1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)

82 525 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 3,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS KIM NGỌC THU TRANG

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Hoạt động kinh tế, văn hóa

của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015” dưới sự hướng dẫn của TS Kim Ngọc Thu Trang là kết quả

nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực chưa được công bố

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Layphone PHANMAHESACK

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5.Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục luận văn 7

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH KHĂM MUỘN (LÀO) VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI KHĂM MUỘN 8

1.1.Khái quát về tỉnh Khăm Muộn 8

1.1.1 Lịch sử hành chính 8

1.1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 9

1.1.3 Các thành phần dân tộc và đơn vị hành chính 11

1.2 Quá trình người Việt đến Lào và định cư tại tỉnh Khăm Muộn 11

1.2.1 Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn 12

1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc 14

1.2.3 Thời kỳ sau Pháp thuộc 16

1.2.4 Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế 17

1.3 Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng ng ười Việt Nam 19

Kết luận chương 1 23

Chương 2:HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦACỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TỈNH KHĂM MUỘN TỪ NĂM 1947 ĐẾN NĂM 2015 24

Trang 4

2.1 Nông nghiệp, thủ công nghiệp , công nghiê ̣p 24

2.1.1 Nông nghiệp 24

2.1.2 Thủ công nghiệp 25

2.1.3 Công nghiệp 26

2.2 Thương mại và dịch vụ 28

2.2.1 Thương mại 28

2.2.2 Dịch vụ 29

Chương 3: HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TỈNH KHĂM MUỘN TỪ NĂM 1947 ĐẾN NĂM 2015 36

3.1 Văn hóa vật chất 36

3.1.1 Ẩm thực 36

3.1.2 Trang phục 37

3.1.3 Nhà ở 40

3.2 Văn hóa tinh thần 41

3.2.1 Giáo dục bảo tồn bản sắc ngôn ngữ Việt 41

3.2.2 Hôn nhân và gia đình 46

3.2.3 Tang ma 52

3.2.4 Tôn giáo, tín ngưỡng 57

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lào là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, có lịch sử và văn hóa lâu đời, có truyền thống yêu nước sâu sắc và tinh thần đoàn kết với các nước trong khu vực cũng như các nước yêu hòa bình trên thế giới

Với 2.067 km đường biên giới chung, Việt Nam - Lào là hai nước láng giềng anh em gần gũi, có mối quan hệ chặt chẽ nhiều mặt trong quá khứ cũng như trong hiện tại, có nhiều nét tương đồng về điều kiện tự nhiên và văn hóa Nhân dân hai nước có truyền thống đoàn kết hữu nghị lâu đời Trong tiến trình phát triển lịch sử, một bộ phận người Việt Nam đã di cư tới Lào làm ăn sinh sống Sự thân thiết, tính cởi mở của người Lào đã tạo điều kiện cho bộ phận cư dân người Việt hội nhập và trở thành một bộ phận của xã hội Lào Cùng với người Lào, người Việt đã đóng góp nhiều mặt cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ

và phát triển đất nước Lào Đồng thời, họ cũng đóng vai trò quan trọng, là cầu nối thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị Việt – Lào ngày càng tốt đẹp hơn

Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ anh dũng của nhân dân Việt Nam

và Lào giành thắng lợi trọn vẹn Việt Nam và Lào bước vào thời kì xây dựng

và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phù hợp với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Lào thực hiện chính sách mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện cho nước ngoài vào đầu tư tại Lào Trong bối cảnh đó, Lào đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ từ Việt Nam Người Việt đến Lào, làm ăn và sinh sống bằng nhiều

nghề khác nhau từ Bắc Lào đến Nam Lào Có thể nói rằng: “Bất cứ tỉnh nào ở Lào đều nhìn thấy bạn Việt Nam”

Khăm Muộn là một tỉnh nằm ở Trung Lào và là nơi có khá đông người Việt cư trú, có những gia đình người Việt đã trải qua bảy thế hệ sinh sống tại đây Vì thế, Lào đã trở thành tổ quốc thứ hai của họ Trong quá trình cộng cư ở

Trang 6

Lào, người Việt đã tạo nên một cộng đồng với hoạt động kinh tế - văn hóa mang những nét đặc trưng riêng

Hiện nay, giới khoa học nghiên cứu về Lào chủ yếu quan tâm đến lịch sử đấu tranh giành độc lập hoặc chú trọng đến mối quan hệ ngoại giao Việt – Lào trong lịch sử, những nghiên cứu về hoạt động kinh tế - văn hóa của người Việt tại Lào và giao thoa văn hóa Việt – Lào nói chung, ở tỉnh Khăm Muộn nói riêng còn ít được quan tâm nghiên cứu Vì vậy , việc nghiên cứu về hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm

1947 đến năm 2015 không chỉ làm rõ về quá trình di cư và hình thành cộng đồng người Việt ở Khăm Muộn (Lào) mà quan trọng hơn là đi sâu nghiên cứu

về hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt tại đây, góp phần làm rõ sự giao thoa văn hóa Việt – Lào, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm mang tính chất tham khảo nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác Việt – Lào ngày càng bền vững hơn

Những vấn đề đặt ra trên đây là cơ sở để chúng tôi chọn “Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với hi vọng sẽ

góp phần làm sáng tỏ những khía cạnh đặt ra ở trên

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề người Việt và hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt tại Lào

đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, ở những mức độ và khía cạnh khác nhau

2.1 Các tác giả Việt Nam

Với tư cách là nước láng giềng gần gũi , các nhà khoa học Việt Nam đã

có những công trình nghiên cứu về Lào nhiều phương diện Tuy nhiên, số lượng các công trình nói chung chưa nhiều và cho đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào về hoạt động kinh tế - văn hóa của cộng đồng người Việt

Trang 7

tại tỉnh Khăm Muộn từ năm 1947 đến năm 2015 Có thể dẫn ra đây một số tác giả và công trình tiêu biểu như:

Công trình “Nhiệm vụ đường lối và phương châm của tổ chức cách

mạng Việt kiều từ năm 1945 đến năm 1976” của Ban Đông Nam Á, xuất bản

năm 1976 đã tập trung trình bày về các nhiệm vụ, đường lối và phương châm của tổ chức cách mạng Việt kiều từ năm 1945 đến năm 1976

Công trình “Về lịch sử - văn hóa ba nước Đông Dương” của Viện nghiên

cứu Đông Nam Á xuất bản năm 1983 đã trình bày về quá trình và đặc điểm lịch sử, văn hóa của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; Những điểm tương đồng và dị biệt về văn hóa giữa ba nước Công trình là một tài liệu có giá trị, đem lại cái nhìn tổng quát khi nghiên cứu về lịch sử, văn hóa ba nước Đông Dương

Cuốn “Người Viê ̣t ở Thái Lan – Campuchia - Lào” do PGS.TS Nguyễn

Quốc Lô ̣ chủ biên , Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006 đã trình bày mô ̣t cách khái quát về sự xuất hiê ̣n của người Viê ̣t ta ̣i Thái Lan , Campuchia, Lào qua các thời kì lịch sử , những đóng góp thiết thực của Việt kiều trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tô ̣c và trong hai cuô ̣c kháng chiến chống Pháp , chống Mĩ cứu nước Đồng thời , tác giả còn đề cập đến các hoạt động kinh tế và việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Cuốn sách “Vai trò của cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào” của tác giả Phạm Đức Thành được Nhà xuất bản Khoa học Xã

hội xuất bản năm 2008 đã trình bày về quá trình nhập cư của người Việt vào Lào trong quá khứ và vai trò của Việt kiều với mối quan hệ Việt – Lào

Trong cuốn “Di cư và chuyển đổi lối sống - Trường hợp cộng đồng người Việt tại Lào” được Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2008, tác giả

Nguyễn Duy Thiệu đã đi sâu nghiên cứu về quá trình di cư của người Việt đến Lào trong quá khứ, sự thay đổi trong quá trình cộng cư và lối sống hòa đồng của người Việt tại Lào Đồng thời, nêu lên các chủ trương, đường lối chính

Trang 8

sách của chính phủ Lào đối với người Việt, từ đó, rút ra những nhận xét khái quát của tác giả về cộng đồng người Việt tại Lào

Đề tài cấp viện “Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao

thoa văn hóa Việt Lào ” của tác giảPhạm Thị Mùi đã khái quát vài nét về người

Việt ở Lào với những thay đổi trong tôn giáo, tín ngưỡng, xã hội Đồng thời, trình bày tương đối đ ầy đủ và khoa học về nghi lễ vòng đời, nghi lễ liên quan đến sinh đẻ của người Việt ở Lào, bảo lưu và hội nhập trong mối tương quan so sánh với người Lào và người Việt ở Việt Nam

Liên quan đến đề tài luận văn nghiên cứu còn các bài báo viết về người

Việt đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước như: “Cộng đồng người Việt ở Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc” của tác giả Nguyễn Duy Thiệu in trên Tạp chí Đông Nam Á số 2(2007); “Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào” của tác giả Vũ Thị Vân Anh, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,

Bài báo: “Tiếp xúc giao lưu và chuyển đổi bản sắc tộc người trong nhóm hôn nhân hỗn hợp Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào ” của tác giả Xomthon

Yerlobliayao đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, 2007 đã trình bày

đặc điểm tình trạng hôn nhân giữa người Lào và người Việt Nam; Những kết

Trang 9

quả điều tra về vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng Lào; Những chuyển đổi về mặt văn hóa - xã hội trong nhóm hôn nhân hỗn hợp Lào - Việt Nam, Việt Nam

- Lào

Năm 2015, Nhà xuất bản Nhà nước Lào đã xuất bản cuốn: “Lịch sử tỉnh Khăm Muộn (Lãnh tổ văn minh quốc gia SIKHOTTABONG cổ xưa)” của Ủy ban nghiên cứu, biên soạn và viết lịch sử tỉnh Khăm Muộn Cuốn sách đã trình bày về tỉnh Khăm Muộn từ thời quá khứ đến 2015 về: Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Khăm Muộn

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu người Lào, người Việt đã đạt được nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu về lịch sử Lào, Việt Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách cụ thể về hoạt động kinh tế - văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) còn đang là khoảng trống Vì vậy, tất cả những công trình kể trên đều là những nguồn tư liệu qúy giá, có ý nghĩa với tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

3 Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà Luận văn hướng tới là hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học về người Việt tại Lào, trong

đó trọng tâm là tìm hiểu hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn Để làm sáng tỏ nội dung Luận văn, chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu những vấn đề trọng yếu sau:

- Nguyên nhân và quá trình định cư của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn qua các thời kì li ̣ch sử

- Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn

Trang 10

- Hoạt động v ăn hóa của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn và giao thoa văn hóa Việt - Lào thể hiện qua tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, tập quán

- Rút ra các nhận xét, đánh giá chung về kinh tế, văn hóa của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn về không gian là tỉnh Khăm Muộn (Lào)

