LÊ TRỌNG ĐẠT NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN ĐỐI VỚI MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT QUAN TRỌNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠN
Trang 1QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2LÊ TRỌNG ĐẠT
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC
KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG NHẰM ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN ĐỐI VỚI MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT QUAN TRỌNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG, TỈNH NINH BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ ĐÌNH ĐỨC
HÀ TÂY-2007
Trang 4MỤC LỤC
TRANG
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU,CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢN ĐỒ iii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
LỜI NÓI ĐẦU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Lược sử nghiên cứu động vật ở Việt Nam 3
1.1.1 Nghiên cứu về Thú 3
1.1.2 Nghiên cứu về Chim 9
1.1.3 Nghiên cứu về Bò sát, Lưỡng cư 11
1.1.4 Nghiên cứu về Cá nước ngọt 14
1.2 Lược sử nghiên cứu động vật ở Cúc Phương 16
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ 19
THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm nghiên cứu-Vườn Quốc gia Cúc Phương 19
2.1.1 Vị trí địa lý 19
2.1.2 Địa chất, Địa hình, Thổ nhưỡng 21
2.1.3 Khí hậu thuỷ văn 24
2.1.4 Tài nguyên động thực vật rừng 27
2.1.5 Điều kiện xã hội 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.4 Thời gian nghiên cứu 41
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Các số liệu tham khảo so sánh 42
3.2 Khu hệ thú Cúc Phương 47
3.2.1 Đa dạng thành phần các loài thú 48
3.2.2 Phân bố của các loài thú 52
3.2.3 Các loài thú quý hiếm 54
3.3 Khu hệ chim Cúc Phương 57
3.3.1 Đa dạng thành phần các loài chim 57
3.3.2 Phân bố của các loài chim 63
3.3.3 Các loài chim quý hiếm 65
3.4 Khu hệ bò sát Cúc Phương 68
3.4.1 Đa dạng thành phần các loài bò sát 68
3.4.2 Phân bố của các loài bò sát 73
3.4.3 Các loài bò sát quý hiếm 75
3.5 Khu hệ lưỡng cư Cúc Phương 77
3.5.1 Đa dạng thành phần các loài lưỡng cư 78
Trang 53.5.2 Phân bố của các loài lưỡng cư 82
3.5.3 Các loài lưỡng cư quý hiếm 83
3.6 Khu hệ cá Cúc Phương 85
3.6.1 Đa dạng thành phần các loài cá 85
3.6.2 Phân bố của các loài cá 90
3.6.3 Các loài cá quý hiếm 93
3.7 Các loài cần xem xét về mặt định loại 94
3.8 Các mối đe dọa ảnh hưởng đến các loài động vật ở Cúc Phương 97
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
4.1 Kết luận 98
4.2 Kiến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHẦN PHỤ LỤC 111
PHỤ LỤC 1 BẢN ĐỒ 2.5 PHÂN BỐ CỦA MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT QUÝ HIẾM Ở VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
PHỤ LỤC 2 DANH LỤC THÚ CÚC PHƯƠNG
PHỤ LỤC 3 DANH LỤC CHIM CÚC PHƯƠNG
PHỤ LỤC 4 DANH LỤC BÒ SÁT CÚC PHƯƠNG
PHỤ LỤC 5 DANH LỤC LƯỠNG CƯ CÚC PHƯƠNG
PHỤ LỤC 6 DANH LỤC CÁ CÚC PHƯƠNG
PHỤ LỤC 7 MỘT SỐ ẢNH CHỤP TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐỘNG VẬT TẠI CÚC PHƯƠNG
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU,CHỮ VIẾT TẮT
BIRDLIFE Tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế
CITES Công ước quốc tế về Buôn bán các loài Động Thực vật có nguy
cơ bị tuyệt chủng
NN và PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
TRAFFIC Tổ chức Giám sát Buôn bán Động Thực vật hoang dã quốc tế
SĐ IUCN Sách Đỏ Thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế
DANH MỤC BẢN ĐỒ
Khu bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam
Quốc gia Cúc Phương
36
Quốc gia Cúc Phương
112
DANH MỤC BẢNG
Bống, Vườn Quốc gia Cúc Phương
Trang 7Cúc Phương với một số khu vực khác ở Việt Nam
Cúc Phương với một số khu vực khác ở Việt Nam
60
Phương
69
Cúc Phương với một số khu vực khác ở Việt Nam
71
Phương
78
cư Cúc Phương với một số khu vực khác ở Việt Nam
3.15 So sánh mức độ đa dạng sinh học của khu hệ Cá
Cúc Phương với một số khu vực khác ở Việt Nam
88
khu hệ động vật có xương sống Cúc Phương
vực của Việt Nam
51
Phương
59
Trang 83.7 Biểu đồ so sánh số loài chim đã ghi nhận ở một số
khu vực của Việt Nam
61
3.8 Biểu đồ so sánh tỷ trọng thành phần loài bò sát ở
Cúc Phương
70
khu vực của Việt Nam
72
Cúc Phương
79
số khu vực của Việt Nam
81
3.12 Biểu đồ so sánh tỷ trọng thành phần loài cá ở Cúc
Phương
87
vực của Việt Nam
90
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Nghiên cứu khoa học là một mục tiêu quan trọng trong chương trình đào tạo sau đại học Để đánh giá kết quả sau 3 năm học tập, nghiên cứu được sự đồng ý của Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp, sự ủng hộ tạo điều kiện của Vườn
Quốc gia Cúc Phương, tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ
động vật có xương sống nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối với một số loài động vật quan trọng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”
Trong quá trình học tập tôi luôn nhận được sự dạy dỗ tận tình của các thầy cô
ở Khoa Sau Đại học, Khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp; Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) Tôi vô cùng cảm tạ
và xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học và toàn thể các thầy cô giáo-những người đã trực tiếp ân cần dạy dỗ, đào tạo tôi trong suốt thời gian học tập trước đây và trong giai đoạn sau đại học hiện nay; đặc biệt là PGS.TS
Hà Đình Đức là người thầy trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn về mặt khoa học trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Vườn Quốc gia Cúc Phương-cơ quan nơi tôi công tác đã dành cho tôi sự quan tâm trong quá trình học tập, sự động viên, khích lệ và giúp đỡ to lớn trong suốt thời gian nghiên cứu vừa qua
Tôi cũng trân trọng cảm ơn các chuyên gia trong nước và quốc tế về từng nhóm động vật có xương sống đã nhiệt tình giúp đỡ tôi về tài liệu, kiểm tra định loại: GS.TS Mai Đình Yên (ĐH Khoa học Tự nhiên); Cố PGS.TS Phạm Nhật (ĐH Lâm nghiệp); TS Nguyễn Văn Sáng, CN Hồ Thu Cúc, TS Nguyễn Cử, ThS Nguyễn Quảng Trường, ThS Nguyễn Trường Sơn, ThS.Vũ Đình Thống (Viện Sinh thái-Tài nguyên sinh vật); TS Nikolai Orlov (Russian Academy of Sciences); TS Matt Russell (Amazon Herpetology Society); TS Peter Paul van Dijck (TRAFFIC Southeast Asia); ThS Lê Thiện Đức, TS Barney Long, TS Chris Dickinson [WWF (World Wide Fund for Nature-Greater Mekong Programme)]; TS Mark Infield, TS Frank Momberg, TS Michael James Hill, ThS Neil Furey, Joe Walston, Steven Swan [FFI (Fauna and Flora International)]; ThS Douglas B Hendrie (US Wildlife Conservation Society); TS Micheal Appleton (Asean Centre for Biodiversity); CN
Lê Trọng Trải và ThS Jack Tordoff (Birdlife International-Indochina Programme)
Cuối cùng, tôi cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong nghiên cứu, học tập và đặc biệt biết ơn và ghi nhớ công lao gia đình-nơi đã sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục và tạo điều kiện cho tôi cả về vật chất lẫn tinh thần nhiều năm qua
Mặc dù đã rất cố gắng, song do những hạn chế về trình độ, thời gian và tư liệu tham khảo nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn Xin trân trọng cám ơn
Hà Tây, tháng 6 năm 2007
Lê Trọng Đạt
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với nhiều loài động, thực vật hoang dã quý hiếm và các hệ sinh thái đặc trưng [49] Khí hậu Việt Nam có sự khác biệt lớn từ vùng gần xích đạo tới vùng cận nhiệt đới, cộng với sự rất đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên, vì thế khu hệ động thực vật ở Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao
