phát triển vốn rừng, sản xuất nông lâm kết hợp, khai thác và chế biến lâmsản Từ năm 1993 làm chủ dự án 327 và từ 1999 là chủ dự án 661 trên địa bànhuyện Thanh Chương.
Năm 2006 Lâm trường chuyển đổi thành Ban quản lý rừng phòng hộThanh Chương theo quyết định số 224 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An.Diện tích rừng và đất rừng quản lý là 27.520,6 ha Nhiệm vụ của BQL là bảo
vệ phát triển và sử dụng rừng phòng hộ, đồng thời tổ chức sản xuất kinh doanhdịch vụ nhằm khai thác có hiệu quả diện tích rừng và đất lâm nghiệp đượcgiao Với cơ chế hoạt động là một đơn vị sự nghiệp có thu, bước đầu với biênchế 14 người hưởng lương từ ngân sách, còn lại gần 70 người đơn vị tự cân đốibằng các nguồn hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ
3.2.2 Tổ chức bộ máy và lao động:
- Tổ chức bộ máy:
Trước khi chuyển đổi thành BQL rừng phòng hộ, Lâm trường ThanhChương có bộ máy gồm Ban giám đốc 2 người, 5 phòng ban giúp việc gồm 18người, các đội sản xuất và các bộ phận gồm 120 người Các đội sản xuất và bộphận bao gồm:
+ Đội khai thác Cầu Thanh Niên 7 người
Trang 38+ Tổ Thiết kế 5 người
Tất cả các trạm, đội đều làm nhiệm vụ tổng hợp vừa quản lý bảo vệrừng, phòng chống cháy rừng, trồng, chăm sóc nuôi dưỡng rừng vừa sản xuấtnông lâm kết hợp Những trạm gần tiểu khu khai thác thì kết hợp khai thác gỗrừng tự nhiên và rừng trồng
- Lực lượng lao động:
Tổng số lao động là 140 người, trong đó:
Lao động có trình độ đại học: 18 ngườiLao động có trình độ trung cấp: 21 ngườiLao động có trình độ công nhân kỹ thuật: 73 người
Ngoài ra số lao động tham gia hợp đồng thời vụ 300 người
Khi Lâm trường được chuyển đổi thành BQL rừng phòng hộ, tổ chức bộmáy và lao động được sắp xếp lại như sau:
+ Lãnh đạo ban Ban quản lý: 2 người (1 trưởng và 1 phó ban)+ Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật: 4 người
+ Phòng TCHC-QLBVR-Kế toán 4 người
+ Trạm QLBVR phòng hộ: 4 người
Tổng số 14 người này hưởng lương sự nghiệp+ Các Trạm QLBVR và đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ: 66 người
Những người này đơn vị tự túc quỹ lương, bố trí như sau:
Hợp đồng bảo vệ thường xuyên ở các trạm: 21 người
Hợp đồng khai thác, tận thu, chế biến gỗ: 15 người
Lao động sản xuất cây giống ở vườn ươm: 20 người
Lao động chỉ đạo các dự án 661, Việt Đức: 10 người+ Còn lại 60 người không thể bố trí công việc nên được giải quyết nghỉtheo Nghị định 41/CP hoặc thuyên chuyển công tác
Nguồn lao động tương đối dồi dào, có trình độ chuyên môn vững vàng,
có khả năng thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra Hiện nay tổng số
Trang 39CBCNV của BQL còn lại 80 người, trong đó lao động có trình độ đại họcchiếm 12,86%, lao động có trình độ trung cấp chiếm 15%, lao động có trình
độ công nhân kỹ thuật chiếm 52,14%, lao động phổ thông chiếm 20% ; nguồnlao động kỹ thuật dôi dư sau khi chuyển đổi được BQL sử dụng hợp đồng thời
vụ có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu sản xuất của đơn vị
Như vậy tổ chức bộ máy và lực lượng lao động đã gọn nhẹ, linh hoạt đểthực hiện chức năng nhiệm vụ được giao Tuy nhiên so với diện tích rừng mà
đơn vị quản lý như hiện nay, việc tổ chức bộ máy như trên chưa đảm bảo đểquản lý bảo vệ và phát triển rừng
3.2.3 Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, phương tiện và tài sản đơn vị:
Tuy là huyện miền núi nhưng cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, hệthống giao thông của huyện thuận tiện cũng đã thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạtầng của địa bàn thuộc BQL phát triển: 100% thôn xóm đã có điện, 100% xã
đã có trường học cấp I và II Đường giao thông nông thôn đến tận thôn xóm,ngoài ra còn có đường Quốc lộ (Đường Hồ Chí Minh, QL46), Tỉnh lộ (đường33), các đường đi vào đơn vị sản xuất với tổng chiều dài 96 km
Cơ sở vật chất của BQL hiện có: Trụ sở làm việc được kiên cố hoá nhà
2 tầng có đầy đủ phòng làm việc, các trạm đội khang trang, có nhà nghỉ nhà
ăn cho đủ CBCNV của BQL Có 1 xưởng chế biến với quy mô trung bình,gồm một cưa vòng, một cưa xẻ phá 700, một cưa xẻ nhỏ 500, một cưa cắtngang, 02 máy bóc ván ép và một dây chuyền băm dăm nứa Có 3 ô tô tải, mộtmáy DT 75, hai xe ô tô con Ngoài ra còn có một con voi để vận xuất gỗ
Với điều kiện cơ sở vật chất như trên là cả một quá trình phấn đấu tíchluỹ đầu tư cho sản xuất, nó thể hiện khả năng kinh doanh và hiệu quả sản xuấtcủa đơn vị Nhìn chung bộ mặt kinh tế xã hội của vùng thuộc địa bàn BQL đã
được nâng lên, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định
Trang 403.2.4 Tình hình sản xuất kinh doanh.
Trong giới hạn, đề tài chỉ nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh đãqua của đơn vị từ năm 2002 đến năm 2006
3.2.4.1 Tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
Biểu 3.2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2002-2006
Đơn vị tính: 1000 đồng
sách
Thu nhập BQNgười/tháng
(Nguồn:Phương án chuyển đổi Lâm trường thành BQL rừng phòng hộ Thanh Chương)
Doanh thu bình quân 4.141,2 triệu đồng/năm từ các nguồn khai thác,chế biến gỗ và LSNG, dịch vụ sản xuất cây giống
Nộp nghĩa vụ ngân sách Nhà nước bình quân 454,48 triệu đồng/nămgồm các loại thuế như thuế tài nguyên, thuế VAT, thuế thu nhập doanhnghiệp, tiền thuê đất
Thu nhập bình quân đầu người 930 ngàn đồng/tháng
Hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị ngày càng phát triển, kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị ngày càng tăng, năm sau cao hơnnăm trước do có sự nỗ lực của Ban lãnh đạo, CBCNV của BQL và sự chỉ đạo,
hỗ trợ kịp thời của các cấp các ngành