- Phạm vi thời gian mà Luận văn bao quát là từ năm 1947 đến năm 2015 Tuy nhiên, để có thể tìm hiểu được những nguyên nhân cũng như quá trình định cư của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn, chúng tôi phải mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu về trước năm 1947

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành Luận văn, chúng tôi dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu sau:

- Các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam và Lào trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… đặc biệt là trong thời kì lịch sử mà Luận văn hướng tới Ngoài ra, phải kể đến các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ,

cử nhân, các báo cáo trong các hội thảo, các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành Nguồn tài liệu này bao gồm cả tiếng Việt và tiếng Lào đã được dịch hoặc nguyên bản và được lưu giữ tại các trung tâm nghiên cứu và các thư viện lớn của Việt Nam (Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam )

- Tài liệu lưu trữ của Hội Người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn

- Tài liệu điền dã của tác giả đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, đề tài sử dụng hai phương pháp chính là

phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Đồng thời, để làm rõ các hoạt động

Trang 11

kinh tế - văn hóa của người Việt tại Khăm Muộn hiện nay, phương pháp điền

dã được chúng tôi chú ý vận dụng Ngoài ra, Luận văn còn vận dụng các phương pháp tổng hợp và phân tích, so sánh đối chiếu, phương pháp điều tra,

hệ thống hóa bằng bảng biếu, sơ đồ để Luận văn có cái nhìn tổng quát hơn

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống

về hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào)

- Luận văn có thể sử dụng như một công trình tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Đông Nam Á, lịch sử Lào, lịch sử văn hóa, tộc người

- Luận văn là cứ liệu lịch sử khẳng định quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào

trong quá khứ và hiện tại

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luâ ̣n , phụ lục, thư mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về tỉnh Khăm Muộn (Lào) và quá trình hình

thành cộng đồng người Việt Nam tại Khăm Muộn

Chương 2: Hoạt động kinh tế của cộng đồng người Việt Nam tại

tỉnh Khăm Muộn từ năm 1947 đến năm 2015

Chương 3: Hoạt động văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại

tỉnh Khăm Muộn từ năm 1947 đến năm 2015

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH KHĂM MUỘN (LÀO) VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI KHĂM MUỘN

1.1 Khái quát về tỉnh Khăm Muộn

1.1.1 Lịch sử hình chính

Tỉnh Khăm Muộn hiện nay, xưa kia thuộc quốc gia Sikhottabong cổ, quốc gia Sikhottabong xuất hiện giữa thế kỷ I trước công nguyên [26, tr.52], nằm ở cửa sông Xê Bắng Phay cách sông Mê Kông 15km Từ thế kỷ VI đến VIII là thời kỳ phồn vinh của quốc gia Sikhottabong, đến thế kỷ IX - XII bị thống trị và chịu ảnh hưởng của Ganla - Khmer cổ đại (thế kỷ VI - VIII) và trong thời kỳ Ăng Co mở rộng quyền lực (thế kỷ IX - XIII) thống trị khoảng hơn 300 năm

Năm 1353, vua Fa Ngum Maharashtra đã thống nhất các tiểu vương

quốc, thành lập quốc gia Lan Xang (Triệu Voi) Vương quốc Lan Xang bước vào giai đoạn thịnh vượng ở các thế kỷ XV – XVII Vua Lan Xang chia đất nước thành các mường, đặt quan cai trị, xây dựng quân đội do nhà vua chỉ huy Sang thế kỷ XVIII, Lan Xang suy yếu dần vì những cuộc tranh chấp ngôi báu trong hoàng tộc Sau khi vua Xu-li-nha Vông-xa qua đời, nước Lan Xang bị chia cắt thành ba tiểu quốc đối nghịch nhau: Luông Pha – bang, Viêng Chăn và Chăm-pa-xắc Nhân cơ hội đó, Xiêm đã chiếm và cai trị Lào Năm 1827, Chậu

A Nụ đã phất cờ khởi nghĩa, chống ách thống trị của Xiêm, nhưng bị thất bại Lào tiếp tục là thuộc địa của Xiêm Tình trạng đó kéo dài đến khi thực dân Pháp xâm lược và biến Lào thành thuộc địa vào năm 1893 Đến năm 1899, Lào trở thành một xứ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp

Trải qua những năm tháng đấu tranh gian khổ, nhân dân Lào đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh bất khuất trên toàn lãnh thổ để chống lại ách nô dịch tàn bạo của thực dân Pháp, tiếp đó là đế quốc Mĩ Năm 1975, nước Lào hoàn toàn

Trang 13

giành được độc lập Ngày 2 tháng 12 năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chính thức được thành lập do Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch Theo quyết định của Chính phủ Lào, Khăm Muộn là một tỉnh của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

1.1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Khăm Muộn là một tỉnh nằm ở miền Trung nước Lào (vương quốc Viêng Chăn xưa) Tỉnh Khăm Muộn nằm trong khoảng giữa vĩ tuyến 16° 70’ - 18° 00’ độ

và giữa vĩ độ 104° đến 105° Phía Bắc giáp tỉnh Bo Lị Khăm Xay, phía Nam giáp tỉnh Savannakhet, phía Đông giáp Việt Nam với 237km đường biên giới, phía Tây giáp Thái Lan Tổng diện tích toàn tỉnh là 16.315 km2 [30, tr.1]

Địa hình của tỉnh Khăm Muộn tương đối phức tạp Các nhà khoa học đã chia tỉnh Khăm Muộn thành hai khu vực riêng biệt: khu vực miền núi và khu vực đồng bằng, trong đó diện tích khu vực đồng bằng chiếm 46,30%, khu vực miền núi chiếm 53,7% của diện tích tỉnh [30, tr.1]

Khăm Muộn có nhiều đỉnh núi cao, tiêu biểu là dãy núi Phu Luông (dãy núi Trường Sơn) với độ cao trung bình là 500 - 700 so với mực nước biển,

chiều dài khoảng 1.100 km (dài nhất Lào) được coi là “Nóc nhà”,“Xương sống” của bán đảo Đông Dương, nằm giữa ba quốc gia Lào, Việt Nam,

Campuchia với hai vùng chính là Bắc và Nam Trường Sơn

Rừng núi Khăm Muộn cung cấp cho cư dân địa phương nhiều lâm thổ sản quý như gỗ đinh, trai, nghiến, lát, nấm hương, mộc nhĩ … Đồng thời, còn là nơi sinh sống của nhiều loại muông thú như hổ, báo, gấu, sơn dương, hươu, nai, cầy hương, lợn rừng, khỉ, trăn …Theo thống kê chưa đầy đủ, ở Bắc Trường Sơn có khoảng 115 loài thú, 416 loài chim, 87 loài bò sát – lưỡng cư, 760 loài động vật có xương sống và khoảng 1.500 loài thực vật Đáng chú ý là 25 loài thú, 23 loài chim, 17 loài bò sát – lưỡng cư, 24 loài thực vật chỉ có ở Bắc Trường Sơn Ở Nam Trường Sơn có khoảng 3.600 thực vật, 119 loài thú, 375

Trang 14

loài chim, 172 loài bò sát – lưỡng cư Trong đó, có 38 loài động vật, 32 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm có nguy cơ bị tiệt chủng [30, tr.4]

Đất ở Khăm Muộn có nhiều loại, nhưng chủ yếu là đất đỏ bazan Ngoài

ra, còn có đất phù sa màu mỡ ven sông Mê Kông rất phù hợp cho việc sản xuất nông nghiệp, biến nơi đây thành vựa lúa của tỉnh Khăm Muộn

Khăm Muộn là nơi có dòng sông Mê Kông - một trong những con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông ở Việt Nam Ngoài sông Mê Kông , còn có sông Xê Bắng Phay, Hín Bun và nhiều suối lớn nhỏ rất đa dạng được đổ đều trên địa bàn tỉnh Các sông suối có vai trò rất lớn trong đời sống của người dân, cung cấp nguồn nước lớn với nguồn thủy sản dồi dào và đường giao thông thuận tiện Cư dân Khăm Muộn đã tận dụng những cánh đồng phù sa màu mỡ được sông Mê Kông bồi đắp để phát triển kinh tế nông nghiệp, sử dụng nguồn nước dồi dào để tưới tiêu, khai thác nguồn thủy sản của sông Mê Kông phục

vụ đời sống

Khăm Muộn nằm trong phạm vi của đới khí hậu gió mùa Nhiệt độ trung bình năm từ 240C đến 260C, tháng nóng nhất là tháng 4 và tháng 5 tháng lạnh nhất từ giữa tháng 11 đến tháng 1 Lượng mưa trung bình khoảng 1.234 mm/năm

Ngoài thuận lợi về giao thông đường thủy trên sông Mê Kông, Khăm Muộn còn có quốc lộ 13 Nam và quốc lộ 12 Lào nối Thà Khẹc với cửa khẩu Naphao - Cha Lo trên biên giới Việt - Lào và quốc lộ 12 Việt Nam, cầu Hữu nghị Thái - Lào III bắc qua sông Mê Kông, cách thị xã Thà Khẹc về phía Bắc sát quốc lộ 13 Nam sẽ giúp nối vùng Đông Bắc Thái Lan với Khăm Muộn

và Bắc Trung Bộ Việt Nam

Khăm Muộn rất phong phú về tài nguyên khoáng sản như: mỏ đá quý ở

huyện Xê Bắng Phay, mỏ chì ở huyện Hín Bún, mỏ muối ở huyện Nỏng Bốc,

Trang 15

mỏ thạch cao ở huyện Bua La Pha, mỏ đá vôi ở huyện Mạ Há Xay, mỏ muối

Ka Li ở huyện Nỏng Bốc, mỏ than đá ở Thà Khẹc, mỏ sắt ở huyện Hín Bún,

mỏ đất sét ở huyện Nỏng Bốc

Với điều kiện tự nhiên đặc thù của mình, Khăm Muộn có những thuận lợi để xây dựng một nền kinh tế phát triển toàn diện, bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp…

1.1.3 Các thành phần dân tộc và đơn vị hành chính

Qua thống kê mới nhất (năm 2014), Khăm Muộn có tổng dân số là

388.950 người, trong đó nữ 199.402 người chiếm 51,26% [42, tr.2], mật độ dân

số trung bình 22 - 23 người/km2, có 61.505 hộ gia đình Khăm Muộn có 9 dân tộc phân chia theo 3 nhóm ngôn ngữ như:

Nhóm ngôn ngữ Lào – Tày có dân tộc Lào, Phu Thay và Xẹc, có nhiều

trong khu vực huyện Thà khẹc, Nỏng Bốc, Hín Bún, Xê bắng Phay, Mạ Há Xay, Xay Bua Thong và Khun Khăm

Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me có dân tộc Mạ Kong, Nguộn, Ty và Ky

Các dân tộc này sinh sống trong khu vực huyện Bua La Pha, Nhôm Ma Lạt, Na kái và Xay Bua Thong