Tài nguyên rừng nói chung và tài nguyên động vật hoang dã nước ta rất phong phú và đa dạng Bằng chứng sống động là trong vòng hơn 10 năm gần đây nhiều loài mới cho khoa học đã được phát hiện ở vùng rừng núi nước ta như: Sao la
Pseudoryx nghetinhensis, Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis, Mang Trường
Sơn Muntiacus truongsonensis và Thỏ vằn Nesolagus timminsii, Khướu Ngọc Linh
Garrulax ngoclinhensis, Khướu Kon Ka Kinh Garrulax konkakinhensis, Rắn lục
vảy lưng ba gờ Triceratolepidophes sieversorum, Ếch cây Olov Rhacophorus
orlovi, Cá lá giang Parazacco vuquangensis vv [35], [48] [54], [52]
Hệ thống các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên đã được thành lập nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật Nhưng nguy cơ đe dọa đến sự tồn tại của chúng vẫn thường xuyên diễn ra do tình trạng khai thác rừng; săn bắt, buôn bán các loài động vật hoang dã trái phép Nhiều loài đang đứng trên bờ vực diệt vong Thậm chí có loài sẽ biến mất trước khi khoa học kịp biết đến sự có mặt của chúng [49]
Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập năm 1962, sớm nhất ở Việt Nam Khu hệ động vật có xương sống ở đây cũng rất đa dạng do nằm ở vị trí thuận lợi có sự hội tụ của rất nhiều yếu tố địa lý sinh học
Các hoạt động nghiên cứu khoa học ở đây được tiến hành rất sớm, ngay từ khi mới thành lập Đặc biệt là về lĩnh vực thực vật được tiến hành rất quy mô, thu hút rất nhiều nhà khoa học Việt Nam và quốc tế Về nghiên cứu động vật, tuy được quan tâm nhưng chưa tiến hành nghiên cứu sâu như thực vật [39];[65]
Trang 11Các nghiên cứu về động vật trước đây mới chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ lẻ, kết quả còn rất hạn chế so với thực tế và còn nằm rải rác ở các báo cáo chuyên đề [39]
Hiện nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào đầy đủ tổng kết chính thức, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống các nghiên cứu trên thành một tài liệu hoàn chỉnh mang tính chính thức phản ánh toàn bộ sự đa dạng của động vật giới Cúc Phương, cấp thiết nhất là về khu hệ động vật bậc cao cơ bản của Vườn Quốc gia Cúc Phương [65]
Vấn đề bảo tồn sẽ hiệu quả hơn nếu chúng ta có một sự nghiên cứu bổ sung đầy đủ để đánh giá phân tích tính đa dạng khu hệ động vật, qua đó có những định hướng bảo tồn phù hợp xác định ưu tiên cho từng giai đoạn, từng loài hoặc nhóm loài vì một mục tiêu bảo tồn cụ thể
Xuất phát từ thực tế trên, để bổ sung cho sự thiếu sót và tổng kết đánh giá đầy đủ hơn về sự đa dạng của khu hệ động vật Cúc Phương góp phần quản lý bảo tồn tính đa dạng sinh học động vật giới Vườn Quốc gia Cúc Phương nói chung và
đa dạng khu hệ động vật bậc cao nói riêng, chúng tôi đã tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ động vật có xương sống
nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối với một số loài động vật quan
trọng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lược sử nghiên cứu động vật ở Việt Nam
Các nghiên cứu về động vật ở Việt Nam có thể chia ra làm các giai đoạn: trước 1954, từ 1954 đến 1975 và từ 1975 đến nay
Giai đoạn trước 1954, các nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam hầu như chưa có gì cho đến cuối thế kỷ XIX khi các nhà khoa học nước ngoài đến khởi đầu công việc này
Giai đoạn từ 1954 đến1975 bắt đầu do các nhà khoa học Việt Nam đảm nhiệm và đã có những kết quả đáng kể
Từ 1975 đến nay là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất các nhà khoa học Việt Nam cùng hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài đã gặt hái được những thành tựu cơ bản và đã đóng góp nhiều phát hiện mới cho ngành khoa học về động vật Dưới đây là điểm một số khái quát các tác giả và công trình nghiên cứu chính qua từng thời kỳ:
Từ xa xưa cha ông ta đã biết khai thác và sử dụng động vật hoang dã để làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đồ trang sức phục vụ cuộc sống Việc này đã được đề cập đến trong các tài liệu từ thế kỷ XIII như “Nam dược thần hiệu”, của danh y Tuệ Tĩnh hay “Vân đài loại ngữ”, “Phủ biên tạp lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn vào thế kỷ XVIII vv Tuy nhiên, đây mới chỉ là những tài liệu mang tính thống kê những loài thường được sử dụng chưa thực sự mang ý nghĩa nghiên cứu [15]
1.1.1 Nghiên cứu về Thú
Những nghiên cứu mang tính hệ thống về khu hệ động vật nói chung và thú nói riêng mới chỉ thực sự bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX khi những nhà khoa học nước ngoài tiến hành ở Miền Nam Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu
về khu hệ thú Việt Nam chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện
Tài liệu đầu tiên có liên quan đến thú Việt Nam được công bố là “The Mission to Siam and Hue, the Capital of Cochichina in the years 1821-1822” (George Finlayson,1828) Đây tuy chưa phải là một công trình khoa học thực sự
Trang 13nhưng cũng đã có những mô tả về thiên nhiên, cùng với những nhận xét ban đầu của tác giả (theo Lê Hiền Hào, 1973) [33]
Vào cuối thế kỷ XIX, sau một thời gian việc nghiên cứu bị gián đoạn, các nhà khoa học nước ngoài tiếp tục tiến hành thăm dò động vật giới của Việt Nam, bắt đầu từ Miền Nam với các nghiên cứu của Milne-Edwards (1867-1874); Jouan (1868); Morice (1875); Germain (1887); sau đó tiến dần ra Miền Bắc với các nghiên cứu của Brouchsmiche (1887) Trong tác phẩm “Nhìn chung về Lịch sử Tự nhiên Bắc bộ” (Brouchsmiche E, 1887) tác giả đã có giới thiệu ngắn gọn về một số loài thú có giá trị kinh tế ở Bắc Bộ như: Khỉ, Tê tê, Hổ, Báo, Mèo rừng, Lợn lòi, Nai, Hoẵng, Hươu xạ… cùng với việc sử dụng chúng làm dược liệu như thế nào cũng như vùng phân bố của chúng Trong thời gian từ 1894-1898 có những công bố về một số loài như: Công bố về loài Sơn dương gặp ở Bắc bộ (Heude, 1894); Công bố
về một số loài thú ở Cao Bằng (A Billet, 1896), thông báo về loài vượn mới
Hylobates henrici tìm thấy ở Lai Châu (D Poussargues, 1896) [15], [33]
Những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tình hình nghiên cứu về thú
có tiến triển hơn Ngoài những nghiên cứu của các cá nhân, còn có những nghiên cứu quy mô của các đoàn Nghiên cứu về Lịch sử Tự nhiên của Đông Dương do Pavie M.A đứng đầu tiến hành, đoàn Khoa học thường trú Đông Dương do Boutan đứng đầu tiến hành ở Miền Bắc trong khoảng thời gian từ 1879-1898 Những tài liệu về thú do Đoàn Nghiên cứu về Lịch sử Tự nhiên của Đông Dương thu thập đã được De Poussargues công bố trong bộ sách “Recherches sur I’Histoire naturelle de I’Indochine Orientale”, Mission Pavie 1879-1898 Trong đó tác giả đã thống kê được 200 loài và phân loài thú (kể cả thú nuôi) phân bố ở Đông Dương Riêng ở Việt Nam thống kê được 117 loài và phân loài Kết quả nghiên cứu về thú của Đoàn Khoa học thường trú Đông Dương được Ménégaux công bố trong tạp chí Bull Mus Hist Nat (Ménégaux, 1905) Ngoài ra, năm 1906 Boutan xuất bản riêng cuốn sách về thú trong công trình “Mười năm nghiên cứu động vật”, trong đó ông nêu khái quát chung về phân loại thú và một số dẫn liệu về hình thái, đặc điểm sinh học
và phân bố địa lý của 10 loài thú [33]
Trang 14Từ năm 1900 trở đi còn hàng loạt những thông báo của nhiều tác giả khác công bố kết quả hoặc mô tả các dạng thú mới gặp lần đầu ở nước ta như của Baurae (1900); Heude (1901); Anonyme (1902); Bonhote (1903, 1907); Dauplay (1908); Krempt (1911); Trouessart (1911); Allen (1913); Kloss (1926, 1928); Thomas (1909, 1912, 1925-1929)… [33]
