Bằng việc phân tích vai trò của ngành da giày trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như định hướng và mục tiêu phát triển của ngành này trong tương lai, tác giả sẽ đề xuất các giải ph
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM KHI VIỆT NAM GIA NHẬP HIỆP ĐỊNH
ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN KHU VỰC RCEP
Họ và tên sinh viên : Hồ Thị Ánh Tuyết
Trang 2ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU v
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI VÀ KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN KHU VỰC RCEP 4
1.1 Lý luận chung về các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới 4
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của các FTA thế hệ mới 4
1.1.2 Tình hình tham gia các FTA thế hệ mới của Việt Nam 6
1.2 Khái quát về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP 9
1.2.1 Giới thiệu chung về RCEP và sự cần thiết thành lập RCEP 9
1.2.2 Những lợi ích dự kiến của RCEP đối với các nước thành viên 13
1.2.3 Diễn biến đàm phán RCEP: tham vọng, những thành tựu và khó khăn 16
1.3 Những tác động dự kiến của RCEP đối với nền kinh tế Việt Nam 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM VÀ CÁC CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DA GIÀY TRƯỚC VIỆC THAM GIA RCEP 22
2.1 Vai trò của ngành công nghiệp da giày trong nền kinh tế Việt Nam 22
2.1.1 Những lợi thế để phát triển ngành da giày Việt Nam 22
2.1.2 Vai trò của ngành da giày đối với nền kinh tế và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam 23
2.2 Thực trạng sản xuất và xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam 25
2.2.1 Về thực trạng sản xuất 25
2.2.2 Thực trạng xuất khẩu 33
2.3 Cơ hội của ngành da giày Việt Nam khi Việt Nam gia nhập RCEP 40
2.3.1 Điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn với các thị trường của ASEAN và các nước đối tác 40
2.3.2 Cơ hội nhập khẩu nguyên phụ liệu và máy móc rẻ hơn 41
2.3.3 Tham gia vào chuỗi giá trị và sản xuất khu vực 42
2.4 Những thách thức mà ngành da giày gặp phải 44
2.4.1 Nguyên phụ liệu đầu vào phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu dẫn đến mất khả năng cạnh tranh 45
- K51
Trang 3iii
2.4.2 Các doanh nghiệp trong nước chưa có đủ nguồn lực để tận dụng ưu đãi của Hiệp định 492.4.3 Lợi thế nhân công giá rẻ ngày càng giảm 512.4.4 Gặp phải nhiều rào cản trên thị trường các nước nhập khẩu 53CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TẬN DỤNG CƠ HỘI, VƯỢT QUA THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM KHI THAM GIA RCEP 563.1 Định hướng, mục tiêu phát triển của ngành da giày Việt Nam đến năm 2025563.1.1 Định hướng phát triển ngành da giày Việt Nam 563.1.2 Mục tiêu của ngành da giày Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 573.2 Các giải pháp tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức đối với ngành da giày Việt Nam khi tham gia RCEP 603.2.1 Tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp da giày 603.2.2 Đẩy mạnh công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu và công nghiệp hỗ trợ623.2.3 Giải pháp đào tạo phát triển nguồn nhân lực 653.2.4 Giải pháp nâng cao lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường 683.2.5 Giải pháp quản lý ngành 72KẾT LUẬN 74DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
- K51
Trang 4iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EU European Union Liên minh Châu Âu
EVFTA EU-Vietnam Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do Việt
Nam-EU FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GATS General Agreement on Trade in
LEFASO Vietnam Leather, Foowear and
TPP The Trans-Pacific Partnership Hiệp định đối tác xuyên
- K51
Trang 5v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Danh mục bảng
Bảng 2.1 Đóng góp của ngành da giày Việt Nam trong kim ngạch xuất khẩu toàn
quốc qua các năm 25
Bảng 2.2 Top 10 nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới năm 2014 27
Bảng 2.3 Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI 28
giai đoạn 2013-2015 28
Bảng 2.4 Top 10 nước xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới 2014 về số lượng 35
Bảng 2.5 Top 10 nước xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới năm 2014 về trị giá 35
Bảng 2.6 Kim ngạch xuất khẩu theo khu vực năm 2014 37
Bảng 2.7 Kim ngạch xuất khẩu sang một số nước Châu Á năm 2014 39
Bảng 3.1 Sản lượng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng sản phẩm bình quân đến năm 2020 59
Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1 Sản lượng giày dép sản xuất qua các năm 26
Biểu đồ 2.2 Một số công ty da giày có doanh thu năm 2014 trên 2000 tỷ đồng 29
Biểu đồ 2.3 Kim ngạch xuất khẩu ngành da giày qua các năm 34
Biểu đồ 2.4 Kim ngạch nhập khẩu máy móc năm 2014 46
Biểu đồ 2.5 Kim ngạch nhập khẩu da thuộc năm 2014 46
- K51
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi quá trình đổi mới bắt đầu, Việt Nam đã bắt tay vào hội nhập kinh tế quốc tế một cách tích cực, tăng cường tìm kiếm những cách tiếp cận thị trường nước ngoài và các nguồn lực quan trọng cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước Năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)-
sự kiện quan trọng mở ra nhiều lạc quan cho cộng đồng nhà đầu tư trong nước và cả nước ngoài về triển vọng phát triển của Việt Nam Tuy nhiên, gia nhập WTO không phải là đích đến cuối cùng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam Kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã ký kết và thực hiện nhiều Hiệp định thương mại tự
do khác ở cấp khu vực như Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Úc - Niu Di-lân, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản, Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ Gần đây nhất, sự thành lập của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và việc Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP hoàn tất đàm phán đã chứng tỏ nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ của Việt Nam Ngay cả ở giai đoạn hiện nay, Việt Nam vẫn đang tích cực tham gia vào đàm phán một số Hiệp định thương mại tự do tham vọng, như Hiệp định thương mại tự do EU
- Việt Nam (EVFTA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), v.v Cả chiều rộng và chiều sâu của những hiệp định thương mại tự do này đã và đang được
mở rộng không ngừng, từ thương mại hàng hoá sang thương mại dịch vụ và các vấn
đề mới khác như thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, v.v Trong bối cảnh đó, RCEP là một hiệp định đầy tham vọng nhằm mục đích đạt được quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và 6 đối tác khu vực đã ký FTA với ASEAN (ASEAN+1), đó là: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Niu Di-lân và
Ấn Độ Quá trình đàm phán RCEP được chính thức khởi động vào năm 2012 RCEP là một Hiệp định kinh tế quan trọng và được dự báo sẽ có nhiều tác động đến nền kinh tế Việt Nam, bởi vậy việc nghiên cứu về những ảnh hưởng có thể có của Hiệp định này đến nền kinh tế là cần thiết
Trong số các ngành công nghiệp ở Việt Nam, tác giả chọn ngành da giày làm đối tượng nghiên cứu bởi đây là một ngành quan trọng, đóng góp lớn vào GDP
- K51
Trang 7cũng như kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong nhiều năm qua Với kim ngạch xuất khẩu năm 2014 là 12,74 tỷ USD và năm 2015 là 15 tỷ USD, ngành da giày Việt Nam đã vượt qua Italy để vươn lên vị trí thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc
Da giày cũng luôn nằm trong nhóm những ngành mang lại giá trị xuất khẩu lớn nhất cho Việt Nam, chỉ đứng sau nhóm hàng Điện thoại các loại và linh kiện, Hàng dệt may và Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Năm 2015, ngành da giày đã đóng góp 9,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đã kí kết và tham gia những Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới quan trọng như TPP, EVFTA hay RCEP, da giày sẽ là một trong số những ngành chịu tác động lớn nhất Những FTA thế hệ mới này sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cho ngành công nghiệp này nhưng đi kèm với đó là không ít những thách thức Việc tìm hiểu những cơ hội và thách thức này đối với ngành da giày là cần thiết để có thể đưa ra những giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị đủ nguồn lực để tận dụng được những cơ hội và vượt qua thách thức trong thời gian tới
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Cơ hội và thách thức của Ngành da giày khi Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nêu lên sự cần thiết hình thành RCEP và những lợi ích của RCEP đối với các nước thành viên, khóa luận đi sâu vào dự báo những cơ hội và thách thức của Hiệp định này đối với một ngành cụ thể của Việt Nam đó là ngành da giày Bằng việc phân tích vai trò của ngành da giày trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như định hướng và mục tiêu phát triển của ngành này trong tương lai, tác giả