Nhóm ngôn ngữ Mông – Miến có dân tộc Mông sinh sống tại một số làng

1.2 Quá trình người Việt đến Lào và định cư tại tỉnh Khăm Muộn

Quá trình nhập cư của người Việt đến Lào là quá trình diễn ra lâu dài , gắn liền với quan hệ qua lại giữa hai nước Việt - Lào vốn được thiết lập từ xa xưa Từ quá khứ đến hiện tại, người Việt Nam tới Lào làm ăn, sinh sống diễn ra

Trang 16

thường xuyên Tuy nhiên, các đợt di cư của người Việt đến Lào đươ ̣c thúc đẩy bởi nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau , chủ yếu do hoàn cảnh và tình hình trong nước tác động

Quá trình di dân, nhập cư của người Việt đến Lào nói chung và tỉnh Khăm Muô ̣n nói riêng có thể chia thành 4 giai đoạn:

 Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn

 Thời kỳ Pháp thuộc

 Thời kỳ sau Pháp thuộc

 Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế

1.2.1 Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn

Trong lịch sử và thực tiễn, quá trình di dân của người Việt đến Lào bắt đầu diễn ra từ thời phong kiến nhà Nguyễn Người Việt Nam sang Lào để tránh

bị đàn áp vì chính sách “Bình Tây, sát Đạo” và “Đói kém, thiên tai, sưu cao thế nặng” của chính quyền nhà Nguyễn Đây có thể coi như giai đoạn đầu tiên của

quá trình di dân lâu dài, tạo thành các cộng đồng người Việt ở Lào

Chính sách của triều Nguyễn lên đến đỉnh điểm của sự hà khắc vào thời vua Tự Đức (1823 - 1883) Các đạo dụ cấm đạo Thiên chúa ban hành vào các năm 1848, 1851 và tháng 7 năm 1857 với quy định nghiêm khắc như buộc đá vào cổ rồi ném xuống biển những người giảng đạo, thích chữ vào mặt rồi đầy

đi nơi rừng sâu nước độc, phanh thây những người không chịu bỏ đạo hoặc chứa chấp giáo sỹ nước ngoài đã dẫn đến cả một phong trào cấm đạo, giết đạo trên khắp cả nước, nhiều linh mục bị sát hại, nhiều nhà thờ và các xóm đạo

bị đốt phá Chính sách cấm đạo dưới triều Nguyễn đã buộc nhiều người Công giáo phải bỏ làng xóm ra đi để giữ đạo Họ chủ yếu từ các làng đạo miền Bắc

và Trung Bộ chạy sang các nước láng giềng gần như Lào và Thái Vì vậy, nhiều nhà thờ hiện nay ở Lào và Thái là do các giáo dân và giáo sỹ người Việt

Trang 17

góp sức dựng nên, điển hình ở Trung và Nam Lào với các nhà thờ ở Thà Khẹc (Khăm Muộn), ở Savannakhet và ở Pắc Sê (Chămpasắc)

Cùng với nguyên nhân về tôn giáo, thiên tai, mất mùa, đói kém và sưu cao thuế nặng cũng là những nguyên nhân buộc người Việt phải bỏ quê hương

di cư sang Lào Dưới ảnh hưởng các chính sách của triều Nguyễn , đời sống người dân cơ cực vì chế độ t ô thuế, lao dịch, bệnh dịch nặng nề Thêm vào đó , hạn hán, lụt lội thường xuyên diễn ra dẫn đến mất mùa , đói kém, bệnh tật liên miên đã xô đẩy hàng ngàn, hàng vạn gia đình nông dân phải rời bỏ quê hương

đi lưu vong, phiêu tán Nạn phiêu tán trở thành hiện tượng phổ biến, thường xuyên, nhất là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ trong ba thập niên cuối thế kỷ XIX Nhiều người trong số đó đã di cư sang Lào, sống tập trung ở miền Trung và Nam Lào [18, tr.53 - 61]

Mặt khác, việc di cư của người Việt còn diễn ra trong bối cảnh xã hội rối ren với hàng loạt các cuộc nổi dậy chống triều đình và khởi nghĩa nông dân

Thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX là thời kỳ “rối ren thường xuyên, trên khắp nước” Đến thế kỷ XIX, sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng

thực dân Pháp năm 1883 thì các phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổ ra khắp nơi, tiêu biểu là Phong trào Cần Vương Phong trào thất bại khi vua Hàm Nghi

bị bắt, một số người ủng hộ vua Hàm Nghi chống Pháp phải chạy sang Lào lánh nạn để tránh sự tàn sát, truy đuổi gắt gao của Pháp Những người này sinh

sống ở khu vực Xiêng Vang thuộc tỉnh Khăm Muộn (Lào) “Làng Xiêng Vang nằm ở trên địa phận huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn, được thành lập từ năm

1882 với 5 làng: Xiêng Vang Tạy, Xiêng Vang Huội, Xiêng Vang Cáng, Xiêng Vang Nứa và Xiêng Vang Hạt Dân làng thường gọi làng mình là Xiêng Vang Việt Lúc đầu, bản chỉ có 10 gia đình người Việt di cư đến cư trú, sinh sống và sáng lập ra làng Xiêng Vang, trong đó có thể kể đến những cư dân đầu tiên như ông Đặng Văn Phèn, ông Phồn, ông Lực Đây là những người ủng hộ phong trào Đông Du cụ Phan Bội Châu lãnh đạo , bị thực dân Pháp khủng bố

Trang 18

tàn khốc, họ đã di cư sang vùng đất này để nuôi chí cứu nước Đến năm 1945,

số người Việt ở đây đã lên hơn 500 hộ gia đình và sau này lúc cao nhất tới 600 gia đình với số dân hơn 5.000 người (những người đó chủ yếu từ Quảng Bình sang đây), những người Lào gốc Việt ở Xiêng Vang cùng người dân Lào đã cùng nhau trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, cùng chịu gian khổ và tích cực tham gia cách mạng, chống lại ách thống trị dã man của thực dân Pháp , người dân nơi đây đoàn kết , cần cù, chịu khó , chăm chỉ làm ăn , cùng chung mọi sinh hoạt văn hóa cộng đồng ”

1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc

Các tài liệu lịch sử cho thấy, người Việt Nam sang Lào làm ăn, cư trú và trở thành kiều dân chủ yếu diễn ra vào thế kỷ XIX Đặc biệt, từ năm 1899, khi nước Lào – xứ Ai Lao bị thực dân Pháp sáp nhập vào Liên bang Đông Dương thì việc đi lại của người dân giữa các xứ trong cùng Liên bang trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn là giữa các nước riêng biệt

Trong một thời kỳ dài từ năm 1858 đến năm 1896 , thực dân Pháp tiến hành xâm lược và bình định Đông Dương Từ năm 1897 đến những năm đầu thế kỷ XX , thực dân Pháp dưới thời Toàn quyền Paul Doumer (1897 – 1902)

tiến hành chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất với tên gọi “Chương trình khai thác lần thứ nhất” Những điểm chính trong công cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lúc đó là: “Xây dựng cho Đông Dương một hệ thống đường sắt , đường bộ, sông đào, bến cảng, những thứ cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương…” và “Đẩy mạnh sản xuất và thương mại bằng việc phát triển công cuộc thực đân của người Pháp và lao động của người bản xứ…” Vì vậy, một

bộ phận người Việt được chính quyền thực dân đưa tới Lào để làm công chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa Một bộ phận khác đi làm cu li đồn điền và

phu “lục lộ”, mở những con đường chiến lược sang Lào như đường nối liền

Viêng Chăn – Hà Nội (đường số 6); Sài Gòn – Krachiê – Pắc Sê- Luông Pha Bang (đường số 13); Thà Khẹc – Hạ Lào (đường số 12); Luông Pha Bang –

Trang 19

Xiêng Khoảng – Phủ Diễn, Nghệ An (đường số 7); Vinh – Thà Khẹc (đường số 8), và đặc biệt là con đường số 9 nổi tiếng nối với Nam Lào từ Đông Hà , Quảng Trị sang Savannakhe ̣t

Sau Thế chiến I , từ năm 1919 trở đi, thực dân Pháp càng tích cực đẩy mạnh việc khai mỏ như các mỏ chì ở Phong Chiêu, Bộ Neng đồng thờ i mở rộng một số xí nghiệp nên một bộ phận người Việt bị đưa tới Lào làm phu mỏ

và làm “Cu li” công nhân để hoàn thành các công trình trong chính sách “Tích cực khai thác thuộc địa” ở toàn cõi Đông Dương

Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, quá trình di dân của người Việt đến Lào tiếp tục diễn ra Cuối năm 1945, thực dân Pháp chiếm lại một số vùng

ở Trung, Thượng Lào và các vùng đất ở Nam vĩ tuyến 16 Đến tháng 3 năm

1946, thực dân Pháp chiếm lại tỉnh Pắc Sê ở Hạ Lào rồi lần lượt tấn công chiếm các thành phố lớn Savannakhet, Thà Khẹc và Viêng Chăn Tại đây, thực dân Pháp đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của lực lượng vũ trang Lào phối hợp với lực lương vũ trang của Việt kiều Giải phóng quân Cuộc chiến diễn ra ác liệt, đặc biệt ở Trung Lào với trận chiến phòng thủ Thà Khẹc vào ngày 21/3/1946 Chỉ trong vòng một ngày, hơn 3.000 dân thường cả người Lào và Việt (trong đó phần lớn là Việt kiều) đã bị giết hại [32, tr.18] Do so sánh lực lượng bất lợi cho Liên quân Lào - Việt, Tổng Tư lệnh Liên quân Lào - Việt Hoàng thân Xuphanuvông buộc phải ra lệnh vừa chiến đấu vừa rút lui qua sông

Mê Kông sang Thái Lan Sau đó, phần lớn Việt kiều ở lại Thái hoặc tiếp tục sang định cư ở các nước khác, còn một phần quay trở lại Lào

Trong giai đoạn 1939 - 1942, số lượng người Việt Nam ở Lào ước tính khoảng 40.000 người, tập trung ở các trung tâm đô thị lớn như Viêng Chăn, Savanakhẹt, Thà Khẹc Sang đến những năm 50, tăng lên đến khoảng 50.000 người Tuy nhiên, sau những cuộc đàn áp của Pháp thì số lượng người Việt ở Lào giảm hẳn Khoảng hơn 80% tản cư và tị nạn sang Thái Lan qua sông Mê Kông, một số quay trở về Việt Nam, chỉ có số ít quay trở lại Lào nhưng cũng

Trang 20

không tạo được thành đa số áp đảo so với người Lào như trong những năm Pháp thuộc ở các trung tâm đô thị lớn nữa [18, tr.62 - 70]

Như vậy, hiện tượng di cư của người Việt đến Lào tăng theo thời gian từ khi vùng đất này là một xứ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp Đề cập tới vấn đề này, các nhà nghiên cứu đều đồng thuận trong quan điểm nhận