Năm 1912, R Bourret cho xuất bản cuốn “Fauna de I’Indochine” giới thiệu
về khu hệ động vật có xương sống ở Đông Dương Trong đó thống kê được 262 loài
và phân loài thuộc 11 họ thú có ở Đông Dương Năm 1942, trong báo cáo “Les mammifères de la collection du laboratoire de zoologie L’Éccole supérieure des Sciences”, R Bourret công bố 81 loài thú của Việt Nam trên cơ sở các mẫu vật có tại Phòng thí nghiệm Động vật của Viện Khoa học Sinh thái Năm 1944, có thêm báo cáo “Mammifères resceemment entrés dans les collections du Laboratoire de Zoologie de L’Éccole supérieure des Sciences” Các tài liệu này được công bố trong Thông báo Công trình Khoa học số 1 và 3 của Trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương [33]
Trong những năm 1925-1930, J Delacour thu thập khá nhiều tài liệu về khu
hệ thú Việt Nam đồng thời thu thập được nhiều mẫu thú ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ Vào những năm 1928-1929, có hoạt động của đoàn nghiên cứu Kelly-Roosevelt của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Chicago thu thập mẫu ở Quảng Trị, Huế, Lào Cai, Lai Châu Tất cả những tài liệu này sau đó được H Osgood tập hợp lại và đưa ra công bố chung về thú vào năm 1932 trong tác phẩm “Mammals of the Kelly-Roosevelt and Delacour Asiatis Expeditions” Trong công trình này, tác giả đã ghi nhận được 251 loài và phân loài thú với 19 dạng mới Bao gồm, 172 loài và phân loài có ở Việt Nam, kèm theo địa điểm sưu tầm của từng loài (H Osgood, 1932) [33]
Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có các tài liệu về săn bắn của một số người không chuyên như: Bonifacy (1912); Montpensier (1912); Roussel (1913); Bordeneuve (1925); Cheminaud (1939); Cresson (1943); Denariaux (1949); Chochod (1950), [33]
Trang 15Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp từ 1945-1954 mọi hoạt động nghiên cứu trực tiếp về thú ở nước ta đều bị ngưng trệ Sau một thời gian gián đoạn
do chiến tranh, Miền Bắc được giải phóng việc nghiên cứu ở Việt Nam được tiếp tục và hầu hết do những cán bộ khoa học Việt Nam thực hiện [33]
Từ năm 1956-1971, việc nghiên cứu động vật nói chung và thú nói riêng ở Miền Bắc chủ yếu do 3 cơ quan đảm nhiệm đó là: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước và Tổng cục Lâm nghiệp Ngoài ra, còn một số cơ quan khác trong lĩnh vực công tác có liên quan nhiều đến việc sưu tầm thú, mà chủ yếu là thú gặm nhấm dạng chuột như: Viện Vệ sinh Dịch tễ học, Viện Sốt rét và Ký sinh trùng, Viện Quân y Đặc biệt, từ cuối năm 1962-1966 còn
có một tổ chức nghiên cứu phối hợp do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước chủ trì với sự tham gia của nhiều cơ quan khoa học nói trên Trong thời gian này, việc nghiên cứu thú ở Miền Bắc nước ta được tiến hành rộng rãi ở khắp các tỉnh, tập trung chủ yếu vào các loài thú lớn có tầm quan trọng đối với sản xuất và đời sống Phần lớn các kết quả này đã được công bố Trong thời gian từ 1957-1974 đã có hơn
40 bài báo của Đào Văn Tiến công bố trên các tập san trong nước (Tập san Sinh vật-Địa học) và quốc tế (Mitt Zool Mus Berlin; Z.f Sauget; Zool Abhandl Mus Tierk Dresden; Zool Anz; tập san Động vật học-Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô) Nghiên cứu về khu hệ thú ở các tỉnh có các công trình như: Lê Hiền Hào, Nguyễn Thạnh (1960) Lê Hiền Hào (1960, 1962, 1966, 1968, 1970, 1971); Võ Quý, Mai Đình Yên, Nguyễn Thạnh, Lê Hiền Hào, Trần Gia Huấn (1960); Võ Quý, Trần Gia Huấn (1961); Võ Quý (1963); Võ Quý, Đào Văn Tiến (1969) Ngoài ra, còn các nghiên cứu về sinh thái, sinh học các loài thú của Lê Hiền Hào (1964, 1970, 1972); Đặng Huy Huỳnh, Vũ Đình Tuân (1964); Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung (1965); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh (1974) [15], [33]
Năm 1973, Lê Hiền Hào cho xuất bản cuốn “Thú Kinh tế Miền Bắc Việt Nam”, trong đó tác giả giới thiệu chi tiết về các mặt sinh thái, sinh học, tập tính, số lượng, phân bố và ý nghĩa kinh tế của 38 loài thú thường được nhân dân Miền Bắc
Trang 16săn bắn để lấy thịt, da, lông, làm dược liệu…cũng như các loài quý hiếm cần bảo vệ [33]
Trong số các công trình nghiên cứu khu hệ thú địa phương phải kể đến cuốn
“Động vật Kinh tế tỉnh Hòa Bình” xuất bản năm 1975 của nhóm cán bộ Phòng nghiên cứu động vật thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước do Đặng Huy Huỳnh chủ biên Trong đó, có mô tả 26 loài thú kinh tế trong tổng số 74 loài thú của tỉnh Hòa Bình với các đặc điểm sinh học, giá trị kinh tế, mật độ, trữ lượng và phân
Sau năm 1975 đất nước thống nhất, việc nghiên cứu về khu hệ động vật ở các địa phương vẫn được tiếp tục Năm 1981, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tổng kết công tác điều tra cơ bản khu hệ tài nguyên sinh vật ở Miền Bắc giai đoạn 1955-1975 và xuất bản cuốn “Kết quả Điều tra cơ bản động vật ở Miền Bắc Việt Nam” Trong đó thống kê được 109 loài và phân loài thú (Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Cao Văn Sung Bùi Kính, 1981), nâng tổng số loài thú được thống kê ở Miền Bắc nước ta lên 169 loài (202 loài và phân loài) thuộc 32 bộ, 11 họ [14]
Trong số các báo cáo nghiên cứu về khu hệ thú có thể liệt kê đến Báo cáo về Động vật Tây Nguyên của Đặng Huy Huỳnh và cộng sự trong “Báo các khoa học của Chương trình điều tra tổng hợp vùng Tây Nguyên 1976-1980” với 102 loài thú, chiếm tới 1/3 tổng số loài thú phân bố ở Việt Nam (Đặng Huy Huỳnh và cộng sự, 1984) [11]
Trang 17Năm 1985, Đào Văn Tiến công bố cuốn “Khảo sát Thú ở Miền Bắc Việt Nam”, đây được coi là một tài liệu tham khảo quan trọng đối với những người làm công tác nghiên cứu động vật ở Việt Nam Trong đó, tác giả đã liệt kê 129 loài và phân loài thú có ở Miền Bắc Việt Nam, bao gồm 8 loài và phân loài có ở Miền Nam lần đầu tiên phát hiện được ở Bắc Trung Bộ; 5 loài và phân loài có ở Đông Nam Á mới phát hiện ở Việt Nam; 5 loài và phân loài mới cho khoa học Trong công trình này tác giả đã chia Việt Nam thành 5 vùng địa lý-động vật, quan hệ động vật-địa lý học của từng khu hệ thú từng địa phương cũng như của toàn miền với các khu hệ lân cận [15]
Trong giai đoạn này còn có những công trình nghiên cứu chuyên khảo về các nhóm động vật có vú Về các loài Gặm nhấm, năm 1979, từ nghiên cứu phục vụ cho nông nghiệp và dịch bệnh học, Lê Vũ khôi và cộng sự đã cho xuất bản cuốn “Chuột
và các biện pháp phòng trừ” trong đó nêu các đặc điểm chung về sinh thái, sinh học của 27 loài chuột có ở Việt Nam và các biện pháp phòng trừ chúng Năm 1980, có công trình nghiên cứu “Những loài Gặm nhấm ở Việt Nam”của Cao Văn Sung và cộng sự giới thiệu 40 loài gồm: chuột, sóc, nhím, thỏ, dúi với mô tả về mặt phân loại, sinh thái, sinh học, phân bố và cách phòng trừ, khai thác, sử dụng chúng [5]
Về các loài móng guốc, năm 1986, Đặng Huy Huỳnh xuất bản cuốn “Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Việt Nam” nêu được các đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính, giá trị kinh tế cũng như phân bố của 15 loài thú móng guốc ở Việt Nam [13]
Năm 1992, “Sách Đỏ Việt Nam Phần Động vật” được biên soạn với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu động vật, trong đó có 365 loài động vật quý hiếm Riêng về thú có 78 loài thuộc 27 họ, 11 bộ (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 1992) Gần đây ở lần xuất bản thứ hai con số này đã tăng lên 80 loài trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2000 (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2000) [1]