sẽ đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp này trước áp lực cạnh tranh từ các nước thành viên khi RCEP có hiệu lực
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là ngành da giày Việt Nam với những
cơ hội và thách thức trước việc Việt Nam gia nhập RCEP Phạm vi nghiên cứu của
- K51
Trang 8đề tài là hoạt động của ngành da giày giai đoạn 2007-2015 và trong bối cảnh các nước ASEAN và 6 nước đối tác đang nỗ lực để kết thúc đàm phán RCEP
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng để hoàn thành khóa luận là: phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh, dự báo, biên dịch từ các tài liệu nước ngoài
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
và Khái quát về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP
Chương 2: Thực trạng ngành da giày Việt Nam và các cơ hội, thách thức đối với ngành da giày dưới tác động của việc tham gia RCEP
Chương 3: Giải pháp tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức đối với ngành
da giày Việt Nam khi tham gia RCEP
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Đỗ Hương Lan Vì quỹ thời gian và trình độ cá nhân có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và bạn bè
Em xin trân trọng cảm ơn
- K51
Trang 9CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
TỰ DO THẾ HỆ MỚI VÀ KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC
TOÀN DIỆN KHU VỰC RCEP 1.1 Lý luận chung về các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của các FTA thế hệ mới
1.1.1.1 Khái niệm FTA
Cho tới nay đã có rất nhiều các tổ chức và quốc gia khác nhau đưa ra các khái niệm về FTA cho riêng mình Điều này thể hiện những quan điểm khác nhau
về FTA và sự phát triển đa dạng của các quốc gia Tuy nhiên theo cách hiểu chung nhất, FTA (Free Trade Agreement) là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên Ngày nay, FTA còn có cả các nội dung mới xúc tiến và tự do hóa đầu tư, chuyển giao công nghệ, lao động, môi trường…
1.1.1.2 Nội dung chính của các FTA
Một FTA thông thường bao gồm những nội dung chính sau:
- Quy định về việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan
- Quy định danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm thuế quan Thông lệ áp dụng chung là 90% thương mại
- Quy định lộ trình cắt giảm thuế quan, khoảng thời gian cắt giảm thuế thường được kéo dài không quá 10 năm
- Quy định về quy tắc xuất xứ
Các nội dung khác đề cập tới vấn đề tự do hóa trong lĩnh vực dịch vụ và đầu
tư, các biện pháp hạn chế định lượng, các rào cản kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua sắm chính phủ, lao động, bảo hiểm và môi trường…
1.1.1.3 Sự khác biệt của các FTA thế hệ mới:
“FTA thế hệ mới” là cụm từ để chỉ sự khác biệt với các FTA truyền thống
mà Việt Nam đã tham gia, với phạm vi rộng hơn, nội dung vượt ra ngoài cam kết về thương mại, dịch vụ và đầu tư, nó bao gồm cả các thể chế, pháp lý trong các lĩnh
- K51
Trang 10vực môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Các FTA này khi có hiệu lực sẽ tác động rất mạnh mẽ tới thể chế của các bên liên quan Trong thời gian 2 năm rưỡi (6/2012 - 12/2014), Việt Nam và các đối tác
đã khởi động và kết thúc đàm phán 3 Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương: FTA Việt Nam với Liên minh châu Âu (EVFTA), với Hàn Quốc (VKFTA), với Liên minh Hải quan Nga - Bê-la-lút - Ca-dắc-tan (VCUFTA) Việt Nam cũng vừa hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương - TPP và đang tiếp tục đàm phán 3 FTA, gồm: FTA ASEAN– Hồng Công (Trung Quốc), FTA với Khối thương mại tự do Châu Âu (EFTA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) Đây được gọi là những FTA thế hệ mới
mà khi chính thức có hiệu lực sẽ tác động không nhỏ đến từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế Việt Nam
Vậy khác biệt của các FTA thế hệ mới này là gì? Thứ nhất, xét về xuất khẩu,
các FTA thế hệ mới xóa bỏ phần lớn thuế quan cho hàng hóa Việt Nam và các nước đối tác, trong đó có những đối tác đặc biệt lớn như Hoa Kỳ hay EU Đây là cơ hội
lý tưởng để Việt Nam tăng sức cạnh tranh về giá Nếu so sánh với WTO (trong đó các nước chỉ cam kết “cắt giảm thuế” chứ không phải “loại bỏ thuế”, và chỉ với một
số dòng thuế chứ không phải là hầu hết các dòng thuế), các FTA mang lại những lợi thế hơn hẳn về thuế quan ưu đãi
Tuy vậy, thách thức cũng nằm ở chính khác biệt về thuế quan này Ưu đãi thuế quan chỉ dành cho các sản phẩm xuất khẩu có xuất xứ nội khối đạt một tiêu chuẩn nhất định, trong khi đó, đa phần nguyên vật liệu sản xuất của Việt Nam phải nhập khẩu từ Trung Quốc, các nước ASEAN…
Bên cạnh đó, thuế quan chỉ là một phần của vấn đề xuất khẩu Thuế giảm hoặc được loại bỏ hoàn toàn nhưng các hàng rào kỹ thuật và hệ thống vệ sinh cũng như kiểm dịch thực vật khắt khe, với nguy cơ hàng hóa bị trả về nếu không đáp ứng được… có thể trở thành những rào cản khiến hàng hóa Việt Nam rất khó tìm đường vào thị trường các nước đối tác FTA
Thứ hai, các FTA thế hệ mới có phạm vi cam kết rộng Trong khi các FTA
trước đây chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương mại hàng hóa, các FTA thế hệ mới sắp tới sẽ bao gồm những cam kết về nhiều lĩnh vực mới mà Việt Nam chưa từng
- K51
Trang 11cam kết/mở cửa trước đây như doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, lao động - công đoàn, môi trường…
Thứ ba, đối tác của Việt Nam khi tham gia FTA thế hệ mới là các đối tác đặc biệt lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Đây là những đối tác chiến lược, những thị
trường rộng lớn và đầy cơ hội của Việt Nam Khi các FTA được kí kết và các hàng rào bảo hộ được dỡ bỏ, lợi thế tương đối và phân công lao động giữa các nền kinh tế chắc chắn sẽ có bước chuyển dịch Việt Nam, với vị trí thuận lợi về địa kinh tế, địa chính trị, tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động sẽ có thể có lợi thế cao trong một số lĩnh vực: Dệt may, giày dép, điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng, nông nghiệp công nghệ cao Điều này có tiềm năng mang lại cơ hội hợp tác về vốn, về những
mô hình, phương thức quản lý mới, hiện đại và hiệu quả hơn cho doanh nghiệp Việt Nam
Thứ tư, các FTA thế hệ mới có nhiều cam kết về thể chế Khác với các FTA
trước đây chủ yếu ảnh hưởng tới chính sách thuế quan tại biên giới, các cam kết của FTA thế hệ mới ảnh hưởng trực tiếp đến thể chế, chính sách pháp luật nội địa Từ góc độ môi trường chính sách - pháp luật về kinh doanh, các FTA thế hệ mới có thể
sẽ là động lực cho một làn sóng cải cách về thể chế và hành chính mới, hiệu quả và
có định hướng cho Việt Nam
1.1.2 Tình hình tham gia các FTA thế hệ mới của Việt Nam
Việc hình thành các Hiệp định FTA hiện đang là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập, phát triển mà các quốc gia không thể đứng ngoài cuộc Nhận thức rõ điều này, trong những năm qua Việt Nam rất tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định FTA song phương và đa phương Đến nay, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết và thực hiện 10 Hiệp định FTA, bao gồm:
+ 6 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN (gồm AFTA, 5 FTA giữa ASEAN và các đối tác: Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc và Niu Dilân)
+ 4 FTA đàm phán với tư cách là một bên độc lập (gồm FTA với các đối tác: Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Hải quan)
- Vừa hoàn tất đàm phán 2 FTA (gồm FTA với Liên minh Châu Âu và Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương - TPP)
- K51
Trang 12- Đang tiếp tục đàm phán 3 FTA, gồm: FTA ASEAN– Hồng Công (Trung Quốc), FTA với Khối thương mại tự do Châu Âu (EFTA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)
Đặc biệt, từ giữa năm 2012, tiến độ đàm phán tham gia các Hiệp định FTA thế hệ mới đã được đẩy mạnh hơn Đến cuối năm 2014, Việt Nam và các đối tác đã kết thúc đàm phán 3 Hiệp định FTA song phương và đa phương: Hiệp định FTA Việt Nam với EU (EVFTA), với Hàn Quốc (VKFTA), với Liên minh Hải quan Nga
- Belarus - Kazakhstan (VCUFTA) Đây là những dấu mốc quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập ngày càng rộng và sâu hơn với kinh tế thế giới
Nhìn lại các Hiệp định giữa Việt Nam với các đối tác, có thể thấy rõ tinh thần luôn chủ động và tích cực hội nhập của Việt Nam Cụ thể là:
Hiệp định FTA Việt Nam - EU, được khởi động từ tháng 6/2012 tại Brussels
(Bỉ), đã trải qua 10 phiên chính thức và nhiều phiên giữa kỳ Ngày 13/10/2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Manuel Barroso đã có buổi thảo luận về kết thúc đàm phán FTA này Hiện hai bên tập trung
xử lý một số vấn đề then chốt để hướng tới việc thực hiện các cam kết đạt yêu cầu chất lượng cao và cân bằng trong tất cả các lĩnh vực đàm phán mở cửa thị trường (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, mua sắm công) cũng như các quy định và quy tắc quản lý (đặc biệt là sở hữu trí tuệ, bao gồm chỉ dẫn địa lý của hai bên; doanh nghiệp nhà nước và bảo hộ đầu tư )
Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) được khởi động từ tháng