định rằng: “Người Việt đến Lào do lực đẩy chứ không phải do lực hút”[12, tr.9] Điều đó có nghĩa là quá trình di cư của người Viê ̣t đến Lào chính là hệ quả của chính sách cai trị và khai thác của thực dân Pháp

1.2.3 Thời kỳ sau Pháp thuộc

Sau khi Pháp rút khỏi Lào, Mỹ tiếp quản và bắt đầu viện trợ cho Chính phủ Lào để trả lương cho khoảng 12.800 - 15.000 nhân viên trong bộ máy quân

sự, cảnh sát và hành chính Mỹ giải thích cho việc viện trợ của họ là: “Chính phủ Lào không thể có đủ tiền để trả lương cho quân đội, cảnh sát, giáo viên và công chức dân sự Nước Mỹ quyết định giúp không phải thông qua việc trả cho những người này bằng tiền đô la nhưng thông qua việc đổi tiền đôla cho Chính phủ Lào theo đó Chính phủ Lào được viện trợ tiền Kíp với tỷ giá 35 Kíp một đô la”[18, tr.76] Việc này đã tạo ra sự hấp dẫn, thúc đẩy sự phát triển của thị

trường chợ đen buôn bán về đô la do mạng lưới buôn bán của người Hoa lũng đoạn Đây cũng là thời kỳ Hoa Kiều chiếm vị trí áp đảo, người Việt không còn giữ được vị trí như trước đây do số lượng giảm và thực lực về kinh tế không bằng người Hoa Có thể nói, đây là thời kỳ Chính phủ cầm quyền ở Lào phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ, vì thế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và ủng

hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam Đây cũng là thời kỳ ít có người Việt

di cư mới sang Lào

Sang đến những năm 60 - 70, khi miền Bắc Việt Nam đẩy mạnh quá trình thống nhất đất nước, việc tiếp tế cho miền Nam Việt Nam đánh Mỹ phụ thuộc nhiều vào đường mòn Hồ Chí Minh (một phần ở Lào) với những trận chiến khốc liệt giữa Liên quân Việt - Lào và Mỹ Do tính khốc liệt của chiến

Trang 21

tranh Việt Nam, một số người Việt đã chạy sang Lào, khi chiến tranh kết thúc

họ ở lại làm ăn, sinh sống tại Lào

1.2.4 Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế

Sau năm 1975, khi Mỹ rút khỏi Đông Dương, một số người Việt Nam do hoàn cảnh lịch sử hoặc do lo ngại chính quyền mới và những nguyên nhân về chính trị đã tới Lào định cư

Sau những thời kỳ chiến tranh, loạn lạc dưới chế độ thực dân Pháp và

Mỹ, khi Việt Nam tiến vào thời kỳ xây dựng đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, các đợt di dân của người Việt sang Lào cũng diễn ra với số lượng khá lớn Đầu tiên phải kể đến những người Việt theo sự điều động của Chính phủ Việt Nam đến giúp Lào xây dựng các công trình phát triển kinh tế xã hội , đặc biệt là xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở như làm đường giao thông , cầu cống, xây dựng các công trình thuỷ điện, nhà máy, xí nghiệp, nhà cao tầng… Khi công trình kết thúc, một bộ phận nhỏ công nhân không về quê mà tìm

cách sinh sống tại Lào Tiếp theo là những người “di cư tự do” đến Lào để tìm

kiếm công ăn việc làm theo mùa vụ, những người thuộc loại này đang ngày một gia tăng cùng với quá trình phát triển kinh tế của Lào

Đến giữa những năm 90, các thế hệ Việt kiều tại Lào đã tạo thành một cộng đồng khá đông đảo với gần 20.000 người sinh sống Ông Trần Văn Chương - Chủ tịch Hội Việt kiều Viêng Chăn tại Hội nghị Việt kiều Xuân Quý

Dậu (1993) đã phát biểu: “Gần 20 ngàn Việt kiều chúng tôi từ các miền quê

ra đi trong những năm tháng tối tăm dưới ách thực dân thuở trước trải qua những thời kỳ bị kìm kẹp của bộ máy thống trị … trong suốt chặng đường kháng chiến lâu dài đầy hy sinh gian khổ của hai dân tộc, cùng chiến đấu cùng giành thắng lợi Việt kiều chúng tôi đã không tiếc sức người, sức của và cả sự

hy sinh xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do của mỗi nước Việt kiều chúng tôi tự hào về sự đóng góp tích cực của mình, được nhân dân Lào mến yêu, chính quyền Lào ngợi khen Từ sau giải phóng, toàn thể Việt

Trang 22

kiều đùm bọc lẫn nhau làm ăn sinh sống, một lòng một dạ hướng về Tổ quốc thân yêu, gắn bó thuỷ chung với nhân dân Lào [1, tr.42]

Theo ước tính, hiện nay có khoảng 50.000 người Việt đang làm ăn, sinh sống tại Lào Tuy nhiên, số lượng này thay đổi thường xuyên vì có những bộ phận người Việt chỉ sang Lào làm ăn theo thời vụ rồi lại trở về Việt Nam, hoặc chuyển tới cư trú ở nước khác [20, tr.42 - 43] Phần lớn người Việt tập trung sống ở Thủ đô Viêng Chăn và các thành phố lớn như Champasack, Savannakhet, Khăm Muộn

Khăm Muô ̣n là mô ̣t trong những tỉnh có khá đông người Viê ̣t di cư đến

và sinh sống Bộ phận người Việt đến Khăm Muộn chủ yếu từ Quảng Bình , Hà Tĩnh, Nghệ An, Đồng Hới còn từ nơi khác rất í t Phần đông người Việt tại đây là những người sang cư trú chưa lâu hoặc sang làm ăn theo thời vụ Theo thống kê, hiện nay, số người Việt Nam mới sang Khăm Muộn làm ăn sinh sống mỗi năm luôn có sự thay đổi , cụ thể:

Bảng 1.1 Thống kê số người Việt Nam ta ̣i Khăm Muô ̣n (2010 – 2015)

Đơn vị : Người

Năm

Thống kê 5 năm 2010 - 2015 2010-2011 2011-2012 2012-2013 2013-2014 2014-2015

Nguồn: Thiếu tá Daohuoang THONGSAVANH [28]

Người Viê ̣t ta ̣i Khăm Muô ̣n đã thành lâ ̣p được tổ chức chung của mình - Hội người Việt Nam tỉnh Khăm Muộn Hô ̣i đươ ̣c thành lập cuối năm 1979 (Trước năm 1990 được gọi là Hội người Việt Kiều, sau năm 1990 đổi tên thành

Trang 23

Hội người Việt Nam) Hội người Việt Nam tỉnh Khăm Muộn là mái nhà chung của cộng đồng người Việt Dưới sự lãnh đạo và tổ chức của Hội, hội viên được thường xuyên tham gia những sinh hoạt xã hội mang tính dân tộc trong cộng đồng theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Lào; tham gia nhiều hoạt động xã hội tại địa phương cùng những người dân bản xứ như đám cưới, đám ma, lễ chùa Đặc biệt, Hội còn giúp cộng đồng nhận thức được nhiệm

vụ quan trọng của từng thành viên trong việc phát huy tình đoàn kết, giúp đỡ thương yêu nhau, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao tinh thần yêu nước và không ngừng hướng về quê hương[29, tr.2]

Như vâ ̣y, bằng nhiều con đường khác nhau , người Viê ̣t đã đến đi ̣nh cư ở Lào ngày một đông hơn Quá trình nhập cư diễn ra lâu dài suốt từ thời phong kiến nhà Nguyễn Chính những đợt nhập cư đó đã hình thành nên cộng đồng người Viê ̣t sinh sống trên đất Lào

1.3 Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng người Việt

Chính phủ Lào không có chính sách riêng đối với cộng đồng người Việt,

mà chỉ có chính sách chung đối với ngoại kiều Điều này được thể hiện rất rõ

trong một số quy đi ̣nh Điều 36, trang 11, Hiến pháp Lào quy định: “Những ngoại kiều chưa có quốc tịch Lào đều được bảo vệ nhân quyền và quyền tự do theo như Hiến pháp Lào quy định, có quyền khiếu kiện trước toà án và các cơ quan nhà nước Lào Mặt khác, họ phải tuân thủ luật pháp cũng như các quy định của nhà nước Lào” [14, tr.100]

Trong điều 4 trang 3 chỉ thị số 110/97, ngày 20/2/1997 của Bộ trưở ng Bộ

Nội vụ Lào về việc tổ chức quản lý người nước ngoài nêu rõ: “Những người nước ngoài được Bộ Nội vụ đồng ý định cư và làm ăn sinh sống tự do vĩnh viễn

ở Lào thì được cấp chứng minh thư tạm thời của Cục Quản lý xuất nhập cảnh

và được Cục An ninh kiểm soát Nếu trong 7 năm những người đó có biểu hiện tốt thì giao cho Cục Quản lý dân số thuộc Văn phòng Quản lý người nước

Trang 24

ngoài, cho phép được nhập hộ khẩu và làm chứng minh thư ngoại kiều được quyền cư trú ở Lào”[14, tr.101]

Nhìn chung , phần lớn những người Việt mới đến Lào từ sau năm 1980

đều chưa có cuộc sống ổn định và thành phần hết sức đa dạng Khi mới nhâ ̣p cư

vào Lào, họ có giấy tờ hợp lệ như giấy thông hành hoặc hộ chiếu (trừ những người di dân tự do và những người phạm tội ở Việt Nam, trốn chạy sang Lào) Giấy thông hành thường do các tỉnh biên giới cấp Theo quy định của hai nước, các loại giấy thông hành này không thể đi sâu vào nội địa Lào Không những thế, khi giấy thông hành hay hộ chiếu hết hạn lưu trú, họ không những không gia hạn mà còn tiếp tục ở lại Lào Những trường hợp kể trên là bất hợp pháp Những người này nếu bị công an Lào phát hiện sẽ bị phạt Mỗi lần bị phạt là 300.000 kíp/1 người Để thoát ra khỏi tình trạng trên, những người này có cách thích ứng đặc biệt của họ Khi hết thời hạn cư trú, họ quay lại cửa khẩu Việt

Nam hay qua cầu Thà Đừa, sang “du lịch” Thái Lan rồi quay lại Lào Và như

vậy họ lại được phép cư trú thêm 1 tháng trên đất Lào bởi Việt Nam và Lào chỉ

ký thời hạn lưu trú cho người lao động là 1 tháng Những công nhân Việt Nam trong các công trình, dự án nếu quá hạn lưu trú mà không gia hạn thì các chủ doanh nghiệp, chủ công trình hay dự án sẽ bị phạt nặng (250 USD/1 người)