Năm 1994, tập thể các tác giả thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
do Đặng Huy Huỳnh làm chủ biên đã công bố cuốn “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” trong đó thống kê 223 loài thú thuộc 37 họ, 12 bộ có ở Việt
Trang 18Nam với các thông tin về vùng phân bố, tình trạng, mức độ quý hiếm, số lượng, giá trị sử dụng của chúng [13] Năm 2000, Lê Vũ Khôi, cập nhật các kết quả nghiên cứu sau đó của nhiều tác giả đã xuất bản cuốn “Danh lục các loài thú ở Việt Nam” nêu 252 loài thú bao gồm 298 loài và phân loài thuộc 40 họ, 14 bộ [41]
Gần đây, do quan hệ quốc tế và sự quan tâm của Nhà nước các nghiên cứu
về thú được tiếp tục đẩy mạnh và góp phần phát hiện mới cho khoa học một số loài
thú lớn như Pseudoryx nghetinhensis, Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis, Mang Trường Sơn Muntiacus truongsonensis và nhiều loài thú nhỏ như Thỏ vằn
Nesolagus timminsii và Dơi Bên cạnh đó, xuất hiện thêm một số công trình của các
tác giả khác như: “Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú Khu vực Phong
Nha-Kẻ Bàng (Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng và Gert Polet, 2001)”; “Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú của Vườn Quốc gia Cát Tiên (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2000)”; “Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú lớn của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2001); “Thú Linh trưởng Việt Nam, (Phạm Nhật, 2002)”, “Nhận dạng một số loài Dơi ở Việt Nam (Nguyễn Trường Sơn và Vũ Đình Thống, 2006”;vv… được biên soạn nhằm phục
vụ công tác nhận dạng các loài hoặc nhóm loài thú ở các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên [21]
1.1.2 Nghiên cứu về Chim
Về nghiên cứu chim ở Đông Dương cũng có một lịch sử dài thu hút nhiều nhà sinh học đến nghiên cứu
Tài liệu nghiên cứu chim đầu tiên ở Đông dương là bản mô tả loài Gà rừng
Gallus gallus của Carl von Linné với tiêu bản bắt được đầu tiên ở đảo Côn Lôn
(Carl von Linné, 1758, Systema naturae, 1, tr.158) Sau đó năm 1788, Gmelin mô tả loài chim thứ hai bắt được ở Đông dương Đó là loài Chim xanh Nam Bộ
Chroropsis cochinchinensis (Gmelin, 1788, Systema Naturae; 1, tr 825) [50]
Trong giai đoạn 1875-1877, G Tirant đã sưu tầm ở Miền Nam Việt Nam một bộ tiêu bản chim khá lớn (khoảng 1000 mẫu) tập hợp kết quả phân tích đã xuất
Trang 19bản tập “Chim Miền Nam Nam Bộ” Trong công trình này tác giả đã ghi nhận được
353 loài [50]
Vào những năm 1899-1903 E Oustalet cho xuất bản công trình “Chim Campuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” (E.Oustalet, 1899-1903) Cùng thời gian này ở Miền Bắc Việt Nam, E Boutan cũng tiến hành nghiên cứu, sưu tầm chim ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong công trình “Mười năm nghiên cứu động vật” (E Boutan, 1905) ông đã ghi nhận được 90 loài và dẫn liệu sinh học của một số loài [50]
Trong những năm tiếp theo có rất nhiều các bộ sưu tập, phân tích sự phân bố cũng như đặc điểm sinh học của các loài chim ở Đông Dương đã được các nhà khoa học nước ngoài khác công bố trên các tạp chí và tuyển tập công trình khoa học Đến năm 1931, J Delacour và P Jabouille cho xuất bản một công trình tổng hợp “Chim Đông Dương” gồm 4 tập Trong công trình này các tác giả đã mô tả 954 loài và loài phụ có kèm theo một số dẫn liệu chung về đặc tính sinh học và phân bố của chúng Đây là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về mặt phân loại song về mặt sinh học còn mới đề cập rất ít (S Baker, 1922-1930) [50]
Năm 1951, trên cơ sở các công trình mới J Delacour lại cho bổ sung lần thứ
ba danh sách chim Đông Dương Trong công trình này 1.085 loài và loài phụ đã được ghi nhận [50]
Sau 1954, khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng bắt đầu xuất hiện những công trình nghiên cứu về chim của các nhà khoa học Việt Nam như: Võ Quý, Trần Gia Huấn, Lê Diên Dực, Trương Văn Lã, Nguyễn Cử, Lê Đình Thủy…Nghiên cứu chim ở Miền Nam Việt Nam thời gian này có P Wildash, B King, M.Woodcock…
Những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước và mở rộng hợp tác với
tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế (Birdlife) nên có nhiều chuyên gia nước ngoài nghiên cứu về chim trong khu vực Đông Nam Á như: J Tordoff, J.C Eames, C Robson, E Dickinson, T Inskipp, N Linsey, W Duckworth và trong nước có thêm: Lê Trọng Trải, Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Lân Hùng Sơn vv…Đáng chú ý, một số cuốn sách được coi là tài liệu cơ bản để tra cứu chim ở Việt Nam lần lượt được xuất bản như:
Trang 20“Birds of South Vietnam” (Wildash Philip, 1968) [48]; “Sinh học của những loài chim thường gặp ở Việt Nam” (Võ Quý, 1971); “Chim Việt Nam-Hình thái và phân loại”, tập I (Võ Quý, 1975), tập II (Võ Quý, 1981) [63], [64]; “Chim Việt Nam” (Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Philipps, 2000) [48] Trong khu vực thời kỳ này cũng xuất hiện một số công trình nghiên cứu về chim toàn diện hơn được xuất bản như: “Bird of South-East Asia” (B King, M Woddcock và E.C Dickinson, 1975,…1993) [87]; “Bird Guide of Thailand” (B Lekagul và E.W Cronin, 1974) [88]; “A Field guide to the Bird of South-East Asia” (C Robson, 2000) [96] Cho đến thời điểm năm 2000, đã xác định được ở Việt Nam có 856 loài chim chiếm khoảng 9% tổng số loài chim trên toàn thế giới (Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Philipps, 2000) [48] Sau khi một số loài mới cho khoa học và loài mới được phát hiện và ghi nhận bổ sung, hiện nay tổng số loài chim đã biết ở Việt Nam đã lên tới gần 900 loài (Lê Trọng Trải, thông tin cá nhân, 2007)
1.1.3 Nghiên cứu về Bò sát, Lưỡng cư
Ngay từ thế kỷ XIX những nghiên cứu về khu hệ bò sát, lưỡng cư đã được một số nhà khoa học nước ngoài tiến hành
Năm 1885, các nghiên cứu về phân loại của Tirant đã mô tả được 17 loài lưỡng cư Năm 1893, Vaillante cũng có những nghiên cứu về phân loại Năm 1901, Boettger đã tiến hành nghiên cứu khu hệ lưỡng cư ở khu vực Bắc Trung Bộ, các kết quả này được tổng kết trong công trình “Aufzahlung Einer Liste Von Reptilen und Batrachien aus Annam”[4] Năm 1887, có thêm công trình nghiên cứu tiếp về Lịch
sử Tự nhiên Bắc Bộ “Apercu général sur I’histoire naturelle du Tonkin Excursions
et reconnaissanses”của Brouchsmiche E Ngoài các loài thú và chim, tác giả cũng giới thiệu sơ lược một số loài bò sát, lưỡng cư có mặt ở Bắc Bộ Ngoài ra, còn có Mocquard M.F thuộc Đoàn Nghiên cứu về Lịch sử Tự nhiên của Đông Dương cũng tổng kết các kết quả nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư trong công trình “Batrachien recueillis par., Serpents recueillis par M.A Pavie en Indo-Chine Mission Pavie, Indochine, 1879-1895 Etudes diverses (1904)”; “Sur une collection de reptiles
Trang 21recueillis dans le haut-Tonkin par M.le Or L Vaillant (1905)”; “Lé Reptiles de I’Indochine (1907)” [53]…
Những năm đầu thế kỷ XX (giai đoạn từ 1904-1944), cùng với các nghiên cứu thú và chim, người Pháp đã tiến hành nhiều khảo sát về bò sát, lưỡng cư Trong
