Giả thiết khoa học Nếu ngành Điện Công nghiệp và Dân dụng thực hiện chương trình đào tạo theo Modul sẽ giúp người học có thể cá nhân hoá việc học tập, hình thành động cơ, hứng thú học t
Trang 1-
Luận văn thạc sỹ khoa học
Xây dựng chương trình đào tạo ngành Điện công nghiệp và dân dụng theo Modul tại trường Trung học Điện tử - Điện lạnh Hà Nội
Trang 21.1.1 Những định hướng cơ bản về đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình
đào tạo
9
1.2.4 Quan điểm tiếp cận xây dựng chương trình đào tạo theo Modul 30
1.3 Quy trình xây dựng chương trình đào tạo kết hợp Modul - môn học 33
1.3.2 Phân tích ngành nghề theo phương pháp DACUM kết hợp với phương
Chương 2 - Đánh giá thực trạng chương trình đào tạo tại
trường Trung học điện tử - điện lạnh Hà Nội
37
2.1 Giới thiệu về trường Trung học Điện tử - Điện lạnh Hà Nội 37
Trang 32.2.1 Về phân phối thời gian toàn khoá 42
2.2.3 Đặc điểm nội dung và hình thức giảng dạy ngành Điện Công nghiệp
và Dân dụng (ĐCN & DD) tại trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội
46
2.2.5 Đề xuất xây dựng chương trình đào tạo theo Modul cho ngành ĐCN &
50
3.1.6 Mô hình cấu trúc hoá chương trình đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực
điện
54
3.2.2 Chương trình đào tạo ngành ĐCN & DD theo Modul 60
Trang 4Lời cảm ơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Khoa Sư phạm kỹ thuật, Trung tâm Bồi dưỡng và Đào tạo sau đại học - Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin cảm ơn Tiến sĩ Lê Thanh Nhu, người trực tiếp hướng dẫn tác giả làm luận văn
Và tác giả cũng xin chân thành cảm ơn GS Nguyễn Minh Đường, các thày cô giáo của Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã
đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thiện luận văn
Xin cảm ơn các cán bộ và giáo viên của trường TH Điện tử - Điện lạnh
Hà Nội, các bạn học viên của lớp cao học Sư phạm kỹ thuật khoá 2004 - 2006
đã cung cấp thêm tư liệu, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình làm luận văn
Mặc dù đã cố gắng, song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, của các bạn đọc quan tâm đến đề tài của luận văn
Hà Nội, tháng 9 năm 2006
Tác giả
Nguyễn Thanh Trịnh
Trang 5Danh mục các thuật ngữ viết tắt
GD - ĐT Giáo dục đào tạo
Trang 6Mở đầu
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Định hướng Nghị quyết trong kỳ họp thứ 6 của Quốc hội về giáo dục khoá XI đã đề ra: “Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, phương thức đào tạo đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng, hội nhập quốc tế, chú trọng vào nhiệm vụ đào tạo nhân lực có trình độ cao và bồi dưỡng nhân tài.” Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa hội nhập, trước sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của nền khoa học thế giới, với xu thế và nhịp độ phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội, đòi hỏi nền giáo dục phải đổi mới toàn diện để đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển đó
Với yêu cầu ngày càng cao về mặt số lượng cũng như chất lượng đối với nguồn nhân lực của thị trường lao động, thì các trường dạy nghề trong cả nước cần có những điều chỉnh để làm sao cho chương trình đào tạo của mình mềm dẻo, linh hoạt, có khả năng chuyển đổi, có thể học suốt đời
Những vấn đề trên gắn liền với một quan điểm mới trong đào tạo, đó chính là dạy học theo năng lực thực hiện (NLTH) Cách tổ chức quá trình đào tạo dựa trên NLTH thể hiện một phương thức đào tạo mang tính hiện đại, mềm dẻo, linh hoạt, đào tạo theo kiểu tích luỹ dần kiến thức Các kiến thức
được bố trí thành các giai đoạn có tính cơ bản, phân thành các Modul và có thể lắp ghép được với nhau Học đến đâu người học được công nhận trình độ