ý định cư trú lâu dài ở Lào

Trang 25

Về cơ bản, những người đã nhập quốc tịch Lào (người Lào gốc Viê ̣t ) có quyền lợi và nghĩa vụ đầy đủ như người Lào Họ được làm tất cả mọi ngành nghề như người Lào, được quyền mua bán bất động sản như nhà cửa, đất đai,

xe cộ, và có giấy phép kinh doanh Con em họ được học hành như người Lào, nhất là được theo học tại các trường Đại học trong nước và nước ngoài Về vấn

đề này, học giả Lào - Sucsavang Simana đã nhận xét: “Người Viê ̣t ở Lào hầu hết đã trở thành công dân nước Lào một cách, tự nhiên, nghĩa là đã được nhập quốc tịch Lào, được hưởng mọi quyền hạn công dân như người Lào, có quyền bầu cử, quyền học hành, quyền buôn bán, quyền mua bán nhà đất, quyền mở trường dạy và học tiếng mẹ đẻ Có thể nói rằng, cộng đồng người Việt ở Lào được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt của chính phủ Lào hơn hẳn cộng đồng người Việt ở các nơi trên thế giới” [14, tr.49]

Trên thực tế, người Lào gốc Việt được khuyến khích làm các nghề thầy giáo, bác sĩ, tham gia bộ máy chính quyền Lào ở cấp thấp và thậm chí còn được tham gia lực lượng vũ trang Lào Theo quy định của pháp luật, người Lào gốc Việt có quyền lợi như người Lào Những gia đình đã sinh sống ở Lào từ 4 đến

5 đời phần lớn đã nhập quốc tịch Lào, nếu đời bố mẹ còn mang quốc tịch Việt Nam thì con cháu của họ đều nhập quốc tịch Lào

Trong số những người Việt đến định cư ở Lào từ năm 1975 về trước, bên cạnh những người đã nhập quốc tịch Lào và trở thành người Lào gốc Việt còn

có những người chưa nhập quốc tịch Lào và đ ược gọi là Việt kiều.Việt kiều được Chính phủ Lào cho phép định cư ở Lào với những điều kiện quy định hết sức cụ thể Tuy Việt kiều được cấp hộ khẩu và chứng minh thư Lào, nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam Họ được Nhà nước Lào quản lý theo những quy

định đối với ngoại kiều Theo Bộ Công an Lào:“Việt kiều được hoạt động đi lại, làm ăn, buôn bán bình thường nhưng Việt kiều không được mua bán đất đai, nhà cửa Họ chỉ được quyền thuê đất đai, nhà cửa Việt kiều cũng không được Nhà nước Lào cấp giấy phép đầu tư kinh doanh nên họ phải dựa vào môn

Trang 26

bài của người Lào Ngoài những điều không được phép nói trên, con em họ dù học giỏi cũng không được theo học tại các trường Đại học ở trong nước và nước ngoài Nếu muốn đi học tiếp, phải xin làm con nuôi người Lào, mang họ Lào”

[14, tr.51 - 52]

Có thể nói, từ trước tới nay, chính quyền Lào không cấm Việt kiều làm bất cứ nghề gì Sở dĩ như vậy vì Lào đất rộng người thưa, người Việt và người Lào đều là những cư dân sống trên bán đảo Đông Dương thuộc Pháp và người Pháp đã từng điều người Việt đến làm việc trên đất Lào Mặt khác, bản chất người Lào hiền lành, chất phác, không thích ganh đua, cạnh tranh, đố kị nên sẵn sàng chấp nhận cho Việt kiều làm ăn một cách dễ dàng thuận lợi Tuy nhiên, do những thiệt thòi nhất đi ̣nh về quyền của Việt kiều so với người Lào gốc Việt nên Việt kiều một mặt tìm mọi cách để thích ứng với luật pháp của nhà nước Lào bằng cách cho con cái mình làm con nuôi những người Lào có địa vị xã hội để có quốc tịch Lào, mặt khác, họ lại tìm mọi cách để được nhập quốc tịch Lào

Để góp phần vào việc giải quyết sự khác biệt về quyền lợi giữa người Lào gốc Việt và Việt kiều, trong hai năm 1993 và 1994, Chính phủ Lào đã tiến hành cho phép người Việt nhập quốc tịch Lào Một trong những điều kiện quan trọng để được nhập quốc tịch Lào là ứng viên phải biết nói tiếng Lào và đọc, viết thành thạo chữ Lào

Ngày nay, trong không khí của sự hợp tác toàn diện, đặc biệt, quan hệ Việt - Lào ngày càng tốt đẹp, địa vị của người Việt Nam ở Lào ngày càng được cải thiện hơn trước

Trang 27

Chương 2

HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI

TỈNH KHĂM MUỘN TỪ NĂM 1947 ĐẾN NĂM 2015

Người Viê ̣t vốn có đức tính cần cù , chăm chỉ, thông minh , tháo vát, đầy sáng tạo trong mọi lĩnh vực từ học hành đến chuyên môn nghề nghiệp Có những nghề ho ̣ quen làm và có kinh nghiê ̣m từ Viê ̣t Nam , có những nghề trong điều kiê ̣n thiên nhiên và môi trường ở Lào ho ̣ sớm thích ứng và khẳng đi ̣nh đươ ̣c ưu thế Cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa, kinh tế thi ̣ trường và quá trình công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa ở Lào , người Viê ̣t ở đây làm ăn giỏi , nhiều người thành đa ̣t Họ sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau, tiến hành nhiều hoa ̣t đô ̣ng kinh tế khác nhau và là thành phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của tỉnh Khăm Muộn nói riêng , nước Lào nói chung

2.1 Nông nghiệp, thủ công nghiê ̣p, công nghiê ̣p

2.1.1 Nông nghiệp

Tại Khăm Muộn chỉ có bộ phận người Việt ở làng Xiêng Vang (chiếm 30% dân số) còn duy trì và phát triển hoạt động kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, do luật định của chính phủ Lào không cho phép người nước ngoài

cư trú tại Lào được sở hữu ruộng đất, vì vậy, lúc đầu, người Việt ở làng Xiêng

Vang phải thuê đất của người Lào để làm ruộng

Bà Nguyễn Thị Liên - Ủy viên Thường vụ Tỉnh hội Khăm Muô ̣n cho

biết: “Dựa vào vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên nơi đây rất phù hợp với làm nông nghiệp Trước năm 1993, cuộc sống dân làng Xiêng Vang gặp nhiều khó khăn , dân chưa có sở hữu ruộng đất , đất làm ruộng phải thuê , đôi khi gặp thiên tai như lũ lụt , hạn hán kiến cho mất mùa , sản phẩm không đủ nuôi gia đình Sau năm 1993, Đảng và chính phủ Lào cho phép dân làng Xiêng Vang nhập quốc

Trang 28

tịch Lào Làng Xiêng Vang trở thành khu vực sản xuất gạo chủ yếu của tỉnh Khăm Muộn Nhân dân Xiêng Vang đã cùng nhau tích cực tham gia phong trào trồng lúa, sản xuất gạo, một năm làm được 2 vụ, vụ mùa và vụ chiêm (Sản lượng gạo hàng năm khoảng 210 – 300 tấn)” Có thể nói, từ năm 1993 trở đi,

cuộc sống dân Xiêng Vang đã ổn định và ngày càng tốt hơn trước, con cháu được đi học và lúc tốt nghiệp trung học phổ thông có thể thi vào đại học trong nước và nước ngoài Với những kết quả đa ̣t được , làng Xiêng Vang đã được công nhâ ̣n là làng văn hóa thứ 22 của huyện Nỏng Bốc, thứ 171 của tỉnh Khăm Muộn trong ngày 22/11/2012

Ngoài trồng lúa , người Viê ̣t ở Khăm Muô ̣n còn tiến hành chăn nuôi mô ̣t số loa ̣i gia súc gia cầm như lợn , gà, vịt… Chăn nuôi vừa đảm bảo phục vụ nhu cầu cuô ̣c sống vừa mang la ̣i nguồn thu cho các gia đình làm nghề nông Bên cạnh đó, đánh bắt cá là hoa ̣t đô ̣ng kinh tế truyền thống mà người Vi ệt ở Lào nói chung và Khăm Muô ̣n nói riêng tiến hành trong những điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi về sông, suối, ao hồ Những làng Viê ̣t bên dòng sông Mê Kông , sông Xê Bắng Phay, Hín Bun đều giỏi nghề đánh bắt cá

Nhìn chung , ở Khăm Muộn , số hô ̣ gia đình làm nông nghiê ̣p ít Vì vậy, nông nghiê ̣p không trở thành hoa ̣t đô ̣ng kinh tế chủ đa ̣o của cô ̣ng đồng người Viê ̣t ta ̣i đây

2.1.2 Thủ công nghiệp

Người Viê ̣t ta ̣i Khăm Muô ̣n thành tha ̣o nhiều nghề thủ công khác nhau , phần lớn là những nghề mang tính gia truyền : Nghề mô ̣c , nghề đúc, nghề rèn, nghề gò hàn , may, đan dê ̣t , thêu thùa , sửa chữa máy móc Những nghề này mang la ̣i nguồn thu đáng kể cho các gia đình người Viê ̣t ta ̣i đây

Đặc biệt, ở Khăm Muộn , nghề làm bánh gai và sơ ̣i phở của người Viê ̣t ở

làng Xiêng Vang đã trở nên nổi tiếng “Làng này mọi nhà đều làm nghề phụ

Trang 29

Một nửa làng làm bánh gai còn một nửa làng làm sợi phở ” [18, tr.199-201];

“Làm sợi phở thì nhà nào làm cũng được, riêng làm bánh gai thì chia phiên mỗi gia đình mỗi tuần làm một lần ” Theo các cụ người Viê ̣t trong làng thì

các nghề này xuất phát từ Quảng Bình (Viê ̣t Nam) Người Viê ̣t khi di cư sang Khăm Muô ̣n đã mang theo những n ghể gia truyền này Trong làng có 7 gia đình thay phiên nhau làm là chủ yếu Ngoài ra, có thuê thêm người cùng làng là những người làm ruộng thuê Những người này mỗi ngày được nhận 20.000 kíp tiền công Thông thường các hộ làm bánh gai thường thuê thêm khoảng trên dưới một hai chục người Về số lươ ̣ng sản phẩm , mỗi gia đình, mỗi ca làm được khoảng từ 1.000 đến 2.000 – 3.000 bánh Các sản phẩm ở làng Xiêng Vang phần lớn được các chủ buôn ở Thà Khẹc đến thu mua, sau đó bán đi các nơi khác như Savannakhet , Chămpasắc , thủ đô Viêng Chăn Hiện nay, sợi phở , đặc biê ̣t là bánh gai đã trở thành đặc sản của Khăm Muộn

Nhiều người hay nói: “Ai sang Khăm Muộn không được ăn bánh gai có nghĩa là chưa đến Khăm Muộn” Thâ ̣m chí , bánh gai Xiêng Vang, Khăm