số này phải kể đến Bourret R, nhà nghiên cứu động vật của Trường Đại học Đông Dương Những kết quả nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư của Bourret được công bố trong hàng loạt thông báo khoa học của trường như “Les Batrachiens de la Collection du Laboratoire dé Sciences Naturelles de I’Université Description de quinze espèces ou varietes nouvelles Notes Herpetologiques sur’ I’Indochine Francaise No4, Vol 19, Bull (1937)”; “Le Faune Herpetologique des stations d’altitude du Tonkin Notes Herpetologiques sur’ I’Indochine Francaise No 4, Bull (1939)”…cùng hàng loạt ấn phẩm khác như: “Les Serpentes venimeux en Indochine (1932)”; “Les Tortues de I’Indochine (1941)”; “Les Lézards de I’Indochine (1944)”,vv…Chỉ riêng trong tác phẩm “Les Batrachiens de I’Indochine” xuất bản năm 1942 ông đã tổng kết được ở Đông Dương có 171 loài lưỡng cư thuộc 9 họ, 3
bộ Trong số này có 59 loài thuộc 9 họ, 3 bộ phân bố ở Việt Nam [61]
Ngoài ra nghiên cứu về bò sát lưỡng cư thời kỳ này còn có các nhà nghiên cứu khác như Anderson L.G; Boulenger G.A; Angel F…[53]
Trong giai đoạn từ năm 1945-1954, do chiến tranh chống Pháp việc nghiên cứu động thực vật nói chung, trong đó có nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư bị ngưng trệ
Từ năm 1954 đến 1975 việc nghiên cứu được tiếp tục trở lại và chủ yếu do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện và được Trần Kiên cùng cộng sự tổng kết trong công trình “Kết quả điều tra Bò sát, Ếch nhái (1956-1976) Miền Bắc Việt Nam” xuất bản năm 1981 [61]
Trong những công trình nghiên cứu về động vật nói chung, Đào Văn Tiến đã
có nhiều đóng góp và đào tạo các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu bò sát, ếch nhái Trong giai đoạn từ 1977-1982, các khóa định loại rùa, cá sấu, thằn lằn, rắn và
Trang 22ếch nhái của ông đã được công bố và góp phần rất lớn cho việc xác định thành phần loài của khu hệ bò sát, lưỡng cư ở Việt Nam [16];[17];[19];[20];[18]
Sau năm 1975, đặc biệt là trong thời gian từ 1990 do điều kiện hợp tác nghiên cứu được mở rộng, việc xây dựng, thành lập các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên đòi hỏi phải tiến hành khảo sát đánh giá về giá trị và hiện trạng tài nguyên nên các hoạt động nghiên cứu được diễn ra mạnh mẽ Thành phần, số lượng loài bò sát, lưỡng cư tăng lên nhanh chóng do được bổ sung nhiều từ các hoạt động này Đội ngũ các nhà nghiên cứu về bò sát lưỡng cư cũng được tăng cường Các nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư giai đoạn này có thêm Nguyễn Khắc Hường (1978) nghiên cứu về rùa biển; Bùi Văn Dương (1978) nghiên cứu về rắn biển; Nguyễn Văn Sáng (1982) nghiên cứu về rắn trên cạn và nước ngọt; Hồ Thu Cúc (1982), nghiên cứu về lưỡng cư; Hoàng Xuân Quang (1993), nghiên cứu về bò sát
và lưỡng cư trên cạn và nước ngọt [53]…
Năm 1996, trong công trình “Danh lục Bò sát và Ếch nhái Việt Nam” Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã thống kê thành phần loài, sự phân bố và tình trạng của 258 loài bò sát thuộc 6 bộ, 22 họ và 82 loài lưỡng cư thuộc 9 họ, 3 bộ [53] Qua các đợt điều tra, khảo sát bổ sung sau đó, đến năm 2002, Nikolai Orlov
và các cộng sự đã tập hợp và công bố kết quả trong Tạp chí Bò sát và Lưỡng cư Nga “Herpertofauna of Vietnam, A Checklist, Part I Amphibia”, trong đó, thống kê
147 loài lưỡng cư thuộc 35 giống, 9 họ, 3 bộ; bổ sung thêm 65 loài mới cho khu hệ lưỡng cư Việt Nam [91]
Gần đây, một số tác giả tiếp tục công bố các công trình nghiên cứu chuyên khảo của mình như: “Rùa Hồ Gươm một loài mới cho khoa học (Hà Đình Đức, 2000) [23]”; “Nghiên cứu loài Rùa quý Hồ Gươm (Hà Đình Đức, 2001)”[24];
“Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ Rùa (Testudines) Việt Nam (Lê Thiện Đức, 2003) [35], “Nghiên cứu đặc điểm hình thái và bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, sinh thái các loài thuộc họ Ba ba Trionychidae ở Việt Nam (Nguyễn Quảng Trường, 2003) [51], “Bò sát và Lưỡng cư Vườn quốc gia Cúc Phương” (Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Lê Trọng Đạt, 2003) [55]
Trang 23Năm 2005, trên cơ sở tập hợp, cập nhật các tài liệu này Nguyễn Văn Sáng và cộng sự đã xuất bản cuốn “Danh lục Ếch nhái và Bò sát Việt Nam” trong đó đã bổ sung thêm nhiều loài mới được phát hiện, nâng tổng số các loài lưỡng cư lên 162 loài và tổng số bò sát là 296 loài trong toàn quốc hiện nay [54]
1.1.4 Nghiên cứu về Cá nước ngọt
Cũng như các nhóm động vật bậc cao khác nhóm cá nước ngọt cũng được tiến hành ở Đông Dương và Việt Nam từ rất sớm, cuối thế kỷ XIX với các nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài và được tập hợp trong các công trình như:
“Consideration sur la faune ichthyologique des eaux douces de I’Asie et en particulier de I’Indochine (H.E Sauvage,1877)”; “Recherches sur la faune ichthyologique deI’ Asie et description des espèces nouvelles de I’Indochine (H.E Sauvage,1878) [45]…Sau đó là hàng loạt các tác giả khác như L Vaillant (1891;
1892, 1904); P.Chevey (1930; 1932,1937,1940); R Bourret (1927) cho đến H.W Fowler (1939); J Pellegrin (1906, 1909, 1933, 1937,1940); J Durant (1940); J Chaux và P.W Fang (1942, 1943); J.Chaux, J.Fang (1949) [45] Sau ngày Miền Bắc hoàn toàn giải phóng việc nghiên cứu về cá chủ yếu do đội ngũ các nhà ngư loại học Việt Nam đảm nhận Hàng loạt các công trình nghiên cứu đã được thực hiện và công bố: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959, 1960); Mai Đình Yên (1963, 1964, 1966, 1969) [45]; K Kuronuma (1961); N Kawamoto, Nguyễn Việt Trường, Trần Thị Tuy Hòa (1972)…Sau 1975, ngoài các tác giả trên còn có thêm Trần Thị Thu Hương (1977); Nguyễn Văn Thiện (1978); Nguyễn Văn Trọng, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992) [47], Nguyễn Thái Tự (1995); Nguyễn Hữu Dực (1999); Nguyễn Kim Sơn (2000) [52] vv
Hai tác phẩm tổng kết các nghiên cứu về cá nước ngọt được coi là tương đối hoàn chỉnh và phản ánh một cách cơ bản khu hệ cá nước ngọt Việt Nam do Mai Đình Yên và các cộng sự đã được xuất bản đó là: “Định loại cá nước ngọt Miền Bắc Việt Nam (Mai Đình Yên, 1978)” [45] giới thiệu 201 loài cá có ở Bắc Bộ với các đặc điểm hình thái một cách hệ thống từ theo thứ tự từ bậc Bộ cho đến chi tiết về
Trang 24đặc điểm hình thái, phân bố và mức độ phổ biến của từng loài; và “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ (Mai Đình Yên và cộng sự, 1992)” [47] cũng theo hình thức tương tự giới thiệu 255 loài cá có ở Nam Bộ Ngoài ra, tài liệu “Thành phần loài và sự phân bố cá nước ngọt Việt Nam (Mai Đình Yên, Nguyễn Thái Tự, 1986)”cũng đề cập đến thành phần loài và phân bố cá Việt Nam [52]
Gần đây, các nghiên cứu về cá nước ngọt chủ yếu tập trung vào nghiên cứu khu hệ của từng địa phương tập trung vào các khu vựcVườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Các nghiên cứu này đang từng bước góp phần bổ sung hoàn thiện hiểu biết về khu hệ cá Việt Nam Năm 1994, tại hội thảo Đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn, Nguyễn Thái Tự đã trình bày tham luận về công trình nghiên cứu “Bắc Trường Sơn-Một khu Địa động vật đặc biệt” và công bố số liệu về khu hệ cá nước ngọt toàn quốc, tổng số tại thời điểm đó đã lên tới 519 loài [52] Hiện nay, theo danh lục (2007) của Asian Centre for Biodiversity, tổng số cá nước ngọt đã biết ở Việt Nam đã lên tới 624 loài, trong đó có 14 loài du nhập [67]
Tuy nhiên, so với các nhóm động vật có xương sống bậc cao như thú, chim,
bò sát, lưỡng cư thì nhìn chung nghiên cứu khu hệ và bảo tồn các loài cá vẫn còn chưa được chú ý nhiều
Với sự nỗ lực cao trong khoảng mười năm trở lại đây, cộng với sự quan tâm của Chính phủ và sự giúp đỡ rất nhiều khoa học và tổ chức bảo tồn quốc tế, các nhà khoa học về động vật của Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu khu