8/2012, sau 8 phiên đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa kỳ, hai bên đã đi đến thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích Nhân dịp Hội nghị Cấp cao đặc biệt kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ đối thoại ASEAN - Hàn Quốc, ngày 10/12/2014 tại Bu-san (Hàn Quốc), hai nước đã ký Biên bản thoả thuận về kết thúc đàm phán Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc Trong Hiệp định này, phía Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu đãi cắt, giảm thuế quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng nông nghiệp, thủy hải sản chủ lực, công nghiệp dệt may, sản phẩm cơ khí và tạo cơ hội cho các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực Phía Việt Nam cũng dành ưu đãi cho Hàn Quốc với các nhóm hàng công nghiệp, nguyên phụ liệu
- K51
Trang 13dệt may, nhựa, linh kiện điện tử, xe tải, xe con, phụ tùng ô tô, điện gia dụng, sắt thép, dây cáp điện, góp phần đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào một vài nước nhất định
Hiệp định FTA Việt Nam - Liên minh Hải quan Nga - Belarus-Kazacstan (VCUFTA), được khởi động vào tháng 3/2013 Sau 8 phiên đàm phán chính thức và
nhiều phiên họp giữa kỳ cấp kỹ thuật, hai bên đã thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích, có tính đến điều kiện cụ thể của mỗi bên Ngày 15/12/2014, hai bên đã ký Tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định Theo đó, phía Liên minh Hải quan đã dành cho Việt Nam nhiều ưu đãi về các mặt hàng như: nông sản, bao gồm tất cả các mặt hàng thủy sản
và hàng công nghiệp như dệt, may, da giày, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến Đồng thời, Việt Nam cũng mở cửa thị trường theo lộ trình cho Liên minh Hải quan đối với một số sản phẩm chăn nuôi, hàng công nghiệp, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, góp phần đa dạng hóa thị trường tiêu dùng trong nước
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Hiệp định đối tác thương
mại tự do Châu Á Thái Bình Dương là một thỏa thuận thương mại được đàm phán giữa 12 nước thuộc khu vực Thái Bình Dương, bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam, Australia, Chile, Singapore, Brunei, Malaysia, New Zealand, Peru, Mexico, Canada Ngày 5 tháng 10 năm 2015, Bộ Trưởng của 12 nước tham gia TPP đã tuyên bố kết thúc đàm phán TPP có những đặc điểm chính mang tính bước ngoặt của thế kỷ 21, tạo ra một tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu trong khi vẫn đề cập tới các vấn
- Tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết: Hiệp định TPP tạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và chuỗi cung ứng cũng như thương mại không gián đoạn, đẩy mạnh tính hiệu quả và hỗ trợ thực hiện mục tiêu tạo việc
- K51
Trang 14làm, nâng cao mức sống, thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn và tạo thuận lợi cho việc hội nhập qua biên giới cũng như mở cửa thị trường trong nước
- Giải quyết các thách thức mới đối với thương mại: Hiệp định TPP thúc đẩy việc đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh thông qua việc giải quyết các vấn đề mới, trong đó bao gồm việc phát triển nền kinh tế số và vai trò ngày càng tăng của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu
- Bao hàm toàn bộ các yếu tố liên quan đến thương mại: Hiệp định TPP bao gồm các yếu tố mới được đưa ra để đảm bảo rằng các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể hưởng lợi từ thương mại
- Nền tảng cho hội nhập khu vực: Hiệp định TPP được ra đời để tạo nền tảng cho việc hội nhập kinh tế khu vực và được xây dựng để bao hàm cả những nền kinh tế khác xuyên khu vực Châu Á- Thái Bình Dương
1.2 Khái quát về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP
1.2.1 Giới thiệu chung về RCEP và sự cần thiết thành lập RCEP
1.2.1.1 Giới thiệu chung về RCEP
RCEP (Regional Comprehensive Economic Partnership)- Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện khu vực- là một hiệp định thương mại do ASEAN lãnh đạo, liên kết nền kinh tế của 16 quốc gia khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Nhóm bao gồm hơn 3 tỷ người, có tổng GDP khoảng 17 nghìn tỷ USD, và chiếm khoảng 40% tổng thương mại thế giới Các cuộc đàm phán được bắt đầu vào đầu năm 2013 và đang
được nỗ lực hoàn tất trong năm 2016
Sáng kiến về RCEP lần đầu tiên được giới thiệu vào tháng 11/2011 tại Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo ASEAN ở Bali khi các nhà lãnh đạo cố gắng hài hòa hai kiến trúc thương mại khu vực hiện có Trung Quốc ủng hộ Hiệp định Thương mại Tự do Đông Á, trong đó hạn chế chỉ gồm các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Nhật Bản lại ủng hộ Quan hệ Đối tác Kinh tế toàn diện ở Đông
Á, với thêm ba nước: Ấn Độ, Australia và New Zealand
- K51
Trang 15Các lãnh đạo ASEAN áp dụng một nguyên tắc gia nhập mở đối RCEP, cho phép các thành viên khác tham gia với điều kiện họ đồng ý tuân thủ các quy định và hướng dẫn của nhóm Hiện tại, chỉ có các nước ASEAN và các đối tác FTA sẽ tham gia vào các cuộc đàm phán Mặc dù Mỹ không được tham gia nhưng tư cách thành viên được mở đối với các nước khác
Ngày 30 tháng 8 năm 2012, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN tại Campuchia, các nhà lãnh đạo đã thông qua các nguyên tắc hướng dẫn của RCEP RCEP sẽ củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc kinh tế khu vực đang nổi lên và tìm cách hài hòa vấn đề “bát mì” bị tạo nên bởi các khác biệt giữa các FTA của ASEAN Hiệp định sẽ tìm cách thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực mạnh
mẽ hơn, dần dần loại bỏ thuế quan và các rào cản phi thuế quan và đảm bảo tính nhất quán với các quy tắc của WTO
Các nhà đàm phán thương mại ASEAN tuyên bố RCEP dự kiến sẽ giải quyết thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, hợp tác kinh tế và kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh và giải quyết tranh chấp
Khác biệt lớn về trình độ phát triển trong khu vực ASEAN ngăn RCEP theo đuổi các chính sách tự do hóa thương mại tích cực Nguyên tắc định hướng của RCEP thừa nhận thực tiễn khác nhau ở các nước đang phát triển như Campuchia, Lào, Việt Nam, Myanmar và đưa ra linh hoạt đối xử đặc biệt và khác biệt RCEP cũng có nhiệm vụ thúc đẩy hợp tác kinh tế và công nghệ để rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước tham gia
1.2.1.2 Sự cần thiết thành lập RCEP
Thứ nhất, khu vực Đông Á cần một thỏa thuận thương mại phạm vi toàn khu vực
Từ những khu vực hầu như không có thỏa thuận thương mại tự do (FTA) nào, Đông
Á đã trở thành một trong những khu vực trên thế giới với nhiều FTA nhất trong những năm gần đây Có thể kể đến một số quốc gia đã kí kết nhiều FTA nhất trong khu vực như Singapore (21), Ấn Độ (13), Nhật Bản (13), Trung Quốc(12), Malaysia(12), Thái Lan(12)…, chưa kể đến các FTA đang trong quá trình đàm phán Sự bùng nổ các FTA đã diễn ra mà thiếu đi những kế hoạch tổ chức hay
- K51
Trang 16nguyên tắc định hướng cụ thể Sự chồng chéo và phức tạp của các Thỏa thuận thương mại tự do đã dẫn đến sự tăng cao về chi phí kinh doanh và đầu tư tai khu vực này Cụ thể, chính sự khác biệt và đa dạng về luật lệ ở từng quốc gia là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng “bát mì” của ASEAN- bao gồm lộ trình cắt giảm thuế, danh mục loại trừ, quy tắc và tiêu chuẩn khác biệt và cạnh tranh
Thứ hai, việc tăng cường các hoạt động FTA bên ngoài khu vực đặt nhiều áp lực lên khu vực Đông Á Ở giai đoạn này, WTO vẫn là cơ chế thống trị duy nhất của tự
do hóa thương mại đa phương, với số lượng thành viên lớn nhất Rút ra từ những thành tựu đạt được về tự do hóa thương mại, việc kết thúc vòng đàm phán Doha hiện nay sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho những nền kinh tế thành viên Những lợi ích này bao gồm cả những lợi ích trực tiếp như cải thiện việc tiếp cận thị trường và giảm nguy cơ dễ bị tổn thương trước những thay đổi bất lợi trong cơ chế thương mại đầu tư nước ngoài, lẫn những lợi ích gián tiếp khác như dẫn tới những cải cách trong nước và thuận lợi hóa thương mại Điều đáng lưu ý là các hiệp định FTA dù quan trọng nhưng bản thân chúng không thể thay thế được cho các hiệp định đa phương Chúng chỉ nhằm thúc đẩy thương mại và cơ hội liên quan giữa những nhóm nhỏ của các nền kinh tế Tuy nhiên, các FTA không thực thi được những quy tắc, đặc biệt là quy tắc về chống bán phá giá, chống trợ cấp nông nghiệp, v.v Điều này chỉ có thể thực hiện được ở cấp đa phương giúp tránh hoặc giảm bớt những phiền toái của Quy tắc xuất xứ (RoO) Nghiêm trọng hơn, các FTA khác nhau với những mức độ cam kết khác nhau có thể bóp méo sự phân bổ nguồn lực của những nền kinh tế liên quan Chính vì vậy, các thành viên đã quay sang Vòng Doha để đạt được một khung khổ thống nhất hơn cho tự do hóa thương mại Mặc dù có sự kỳ vọng về tiến độ đạt được nhưng vòng Đàm phán Doha của WTO tới này dường như tiến triển rất chậm chạp Vòng đàm phán Doha đình trệ là lý do khiến nhiều nền kinh tế lớn hướng đến các FTA như giải pháp thay thế khả quan và dễ tiếp cận Các quy tắc và kỷ luật làm cơ sở cho sự phát triển của chuỗi cung ứng thương mại đã, đang và tiếp tục được hình thành bên ngoài WTO Những nỗ lực để hài hòa các quy định và luật chơi mới đang diễn ra trên bàn đàm phán của các Hiệp định có phạm vi rộng lớn như TPP và TTIP (Hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây
- K51
Trang 17Dương) hay Hiệp định song phương giữa EU và Nhật Bản Những khối thương mại khổng lồ của châu Âu và Mỹ có thể chi phối quy tắc thiết lập luật chơi trong hệ thống thương mại toàn cầu, do đó bỏ qua Châu Á Giải pháp cho vấn đề này là việc đàm phán các hiệp định FTA khu vực rộng lớn hơn đang là một xu hướng phát triển mới, nhất là tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, được thúc đẩy bởi cuộc đua nhằm đạt được những tiêu chuẩn FTA cao hơn và nhu cầu hội nhập khu vực mạnh
mẽ hơn hướng tới hỗ trợ các chuỗi giá trị hoàn thiện hơn Các nỗ lực đáng lưu ý ở đây là RCEP và TPP - có chung một số điểm tương đồng cũng như cho thấy những khác biệt lớn Tuy nhiên, cả RCEP và TPP đều hướng tới một thỏa thuận hội nhập kinh tế rộng lớn hơn tại Châu Á-Thái Bình Dương
Sự quan tâm đặc biệt nên được dành cho các Hiệp định cạnh tranh khác trong khu vực, đặc biệt là TPP Các thỏa thuận TPP là một thành phần quan trọng cho chiến lược tái cân bằng của Mỹ hướng tới Châu Á Nó sẽ củng cố kinh tế, chính trị, và các liên kết an ninh của Mỹ với các nền kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương cho những thập kỉ tương lai Tuy nhiên, hàm ý chính trị có thể dễ dàng nhận thấy hơn Có vai trò như một người khởi xướng với trung tâm là Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), TPP nhằm mục đích tạo ra một chế độ thương mại tự do cao với phạm vi vấn đề toàn diện Mục đích này có khả năng làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN nếu nó diễn ra nhanh hơn so với quá trình hình thành RCEP, và nếu nó có nội dung phong phú hơn nhiều so với RCEP
Thứ ba, RCEP là sự lựa chọn tối ưu cho khu vực Đông Á đạt được hội nhập khu vực ASEAN và các đối tác chiến lược đã nhiều lần đề cập đến việc hướng đến một
thỏa thuận có phạm vi rộng lớn ở khu vực Đông Á, tham vọng này được thúc đẩy bởi những bài học sau khủng hoảng tài chính Châu Á, bởi mong muốn được tự lực cánh sinh và bởi nhận thức rằng thương mại khu vực đã trở nên tập trung hơn Trong quá trình hiện thực hóa tham vọng đó, các quốc gia trong khu vực đã đạt được những thành tựu như hình thành nên các khu vực kinh tế ASEAN+3 và ASEAN+6 Trong tháng 8 năm 2011, Trung Quốc và Nhật Bản đã đề xuất chung một FTA khu vực, được tích hợp vào một khái niệm mà các nhà lãnh đạo ASEAN
đã phát triển là Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP RCEP- đặc trưng
- K51
Trang 18với " Vai trò trung tâm của ASEAN"- dự kiến sẽ chứng minh sự lãnh đạo của ASEAN trong việc quy tụ 10 thành viên và các đối tác bên ngoài để tăng trưởng, phát triển và hài hòa các nền kinh tế
1.2.2 Những lợi ích dự kiến của RCEP đối với các nước thành viên
Cũng như các FTA khác, một FTA toàn khu vực Đông Á như RCEP sẽ đem lại lợi ích cho các nước thành viên trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến chính trị, xã hội Những lợi ích có thể kể đến là:
1.2.2.1 RCEP là một giải pháp cho vấn đề “bát mì” ở khu vực Đông Á
Một lý do kinh tế cốt lõi cho việc thành lập FTA toàn khu vực Đông Á là việc giảm chi phí giao dịch Đông Á đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng số lượng các FTA giữa các quốc gia trong khu vực cũng như vơi các nước ngoài khu vực kể từ đầu thế kỉ 21 Điều này đã tạo ra hiện tượng “bát mì” (“noodle bowl”) ở khu vực này Hiện này, có ít nhất 22 ROO (Rule of Origin: Quy tắc xuất xứ) giữa các FTA của các nước ASEAN+1, ngay cả sau khi tập hợp những quy tắc tương tự nhưng không giống nhau Chỉ có khoảng 30% trong tổng số các dòng thuế ở ASEAN+1 có chung các quy định về Quy tắc xuất xứ Với các thỏa thuận song phương- chẳng hạn như FTA giữa Nhật Bản và Ấn Độ- có 12 loại ROO, 7 trong số
đó là khác biệt với các ROO trong FTA giữa các nước ASEAN+1 Với Quy tắc xuất xứ và lộ trình cắt giảm/loại bỏ các dòng thuế khác nhau, việc có quá nhiều FTA đã tạo ra vấn đề “bát mì”, tăng chi phí giao dịch thương mại trong khu vực và
do đó dẫn đến tăng chi phí của các mạng lưới sản xuất trong khu vực, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực Đông Á
Nếu một thỏa thuận toàn diện như RCEP có thể được thông qua, vấn đề Quy tắc xuất xứ chồng chéo có thể được thực hiện linh hoạt và hợp lý hơn, được quản
lý tốt hơn thông qua các phương tiện điện tử Trong lĩnh vực đầu tư, RCEP sẽ thức đẩy dòng vốn FDI và chuyển giao công nghệ dễ dàng hơn thông qua các tập đoàn
đa quốc gia HỘ I CÁN
- K51
Trang 191.2.2.2 RCEP xây dựng một thị trường chung lớn và tự do hóa hơn
Quy mô của nền kinh tế là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của một khu vực Kích thước thị trường khi RCEP được hợp nhất (khoảng 46% dân số và 28% tổng GDP của thế giới) là đủ lớn để tạo ra một hiệu ứng thương mại tích cực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện trong khu vực
Tỷ lệ cao hơn đến 40% của thương mại nội khu vực giữa các nền kinh tế thành viên RCEP là một yếu tố tiềm năng khác góp phần tạo nên hiệu ứng thương mại tích cực
đó
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng RCEP sẽ tạo ra lợi ích lớn hơn so với TPP vì
nó bao gồm các nền kinh tế khổng lồ của Châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ Tất cả các thành viên RCEP ( trừ Trung Quốc) có tỷ lệ phụ thuộc thương mại với RCEP cao hơn với TPP Nghiên cứu cho thấy rằng RCEP thúc đẩy tăng trưởng GDP cao hơn TPP, ngay cả đối với cùng một nước tham gia vào cả RCEP và TPP Cụ thể, Việt Nam được dự báo sẽ tăng 23,42% GDP thực tế khi gia nhập RCEP, trong khi chỉ tăng 12,81% từ TPP
1.2.2.3 RCEP nâng cấp mạng lưới sản xuất và khả năng cạnh tranh của khu vực
Mạng lưới sản xuất tòa khu vực đã trở thành một phần không thể thiếu trong bức tranh kinh tế của đông á từ sau Chiến tranh lạnh Nhiều yếu tố đã góp phần vào
sự hình thành của việc phân chia sản phẩm trong khu vực, chẳng hạn như chiến lược hội nhập quốc tế của các công ty đa quốc gia được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, việc giảm chi phí giao dịch nhờ cuộc cách mạng về CNTT
và sự cởi mở trong chính sách ở Đông Á Bên cạnh đó, sự tăng trưởng kinh tế liên tục và nhanh chóng của Trung Quốc đã biến quốc gia này thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống sản xuất khu vực và hình thành một “Mô hình Trung Quốc” (China Model) rất độc đáo liên quan đến cơ cấu nông nghiệp
Tuy nhiên, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế gần đây, nền kinh tế toàn cầu đang trải qua một thời kỳ chuyển đổi cơ cấu và tái cân bằng đối với Mỹ, điều này thể hiện qua nỗ lực phục hồi việc sản xuất dầu khí đá phiến của họ; với EU là việc ảnh hưởng hàng loạt các cải cách kinh tế; với Trung Quốc là sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng Còn với thế giới, việc chứng kiến sự pha tạp ngày càng tăng của các Hiệp định thương mại khu vực rõ ràng không phải
- K51
Trang 20cách tốt nhất để tổ chức thương mại một cách hợp lý Tất cả những diễn biến trên gây áp lực rất lớn lên Đông Á để duy trì khả năng cạnh tranh của mạng lưới sản xuất trong khu vực
Nếu có hiệu lực, RCEP sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và củng cố mạng lưới sản xuất khu vực bằng việc tự do hóa và tạo điều kiện cho cả thương mại và đầu tư, thậm chí bằng cách giải quyết các vấn đề phía sau biên giới (behind-the-border issues) liên quan đến chuỗi cung ứng và mạng lưới sản xuất
1.2.2.4 Đạt được kinh nghiệm trong việc sáp nhập vào một hệ thống thương mại quốc tế với tiêu chuẩn cao hơn và lượng thành viên lớn hơn
Hiện nay, việc hội nhập kinh tế ở Đông Á là khá khiêm tốn, khi bàn đến mức
độ tự do hóa thương mại và đầu tư và phạm vi các vấn đề được bao gồm trong các FTA hiện có Tuy nhiên, sự thành lập TPP và TTIP đã phát ra một tín hiệu rất quan trọng là thương mại thế giới có thể phát triển theo hướng hoàn toàn ngược lại, trong
đó sự tự do hóa cao trong tất cả các ngành và những quy định mới liên quan đến các vấn đề như sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, mua sắm chính phủ, lao động và môi trường- tất cả sẽ được giới thiệu một cách toàn diện và rõ ràng
RCEP- Hiệp định được coi như một ván cầu cho khu vực Đông Á đối phó với những thách thức của hệ thống thương mại thế giới luôn thay đổi hiện nay- sẽ trở thành một phương tiện lý tưởng cho khu vực để làm quen với việc đáp ứng những tiêu chuẩn thương mại tương đối cao, nhưng không quá cao để bỏ qua các bên tiềm năng (chủ yếu là các nước đang phát triển) Các nước trong khu vực sẽ đạt được những kinh nghiệm rất quý báu trong quá trình hướng đến những thỏa thuận thương mại tham vọng hơn trong tương lai Trong số các đối tác ngoài ASEAN, Úc