Muô ̣n còn nổi tiếng cả nước Bà Nguyễn Thị Vân , 58 tuổi , ngườ i làng

Xiêng Vang cho biết: “Một ngày trong làng sản xuất được khoảng 7.000 – 8.000 bánh mỗi ca Bánh gai có 2 loại : loại bé và loại to Đa số khách thích loại bé , khách muốn mua loại to với số lượng nhiều làm quà tặng phải đặt trước 2 ngày Hiê ̣n nay , bánh bé giá 2000 kíp/1bánh, bánh to 2.000 kíp – 3.500 kíp/ 1 bánh Nhân công làm bánh gai được nhận 40.000

kíp tương đương 100.000 đồng tiền công một ngày”

Trang 30

huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn và Dự án khai thác thạch cao ta ̣i huyện Xê Băng Phay và Thà Khẹc

Dự án khai thác và chế biến muối mỏ tại huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn là dự án đặc biệt quan trọng và là một trong những dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam ở nước ngoài Sau khi được chính phủ Lào cho phép triển khai thăm dò trữ lượng muối công nghiệp, Hội đồng chuyên gia hai nước Việt Nam

và Lào đã công nhận Dự án đầu tư xây dựng công trình khai thác và chế biến muối tại huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn đủ điều kiện khai thác, chế biến công nghiệp Với kết quả thăm dò trữ lượng muối Kali (KCl) lên tới hàng trăm triệu tấn và muối ăn (NaCl) lên tới hàng tỉ tấn, dự án muối mỏ do Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) đang triển khai tại huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn, Lào sẽ đóng vai trò quan trọng giúp Việt Nam chủ động được nguyên liệu cho sản xuất trong nước, nhất là sản xuất phân bón, hóa chất, đồng thời tiết kiệm được ngoại tệ từ việc giảm nhập khẩu

Dự án khai thác thạch cao tại làng Tưng, huyện Xê Băng Phay, tỉnh Khăm Muộn Sau khi được Uỷ ban Kế hoạch và Hợp tác Chính phủ Lào cấp giấy phép đầu tư số 004/04 ngày 30 tháng 3 năm 2004 cho lĩnh vực thăm dò, khai thác và chế biến các loại khoáng sản tại Lào, ngày 6 tháng 4 tại thủ đô Viêng Chăn, Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh đã ký hợp đồng liên doanh với Công ty Công nghệ địa chất Lào (SK.GÊOTCH), Công ty phát triển Công - Lâm nghiệp Lào đầu tư thăm dò, khai thác thạch cao tại Xê Bắng Phay, tỉnh Khăm Muộn

Ngoài ra , người Viê ̣t còn là m viê ̣c trong các nhà máy , tiêu biểu là nhà máy chế biến gỗ thành lập năm 2001 tại Km20 làng Udonvilay, huyện Thà

Khẹc, tỉnh Khăm Muộn Hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy này đã

góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng trăm công nhân người Viê ̣t, người Lào

Trang 31

Lào, tạo điều kiện cho ho ̣ nâng cao tay nghề , làm việc với dây truyền máy móc hiện đại

2.2 Thương mại và dịch vụ

Hiện nay ở Khăm Muộn có khoảng trên 400 gia đình vớ i hơn 2.000 người Viê ̣t đang làm ăn , sinh sống Người Việt ở Khăm Muô ̣n s ống tập trung ở thị xã Thà Khẹc và bản Xiêng Vang - một địa chỉ đỏ của cách mạng Đông Dương trên đất nước Triệu Voi Hầu hết bà con sống bằng nghề kinh doanh,

thương ma ̣i, dịch vụ, kinh tế tương đối khá giả

2.2.1 Thương mại

Trong thành phần kinh tế tư nhân vừa và nhỏ thuô ̣c lĩnh vực thương ma ̣i tại Khăm Muộn, người Viê ̣t chiếm tỉ lê ̣ khá cao Nhiều người Viê ̣t đã trở thành những người làm kinh tế giỏi ta ̣i Khăm Muô ̣n , tiêu biểu như ông Phạm Văn Hoàn (họ tên Lào là Xay SOUKSOMEBOUN), xuất thân từ gia đình nông dân , gia đình di cư sang Lào , sinh cơ lập nghiệp bằng nghề nông tại làng Xiêng Vang, huyện Nỏng Bốc , tỉnh Khăm Muộn Năm 1978, người Hoa ở thị xã Thà Khẹc rút về nước, nhân cơ hội đó gia đình của ông chuyển vào thị xã Thà Khẹc buôn bán phụ tùng xe ô tô Đến năm 1990, ông là người có môn bài của người Lào nên đứng ra xây dựng chợ cây số 3 tại thị xã Thà Khẹc (còn gọi là chợ Việt kiều bởi do ông chủ người Việt xây dựng)

Ở Khăm Muộn , 60 đến 70% ngườ i Viê ̣t là chủ các sạ p hàng tại chợ cây

số 3 Ngoài ra còn các chợ khác như chợ cây số 2, chợ phía Bắc (chợ Na Bố) Người Việt buôn bán trong các chợ, gồm quầy hàng vừa và nhỏ, kinh doanh đủ các mặt hàng như vàng, bạc, đá quý, may quần áo, vải vóc, giầy dép, tạp hóa,

đồ điện, điện tử , ăn uống Xuất xứ hàng hóa chủ yếu từ Việt Nam , Trung Quốc và Thái Lan

Trang 32

Hoạt động buôn bán của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn tương đối

phong phú, gồm một số loại hình và cấp độ như sau:

Các cửa hàng buôn bán những mặt hàng có vốn đầu tư lớn như vật liệu

xây dựng, đồ điện, hàng điện tử, máy…Tiêu biểu là cửa hàng Thăm Mạ Kan

Ka Sẹt (Trung), chuyên bán các loại máy cày, máy xay cùng với các phụ tùng; Cửa hàng Văn Ni Xay (Thọ), cửa hàng Sỉ Va Ly, buôn bán các loại vật liệu xây dựng và đồ điện; Cửa hàng Khăm Hùng (Hùng ), buôn bán vâ ̣t liê ̣u sắt ,

ga nấu ăn Thu nhập hàng tháng của họ thường từ 4.000.000 đến 5.000.000 kíp trở lên

Các cửa hàng buôn bán trung bình: Loại hình buôn bán này có cửa hàng

cửa hiệu, có quầy hàng cố định trong các chợ lớn như chợ cây số 3, chợ cây số

2, chợ Na Bố, Số hộ người Việt buôn bán loại hình trung bình chiếm đa số Mặt hàng kinh doanh chủ yếu là quần áo, giày dép, vải vóc, mỹ phẩm, sách báo, tạp hoá Loại hình buôn bán trung bình, thu nhập bình quân hàng tháng dao động

từ 3.000.000 kíp đến 4.000.000 kíp/ tháng

Các cửa hàng buôn bán nhỏ : Loại hình buôn bán này chính là các sạp

hàng nhỏ ở các chợ, bến xe số 4, bến xe số 2 Mặt hàng của họ không có giá trị lớn và thu nhập thấp Đó là các hàng bán hoa quả, hàng ăn, thức ăn, hải sản (mang từ Việt Nam sang như: mực tươi, mực khô, tôm .), đồ dùng hàng ngày thu nhập bình quân hàng tháng dao động từ 1.000.000 kíp đến 1.500.000 kíp/ tháng [25,tr.173];[15,tr.19]

2.2.2 Dịch vụ

Cùng với buôn bán, người Việt tại Khăm Muộn còn tham gia các hoạt động dịch vụ như : Cửa hàng ăn uống nhỏ , nhà hàng , khách sạn , du li ̣ch , thợ may, thợ mộc, lái xe, sửa chữa xe máy, ô tô, thợ cắt tóc và các dịch vụ khác Đặc biệt, mô ̣t lĩnh vực hoa ̣t đô ̣ng kinh tế mà người Viê ̣ t ở Khăm Muô ̣n khẳng

đi ̣nh đươ ̣c vi ̣ trí và đang phát triển đó là chế biến và di ̣ch vụ ẩm thực Nhiều

Trang 33

món ăn do người Việt chế biến như giò chả , nem cuốn, dưa muối , cà muối từ lâu đã trở thành món ăn được nhiều người dân Lào ưa chuộng Tại Khăm Muô ̣n, các cửa hàng ăn uống của người Viê ̣t chiếm tỉ lệ khá cao Tuy nhiên, các nhà hàng cao cấp không nhiều, phần lớn là các hàng cơm bụi hoặc hàng cơm bình dân Khu thị xã Thà Khẹc là nơi có nhiều cửa hàng loại này nhất và đa số

là tập trung trong các chợ và bến xe

Ngoài dịch vụ ăn uống , kinh doanh khách sạn cũng là một trong những nghề rất phát đạt ở Khăm Muộn Mô ̣t số khách sa ̣n nổi tiếng được nhiều khách

du lịch nhắc đến là khách sa ̣n Souksomboun (Hoàn), khách sạn Mê Kông Các khách sạn này thuộc loại trung bình, giá cả phù hợp với khách du lịch hoặc đi công tác tại Lào Số phòng khách thuê hàng ngày chiếm tỷ lệ cao từ 70% đến 80% số phòng, thậm chí có những thời điểm không đủ phòng cho thuê

Khách sạn Mê Kông nằm ở làng Na Bố, huyện Thà Khẹc, tỉnh Khăm Muộn, nằm bên bờ sông Mê Kông, rất gần các điểm tham quan như: Di tích lịch

sử phố cổ các nhà thời Pháp thuộc, bờ sông Mê Kông, Chùa Na Bố, Bảo tàng tỉnh Khăm Muộn, Di tích lịch sử nước giếng trong chiến dịch bảo vệ thị xã Thà Khẹc 21/03/1946 Khách sạn Mê Kông có 4 tầng gồm 75 phòng (đều có Wifi free và máy lạnh), có phòng nghỉ, nhà hàng và các dịch vụ khác (ăn uống, hội thảo, hội nghị, du lịch thế thao, masage ), có giá từ 80.000 – 300.000 kíp/đêm

và đón khách 24h Đội ngũ nhân viên thông thạo cả tiếng Việt - tiếng Lào – tiếng Anh sẵn sàng hướng dẫn khách hàng Với mức giá phòng hợp lý, đội ngũ nhân viên nhiệt tình và thân thiện, bãi đỗ xe rộng rãi, không gian vả cảnh quan thoáng đãng, dịch vụ ăn nghỉ được đảm bảo theo tiêu chuẩn tốt nhất ở khách sạn Me Kông

Khách sạn Souksomboun nằm ở làng Na Bố, huyện Thà Khẹc, tỉnh Khăm Muộn, cách bờ sông Mê Kông khoảng 300 mét Mặc dù có ít phòng (14 phòng) nhưng đông khách và nhanh hết phòng, đa số là khách nước ngoài Với