đến đó theo một cơ chế đánh giá đủ tin cậy Những ưu việt của đào tạo theo Modul đã được các nhà đào tạo trên thế giới khai thác trong giáo dục, đào tạo
ở tất cả các cấp học, các đối tượng và đã mang lại nhiều kết quả cao
Là một giáo viên đã tham gia vào giảng dạy (lý thuyết, thực hành) và quản lý đào tạo tại trường Trung học Điện tử - Điện lạnh Hà Nội, tác giả nhận thấy chương trình đào tạo của trường phần lớn đang áp dụng là theo kiểu truyền thống - đào tạo theo niên chế Với một kế hoạch đào tạo cứng nhắc, chương trình đào tạo hiện nay của nhà trường đã trở lên kém linh hoạt và kém
Trang 7hiệu quả làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy học vì thế tác giả đã nghiên cứu
đề tài: “Xây dựng chương trình đào tạo ngành Điện Công nghiệp và Dân dụng
theo Modul tại trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Tiến hành xây dựng chương trình đào tạo ngành Điện Công nghiệp và Dân dụng theo Modul tại trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng dạy học
3 Giả thiết khoa học
Nếu ngành Điện Công nghiệp và Dân dụng thực hiện chương trình đào tạo theo Modul sẽ giúp người học có thể cá nhân hoá việc học tập, hình thành
động cơ, hứng thú học tập, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng dạy học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung chương trình đào tạo ngành Điện Công nghiệp và Dân dụng theo Modul tại trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc xây dựng chương trình đào tạo theo Modul ở một số học phần điển hình trong ngành Điện Công nghiệp và Dân dụng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận việc xây dựng chương trình đào tạo theo Modul
- Đánh giá thực trạng chương trình dạy học của trường Trung học Điện
tử - Điện lạnh Hà Nội
- Xây dựng chương trình đào tạo ngành Điện Công nghiệp và Dân dụng theo Modul tại trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội
Trang 86 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu sách, tài liệu, các văn bản pháp quy có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, khái quát hoá cơ sở lý luận và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan để có các cứ liệu giải quyết các vấn đề lý luận mà đề tài đặt ra
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp chuyên gia: tổ chức khảo sát, trao đổi lấy ý kiến của những người có kinh nghiệm trong thực tiễn đào tạo, sản xuất, ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình
Trang 9Chương 1 cơ sở lý luận việc Xây dựng chương trình đào tạo
theo Modul 1.1 Dạy học theo năng lực thực hiện (NLTH)
1.1.1 Những định hướng cơ bản về đổi mới mục tiêu, nội dung chương
trình đào tạo
1.1.1.1 Đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo
Trong thực tế, khi nói đến mục tiêu đào tạo cần đề cập đến diện đào tạo, trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ theo yêu cầu của thực tế sử dụng mà người tốt nghiệp phải đạt được, tức là phải đề cập đến và dựa vào tiêu chuẩn ngành nghề đào tạo Như vậy là cần phải xác định được cơ cấu mục tiêu đào tạo sao cho phù hợp và đáp ứng được nhu cầu sử dụng nhân lực ở những chỗ làm việc khác nhau nhưng mang tính điển hình, đại diện cũng như yêu cầu phát triển con người toàn diện, bền vững trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội
Việc đổi mới cơ cấu mục tiêu đào tạo hay cơ cấu trình độ đào tạo cần vừa đào tạo trên diện rộng, đáp ứng công nghệ thấp nhằm mục tiêu phổ cập nghề, vừa đào tạo mũi nhọn, đáp ứng công nghệ cao, cung cấp nguồn nhân lực thích hợp cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH), trong
điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, những thay đổi của tổ chức sản xuất và phân công lao động xã hội cũng như đòi hỏi của nền kinh tế trí thức đang dần hình thành, đòi hỏi người công nhân, nhân viên kỹ thuật cần được đào tạo ở trình độ cao hơn cả về lý thuyết và đặc biệt là thực hành so với trình độ đào tạo hiện nay ở một số ngành nghề có tính chất kỹ thuật hoặc công nghệ ngày càng đòi hỏi sự phân hoá mục tiêu đào tạo đội ngũ công nhân
Trang 10kỹ thuật, kỹ thuật viên trung cấp hiện nay theo hai hướng nhân lực kỹ thuật thực hành (kỹ nghệ thực hành) như sau:
- Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành trình độ “công nhân lành nghề”, không những có khả năng trực tiếp vận hành và sản xuất một cách độc lập mà còn có khả năng kiểm tra, hướng dẫn giám sát người khác trong một số công việc có độ phức tạp trung bình
- Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành “trình độ cao” với những khả năng mới cao hơn như: khả năng phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định về
kỹ thuật, các giải pháp xử lý sự cố, tình huống có độ phức tạp tương đối cao trong hoạt động nghề nghiệp, khả năng giám sát và phần nào quản lý, lãnh đạo như một “thợ cả” hay một kỹ thuật viên cấp cao
Bất luận ở cấp trình độ đào tạo nào, ở ngành nghề nào, ngày nay chúng
ta đều cần đặc biệt nhấn mạnh những giá trị và thái độ ưu tiên cần có ở người lao động, chúng phải được thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo Đó là giá trị và thái độ, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác, làm việc theo nhóm, ý thức pháp luật, kỷ luật lao động
1.1.1.2 Đổi mới nội dung chương trình đào tạo
Việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo trong đào tạo nghề phải
đảm bảo được các yêu cầu chủ yếu như:
- Nội dung chương trình phải phù hợp với nhu cầu thị trường lao động về ngành nghề và các cấp trình độ khác nhau;
- Cấu trúc của các chương trình phải được thiết kế liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo để đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt, tạo điều kiện cho người lao động có thể học suốt đời, không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp
- Nội dung chương trình cần được xây dựng theo hướng tiếp cận “năng lực thực hiện” và dựa vào tiêu chuẩn về kiến thức kỹ năng thái độ của các hoạt
động lao động nghề nghiệp được xác định rõ ràng để đảm bảo chất lượng đào
Trang 11tạo toàn diện, đồng thời đảm bảo khả năng hành nghề của người học sau khi tốt nghiệp
Như vậy, định hướng xây dựng nội dung chương trình đào tạo nghề theo Modul trong tiếp cận “đào tạo theo năng lực thực hiện” là một định hướng
đúng đắn Định hướng này phù hợp với xu hướng chung trong việc phát triển
chương trình đào tạo nghề nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay 1.1.2 Đào tạo dựa trên NLTH
1.1.2.1 Các khái niệm
Năng lực thực hiện (Competency)
Năng lực thực hiện (NLTH) là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong ngành, nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó NLTH là các kỹ năng, kiến thức, thái độ đòi hỏi đối với một người để thực hiện hoạt động có kết quả ở một công việc hay một ngành, nghề
Đào tạo dựa trên NLTH
Đào tạo dựa trên NLTH là phương thức đào tạo dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một ngành, nghề và đào tạo theo tiêu chuẩn đó chứ không dựa vào thời gian như trong đào tạo truyền thống
1.1.2.2 Đặc điểm của đào tạo dựa trên NLTH
Định hướng đầu ra
Đặc điểm cơ bản nhất có ý nghĩa trung tâm của đào tạo theo NLTH là
định hướng và chú trọng vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo, điều đó
có nghĩa là: từng người học có thể làm được cái gì trong một tình huống lao
động nhất định theo tiêu chuẩn đề ra
Trong đào tạo dựa trên NLTH, một người có NLTH là người:
- Có khả năng làm được việc gì (Điều này có liên quan tới nội dung
đào tạo)