hệ động vật có xương sống cũng như trong công cuộc bảo tồn thiên nhiên, phát hiện thêm nhiều loài mới cho Việt Nam trong đó có cả những loài mới quý hiếm, rất có ý nghĩa cho khoa học và cho bảo tồn
Trong thế kỷ 20, toàn thế giới phát hiện 10 loài thú lớn thì có tới 6 loài được phát hiện tại Việt Nam (Hà Đình Đức, 1999) Điều này cho thấy đa dạng sinh học ở Việt Nam vẫn chưa được tìm hiểu kỹ Đây là khó khăn, thách thức nhưng cũng là cơ hội để các nhà động vật học của Việt Nam tiếp tục tìm hiểu khám phá mới về nguồn tài nguyên quý giá này [35]
Trang 251.2 Lược sử nghiên cứu động vật ở Cúc Phương
Với những đặc điểm lịch sử, chính trị và kinh tế xã hội có thể sơ bộ chia ra lịch sử nghiên cứu động vật ở Cúc Phương ra ba 3 thời kỳ: trước 1962; từ 1962-
1986 và từ 1987 đến nay Dưới đây là tóm tắt khái quát quá trình nghiên cứu như sau:
Trước khi thành lập Vườn Quốc gia Cúc Phương, (từ năm 1962 trở về trước) hầu như không có hoạt động nghiên cứu nào được tiến hành tại đây cho đến khi Đội Điều tra rừng của Ty Lâm nghiệp Ninh Bình phát hiện về tính nguyên sinh của khu rừng dẫn đến việc xúc tiến xây dựng khu rừng Cúc Phương trở thành một cơ sở nghiên cứu khoa học về động thực vật và lâm học nhiệt đới [65]
Ngay sau khi thành lập (năm 1962), Vườn Quốc gia Cúc phương đã tiến hành các nghiên cứu điều tra cơ bản về khu hệ động thực vật nhằm góp phần nghiên cứu bảo vệ Năm 1964, Trạm Nghiên cứu rừng Cúc Phương được thành lập với hơn
30 cán bộ nhân viên và đã có một số chương trình nghiên cứu ban đầu Trong thời gian từ 1964-1968, Trạm này đã tiến hành một số điều tra về phân loại thực vật, động vật Nhưng nhìn chung, chỉ chủ yếu tập trung vào điều tra phân loại về thực vật và thảm thực vật, còn nghiên cứu động vật do còn thiếu phương tiện tài liệu và chuyên gia nên hầu như chưa có gì [65]
Đến năm 1969, Phân viện Nghiên cứu Cúc Phương ra đời với nhiều cán bộ chuyên gia về các lĩnh vực Phân viện đã tiến hành nghiên cứu một cách quy mô về các lĩnh vực như: phân loại thực vật, thảm thực vật, địa thực vật, tăng trưởng cây rừng, động vật, côn trùng, khí hậu thủy văn, sinh lý thực vật, thổ nhưỡng, phân loại đất Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh ngày càng ác liệt, việc phối hợp nghiên cứu với các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, hơn nữa điều kiện kinh tế phục
vụ cho công tác nghiên cứu không đáp ứng đủ nên đến năm 1972, Phân viện này phải giải thể và tổ chức lại thành một Trạm nghiên cứu nhỏ với 35 cán bộ nhân viên làm nghiên cứu khoa học với kinh phí hạn chế và hoạt động bị thu hẹp [65]
Ra đời và tồn tại trong một một thời gian ngắn ngủi với những bước thăng trầm nhưng giai đoạn này các cơ sở nghiên cứu trên cũng thu được một số kết quả
Trang 26quan trọng, đặc biệt là về khu hệ thực vật Riêng đối với động vật nghiên cứu mới chỉ tập trung vào phần thú và chim nhưng vẫn còn hết sức hạn chế Còn các nhóm khác như bò sát ếch nhái, và cá mới chỉ ghi nhận rất sơ sài Đáng kể nhất trong giai đoạn này (Lê Hiền Hào,1971) có bài viết công bố trên tập san Sinh vật-Địa học:
“Kết quả bước đầu nghiên cứu về Động vật giới ở Cúc Phương” (chỉ đề cập đến các nhóm động vật bậc cao), trong đó đã thống kê được 251 loài động vật có xương sống, bao gồm: 64 loài thú, 137 loài chim, 33 loài bò sát, 16 loài lưỡng cư, và 1 loài
cá [32]
Thời kỳ tiếp theo từ năm 1976-1986, sau khi giải thể Phân viện nghiên cứu
là thời kỳ có nhiều khó khăn về mặt kinh tế nên hầu hết các hoạt động nghiên cứu động vật bị ngừng trệ chỉ còn duy trì việc tổ chức chăn nuôi thuần dưỡng một số loại thú như Hươu sao, Nai, Gấu ngựa phục vụ cho mục đích tham quan du lịch [65]
Thời kỳ từ 1987 đến nay là thời kỳ thuận lợi có sự quan tâm của Nhà nước
và sự hỗ trợ của nhiều tổ chức bảo tồn quốc tế, nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu về động vật nói riêng ở Vườn đã thu được nhiều thành tựu đáng khích
lệ
Trong những năm gần đây, các chương trình hợp tác quốc tế về nghiên cứu bảo tồn các loài động vật quý hiếm rất phát triển Vườn đã xây dựng được Trung tâm Cứu hộ các loài Linh trưởng quý hiếm, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Cầy vằn, Trung tâm Cứu hộ và Nghiên cứu Sinh thái các loài Rùa, Trại Thuần dưỡng động vật như Hươu, Nai, Nhím, Đon, Công, Gà lôi vv [65], [28], [30]
Riêng các hoạt động nghiên cứu cơ bản về khu hệ động vật tuy không được
tổ chức nghiên cứu một cách quy mô lớn và tập trung với sự tham gia của nhiều người như thời kỳ bắt đầu thành lập, song được tiến hành bằng những chương trình
và đề tài nhỏ, cụ thể và sau đó được nỗ lực thường xuyên bổ sung cập nhật khi có
cơ hội ở ngoài hiện trường Do vậy, hoạt động nghiên cứu khu hệ động vật ở thời kỳ này dù chỉ được triển khai ở quy mô nhỏ với ít người tham gia nhưng lại rất hiệu quả và đã thu được những kết quả rất tốt
Trang 27Từ 1998 đến nay, đã có một số chương trình nghiên cứu bảo tồn một số loài nguy cấp hay nhóm động vật nhỏ được sự tham gia, hỗ trợ của các chuyên gia nước ngoài và tổ chức quốc tế như: Nghiên cứu Bảo tồn và Cứu hộ các loài Linh trưởng quý hiếm hợp tác với Hội Động vật học Frankfurt (Frankfurt Zoological Society) của Đức; Nghiên cứu Dơi phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dã quốc tế (Fauna and Flora International) của Anh quốc và với Bảo tàng Hoàng gia Ontario (Royal Ontario Museum) của Canada; Nghiên cứu và Bảo tồn Cầy vằn và
Tê tê với kinh phí quyên góp từ các nguồn nhỏ của quốc tế; Nghiên cứu và Bảo tồn Rùa cạn và Rùa nước ngọt với Hội Bảo tồn Thiên nhiên hoang dã (Wildlife Conservation Society) của Hoa Kỳ; và Nghiên cứu chăn nuôi Hươu sao, Nai, Nhím, Công, Gà lôi; hay các nghiên cứu điều tra cơ bản, thu thập bổ sung tiêu bản, danh lục…từ nguồn kinh phí do Nhà nước cấp đã mang lại hiệu quả thiết thực góp phần tích cực vào công tác bảo tồn nói chung và nghiên cứu khu hệ động vật nói riêng của Vườn Quốc gia Cúc Phương [65], [28], [26], [29]
Chỉ trong một thời gian ngắn từ 1998 đến 2001, về khu hệ động vật có xương sống đã ghi nhận bổ sung thêm được 25 loài thú, 170 loài chim, 31 loài bò sát, 26 loài lưỡng cư và 64 loài cá từ các nghiên cứu nhỏ lẻ Nâng hơn gấp đôi tổng
số loài đã biết Đến năm 2001, thống kê sơ bộ số loài đã được ghi nhận lên tới 583 loài động vật có xương sống; cụ thể đã ghi nhận được: 89 loài thú, 307 loài chim,
67 loài bò sát, 43 loài lưỡng cư và 65 loài cá [39], [40], [65]
Không dừng lại ở đó, từ 2001 đến nay, con số này vẫn tiếp tục tăng lên từng ngày do có những nghiên cứu phát hiện bổ sung và đang chờ xử lý định loại để thống kê chính thức
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ
THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu-Vườn Quốc gia Cúc Phương
2.1.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm trên tọa độ địa lý từ 20014' đến 20024' vĩ độ Bắc và từ 105029' đến 105044' kinh độ Đông Cách Hà Nội 100 km về phía Tây Nam và cách biển Đông 60 km về phía Đông
Vườn có tổng diện tích 22.200ha, chiều dài khoảng 30km, rộng 8-10km và nằm trên địa phận hành chính của 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa Trong
đó, 11.350 ha (51,1%) thuộc tỉnh Ninh Bình, 5.850ha (26,4%) thuộc tỉnh Hòa Bình
và 5.000ha (22,5%) thuộc tỉnh Thanh Hóa
Phía Đông Bắc giáp với xã Tân Mỹ, Ân Nghĩa, Yên Nghiệp của huyện Lạc Sơn và các xã Lạc Thịnh, Hàng Trạm (thị trấn), Phú Lai, Yên Trị, Ngọc Lương của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