Trang 34

giá từ 80.000 – 120.000 kíp, khách có thể dễ dàng tiếp cận các điểm du lịch hấp dẫn ở thị xã này Khách được tận hưởng các tiện nghi sẵn có của khách sạn như phục vụ ăn tại phòng, Wi-Fi ở khu vực công cộng, được thiết kế để tạo sự thoải mái, các phòng nghỉ trang bị truy cập internet không dây, nước đóng chai miễn phí, máy lạnh, phòng không hút thuốc đem đến sự yên tĩnh tuyệt vời

Trong lĩnh vực du li ̣ch , Viê ̣t kiều ở cả hai nước Lào và Viê ̣t Nam với lợi thế hiểu biết cả hai n ền văn hóa, ngôn ngữ, nên ho ̣ hoa ̣t đô ̣ng ở lĩnh vực du li ̣ch

và môi giới kinh doanh rất có hiệu quả Trong những năm qua , sự giao lưu và trao đổi giữa các nhà kinh doanh của hai nước ngày mô ̣t nhiều , hiê ̣u quả công viê ̣c có lẽ sẽ kém hiệu suất nếu không có phiên dịch là Việt kiều Việt kiều không chỉ tham gia các giao di ̣ch thông thường mà còn xử lí văn bản và tài liê ̣u bằng tiếng Lào và tiếng Viê ̣t

Nhiều Việt kiều ở Khăm Muộn đã và đang tham gi a mô ̣t số dự án phát triển du li ̣ch trong khuôn khổ Tiểu vùng sông Mê Công có tiêu đề “Ba quốc gia, bảy thành phố” (ba quốc gia là Viê ̣t Nam , Thái Lan, Lào; bảy thành phố là Noongkhai, Nakhon Phanom , Sakol Nakhon , Khăm Muộn , Borikhămxay, Nghê ̣ An và Hà Tĩnh)

Bên ca ̣nh mô ̣t số ngành nghề kể trên , tại Khăm Muộn còn có nghề dịch

vụ vâ ̣n tải , tiêu biểu như công ty vận tải của ông Đoàn Văn Thung (Phonethavy), một số công ty vận tải lớn tại Trung Lào nói chung và tỉnh Khăm Muộn nói riêng Công ty vận tải Phonethavy , hiện có hơn 20 xe và cung cấp các loại xe du lịch chất lượng cao với mức giá phù hợp Ngoài ra, người Việt ở Khăm Muộn còn làm khá nhiều nghề khác như thợ điện, thợ hàn, thợ xây, thợ mộc, thợ cơ khí, thợ sửa chữa ô tô, xe máy, rửa xe, mỹ nghệ, thợ may, thợ cắt tóc, thợ chụp ảnh, lái xe ô tô, trong đó, thợ mộc, thợ may là những nghề chiếm

đa số

Trang 35

Nhìn chung, những người Việt làm kinh doanh đều có cuộc sống khá giả Ông Đoàn Văn Thung (Phonethavy) quê gốc ở Quảng Bình (Viê ̣t Nam) chia sẻ:

Từ những năm 1945, vì cuộc sống quá khó khăn, nạn đói hoành hành trong khi không có đất sản xuất nên gia đình ông đã sang Khăm Muộn để lập nghiệp Cùng sang đợt ấy có một số gia đình nữa, họ đã lập thành làng người Việt ở bản Xiêng Khoảng và làm nông nghiệp Hiện tại, ông Thung là một trong những người Việt giàu có ở thị xã Thà Khẹc Ông là chủ của một xưởng tiện và

cơ sở vận tải với hơn 20 chiếc xe các loại Trung bình một ngày xưởng tiện và

cơ sở vận tải này đem lại cho ông thu nhập 20-30 triệu đồng

Bên cạnh những người đã tạo dựng được cơ nghiệp cũng có không ít

những người "chân ướt chân ráo" sang đây phải vật lộn mưu sinh Mô ̣t số

người Viê ̣t trẻ tuổi ta ̣i Khăm Muô ̣n đã cho biết về cuô ̣c sống của ho ̣ ta ̣i đây Loan (sinh năm 1990) quê ở Bố Trạch , Quảng Bình đã bôn ba ở Lào được 2 năm Trước cô làm thợ cắt tóc ở tỉnh Sê Kông , nhưng vì theo người yêu là Phương (Sinh năm 1989) nên mới chuyển đến mở quán ở Thà Khẹc Thu nhập của Loan mỗi ngày là 100.000 đồng Mô ̣t trường hợp khác là Phương quê ở Bố

Trạch, Quảng Bình cho biết : “Cuộc sống ở Lào tuy vất vả nhưng có thu nhập hơn ở nhà Cách đây 4 năm, lúc mới sang, Phương làm đủ nghề để kiếm tiền kể

cả đi bán cà rem dạo, thấy nhiều người sang làm thợ xây thu nhập được, anh

đã đổi nghề Theo Phương thì những người lao động Việt sang đây làm thợ xây đều được nhiều chủ thầu tin tưởng, bởi họ là những người có tính kỷ luật, tay nghề cao Vì thế, họ được các chủ thầu trả lương cao hơn hẳn Nhưng có lẽ với hai bạn trẻ này thì cuộc sống ở nước bạn Lào với nhiều cơ hội sẽ là vùng đất

để họ tạm dừng chân Hơn nữa, theo họ văn hóa của nước bạn gần với văn hóa của Việt Nam, người ở đây thật thà, dễ mến là điều đã khiến không ít người muốn ở lại

Trang 36

Đối với những người Việt sang Lào mong tìm cơ hội đổi đời này, tuy mỗi người có một công việc, một hoàn cảnh riêng nhưng họ luôn có tinh thần đoàn kết và hướng về quê hương

Trên cơ sở kết quả điều tra điền dã về hoa ̣t đô ̣ng kinh tế của người Viê ̣t tại Khăm Muộn , có thể tổng hợp về cơ cấu nghề nghiệp của người Việt bằng bảng thống kê như sau :

Bảng 2.1: Số lượng người Việt và cơ cấu nghề nghiệp

Đơn vị: Người/%

Số lượng ( hàng ) Số người %

Công ty khai thác khoáng sản(đi dự án) 5 công ty 283 10,42 Cửa hàng buôn bán trung bình 315 412 15,18

Trang 37

Bảng thống kê cho thấy hoa ̣t đô ̣ng kinh tế của người Viê ̣t ở Khăm Muô ̣n khá đa dạng, nhiều ngành nghề , thuô ̣c nhiều lĩnh vực khác nhau , trong đó, tỉ lệ người Viê ̣t làm viê ̣c trong lĩnh vực buôn bán vừa và nhỏ chiếm đa số Mặc dù quy mô, phạm vi và thu nhập của các loại hình buôn bán khác nhau nhưng hoạt

đô ̣ng buôn bán của người Viê ̣t ta ̣i Khăm Muô ̣n không những làm cho cuô ̣c sống của gia đình họ được ấm no , hạnh phúc mà còn góp phần quan trọng cho việc phát triển kinh tế của Khăm Muô ̣n

Kết luận chương 2

So với người Việt ở nhiều nước trên thế giới , người Việt ở Lào nói chung

và Khăm Muô ̣n nói riêng có nhiều thuận lợi trong hoạt động kinh tế: Thứ nhất ,

chính phủ Lào ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i cho người Việ t phát triển các hoa ̣t đô ̣ng kinh tế Hai chính phủ Việt Nam và Lào dưới sự lãnh đạo của hai Đảng Cộng

sản đã và đang thực hiện “Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện”, tạo mọi điều

kiện thuận lợi cho nhau, cùng giúp nhau phát triển sản xuất bảo vệ an ninh

chung Thư ́ hai , trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Lào thấp , vẫn đang

chuyển đổi kinh tế , rất phù hợp với trình độ và phương cách làm việc của

những người Viê ̣t vốn có nguồn gốc từ miền Trung Việt Nam đến Lào Thứ ba,

chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với những chủ trương, chính sách hết sức thuận lợi, gần đây nhất là Nghị quyết 36 của Bộ chính trị về công tác đối với cộng đồng người Việt ở nưới ngoài Bên cạnh những thuận lợi trên, cộng đồng người Việt ở Lào cũng phải đối diện với những khó khăn nhất định , đó là: Nền kinh tế Lào chưa phát triển, nhu cầu tiêu dùng chưa cao, thị trường nhỏ, sức mua hạn chế Do vậy, không kích thích sự gia tăng trong đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh của người Việt; Trong quá trình làm ăn sinh sống ở Lào, người Việt đã tiếp nhận được

những nét văn hóa của người Lào “Không thích cạnh tranh và không ưa mạo hiểm” trong thương trường Đó là khiếm khuyết lớn trong nền kinh tế thị

Trang 38

trường và hội nhập quốc tế; Tuy chính phủ Lào hết sức ưu ái đối với cộng đồng người Việt ở Lào, nhưng một thực tế mà người Việt ở Lào không thể không quan tâm lo lắng là vai trò của người Hoa ở Lào ngày càng tăng Đây là một thách thức không nhỏ đối với công việc làm ăn buôn bán kinh doanh của người

Việt ở Lào trong những năm tới [15, tr.25]

Hoạt động kinh tế của cộng đồng người Việt tại Khăm Muộn rất phong phú đa dạng, bao gồm nông nghiệp , thủ công nghiệp , công nghiệp , thương ma ̣i

và dịch vụ Những hoa ̣t đô ̣ng ấy đã góp phần quan trọng làm bi ến đổi diện mạo bức tranh kinh tế truyền thống của người Lào , đồng thờ i làm thay đổi quan niệm sống của người Lào từ chỉ cần làm đủ ăn đến biết “Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” tức là đã lao động tích cực , cần cù hơn để có tích lũy, làm

giàu Nhận xét về vấn đề này, Tiến sĩ Amnouvone Singhevang đã nhấn mạnh:

“Có thể nói , nếu không có người Việt ở Lào thúc ép làm ăn thì người Lào cứ

“Ngủ mãi” trong tập quán của nền kinh tế tự nhiên của mình” [15, tr.23]

Trang 39

Chương 3 HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TỈNH KHĂM MUỘN TỪ NĂM 1947 ĐẾN NĂM 2015

Từ trong lịch sử thăng trầm của quá trình định cư, quá trình cộng đồng người Việt hòa nhập vào xã hội Lào cũng là quá trình họ từng bước hội nhập vào văn hóa Lào và từng bước khẳng định sự nối kết không tách rời với đất mẹ Việt Nam