Trang 12- Có thể làm được việc đó tốt như mong đợi (Điều này có liên quan tới việc đánh giá kết quả học tập của người học dựa vào tiêu chuẩn ngành, nghề)
Như vậy, mỗi người sẽ nắm vững và làm được cái gì đó sau một thời gian học dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào khả năng và nhịp độ học tập của người
đó Người học thực sự được coi là trung tâm, do vậy họ có cơ hội để phát huy tính tích cực, chủ động của mình
Mối quan hệ của các mục tiêu
Để xác định được các NLTH, người ta phải tiến hành phân tích ngành học và công việc trong thực tế nghề nghiệp
Giữa khu vực lao động và khu vực đào tạo nhân lực cho lao động có sự phân biệt về mục đích và các mục tiêu của chúng
Người học phải thực hiện được mục tiêu của một ngành học nào đó, nghĩa là phải tạo ra được những sản phẩm cho xã hội Muốn vậy, người học phải có những kỹ năng, kiến thức và thái độ tương ứng ở trình độ theo yêu cầu
đặt ra
Đào tạo có mục tiêu hình thành những kỹ năng, kiến thức và thái độ cho người học để sau khi học xong họ có thể thực hiện được các hoạt động lao
động tạo ra sản phẩm hay dịch vụ cho xã hội
Tuy nhiên, mục tiêu của hai khu vực đó lại có quan hệ chặt chẽ với nhau Để đạt được mục tiêu ấy, việc phát triển đào tạo dựa trên NLTH đã tiếp cận từ hai phía với các mục tiêu của các hoạt động hay thành phần tương ứng nhau ở hai khu vực (Hình 1.1)
Trang 13Hình 1.1. Mối quan hệ của các mục tiêu
Khu vực lao động Khu vực đào tạo cho lao động
Mục đích của đào tạo
nghề
Nhằm cung cấp cơ hội học tập cho người học hình thành các kỹ năng, kiến thức, thái độ để bắt đầu làm việc hoặc có trước khi làm việc
Kiến thức
Thái
độ NLTH
Các mục tiêu tiền đề
Mục tiêu thực hiện cuối cùng
Hoạt
động
Điều kiện
Tiêu chuẩn
Đánh giá
(Dựa vào mục tiêu)
Điều kiện
Cho trước cái gì
ở đâu Khi nào
Tiêu chuẩn Tốc độ
Sự chính xác
Chất lượng
Trang 14NLTH thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa lĩnh vực hoạt động trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, trong xã hội với mục tiêu và nội dung đào tạo (Hình 1.2)
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh vực học tập và tình huống học tập
1.1.2.3 Các thành phần của hệ thống dạy học dựa trên NLTH
Hệ thống này bao gồm hai thành phần chủ yếu:
- Dạy và học các NLTH
- Đánh giá, xác nhận các NLTH
Thành phần dạy và học các NLTH
Một chương trình đào tạo nghề (ĐTN) được xem là dựa trên NLTH khi
nó thoả mãn hoàn toàn các đặc điểm của thành phần dạy và học các NLTH sau đây:
- Đặc điểm của các NLTH mà người học sẽ tiếp thu trong quá trình dạy
học
Tình huống học tập là cụ thể hoá của lĩnh vực học tập Có thể coi đây
là những nội dung đào tạo cụ thể (Đơn nguyên học tập)
Lĩnh vực hoạt động là những nhiệm vụ phức hợp thống nhất
với những tình huống hoạt động có ý nghĩa về mặt nghề nghiệp cũng như về mặt cuộc sống và xã hội (Nghề nghiệp, công việc)
Lĩnh vực học tập là lĩnh vực hoạt động được gia công
sư phạm, diễn ra thông qua các tình huống học tập
theo định hướng hoạt động bằng các giờ học cụ thể
(Học phần; các Modul đào tạo)
Trang 15+ Các NLTH được xác định từ việc phân tích ngành học một cách chính xác và đầy đủ Phương pháp có hiệu quả và được chú ý hơn cả là phương pháp DACUM do một Tiểu ban hay Hội đồng gồm những người đang dạy thành thạo trong thực tế và những người quản lý trực tiếp của họ tiến hành
+ Các NLTH được trình bày dưới dạng các công việc thực hành mà những người dạy thực tế phải làm hoặc dưới dạng các hành vi về mặt nhận thức và về thái độ, tình cảm liên quan đến ngành học + Các NLTH được công bố cho người học biết trước khi vào học
- Yêu cầu thiết kế việc dạy và học các NLTH
+ Các tài liệu dạy học thích hợp với các NLTH Kiến thức lý thuyết
được dạy ở mức độ cần thiết đủ hỗ trợ cho sự hình thành và phát triển các NLTH
+ Mỗi người học phải liên tục có được các thông tin phản hồi cụ thể