Phía Tây Nam giáp với các xã Thạch Lâm, Thành Mỹ, Thành Yên của huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
Phía Đông Nam giáp với xã Kỳ Phú, Cúc Phương, Văn Phương và Yên Quang của huyện Nho Quan của tỉnh Ninh Bình [21] (xem Bản đồ 2.1và 2.2)
Trang 29BẢN ĐỒ 2.1 VỊ TRÍ VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG TRONG HỆ THỐNG CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VIỆT NAM
(Nguồn: Cục Kiểm lâm Việt Nam, 2006)
Trang 302.1.2 Địa chất, Địa hình, Thổ nhưỡng
Địa chất
Cúc Phương nằm trong vùng đất được hình thành do chuyển động tạo sơn Kimeri (cuối kỷ Jura đầu kỷ Bạch phấn) Theo Bản đồ Địa chất Việt Nam, tỷ lệ 1/500.000 thì Cúc Phương thuộc phức hệ đá vôi Triat trung, bậc Ladoni, tầng Đồng Giao Đây là một phần đất cổ có lịch sử cấu tạo địa chất và hình thành tương đối lâu đời gắn chặt với khu vực đá vôi Tây Bắc Việt Nam và có dạng địa mạo đặc biệt là Karst nửa che phủ
Khu vực Cúc Phương chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ các loại đá khác như: sét, diệp thạch sét, Acgrilit, Alerolit và sa thạch chúng có cấu tạo xen kẽ rất phức tạp Nhìn chung, Cúc Phương có lịch sử địa chất rất cổ xưa, là cơ sở cho việc hình thành lớp đất dầy và rất thuận lợi cho sự phát triển của hệ thực vật [21]
Địa hình
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm ở phần cuối của dãy núi đá vôi từ Tây Bắc kéo xuống Xen kẽ giữa các núi đá vôi là núi đất và thung lũng đất; ba phần tư diện tích Cúc Phương là núi đá vôi, có độ cao tuyệt đối trung bình khoảng từ 300 - 400m
Đỉnh cao nhất là đỉnh núi Mây Bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc và thấp dần
về hai phía Tây Nam và Đông Nam Cúc Phương nằm vào dạng địa hình Karst nửa che phủ Khác biệt với địa hình Karst che phủ Đồng Giao và Karst trọc Gia Khánh, Cúc Phương nằm trọn vẹn trong cảnh địa lý đối Karst xâm thực [21] [xem Bản đồ 2.2 và Bản đồ 2.3 (ảnh vệ tinh địa hình và thảm thực vật)]
Trang 31Thổ nhưỡng
Đất Cúc Phương gồm hai nhóm chính:
Nhóm A: Đất phát triển trên đá vôi hoặc trên sản phẩm chịu ảnh hưởng nhiều
của nước Cacbonat Trong nhóm này bao gồm 4 loại chính và 10 loại phụ, đó là:
Loại 1: Đất Renzin mầu đen trên đá vôi với 2 loại phụ: đen và nâu đen
Loại 2: Đất Renzin mầu xám vàng trên đá vôi với 4 loại phụ: đá vôi, đá vôi sét
hóa, đá vôi dăm kết và đá vôi Dolomit
Loại 3: Đất Renzin mầu vàng đỏ trên đá vôi với 2 loại phụ: vàng nâu, vàng đỏ
Loại 4: Đất Macgalit - Feralit vàng xám với 2 loại phụ: sa thạch và sản phẩm
trong vôi
Nhóm B: Đất phát triển trên đá sét và sản phẩm dốc tụ đá sét không vôi hoặc
trên sản phẩm ít chịu ảnh hưởng nhiều của nước Cacbonat Trong nhóm này có 3
Loại 3: Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên diệp thạch sét với 2 loại phụ: diệp
thạch sét và diệp thạch Sirexit hay Chlorit
Dựa vào kết quả phân tích có thể nhận xét về đất Cúc Phương như sau
Đất tơi xốp, với độ xốp khá cao (60-65%)
Trang 32Thổ nhưỡng
Đất Cúc Phương gồm hai nhóm chính:
Nhóm A: Đất phát triển trên đá vôi hoặc trên sản phẩm chịu ảnh hưởng nhiều của
nước Cacbonat Trong nhóm này bao gồm 4 loại chính và 10 loại phụ, đó là:
Loại 1: Đất Renzin mầu đen trên đá vôi với 2 loại phụ: đen và nâu đen
Loại 2: Đất Renzin mầu xám vàng trên đá vôi với 4 loại phụ: đá vôi, đá vôi sét hóa, đá vôi dăm kết và đá vôi Dolomit
Loại 3: Đất Renzin mầu vàng đỏ trên đá vôi với 2 loại phụ: vàng nâu, vàng đỏ
Loại 4: Đất Macgalit - Feralit vàng xám với 2 loại phụ: sa thạch và sản phẩm trong vôi
Nhóm B: Đất phát triển trên đá sét và sản phẩm dốc tụ đá sét không vôi hoặc trên
sản phẩm ít chịu ảnh hưởng nhiều của nước Cacbonat Trong nhóm này có 3 loại chính và 6 loại phụ, đó là:
Loại 1: Đất Feralit vàng phát triển trên sa thạch với 2 loại phụ: sa thạch và Alerolit
Loại 2: Đất Feralit vàng (nâu, xám, tím) phát triển trên Azgilit với 2 loại phụ: tím xám và vàng nâu
Loại 3: Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên diệp thạch sét với 2 loại phụ: diệp thạch sét và diệp thạch Sirexit hay Chlorit
Dựa vào kết quả phân tích có thể nhận xét về đất Cúc Phương như sau:
Tơi xốp, với độ xốp khá cao (60-65%)
Hàm lượng mùn lớn và thấm sâu (4 -5%)
Khả năng hấp thụ khá
Thành phần cơ giới trung bình
“Đất Cúc Phương nói chung là tốt, có thể nói là hiếm, có giá trị, rất xứng đáng với địa vị thảm thực vật rừng che phủ trên nó mà mọi người ca ngợi”
(Nguyễn Xuân Quát, 1971) [21]
Trang 332.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Chế độ nhiệt
Kết quả quan trắc 15 năm của Trạm Khí tượng Bống, cho thấy nhiệt độ trung bình năm là 20,60C Năm 1966 nhiệt độ bình quân năm lớn nhất là 21,20C Năm
1971, nhiệt độ bình quân năm thấp nhất là 19,90C Như vậy, chênh lệch giữa nhiệt
độ bình quân chung so với nhiệt độ bình quân năm cao và năm thấp chỉ khoảng 10C (0,60C và 0,70C) Nhiệt độ bình quân năm tương đối ổn định là một thuận lợi cho sự phát triển của hệ thực vật ở đây
Tuy nhiên, do địa hình núi đá vôi nên nhiệt độ cực hạn ở đây có thể biến động rất lớn, có năm rất lạnh nhưng chỉ kéo dài 4-5 ngày hoặc rất nóng cũng chỉ từ 1-2 ngày Trong 15 năm quan trắc tại Trạm Khí tượng Trung tâm Vườn (đặt tại Bống), thì nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 0,70C (18/1/1967) và nhiệt độ tối cao tuyệt đối
là 39,50C (20/7/1979)
Chế độ nhiệt ở Cúc Phương chịu ảnh hưởng của độ cao và thảm thực vật rừng Điều đó được thể hiện từ số liệu quan trắc của 3 trạm khí tượng như sau:
Ở Trạm Bống, là trung tâm rừng nguyên sinh có độ cao so với mặt biển từ
300 - 400m, thảm thực vật rừng tươi tốt, nhiệt độ bình quân năm là 20,60C
Ở Trạm Đang, nằm ở vùng rừng thứ sinh, rừng có chất lượng xấu, một số
đã bị khai thác chọn hoặc làm nương rẫy Độ cao so với mặt biển 200-250m Nhiệt độ bình quân năm 21,80C, cao hơn ở Bống 1,20C
Ở Trạm Nho Quan, nằm ngoài ranh giới Vườn, cách trung tâm Vườn 20
km, ở đây không có rừng, độ cao so với mặt biển là 20m, nhiệt độ bình quân năm là 22,70C, cao hơn nhiệt độ bình quân của Bống 2,10C và cao hơn nhiệt
độ bình quân của Đang 0,90C
Lượng mưa bình quân năm của Cúc Phương biến động từ 1.800mm đến 2.400mm, bình quân năm là 2.138mm/năm Đó là lượng mưa tương đối lớn so với vùng xung quanh
Nếu tính tháng có lượng mưa từ 100mm là tháng mưa thì ở đây có tới 8 tháng và mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11 Tháng có lượng mưa lớn
Trang 34nhất là tháng 9 tới 410,9mm; trong khi đó các tháng 12; 1; 2 và 3 lượng mưa chưa được 50mm
Mặc dù mùa khô ở Cúc Phương chỉ có 4 tháng nhưng phân biệt rất rõ với mùa mưa Mưa ít cộng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu ở Cúc Phương tương
đối khắc nghiệt về mùa đông [21]
Độ ẩm không khí
Độ ẩm tương đối không khí trung bình năm ở Cúc Phương là 90% và tương đối đều trong năm, tháng thấp nhất không dưới 88% Trong khi đó độ ẩm tuyệt đối biến thiên giống như nhiệt độ trong không khí
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực Trung tâm Bống,Vườn Quốc gia Cúc Phương (Số liệu tổng hợp trong 15 năm quan trắc từ 1965-1979 Nguồn Trạm
Nghiên cứu Khoa học, Vườn Quốc gia Cúc Phương)
Tháng Nhiệt độ (0 0 C) Lượng mưa (mm) Độ ẩm (%)
Trang 35Kết quả nghiên cứu khí hậu tập hợp trong Bảng 2.1 phía trên và được vẽ thành biểu đồ dưới đây theo phương pháp Gaussen-Walter, để thấy được mức độ biến động về các nhân tố thời tiết
sâu vào rừng bị thay đổi hướng rất nhiều và tốc độ gió thường là 1-2m/s [21]
Thủy văn
Do ở Cúc Phương là địa hình Karst nên ở đây có ít dòng chảy, ngoại trừ sông Bưởi và sông Ngang ở phía Bắc có nước quanh năm, còn lại là các khe suối cạn có nước theo mùa Sau các cơn mưa, khe khô dẫn nước vào lỗ hút, chảy ngầm rồi phun