3.1 Văn hóa vật chất

3.1.1 Ẩm thực

Văn hóa ẩm thực của người Việt ở Khăm Muộn là sự hòa quyện những nét tinh túy của hai dân tộc Việt - Lào Trải qua quá trình sinh sống và cộng cư lâu dài cùng người Lào, sở thích ăn uống của người Việt cũng biến đổi theo

người Lào Kết quả điều tra thực địa và các phỏng vấn sâu cho thấy đa phần

người Lào gốc Việt thích các món ăn của người Lào

Món Chèo pa đẹc: Thành phần có ớt, tỏi khô nướng giã với cá mắm của

Lào, trộn với gia vị

Món Lạp: Món Lạp được làm bằng các loại thịt khác nhau (thịt bò, trâu,

lợn, gà, vịt ) hoặc cũng có thể làm bằng thịt của các loại cá Cách chế biến Lạp rất đơn giản Trường hợp Lạp thịt thì băm nhỏ thịt rồi trộn với các loại gia vị như bột gạo rang thật kỹ, ớt, tỏi thái nhỏ, lá hành tươi, các loại rau thơm, nước

pa đẹc (mắm cá của người Lào) nấu chín Nếu thích vị chua thì vắt thêm chanh Lạp cá thì cũng làm tương tự như Lạp thịt

Món nộm đu đủ Lào: Băm đu đủ xanh thái nhỏ, ớt, tỏi, pa đẹc, chanh

tươi, mỳ chính, sau đó, giã ớt, tỏi cho nhuyễn rồi bỏ đu đủ vào trộn lên, sau đó cho các gia vị vào

Trang 40

Món canh măng Lào: Gồm có măng tươi thái nhỏ, lá nha nang vắt lấy

nước có màu xanh, ớt tươi, củ sả, phắc nâu, mộc nhĩ, rau bí, pa đẹc, rau ngổ rồi đem nấu trộn với nhau, rau cho vào sau khi măng đã chín

Cá nướng, thịt nướng: (Cá nướng cả con, thịt nướng miếng to) ăn với xôi

Có thể nói, hiện nay chỉ còn một số ít người già vẫn thích các món ăn truyền thống của Việt Nam Mă ̣c dù vâ ̣y , người Việt ở Lào vẫn duy trì tập quán truyền thống của người Việt Nam Bữa cơm là dịp các thành viên gia đình sum họp với nhau sau một ngày lao động mệt nhọc Theo truyền thống của người Việt Nam, vị trí ngồi trong mâm cơm của một gia đình bao giờ cũng theo qui định rõ ràng Thông thường, người bố, người mẹ hoặc người cao tuổi bao giờ cũng ngồi ở đầu mâm, hai bên là con cháu Con gái hoă ̣c cháu gái là người xới cơm xới cơm cho bố mẹ Trước khi ăn, người con và các cháu phải lần lượt

mời bố mẹ hoặc người cao tuổi ăn cơm: “Con mời bố, mời mẹ ăn cơm ạ!”

Trong các đám giỗ , đám cưới , đám ma , việc bố trí ngồi trong mâm cũng được qui định rõ ràng Đầu mâm bao giờ cũng dành cho những người cao tuổi , rồi mới đến người khác Có thể thấy , tuy có thời gian sinh sống khá lâu dài tại Khăm Muộn, nhưng cộng đồng người Việt ở đây vẫn duy trì tập quán ăn uống của cha ông để lại cho đến tận ngày nay [21, tr.71]

3.1.2 Trang phục

Khi di cư sang Lào, do sống cộng cư với người Lào trong khoảng thời gian khá lâu nên cách ăn mặc của người Việt ở Lào đã có sự thay đổi Thích ứng với cuộc sống hiện đại, người Việt thuộc các lứa tuổi khác nhau đều thích mặc quần Tây Nữ giới thích mặc váy hiện đại hoặc cũng có lúc mặc áo phông kết hợp với quần Jean phong cách Phụ nữ Việt trung niên mặc kín đáo nhưng kiểu cách cũng rất đa dạng, trang nhã và trẻ trung Kết hợp với quần áo, phụ nữ

Ngày đăng: 21/09/2017, 06:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Vân Anh (2007), “Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á , số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào
Tác giả: Vũ Thị Vân Anh
Năm: 2007
2. Ban Đông Nam Á (1976), “Nhiệm vụ đường lối và phương châm của tổ chức cách mạng Việt Kiều từ năm 1945 đến năm 1975”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhiệm vụ đường lối và phương châm của tổ chức cách mạng Việt Kiều từ năm 1945 đến năm 1975”
Tác giả: Ban Đông Nam Á
Năm: 1976
3. D.G.E Hall (1997),“Lịch sử Đông Nam Á”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử Đông Nam Á”
Tác giả: D.G.E Hall
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
4. Nguyễn Hào Hùng (2007), “Tài liệu lưu trữ thời kỳ thuộc địa Pháp liên quan đến đề tài cộng đồng người Việt ở Lào”, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu lưu trữ thời kỳ thuộc địa Pháp liên quan đến đề tài cộng đồng người Việt ở Lào
Tác giả: Nguyễn Hào Hùng
Năm: 2007
5. Trương Sỹ Hùng “Tín ngưỡng dân gian trong đời sống văn hóa Lào và Việt Nam”, Viện nghiên cứu Đông Nam A. 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng dân gian trong đời sống văn hóa Lào và Việt Nam”
6. Nguyễn Văn Khoan (2008), “Viê ̣t – Lào hai nước chúng ta” , Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Viê ̣t – Lào hai nước chúng ta”
Tác giả: Nguyễn Văn Khoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
7. Phạm Nguyên Long, Đặng Bích Hà (1983),“Về lịch sử - văn hóa ba nước Đông Dương”, Viện nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về lịch sử - văn hóa ba nước Đông Dương”
Tác giả: Phạm Nguyên Long, Đặng Bích Hà
Năm: 1983
8. Phan Ngo ̣c Liên , Đỗ Thanh Bình , Nguyễn Ngo ̣c Cơ (2005), “Li ̣ch sử nhà Nguyễn – Một cách tiếp cận mới”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Li ̣ch sử nhà "Nguyễn – Một cách tiếp cận mới”
Tác giả: Phan Ngo ̣c Liên , Đỗ Thanh Bình , Nguyễn Ngo ̣c Cơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2005
9. Nguyễn Quốc Lô ̣ (2006), “Người Viê ̣t ở Thái Lan – Campuchia - Lào” , Nhà xuất bản Văn nghê ̣ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Người Viê ̣t ở Thái Lan – Campuchia - Lào”
Tác giả: Nguyễn Quốc Lô ̣
Năm: 2006
10. Phạm Thị Mùi (2007), “Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao thoa văn hóa Việt – Lào ”, Viện nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao thoa văn hóa Việt – Lào
Tác giả: Phạm Thị Mùi
Năm: 2007
11. Phạm Thị Mùi (2007), “Vị thế trong gia đình của người phụ nữ Việt kiều ở Lào (So sánh với người Việt và người Lào)”, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế trong gia đình của người phụ nữ Việt kiều ở Lào (So sánh với người Việt và người Lào)
Tác giả: Phạm Thị Mùi
Năm: 2007
12. Phongsavath SILIPANYA (2015), “Kinh tế, văn hóa của người Việt ở thành phố Viêng Chăn (Lào) 1975 - 2014”, Luận văn thạc sĩ nhân văn , Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế, văn hóa của người Việt ở thành phố Viêng Chăn (Lào) 1975 - 2014
Tác giả: Phongsavath SILIPANYA
Năm: 2015
13. Nguyễn Hồng Quang “Đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan trường hợp tỉnh Sakôn Nakhon” Đại học văn hóa Hà Nội.2008.- 117 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan trường hợp tỉnh Sakôn Nakhon
14. Phạm Đức Thành (2008), “Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào”, Nhà xuất bản Khoa học X ã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào
Tác giả: Phạm Đức Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học X ã hội
Năm: 2008
15. Phạm Đức Thành (2007), “Vai trò kinh tế của người Việt tại Lào”, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò kinh tế của người Việt tại Lào
Tác giả: Phạm Đức Thành
Năm: 2007
16. Nguyễn Lệ Thi (2007), “Chùa người Việt ở Lào” Viện nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa người Việt ở Lào
Tác giả: Nguyễn Lệ Thi
Năm: 2007
17. Nguyễn Duy Thiệu (2007), “Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc”, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Năm: 2007
18. Nguyễn Duy Thiệu (2008), “Di cư và chuyển đổi lống sống trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào”, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di cư và chuyển đổi lống sống trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2008
19. Nguyễn Duy Thiệu (2008), “Chuyển đổi trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt ở Lào”, Viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt ở Lào
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Năm: 2008
21. Nguyễn Duy Thiệu “Một số nét về sinh hoạt vật chất của các tộc người ở Lào”, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nét về sinh hoạt vật chất của các tộc người ở Lào

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê số người Việt Nam ta ̣i Khăm Muô ̣n  (2010 – 2015) - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Bảng 1.1. Thống kê số người Việt Nam ta ̣i Khăm Muô ̣n (2010 – 2015) (Trang 22)
Bảng 3.1. Thống kê học sinh ( 2012 – 2015 ) - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Bảng 3.1. Thống kê học sinh ( 2012 – 2015 ) (Trang 46)
Bảng 3.2. Thống kê học sinh ( 2014 – 2015 ) - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Bảng 3.2. Thống kê học sinh ( 2014 – 2015 ) (Trang 49)
Bảng 3.4. Thống kê đời sống tôn giáo của ngươ ̀ i Viê ̣t ở tỉnh Khăm Muộn - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Bảng 3.4. Thống kê đời sống tôn giáo của ngươ ̀ i Viê ̣t ở tỉnh Khăm Muộn (Trang 62)
Hình 12: Khách sạn Mekhong (Mê Kông). Chụp ngày 17/12/2015 - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 12 Khách sạn Mekhong (Mê Kông). Chụp ngày 17/12/2015 (Trang 75)
Hình 13: Cách phơi sợi phở khô - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 13 Cách phơi sợi phở khô (Trang 76)
Hình 14: Bà Lê Thị Sức, bán lẻ - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 14 Bà Lê Thị Sức, bán lẻ (Trang 76)
Hình 17: Phương Trang phục vụ - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 17 Phương Trang phục vụ (Trang 77)
Hình 19: Quán sửa xe máy tại thị xã Thà Khẹc (Chụp ngày 25/12/2015) - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 19 Quán sửa xe máy tại thị xã Thà Khẹc (Chụp ngày 25/12/2015) (Trang 77)
Hình 20: Nhà thờ Công giáo tại - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 20 Nhà thờ Công giáo tại (Trang 78)
Hình 21: Chùa Bồ Đề tại thị xã - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 21 Chùa Bồ Đề tại thị xã (Trang 78)
Hình 24: Phỏng vấn Cô Nguyễn - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 24 Phỏng vấn Cô Nguyễn (Trang 79)
Hình 28: Bên trong Đình làng - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 28 Bên trong Đình làng (Trang 80)
Hình 32: Trường Hữu Nghị Khăm Muộn – Quảng Bình do Chính phủ - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 32 Trường Hữu Nghị Khăm Muộn – Quảng Bình do Chính phủ (Trang 81)
Hình 33: Ông Sonexay - Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ)
Hình 33 Ông Sonexay (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w