Đánh giá là một quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những phán xét
về bản chất và phạm vi của sự tiến bộ theo những yêu cầu thực hiện đã được xác định trong một tiêu chuẩn hay mục tiêu dạy học và đưa ra phán xét rằng NLTH đã được hay chưa ở một thời điểm thích hợp
Việc đánh giá trong đào tạo dựa trên NLTH theo tiêu chí Nó đo sự thực hiện của một người hay nó xác định thành tích của người ấy trong mối liên hệ
Trang 16với các tiêu chí, tiêu chuẩn chứ không có liên hệ, so sánh gì với thực hiện của người khác Các tiêu chí đánh giá NLTH có thể được xác định từ các tiêu chuẩn NLTH (kỹ năng) quốc gia, địa phương, xí nghiệp và một số quy định tiêu chuẩn khác
Sự nắm vững các NLTH được đánh giá theo các quan điểm sau:
- Người học phải thực hành các công việc giống như yêu cầu của người thày đặt ra
- Đánh giá riêng rẽ từng người học khi hoàn thành công việc và nắm vững một hay một nhóm các NLTH
- Kiến thức liên quan và thái độ cần có đều là những bộ phận cấu thành trong việc đánh giá NLTH
- Các tiêu chuẩn dùng trong đánh giá là những tiêu chuẩn ở mức tối thiểu đảm bảo sau khi học xong thì người học có thể bước vào làm việc được chứ không phải là đem so sánh với những người học khác
- Các chỉ tiêu dùng trong đánh giá được công bố cho người học biết trước khi kiểm tra, thi cử
có thể vào học và kết thúc việc học ở các thời điểm khác nhau
- Hồ sơ học tập của từng người học được ghi chép, lưu trữ và chúng phản ánh kết quả, thành tích của họ ở một thời điểm ấn định nào đó Người học được phép chuyển tiếp hoặc ra khỏi chương trình không
Trang 17đào tạo theo Modul
1.2 Tổng quan về chương trình đào tạo theo Modul (CTM)
1.2.1 Một số thuật ngữ về chương trình đào tạo (CTĐT)
1.2.1.1 Chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo là mối quan hệ cơ bản của việc ấn định mục tiêu học tập và ấn định tổ chức quá trình học tập
Ví dụ: Để có được năng lực hoàn thành một phần việc trọn vẹn “Quản
lý hồ sơ” trong nghề thư ký văn phòng, người học cần phải thực hiện được bốn công việc sau:
1 Thu thập hồ sơ 2 Phân loại 3 Lưu trữ 4.Tìm kiếm
Theo đó, CTĐT bao gồm:
- Mục tiêu đào tạo (trình độ đào tạo cần hướng tới)
- Nội dung đào tạo (đối tượng lĩnh hội mà mục tiêu đặt ra)
- Phương pháp (phương tiện và cách thức để đạt được mục tiêu)
- Tổ chức đào tạo (kế hoạch thực hiện)
- Đánh giá (kiểm tra kết quả dạy và học)
1.2.1.2 Chương trình giáo dục
Theo Nghị định 43/CP thì “Chương trình giáo dục là văn bản cụ thể hoá mục tiêu giáo dục; quy định phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức hoạt động giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp học, trình độ đào tạo”
Trang 18- Mục tiêu đào tạo theo từng trình độ đào tạo
- Kế hoạch đào tạo
- Chương trình môn học hoặc Modul đào tạo
- Kế hoạch hoạt động giáo dục, hoạt động ngoại khoá
1.2.1.4 Chương trình giảng dạy
Theo cách truyền thống thì chương trình giảng dạy như chương trình
đào tạo, nhưng ngày nay, khoa học giáo dục hiện đại không dùng cụm từ chương trình giảng dạy thay thế cho chương trình đào tạo bởi vì cụm từ này với hàm ý chỉ dành cho người dạy mà không chú ý đến người học, cho nên chương trình giảng dạy hiểu theo đúng nghĩa là một phần của chương trình
đào tạo
1.2.1.5 Kế hoạch đào tạo
Bao gồm kế hoạch giảng dạy và kế hoạch học tập:
- Kế hoạch giảng dạy: là một bảng danh mục phân phối thời gian toàn
bộ khoá học, các môn học và quy định kiểm tra nội dung học Nó là một phần của chương trình đào tạo, dành cho người dạy
- Kế hoạch học tập: là bảng phân phối thời gian, tiến độ thực hiện, quy định giáo viên giảng, giáo viên hướng dẫn Xêmina (Seminar),
địa điểm học cho các môn học của từng thời kỳ dành cho người học 1.2.1.6 Chương trình môn học