ra ở một số vó nước Chỗ nào nước không thoát kịp thì ứ đọng lại, gây nên ngập úng tạm thời [21]
Trang 362.1.4 Tài nguyên động thực vật rừng
Hệ thực vật
Vườn Quốc gia Cúc Phương có 20.473ha rừng trong tổng số diện tích 22.200ha (chiếm 92,2%) Thảm thực vật ở đây là rừng mưa nhiệt đới thường
xanh Theo Thái Văn Trừng (1976) [58] rừng Cúc Phương thuộc loại rừng kín
thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Cúc Phương là nơi rất đa dạng về cấu trúc tổ thành loài trong hệ thực vật Với diện tích chỉ có 0,07% so với cả nước, nhưng lại có số họ thực vật chiếm tới 57,93%; số chi chiếm 36,09% và số loài chiếm 17,27% trong tổng số
họ, chi và loài của cả nước
Cúc Phương là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật di cư cùng sống với nhiều loài bản địa Đại diện cho thành phần bản địa là các loài trong họ Long não
(Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Xoan (Meliaceae) Đại diện cho luồng
di cư từ phương Nam ấm áp là các loài trong họ Dầu (Dipterocarpaceae) Đại diện cho luồng thực vật có nguồn gốc từ phương Bắc là các loài trong họ Dẻ (Fagaceae)
Cúc Phương còn diện tích rừng nguyên sinh đáng kể, chủ yếu tập trung trên vùng núi đá vôi và ở các thung lũng trung tâm Vườn Chính do vị trí đặc biệt nên đã dẫn đến kết cấu tổ thành loài thực vật của rừng Cúc Phương rất phong phú
Kết quả điều tra những năm gần đây (2001), đã thống kê được 2.103 loài thuộc 917 chi, 231 họ của 7 ngành thực vật bậc cao Trong đó có rất nhiều loài có giá trị: 430 loài cây thuốc, 229 loài cây ăn được, 240 loài cây có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh nhuộm, 137 loài cho tanin , 118 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2000 và IUCN năm 2004 [21] (xem chi tiết trong Bảng 2.2 và Bảng 2.3 dưới đây)
Trang 37Bảng 2.2 Thống kê số lượng taxon trong các ngành thực vật bậc cao ở Cúc Phương (Nguồn Trạm Nghiên cứu Khoa học, Vườn Quốc gia Cúc Phương)
Bảng 2.3 Thống kê một số họ thực vật có số loài lớn nhất ở Cúc Phương
(Nguồn Trạm Nghiên cứu Khoa học, Vườn Quốc gia Cúc Phương)
Trang 38Hệ động vật
- Khu hệ động vật có xương sống ở Cúc Phương cũng rất phong phú và đa dạng Kết quả điều tra năm 2001 đã thống kê được: 89 loài thú, 307 loài chim, 67 loài bò sát, 43 loài ếch nhái, 65 loài cá [21], [36]
- Khu hệ động vật không xương sống Cúc Phương lại càng phong phú và đa dạng Trong giai đoạn từ 2000-2006 đã thu thập được khoảng 7.400 mẫu động vật không xương sống bao gồm 1.670 loài và dạng loài côn trùng, 14 loài giáp xác, 18 loài và dạng loài đa túc, 16 loài hình nhện, 52 loài và dạng loài giun đốt, 129 loài và dạng loài nhuyễn thể và rất nhiều loài động vật bậc thấp khác [21], [36], [37], [38], [39]
2.1.5 Điều kiện xã hội
Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập theo Quyết định số 72/TTg ngày
7 tháng 7 năm 1962 của Thủ tướng Chính phủ, với 3 nhiệm vụ chính:
Bảo tồn nguyên vẹn tài nguyên rừng hiện có
Tổ chức dịch vụ đón tiếp khách tham quan du lịch, học tập và nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu khoa học
Cúc Phương được ví như “Một ốc đảo xanh” nằm giữa “biển người” Trải dài trên địa phận 15 xã thuộc 4 huyện của 3 tỉnh, với số dân gần 70.000 người, chủ yếu là dân tộc Mường, mật độ dân số bình quân là 138 người/km2 Trong đó 4 xã có dân nằm trong ranh giới của Vườn là: Xã Cúc Phương thuộc huyện Nho Quan - Ninh Bình, xã Thạch Lâm thuộc huyện Thạch Thành - Thanh Hóa, xã Ân Nghĩa
và Yên Nghiệp thuộc huyện Lạc Sơn - Hòa Bình
Những hạn chế của cộng đồng dân cư quanh Vườn Quốc gia Cúc Phương:
- Trình độ dân trí thấp, còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu; nhận thức và sự hiểu biết về công tác bảo vệ môi trường thiên nhiên còn hạn chế
- Kinh tế địa phương chủ yếu dựa vào nông nghiệp, còn trong tình trạng nghèo phụ thuộc lớn vào tài nguyên thiên nhiên
- Cơ sở hạ tầng và giao thông còn trong tình trạng kém phát triển
Trang 39- Đất sản xuất ít, năng suất cây trồng thấp không bù đắp được với tốc độ tăng dân số Hơn nữa cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và một phần lâm sản
- Ngoài việc phát rừng làm nương rẫy, tình trạng chặt xẻ, săn bắt chim thú, chăn thả gia súc bừa bãi vẫn còn xảy ra, đây là những nhân tố gây áp lực lớn, đe dọa hủy hoại tài nguyên rừng
Trước tình hình đó Vườn Quốc gia Cúc Phương đã và đang nỗ lực di dời dân
cư sống bên trong khu vực Vườn ra khỏi phạm vi ranh giới của Vườn, kết hợp với việc đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục bảo tồn, nâng cao trình độ nhận thức của người dân về vai trò của rừng với nhiều hình thức: Tranh ảnh, sách báo, áp phích, tranh cổ động Đồng thời với việc làm đó Vườn còn tích cực thu hút các dự
án trong nước và quốc tế để giải quyết các vấn đề vùng đệm như chuyển đổi, thay thế tập quán canh tác cũ sang phương thức canh tác mới-nông lâm kết hợp, tận dụng
gỗ củi…
Một số dự án và hoạt động nhằm cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân đã được Vườn hợp tác với các tổ chức quốc tế triển khai trong thời gian gần đây, đó là:
Dự án đầu tư phát triển nghề nuôi ong mật do Công ty Ong Việt Nam và Tổ chức Hỗ trợ phát triển Đức tài trợ tại xã Cúc Phương
Dự án nghiên cứu kinh tế xã hội và việc sử dụng tài nguyên rừng Cúc Phương của dân cư sống trên vùng đệm do Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật hoang dã quốc tế (Fauna and Flora International) tài trợ
Dự án trồng rừng 327 trước đây và 661 hiện nay đang thực hiện ở các xã trong vùng đệm đã tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân tăng thu nhập cải thiện đời sống
Hoạt động tổ chức dịch vụ tham quan du lịch, giải trí và học tập tại Vườn Hàng năm, Cúc Phương đón tiếp khoảng 50.000 đến 60.000 khách tham quan
du lịch, thực tập, nghiên cứu khoa học Đây là một nguồn thu không nhỏ cho Vườn và là điều kiện tốt để tuyên truyền giáo dục môi trường được cho nhiều
Trang 40người cùng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam nói chung và của Cúc Phương nói riêng
Sau gần 50 năm xây dựng và phát triển, Vườn Quốc gia Cúc Phương đã đạt được nhiều thành tích to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao đã được Đảng và Nhà nước, ngành Lâm nghiệp công nhận [21], [65]
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là các loài động vật có xương sống thuộc 5 lớp động vật bậc cao là: Thú, Chim, Bò sát, Lưỡng cư và Cá sống trong rừng tự nhiên Vườn Quốc gia Cúc Phương; tiêu bản các loài động vật trên thu thập được tại Cúc Phương hiện đang lưu trữ tại Bảo tàng Khoa học Vườn Quốc gia Cúc Phương và các bảo tàng khác như: Đại học Khoa học Tự nhiên-Đại học Quốc gia
Hà Nội, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Đại học Lâm nghiệp…
2.2.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng danh lục các loài động vật có xương sống và đánh giá tính đa dạng
sinh học khu hệ động vật này ở Vườn Quốc gia Cúc Phương
Đánh giá sự phân bố của các loài trên trong khu vực nghiên cứu
Đánh giá tình trạng bảo tồn của một số loài động vật có xương sống quan trọng
(loài bị đe dọa) tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo tồn khu hệ động vật có xương sống tập
trung vào các loài quan trọng bị đe dọa tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
2.2.3 Nội dung nghiên cứu
Thu thập các tài liệu đã nghiên cứu về động vật có xương sống ở Vườn Quốc gia Cúc Phương và các khu vực liên quan ở Việt Nam