và New Zealand được RCEP dành cho cơ hội vượt ra ngoài những kết quả có thể đạt được qua đường song phương Đối với Trung Quốc, RCEP không chỉ tiếp tục gây áp lực lên các quá trình cải cách mà còn gắn kết chặt chẽ những quá trình này với một khu vực rộng Ấn Độ không đủ điều kiện để trở thành một thành viên của TPP nên RCEP là cuộc chơi khu vực chính của Ấn Độ, tương tự như vậy với Trung Quốc, mặc dù có những khó khăn khi chấp nhận các nguyên tắc cơ bản của TTP so tới RCEP (ví dụ TPP bao gồm các khía cạnh lao động) Động cơ chính của Nhật Bản là sử dụng RCEP để đạt được những cải cách lớn hơn trong nước Đối với
- K51
Trang 21Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, RCEP là một diễn đàn dễ dàng hơn đàm phán FTA riêng giữa ba nước này
1.2.3 Diễn biến đàm phán RCEP: tham vọng, những thành tựu và khó khăn
1.2.3.1 Tham vọng của đàm phán RCEP
RCEP là một FTA tham vọng liên quan đến những đàm phán phức tạp như
đã thể hiện trong “Nguyên tắc hướng dẫn và mục tiêu đàm phán của RCEP” (sau đây gọi là Nguyên tắc hướng dẫn)
Mục tiêu: Các đàm phán RCEP hướng đến mục tiêu lấy ASEAN làm trung tâm, thông qua đó các nước ASEAN sẽ mở rộng và làm sâu sắc hơn các cam kết kinh tế với các nước đối tác FTA Tầm nhìn của RCEP là trở thành một thỏa thuận hợp tác kinh tế hiện đại, toàn diện, có chất lượng cao và cùng có lợi giữa các nước thành viên ASEAN và các đối tác FTA của ASEAN Mặc dù có sự khác biệt lớn trong phạm vi nội dung và quy định cụ thể trong những hiệp định FTA hiện hành, một trong những trọng tâm chính của RCEP là làm hài hòa các quy định hiện hành
và những ứng dụng của chúng trong khuôn khổ các hiệp định FTA của ASEAN Hiệp định đề xuất phải phù hợp với Hiệp định WTO; và quy định đối xử đặc biệt và khác biệt đối với những nước thành viên ASEAN kém phát triển, nhất là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam Sau 6 vòng đàm phán đầu tiên, Lãnh đạo ASEAN đã nhất trí rằng hiệp định RCEP sẽ cam kết sâu rộng hơn với những cải tiến đáng kể so với các hiệp định FTA ASEAN + 1 hiện hành, đồng thời công nhận bối cảnh đặc thù và đa dạng của các nước thành viên tham gia Do đó, quy định đối
xử đặc biệt và khác biệt, cùng với việc có thêm sự linh hoạt đối với những nước thành viên ASEAN kém phát triển (đặc biệt là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam), là phù hợp với Hiệp định WTO và các hiệp định FTA ASEAN + 1 hiện hành Các cuộc đàm phán bắt đầu vào cuối năm 2012 và đặt mục tiêu hoàn thành vào cuối năm 2015, tuy nhiên đến hết năm 2015 thì mục tiêu này chưa thành hiện thực và các bên đang nỗ lực để hoàn tất quá trình đàm phán trong năm 2016
Phạm vi của các cuộc đàm phán: Các cuộc đàm phán RCEP sẽ bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, hợp tác kinh tế và kĩ thuật, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, giải quyết tranh chấp và các vấn đề khác
- K51
Trang 22Nguyên tắc hướng dẫn: Các cuộc đàm phán RCEP được hướng dẫn bởi các nguyên tắc sau đây: (1) phù hợp với WTO, bao gồm điều XXIV của GATT và các điều khoản của GATS; (2) có những thỏa thuận rộng lớn hơn và sâu hơn với nhiều cải tiến đáng kể so với các FTA hiện tại của ASEAN+1, trong khi công nhận hoàn cảnh cá nhân và sự đa dạng của các nước tham gia; (3) có các quy định để tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, tăng cường tính minh bạch trong quan hệ thương mại
và đầu tư giữa các nước tham gia, cũng như tạo điều kiện cho sự tham gia của các nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực; (4) có các hình thức thích hợp thể hiện sự linh hoạt như việc bao gồm những cách đối xử đặc biệt và khác biệt, cộng với sự linh hoạt bổ sung dành riêng cho các nước thành viên kém phát triển nhất ASEAN, với điều kiện phù hợp với các FTA của ASEAN+1 hiện có; (5) duy trì hiệu lực của các FTA hiện tại của ASEAN+1 và các FTA song phương/đa phương giữa các nước tham gia; (6) có điều khoản gia nhập mở để cho phép sự tham gia của bất kỳ đối tác FTA nào của ASEAN mà không tham gia vào các cuộc đàm phán RCEP và bất kỳ đối tác kinh tế bên ngoài nào khác sau khi các cuộc đàm phán RCEP được hoàn tất;(7) dựa trên các FTA của ASEAN+1, cung cấp sự hỗ trợ về kỹ thuật và năng lực xây dựng cho các nước đang phát triển và kém phát triển tham gia RCEP để tạo điều kiện cho tất cả các bên tham gia đầy đủ vào các cuộc đàm phán, thực hiện các nghĩa vụ của RCEP và tận hưởng những lợi ích từ RCEP; (8) tiến hành các cuộc đàm phán về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và các lĩnh vực khác song song để đảm bảo một kết quả toàn diện và cân bằng
1.2.3.2 Thành tựu của các cuộc đàm phán RCEP
Các cuộc đàm phán RCEP tới nay đã hoàn thành 12 vòng, với vòng đàm phán gần nhất là vào tháng 4 năm 2016 tại Australia Vòng đàm phán thứ 13 dự kiến được tổ chức vào tháng 6 năm 2016 tại New Zealand và các bên tham gia cũng đang nỗ lực để hoàn tất đàm phán vào cuối năm 2016
Các cuộc đàm phán được bắt đầu với các lĩnh vực chính về hàng hóa, dịch vụ
và đầu tư, từ đó ba nhóm công tác đã được thành lập trong vòng đàm phán đầu tiên Với các đàm phán rộng hơn và sâu hơn trong các vòng tiếp theo, các nhóm công tác mới về sở hữu trí tuệ, cạnh tranh và hợp tác kinh tế-kỹ thuật bắt đầu công việc ở vòng thứ 4; các nhóm công tác về giải quyết tranh chấp được thành lập ở vòng thứ 5
- K51
Trang 23của quá trình đàm phán Các nước tham gia đã đạt được sự đồng thuận sơ bộ về một loạt vấn đề liên quan trong RCEP
Về thương mại hàng hóa, các cuộc đàm phán đã thảo luận về các văn bản,
các phương thức được sử dụng trong đàm phán về thuế quan và các vấn đề khác liên quan đến các biện pháp phi thuế quan, các biện pháp thương mại , Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuậ và thủ tục đánh giá sự phù hợp (STRACAP), Các biện pháp vệ sinh
và kiểm dịch thực vật (SPS) cũng như Thủ tục hải quan và thuận lợi thương mại
(CPTF) và Quy tắc xuất xứ (ROO) Đối với thương mại dịch vụ, các nước tham gia
đã thảo luận về cơ cấu và những yếu tố của chương dịch vụ, các phương pháp tiếp
cận đến cam kết về kế hoạch tiếp cận thị trường và một số vấn đề cụ thể khác Về
đầu tư, các yếu tố của chương đầu tư bao gồm cả phương thức đầu tư đã được thảo
luận một cách chi tiết Đã có nhiều thành tựu đạt được trên một loạt các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, hợp tác kinh tế- kỹ thuật và giải quyết tranh chấp
1.2.3.3 Những khó khăn trong quá trình đàm phán RCEP
Bất kỳ thỏa thuận thương mại tự do nào cũng là sự thỏa hiệp từ tất cả các thành viên tham gia Việc thỏa hiệp sẽ dễ dàng đạt được hơn nếu có sự gắn kết cao giữa các đối tác Tuy nhiên, trong các cuộc đàm phán RCEP, những vấn đề làm suy yếu sự gắn kết vẫn còn tồn tại, không chỉ đến từ các nước tham gia đàm phán mà còn đến từ các sáng kiến mang chủ nghĩa khu vực trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, và không chỉ về kinh tế mà còn về mặt chính trị
Vai trò trung tâm của ASEAN trong các cuộc đàm phán RCEP không được phát huy đầy đủ “Trung tâm ASEAN” thường được công nhận bởi tất cả các nước tham gia và đóng vai trò hàng đầu trong việc định hướng quá trình đàm phán RCEP Tuy nhiên, vai trò trung tâm này có thể bị suy yếu do thực tế rằng việc hội nhập trong và ngoài ASEAN dù không được sắp xếp rõ ràng nhưng lại được tiến hành song song Do đó, ASEAN phải đối mặt với những thách thức khi phải phát triển các mối quan hệ bên ngoài mặc dù khả năng đưa ra những chính sách chung là còn hạn chế Kết quả là, các chính sách ngoại thương của cac thành viên ASEAN không được tích hợp chặt chẽ Là một FTA hơn là một liên minh thuế quan, ASEAN khó
có thể thiết lập một mức thuế chung
- K51
Trang 24Bên cạnh đó, mức độ phát triển kinh tế và tự do hóa thương mại khác nhau giữa các thành viên trong RCEP là một lực cản đáng kể trong quá trình đàm phán RCEP Khoảng cách phát triển lớn sẽ dẫn đến quan điểm khác nhau giữa các nước tham gia và khó có thể đạt được đồng thuận Hơn nữa, các nước có thu nhập cao như Nhật Bản, Australia và New Zealand cũng muốn tìm cách phủ sóng rộng hơn các vấn đề thương mại mới như chính sách cạnh tranh, môi trường và lao động tiêu chuẩn- điều sẽ làm cho việc đàm phán thậm chí khó khăn hơn Đối với các nước có thu nhập thấp, những lợi ích hứa hẹn từ RCEP sẽ có vẻ kém hấp dẫn vì họ gặp khó khăn trong việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng vật chất và cải thiện điều kiện thương mại bởi vậy họ khó có thể tận hưởng những lợi ích của dòng chảy hàng hóa và dịch vụ qua các nước thành viên RCEP
Cuối cùng, các yếu tố chính trị và chiến lược khác nhau cũng ảnh hưởng đến tiến trình đàm phán RCEP Chiến lược tái cân bằng của Mỹ hướng tới Châu Á, với tham vọng cả về an ninh và kinh tế, được coi là một thách thức bên ngoài của RCEP Hiệp định TPP được dẫn đầu bởi Mỹ đã thu hút được sự tham gia của 7 trong số các thành viên RCEP, bao gồm 4 thành viên ASEAN- Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam và 3 nước ngoài ASEAN là Nhật Bản, Australia và New Zealand Hàn Quốc, Philiplines và Thái Lan cũng đã thể hiện sự quan tâm trong việc gia nhập TPP Thực tế rằng nhiều quốc gia hướng đến TPP có thể được giải thích dễ dàng về mặt chính trị hơn là kinh tế, phản ánh tầm quan trọng chiến lược ngày càng tăng của Hoa Kỳ trong khu vực Bởi vậy, các nước này đang cố gắng để cân bằng giữa lợi ích an ninh và kinh tế bằng cách cân bằng giữa RCEP và TPP Bất