Chương trình môn học là văn bản quy định mục tiêu, nội dung, phân
phối thời gian đến từng học trình, từng bài học, nhằm hướng dẫn người dạy
Trang 19thực hiện đúng tiến độ môn học, bài học và nội dung cơ bản cần có của môn học
Vì vậy, có thể khái niệm chương trình đào tạo như sau: Chương trình
đào tạo là toàn bộ việc kế hoạch hoá quá trình đào tạo, từ việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện cho đến các cách thức kiểm tra,
đánh giá kết quả đào tạo
1.2.2 Modul đào tạo
1.2.2.1 Khái niệm về Modul
Từ xa xưa, Modul có xuất xứ từ thuật ngữ La tinh “Modulus”, với nghĩa
là “thước đo” chủ yếu được dùng trong xây dựng và để chỉ các bộ phận xây dựng được tiêu chuẩn hoá Cho đến giữa thế kỷ 20, khái niệm Modul mới
được truyền tải sang lĩnh vực kỹ thuật Nó được dùng để chỉ các bộ phận cấu thành các của thiết bị kỹ thuật có các chức năng riêng biệt và có mối liên hệ lẫn nhau, không nhất thiết phải hoạt động độc lập Sau này, người ta đã chuyển khái niệm Modul kỹ thuật sang khái niệm Modul trong đào tạo, với việc khai thác các tính chất đặc trưng của nó
Tuỳ theo mục đích và cách tiếp cận, đào tạo, đã có nhiều cách quan niệm và định nghĩa về Modul dạy học (hoặc Modul đào tạo)
Khái niệm Modul được hiểu như là một đơn vị độc lập, tự bản thân nó
đã hoàn thiện, những đơn vị này có thể để dùng thêm vào những đơn vị khác
để nhằm hướng tới thành công của một nhiệm vụ lớn hơn hoặc lâu dài hơn
“Modul là một đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố (Aspeets) của các môn học lý thuyết (Academic disciplines) các kỹ năng (Skills) và các kiến thức liên quan (Related knowledge) để tạo ra một năng lực chuyên môn”
“Mỗi một Modul là một đơn vị trọn vẹn về mặt chuyên môn Vì vậy, nhờ những điều kiện cơ bản của mỗi Modul tương ứng với một khả năng tìm việc Điều đó có nghĩa là việc kết thúc một cách thành công trong việc học tập Modul này tạo ra những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho tìm việc làm Đồng
Trang 20thời mỗi Modul có thể hình thành một bộ phận nhỏ của chuyên môn của một thợ lành nghề”
Các Modul đào tạo có thể được người học lựa chọn một cách tự do hoặc
được định hướng, có thể được ghép nối với nhau theo cách thức tích luỹ kiến thức, kỹ năng nhằm đạt được các trình độ khác nhau một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện cá nhân người học và yêu cầu xã hội
Trong cấu trúc nội dung đào tạo nghề theo Modul kỹ năng hành nghề (MKH), để thuận lợi cho quá trình giảng dạy và học tập cũng như để có khả năng dùng chung một số kiến thức, kỹ năng nghề cho nhiều nghề đào tạo khác nhau, mỗi MKH được chia thành nhiều Modul tương ứng với công việc hợp thành Modul kỹ năng hành nghề đó Với cấu trúc vậy, “Modul là một phần của MKH, được phân chia một cách logic theo từng công việc hợp thành của
nghề nào đó, có mở đầu và kết thúc rõ ràng”
1.2.2.2 Các quan điểm về Modul
Tuy có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu về Modul, song cũng thống nhất ở ba quan điểm sau:
- Modul được hiểu là những phần trình độ được đào tạo ngắn hạn, khép kín và kiểm tra đánh giá được Trình độ tổng thể được phân ra thành các Modul, học xong mỗi Modul đều được kiểm tra và cấp văn bằng chứng chỉ Người học học đến đâu có thể sử dụng ngay đến đó, không cần phải
tổ chức thi tốt nghiệp
Quan điểm này bị phê phán là dễ dẫn đến phát triển con người một cách phiến diện Về phương diện quản lý cần có những quy định chặt chẽ trong việc kiểm tra đánh giá xác nhận kết quả các Modul tạo thành trình
độ
- Modul được hiểu là những phần trình độ có thể được đánh giá xác nhận Nhưng các Modul thành phần đó luôn là một bộ phận của trình độ
Trang 21nghề tổng thể Việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận kết quả theo các Modul đơn lẻ không thay cho kỳ thi tốt nghiệp