kỳ sự cạnh tranh giữa RCEP và TPP nào cũng có thể dẫn đến mất đoàn kết trong ASEAN, do đó có thể làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong khu vực Đặc biệt là trong thời gian ngắn, hai cuộc đàm phán song song đã tạo thêm nhiều áp lực về nhận lực, ngân sách và những tài nguyên quốc gia khác đối với các thành viên tham gia cả hai hiệp định Ngoài ra, khi đàm phán TPP đã được kí kết trước RCEP, một số thành viên có thể giảm động lực tiếp tục những nỗ lực đàm phán ở RCEP Còn ở trong khu vực Đông Á, mặc dù việc Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã bắt đầu đàm phán 3 bên CJK FTA vào tháng 3 năm 2013 là một tín hiệu tích cực, thực tế là căng thẳng chính trị vẫn còn tồn tại Đối với các nhà lãnh đạo,
- K51
Trang 25việc cải thiện quan hệ chính trị là rất quan trong để có thể đẩy nhanh tiến độ đàm phán và kết thúc sớm cả đàm phán RCEP và CJK FTA
Các nước đang đàm phán RCEP hiện đang là nhóm nước có ảnh hưởng khá lớn đối với nền kinh tế Việt Nam Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến tháng 6/2015, khối các nước đàm phán RCEP có 11.348 dự án đầu
tư vào Việt Nam, chiếm khoảng 61% tổng số dự án FDI hiện có; số vốn đăng ký đạt 140,5 tỷ USD, chiếm khoảng 55% tổng vốn FDI cam kết vào Việt Nam Bởi vậy, RCEP có hiệu lực đồng nghĩa với việc nền kinh tế Việt Nam sẽ chịu nhiều tác động
cả tích cực và tiêu cực từ Hiệp định này
Tương tự như các FTA và cam kết hội nhập khác, RCEP được kỳ vọng sẽ mang lại những cơ hội mới cho Việt Nam thông qua: (i) cải thiện phương thức tiếp cận các thị trường đầu tư và xuất khẩu của ASEAN và các đối tác (cả nước phát triển và đang phát triển) với nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ đa dạng; (ii) mở cửa để nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn (nhất là đầu vào cho sản xuất (như thép từ Trung Quốc, sản phẩm nhựa từ Hàn Quốc và Nhật Bản) và nhập máy móc thiết bị có công nghệ hiện đại và phù hợp); (iii) tham gia vào chuỗi giá trị và sản xuất khu vực và tăng cường hợp tác kỹ thuật từ đó tăng vị thế của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp; và (iv) giảm chi phí giao dịch và tạo dựng môi trường kinh doanh thân thiện hơn nhờ hài hòa hóa các quy định hiện hành và áp dụng các quy định đó trong khuôn khổ các FTA khác nhau
Trong giai đoạn đầu tiên, RCEP sẽ loại bỏ thuế quan ngay lập tức cho 65% hàng hoá – chiếm khoảng từ 8.000 đến 9.000 mặt hàng, 20% hàng hoá thương mại tiếp theo sẽ được loại bỏ trong vòng 10 năm kể khi RCEP có hiệu lực Thuế quan cụ thể đối với 15% hàng hóa thương mại còn lại sẽ tiếp tục đàm phán trong tương lai
và đây chính là sản phẩm nhạy cảm đối với mỗi quốc gia
RCEP bao gồm nhiều đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam như Trung Quốc, Nhật Bản, Australia và ASEAN Đây là những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam nên hoạt động thương mại sẽ được tăng cường và mở rộng Bên cạnh
đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam dự kiến cũng sẽ tăng lên đáng kể để tận dụng cơ hội mới và các ưu đãi do RCEP đem lại Các FDI từ các đối tác phát triển sẽ đem lại
- K51
Trang 26các tác động lan tỏa tích cực, bao gồm cả chuyển giao công nghệ, bí quyết kinh doanh và quản lý vốn- những yếu tố rất cần thiết với Việt Nam
Ngoài ra, việc hoàn thiện và thực thi các cam kết trong RCEP sẽ giúp Việt Nam xây dựng môi trường đầu tư cạnh tranh và minh bạch, qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực Đặc biệt, thông qua RCEP, Việt Nam sẽ chính thức tham gia vào chuỗi giá trị và sản xuất khu vực, nâng cao vai trò
và vị thế của mình
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, việc gia nhập RCEP cũng được dự báo đặt ra nhiều thách thức cho nền kinh tế Việt Nam Kinh tế Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, yếu kém Trình độ công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu, do đó cản trở việc củng cố vị thế ở mạng sản xuất khu vực RCEP Trong khi đó, quy mô sản xuất ở nước ta còn tương đối nhỏ; năng suất hạn chế Ở khu vực dịch vụ, chất lượng và khả năng quản trị rủi ro kém hơn nhiều so với mặt bằng trên thị trường quốc tế Thương mại của Việt Nam tập trung ở một số ít đối tác, và dễ bị tổn thương khi các thị trường này có biến động bất lợi Bên cạnh đó, các hạn chế đối với xúc tiến xuất khẩu dịch vụ (kể cả dịch vụ chuyên nghiệp) là bất cập về số lượng, chất lượng và trình độ ngoại ngữ - đều là những điều kiện tiên quyết để gia nhập thị trường RCEP hiệu quả Quá trình tái cơ cấu chậm chuyển biến, làm giảm lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài (trong đó có khu vực RCEP)
Quá trình hội nhập và thực thi các cam kết FTA cũng bộc lộ nhiều điểm yếu
và đặt ra nhiều thách thức hơn cho Việt Nam Thương mại của Việt Nam chủ yếu tập trung vào một số đối tác thương mại lớn cũng như một số sản phẩm xuất nhập khẩu chủ yếu, khiến cho Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào những thị trường này Vấn đề trở nên khó khăn hơn khi cơ cấu thương mại của Việt Nam khá tương đồng với các nước láng giềng trong khi chất lượng và hàm lượng giá trị gia tăng của hầu hết sản xuất còn khiêm tốn và Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu để phục vụ sản xuất trong nước Trong khi đó, thương mại dịch vụ của Việt Nam vẫn rất khiêm tốn mặc dù đã được cải thiện HỘ I CÁN
- K51
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM VÀ CÁC CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DA GIÀY
TRƯỚC VIỆC THAM GIA RCEP 2.1 Vai trò của ngành công nghiệp da giày trong nền kinh tế Việt Nam
2.1.1 Những lợi thế để phát triển ngành da giày Việt Nam
Thực tế cho thấy trong những năm gần đây- giày dép và các sản phẩm khác của ngành da giày do các cơ sở trong nước sản xuất có chất lượng ngày càng được nâng cao, mẫu mã phong phú hơn, được tiêu thụ với khối lượng lớn trên thị trường Nhiều người tiêu dùng đã tin tưởng lựa chọn sản phẩm trong nước khi chất lượng của các sản phẩm này không kém hàng nhập khẩu nhưng mẫu mã phù hợp và giá cả hợp lý hơn Những thành tựu mà ngành da giày đã đạt được trong thời gian gần đây chủ yếu là nhờ vào yếu tố thuận lợi sẵn có của Việt Nam
Với số dân trên 90 triệu người và tỷ lệ nữ giới lớn, Việt Nam có lợi thế về đội ngũ lao động và đặc biệt phù hợp với ngành da giày khi ngành này đòi hỏi sự khéo léo, cẩn thận, cần mẫn Thêm vào đó, giá nhân công của Việt Nam cũng thuộc loại thấp nhất trong khu vực
Kinh nghiệm sản xuất và tay nghề của công nhân là một lợi thế khi đề cập đến ngành da giày Trong lĩnh vực sản xuất hàng da giày, doanh nghiệp Việt Nam
đã có nhiều kinh nghiệm và kiến thức về sản xuất, tay nghề của công nhân ngày càng được nâng cao, trang thiết bị sản xuất trong các nhà may và phân xưởng được trang bị tốt hơn Tuy thời gian xuất khẩu mặt hàng da giày chưa lâu nhưng chúng ta
đã có nhiều kinh nghiệm trong việc hợp tác với các đối tác nước ngoài, đặc biệt là đối với các khách hàng ở khu vực Châu Á
Bên cạnh đó, vốn đầu tư không lớn cũng là một lợi thế của ngành công nghiệp này Chi phí xây dựng nhà máy, công xưởng cho sản xuất da giày là không lớn và thời gian thu hồi cũng khá nhanh Đối với Việt Nam- một quốc gia còn nhiều khó khăn về vốn đầu tư- thì đây là một ngành rất thích hợp để phát triển kinh tế Cũng chính vì lý do này mà các cơ sở sản xuất da giày xuất khẩu ngày càng tăng và phát triển mạnh
- K51
Trang 28Việt Nam được đánh giá là một nước có chính trị ổn định trong khu vực, đây
là một điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất trong nước cũng như là lợi thế để các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào nước ta Chính trị ổn định là yếu tố quan trọng
để các doanh nghiệp da giày đảm bảo được sản xuất trong mọi hoàn cảnh, đồng thời tránh được nguy cơ đình trệ sản xuất do bạo động hay đình công biểu tình của công nhân Hiện nay ở Việt Nam, nhiều biện pháp khuyến khích xuất khẩu đặc biệt là xuất khẩu mặt hàng da giày đang được Nhà nước thúc đẩy tiến hành Nhà nước cũng khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài bằng nhiều biện pháp như: ban hành Luật đầu tư nước ngoài với mức thuế ưu đãi, giảm thiểu các thủ tục hành chính không cần thiết, tạo ra sân chơi cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế… Chính nhờ những chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước mà các doanh nghiệp da giày đang có nhiều lợi thế hơn để hoàn thành mục tiêu đã đề ra
Ngoài ra, các công ty đối tác của ngành da giày trong khu vực đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các mối liên kết marketing thiết yếu với thị trường tiêu thụ và cung cấp gần như toàn bộ nguyên liệu cần thiết Các đối tác thương mại trong khu vực và trên thế giới đã đem đến cho Việt Nam những cơ hội rất lớn trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài, điều này có ý nghĩa rất quan trọng với nước ta nói chung và với ngành da giày nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh
và đặc biệt là tăng thu ngoại tệ qua đẩy mạnh xuất khẩu
Công nghiệp da giày là ngành sản xuất gắn liền với nhu cầu không thể thiếu của tiêu dùng xã hội, phản ánh nhu cầu mặc, thời trang của người dân Hiện nay, da giày được coi là một trong những ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển hàng tiêu dùng hướng ra xuất khẩu, là ngành thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người Ngành da giày thuộc nhóm có năng lực cạnh tranh cao do
- K51
Trang 29có công nghệ giản đơn so với các ngành công nghiệp khác, không đòi hỏi một quy
mô lớn, được coi là ngành công nghiệp ít vốn nhưng thu được hiệu quả kinh tế cao Xuất khẩu da giày tăng lên tạo đà cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất góp phần giải quyết công ăn việc làm cho đội ngũ lao động dư thừa ngày càng tăng mạnh của Việt Nam Là ngành có định hướng xuất khẩu rõ rệt thể hiện ở tỷ lệ trên 90% sản lượng sản xuất là để xuất khẩu, hiện nay ngành da giày Việt Nam có trên 850 doanh nghiệp, tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao động, không kể các cơ sở sản xuất nhỏ
và các hộ gia đình, đời sống công nhân viên ổn định và thu nhập ngày càng được nâng cao Điều này đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao đông, tăng nhanh tốc độ công nghiệp hóa- hiện đại hóa của đất nước
Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của nhiều Hiệp định thương mại tự do cạnh tranh, ngành da giày được coi là một trong những ngành công nghiệp ưu tiên có lợi thế cạnh tranh, có tiềm năng nâng cao giá trị gia tăng, tạo nguồn thu ngoại tệ và có lợi thế giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, không đòi hỏi nhiều vốn nên phù hợp với nguồn lực tài chính Việt Nam
Theo Bộ công thương, trong 10 năm qua, ngành công nghiệp da giày đã có những bước phát triển khá ấn tượng và là ngành đạt vị trí thứ ba về kim ngạch xuất khẩu sau dệt may, dầu thô, chiếm tỷ trọng đáng kể (8-9%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt 12,7 tỷ USD ( chiếm 8,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước )và năm 2015 đạt 15 tỷ USD ( chiếm 9,3% kim ngạch xuất khẩu) Ngành da giày đã trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, có những bước phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng bình quân trong những năm qua là 18%/năm Mặc
dù hiện nay ngành da giày Việt Nam vẫn tồn tại nhiều điểm yếu kém, bất cập nhưng xét đến những thành tựu đã đạt được, đây vẫn là ngành có ý nghĩa to lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua Mặt khác, nhờ sự tăng trưởng mạnh của xuất khẩu, ngành đã đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, đồng hời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- K51
Trang 30Hiện nay sản xuất da giày của Việt Nam đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Trung Quốc
và Ấn Độ
Bảng 2.1 Đóng góp của ngành da giày Việt Nam trong kim ngạch xuất
khẩu toàn quốc qua các năm
Nguồn: Tổng cục Hải quan
2.2 Thực trạng sản xuất và xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam
2.2.1 Về thực trạng sản xuất
2.2.1.1 Năng lực sản xuất
Nếu như năm 2014, sản lượng toàn ngành da giày-túi xách là 910 triệu đôi, thì năm 2015 vừa qua, con số trên đã là 1,1 tỷ đôi Về quy mô và năng lực sản xuất: Năng lực sản xuất của ngành năm 2015 đã đạt trên 90% mức năng lực được đầu tư,
có mức tăng trưởng mạnh trong 7 năm liên tiếp với mức tăng trung bình đạt 10%/năm trên 2 loại sản phẩm chính là giày dép và túi cặp các loại Riêng sản phẩm
da thuộc đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 20%/năm Từ năm 2000 tới nay ngành da giày Việt Nam thực sự bước vào một giai đoạn phát triển mới với nhiều bước tiến nhảy vọt về lượng cũng như về chất Sự tham gia của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã giúp cho
- K51
Trang 31ngành da giày nước ta thực sự chuyển biến Năng lực sản xuất của các cơ sở ngoài quốc doanh và có yếu tố nước ngoài chiếm trên 90% năng lực của cả ngành, điều này chứng tỏ năng lực của ngành da giày Việt Nam phụ thuộc nhiều vào làn sóng đầu tư của tư bản tư nhân trong nước và quốc tế
Biểu đồ 2.1 Sản lượng giày dép sản xuất qua các năm
Đơn vị tính: Triệu đôi
- K51
Trang 32Bảng 2.2 Top 10 nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới năm 2014
Đơn vị tính: Triệu đôi
Nguồn: Hiệp hội Da-giày-túi xách Việt Nam LEFASO
Theo số liệu thống kê năm 2014, Việt Nam nằm trong top 3 nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới về số lượng sau Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng là nước xuất khẩu lớn thứ 2 trên thế giới về trị giá, chỉ sau Trung Quốc Sản phẩm giày dép của Việt Nam đã xuất khẩu tới trên 50 nước, tại Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, giày dép Việt Nam tiếp tục tăng thị phần và đứng vị trí thứ hai sau Trung Quốc
Về mặt hàng da thuộc, năm 2013 năng lực sản xuất trong nước là 350 triệu sqft/năm, so với số liệu ở năm 2006 đã tăng gấp 3 lần nhưng chỉ mới đáp ứng được 40% nhu cầu da thuộc cho sản xuất hàng xuất khẩu Hiện cả nước có 35 doanh nghiệp thuộc da Doanh nghiệp tư nhân chiếm 62% số nhà máy thuộc da, nhưng do quy mô nhỏ nên chỉ chiếm một phần thấp trong tổng sản lượng thuộc da tại Việt Nam
Lợi thế nghiêng về các doanh nghiệp FDI của Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc Các doanh nghiệp này đã nhập da đã qua xử lý thay vì da nguyên liệu để sản xuất nên ít gây ô nhiễm hơn Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI này xây dựng các nhà
- K51
Trang 33máy thuộc da tại Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, nơi tập trung các nhà máy sản xuất giày dép lớn tại Việt Nam
2.2.1.2 Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất
Theo LEFASO, toàn ngành da giày có khoảng 850 doanh nghiệp, bao gồm mọi thành phần kinh tế, thu hút khoảng một triệu lao động Trong số đó, doanh nghiệp trong nước chiếm gần 70% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 30% Ngoài ra còn có hàng nghìn hộ sản xuất gia đình và tại các làng nghề Các sản phẩm bao gồm da thuộc, giầy dép, túi xách, valy, cặp các loại, phụ kiện thời trang và nguyên, phụ liệu, thiết bị phục vụ sản xuất của ngành
Đa số các doanh nghiệp trong ngành tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương, ngoài còn có hàng nghìn hộ gia đình
và cơ sở sản xuất nhỏ Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (100% vốn đầu tư nước ngoài và liên doanh) gồm 250 doanh nghiệp đã và đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất giày dép, cặp túi các loại, các nguyên phụ liệu ngành giày và thuộc da Tuy số lượng chỉ chiếm gần 30% nhưng năng lực sản xuất của nhóm doanh nghiệp này chiếm tới gần 50% năng lực sản xuất toàn ngành, đặc biệt các doanh nghiệp FDI đã đóng góp tới 78% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành trong năm 2014
Bảng 2.3 Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI
Nguồn: Xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài qua các năm- Tổng cục Hải quan
- K51
Trang 34Biểu đồ 2.2 Một số công ty da giày có doanh thu năm 2014 trên
PouYuen là một thành viên của tập đoàn Pou Chen của Đài Loan – một trong những nhà sản xuất giầy dép lớn nhất thế giới Tại Việt Nam, ngoài PouYuen, hệ thống Pou Chen còn nhiều doanh nghiệp khác như Pou Hung, Pou Sung, Pou Chen Việt Nam… Tổng doanh thu của nhóm này đạt hơn 1,5 tỷ USD – tương đương 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành
- K51
Trang 35Bên cạnh Pou Chen, thì một tập đoàn đến từ Đài Loan khác là Feng Tay cũng đang sở hữu gần chục nhà máy tại Việt Nam, gồm có Dona Standard, Đông Phương Đồng Nai, Đông Phương Vũng Tàu… với tổng doanh thu gần 10.000 tỷ đồng
Xét về tổng thể, các doanh nghiệp đến từ Đài Loan và Hàn Quốc chiếm phần lớn thị phần xuất khẩu da giầy của Việt Nam Những doanh nghiệp Hàn Quốc lớn trong ngành có thể kể đến như Tae Kwang Vina (doanh thu 2014 đạt trên 9.700 tỷ đồng), Chang Shin (trên 9.300 tỷ đồng), Hwaseung Vina (hơn 5.000 tỷ đồng)…
Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung có quy mô khá nhỏ, khó có khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực gia công sản phẩm da giày với các doanh nghiệp FDI Một số doanh nghiệp có quy mô lớn có thể kể đến như CTCP Đầu tư Thái Bình (TBS Group), CTCP Công nghiệp Đông Hưng
Sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam có sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty tư nhân, các doanh nghiệp sản xuất thủ công
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước có nhiều lợi thế so với các doanh nghiệp khác về vốn, cơ sở kỹ thuật và nguyên liệu, kinh nghiệm và các mối quan hệ giao thương để có thể chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường, học hỏi các mô hình thương mại cũng như các phương thức giao dịch quốc tế, bên cạnh
đó là các lợi thế về chất lượng được đảm bảo, giá cả, điều kiện giao hàng, nâng cao
uy tín và hiệu quả xuất khẩu
Hiện tại các doanh nghiệp tư nhân cũng góp phần lớn trong xuất khẩu giày dép Với lợi thế là sự tổ chức lao động một cách linh hoạt và năng động, sự thay đổi phù hợp để đáp ứng nhu cầu của thị trường cùng với sự thích ứng nhanh chóng với quá trình thay đổi thay đổi cơ chế thị trường, nhiều doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà nước
Sản phẩm da giày của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được chất lượng cao ở thị trường xuất khẩu quốc tế bởi thiết bị và công nghệ hiện đại hơn
so với doanh nghiệp trong nước Bên cạnh đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
- K51
Trang 36ngoài cũng có nguồn cung cấp nguyên liệu và các hợp đồng xuất khẩu ổn định Các sản phẩm liên doanh có khuynh hướng chiếm lĩnh thị trường nội địa Các nước và khu vực đầu tư sản xuất giày dép ở Việt Nam chủ yếu là Đài Loan, Hàn Quốc, Đức, Singapore…
So sánh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam yếu hơn về sự đầu tư và có ít cơ hội hơn khi tham gia thị trường quốc tế Nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được với thị trường nước ngoài và có mối quan hệ trực tiếp với các đối tác nước ngoài Họ phải thông qua các đối tác trung gian nước ngoài và không có đủ sức cạnh tranh, đặc biệt trong dài hạn Bên cạnh đó, họ cũng không có hệ thống phân phối trực tiếp tại thị trường nước ngoài Các doanh nghiệp này thường phải bán sản phẩm qua các công ty trung gian với giá thấp Bên cạnh đó, vì thiếu thông tin thị trường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam cũng có những bất lợi hơn các đối tác nước ngoài khi gia công hay xuất khẩu cũng như trong quá trình đàm phán
2.2.1.3 Trình độ công nghệ
Nhìn chung có thể thấy rằng, các thiết bị trong lĩnh vực sản xuất da giày ở nước ta trong những năm qua chủ yếu theo công nghệ băng tải dài, tốc độ chậm, tiêu thụ nhiều nguyên liệu, trình độ tự động hóa thấp, chất lượng chưa cao, dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp
Hiện nay trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam đang ở mức trung bình và trung bình khá, khá lệ thuộc vào nước ngoài về trang bị máy móc Hầu hết thiết bị sản xuất giày dép được nhập khẩu từ đài Loan và Hàn Quốc theo phương thức trả chậm, các dây chuyền máy móc chủ yếu là công nghệ của thập kỷ 70-80, tuổi thọ ngắn Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít
và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế….Ngành giày dép tuy
có tốc độ phát triển cao về sản lượng song kỹ thuật công nghệ, quản lý và thiết kế mẫu vẫn bị lệ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến bị hàn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực mới được đầu tư còn non yếu
- K51
Trang 37vì nhiều doanh nghiệp chủ yếu vẫn là gia công xuất khẩu Tại các doanh nghiệp khi
có cơ hội đầu tư thiết bị và chuyển giao công nghệ thì nguồn nhân lực tiếp thu công nghệ chuyển giao lại hạn chế về trình độ và năng lực, do đó không phát huy được sức mạnh của công nghệ mới và làm hạn chế hiệu quả đầu tư Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành trong trước mắt cũng như lâu dài Điều này còn dẫn đến việc ngành có nguy cơ mất khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế
2.2.1.4 Trình độ nguồn nhân lực
Hiện tại, nhìn chung lao động trong ngành da giày có trình độ văn hóa phức phổ thông trung học chiếm tỷ lệ cao nhất: 66% Tỷ lệ Đại học và trên đại học chỉ chiếm khoảng 5% Trình độ nguồn nhân lực là yếu tố ảnh hưởng lớn tới năng suất lao động toàn ngành Với hơn 850 doanh nghiệp trong ngành (không kể các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, các hộ gia đình), hàng năm cần bổ sung hàng nghìn cán bộ quản lý, 200-300 kỹ sư (thuộc da, công nghệ sản xuất giày, thiết kế giày và các sản phẩm thời trang) và hàng nghìn công nhân kỹ thuật Tuy nhiên, với trình độ nguồn nhân lực chưa cao như hiện nay, lao động ngành da giày vẫn chưa thể đáp ứng và theo kịp với nhu cầu phát triển của ngành Hiện nay ngành da giày nước ta đang sử dụng trên 1 triệu lao động nhưng toàn ngành chưa có một trường đào tạo chính quy nào về nghề, trường đào tạo những nhà quản lý giỏi, những người lao động có tay nghề cao Công nhân được đào tạo chủ yếu theo lối kèm cặp hướng dẫn trong thời gian ngắn ngay tại xí nghiệp sau khi sử dụng Nếu tình hình này tiếp tục tồn tại, ngành sẽ thiếu nguồn nhân lực có khả năng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thiếu đội ngũ cán bộ thiết kế để triển khai mẫu mốt theo thị hiếu ngày càng đa dạng của khách hàng, dẫn đến khả năng cạnh tranh kém so với các nước khác Bởi vậy tuy có lợi thế nhân công giá rẻ, nguồn cung ứng lao động dồi dào nhưng do chủ yếu là lao động phổ thông không qua trường lớp đào tạo, tay nghề chưa cao nên năng suất lao động trong ngành vẫn rất thấp Hiện số lao động trên 1 dây chuyền là
450 lao động với mức sản lượng 500.000 đôi/năm, chỉ bằng 1/35 năng suất lao động của người Nhật, 1/30 của Thái Lan, 1/20 của Malaysia và 1/10 của Indonesia Đã có một số doanh nghiệp trong ngành đầu tư ứng dụng trang thiết bị máy móc mới vào
- K51
Trang 38sản xuất giày như giày Thượng Đình, Da giày Hà Nội, Giày da Hải Phòng… nhưng
họ vẫn chưa có những nhà quả lý giỏi, biết kết hợp hợp lý giữa vốn, công nghệ sản xuất và nguồn lực Họ chưa có được đội ngũ lao động thành thạo, lành nghề nên công suất không được sử dụng hết, dẫn đến không đáp ứng được đơn đặt hàng lớn, chỉ sử dụng hết 70-75% công suất làm cho chi phí/đơn vị sản phẩm tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế
Bên cạnh đó, phần lớn lao động trong ngành da giày là lao động nữ, chiếm khoảng 80-85% khiến cho các doanh nghiệp da giày luôn phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động Điều kiện sinh hoạt khó khăn khi làm công nhân trong các doanh nghiệp da giày, xuất thân từ nông thôn và các tỉnh xa là những lý do khiến cho phần lớn người lao động nữ không gắn bó với nghề về lâu dài Hơn nữa, nhiều vấn đề khác cũng phát sinh trong quá trình làm việc ảnh hưởng đến đời sống và vật chất của tinh thần như: việc tăng lương tối thiểu không đồng bộ giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước khiến công nhân bức xúc, thu nhập không tương xứng với thời gian lao động, môi trường lao động và các chế độ lao động còn chưa được coi trọng đúng mức, công nhân thiếu một tổ chức công đoàn vững mạnh có thể đại diện cho tinh thần và ý chí của mình… Vì những
lý do trên, một bộ phận công nhân trong ngành da giày có xu hướng chuyển sang lĩnh vực lao động khác hoặc nghỉ việc sau khi làm việc trong ngành một thời gian ngắn Đây cũng là một thực trạng cần phải khắc phục đối với các doanh nghiệp trong ngành
2.2.2 Thực trạng xuất khẩu
2.2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu của ngành qua các năm
Theo số liệu thống kê, Việt Nam nằm trong top 4 nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới về số lượng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil, nhưng là nước xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới về trị giá, sau Trung Quốc và Italia Sản phẩm giày dép của Việt Nam đã xuất khẩu tới trên 50 nước, tại Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, giày dép Việt Nam tiếp tục tăng thị phần và đứng vị trí thứ hai sau Trung Quốc Sản phẩm túi xách có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh, hiện đã có mặt tại trên 40 nước
- K51
Trang 39Biểu đồ 2.3 Kim ngạch xuất khẩu ngành da giày qua các năm
Đơn vị tính: tỷ USD
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Có thể thấy trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày luôn tăng trưởng ổn định và đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu của ngành chỉ đứng sau hai ngành mũi nhọn là dầu khí và dệt may Trên thị trường quốc tế hiện nay, Việt Nam luôn được xếp là một trong 10 nước đứng đầu thế giới về sản lượng và xuất khẩu giày dép Trong đó, riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai, chỉ sau Trung Quốc, với trên 4 tỉ USD
và chiếm 10% trong tổng giá trị nhập khẩu da giày vào EU trong năm 2014 Theo báo cáo của Bộ Công Thương, năm 2014 kim ngạch xuất khẩu giầy dép các loại đạt 10,4 tỷ USD tăng 22,3 % và xuất khẩu cặp, ví, túi xách các loại đạt 2,3 tỷ USD tăng 35% so với năm 2013 Tổng kim ngạch toàn ngành da giầy, túi xách cả năm 2014 đạt 12,7 tỷ USD tăng 22,5%, chiếm 8,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và chiếm 11,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến Giày dép -túi xách tiếp tục là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
3,99 4,77 4,8
6,11 7,9 8,76
10,33 12,7
Kim ngạch xuất khẩu
da giày qua các năm
- K51
Trang 40Bảng 2.4 Top 10 nước xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới 2014 về
Nguồn: Hiệp hội Da-giày-túi xách Việt Nam LEFASO
Bảng 2.5 Top 10 nước xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới năm 2014 về trị giá
Đơn vị tính: Triệu USD