Quan điểm này phù hợp với ý tưởng đào tạo theo Modul đối với hệ chính quy dài hạn, nhưng không hạn chế áp dụng cho đào tạo ngắn hạn
- Modul được hiểu thuần tuý là đơn vị học tập (học phần) Nội dung đào tạo được chia nhỏ theo mục tiêu đào tạo thành phần được thực hiện bằng phương pháp dạy học theo dự án và hình thức tổ chức đào tạo cuốn chiếu theo môn học
Tuy có những quan điểm khác nhau về Modul, nhưng đều thống nhất ở chỗ: Modul là những phần trình độ xác định, được kiểm tra, đánh giá, xác nhận Đào tạo theo Modul mang tính mềm dẻo, linh hoạt Nó cho phép thích ứng liên tục với chương trình nhằm đảm bảo sự phù hợp của nó với nhu cầu của thị trường lao động Đào tạo theo Modul vừa mang tính độc lập tương đối vừa mang tính liên thông đảm bảo nguyên lý tích luỹ trình độ Vì vậy giúp người học hoàn thiện trình độ ở mức tổng thể cao hơn Modul có thể ảnh hưởng tới việc tổ chức, kết cấu của quá trình đào tạo Nó được thực hiện bởi thứ tự các giờ học dưới hình thức giờ học định hướng vấn đề, giờ học dự án
Ngoài ra, Modul mang tính chất trọn vẹn, tích hợp, tự hoàn thiện và có
thể lắp ghép phát triển
1.2.2.3 Đặc điểm của Modul
Như đã trình bày ở trên, có rất nhiều khái niệm và quan điểm về Modul, tuy nhiên chúng có những đặc điểm chung, thống nhất:
- Tính trọn vẹn
Tính trọn vẹn thể hiện bản chất của Modul đào tạo, nó không những chỉ ra bản chất của Modul mà còn giúp các nhà thiết kế đưa ra được kích thước của Modul đào tạo Kích thước lớn hay nhỏ của Modul phụ thuộc vào nội dung cần thiết nhằm tạo ra một khả năng thực hiện thành công trọn vẹn công việc
Trang 22- Tính tích hợp
Tính tích hợp được thực hiện theo những con đường khác nhau Tính tích hợp giữa các ngành, bộ môn khoa học, tính tích hợp giữa lý thuyết và thực hành và tích hợp các phương pháp truyền tải nội dung Nhờ tích hợp mà Modul trở nên trọn vẹn
Tính tích hợp nhằm giúp các nhà thiết kế nhận diện được mức độ và cách thức tích hợp của Modul đào tạo
Đồng thời người học có thể xuất phát từ năng lực hiện có để tiếp thu các Modul đào tạo theo nhịp độ khác nhau, thời lượng khác nhau
- Đánh giá liên tục và hiệu quả
Đánh giá trong đào tạo theo Modul không nhằm đánh trượt người học, nó theo nhịp độ của người học và chủ yếu do người học tự kiểm tra
đánh giá mình Việc kiểm tra đánh giá này được xây dựng trên nguyên tắc là: các kết quả đánh giá phải theo những chuẩn thực hiện về kỹ năng
và có thể mô tả, đo đếm quan sát được
1.2.2.4 Cấu trúc của một Modul đào tạo
Tiếp cận hệ thống đối với đào tạo nói chung đều cho thấy quá trình phát triển và thực hiện chương trình đào tạo có mối quan hệ khăng khít với quá trình phân tích thế giới lao động và công việc (đầu vào) và với quá trình đánh giá và xác nhận kết quả đào tạo đối với người tốt nghiệp (đầu ra) Những
Trang 23thông tin phản hồi về sự phù hợp của lực lượng lao động (người tốt nghiệp), về
sự đáp ứng với các mục tiêu kinh tế, xã hội sẽ giúp cho các nhà đào tạo có những điều chỉnh kịp thời trong việc phát triển và thực hiện chương trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo Điều đó được sơ đồ hoá
đơn giản bằng hình 1.3
Hình 1.3 Mô hình phát triển chương trình
Mô hình phát triển chương trình này đã ảnh hưởng mạnh đến mô hình cấu trúc của Modul đào tạo Mỗi một Modul bao gồm nhiều thành phần từ mục tiêu, nội dung đến cách thức thực hiện trong quá trình đào tạo Các thành phần trong cấu trúc có quan hệ chặt chẽ, và cũng được điều khiển bằng các thông tin phản hồi Có thể tóm tắt cấu trúc của Modul đào tạo bằng sơ đồ của hình 1.4
Hình 1.4 Cấu trúc của Modul đào tạo
Thế giới lao động
và công việc
Phát triển và thực hiện chương trình
Người tốt nghiệp thành thạo
Các hướng dẫn và
khuyến cáo
Các mục tiêu
Kiến thức,
KN
Con
đường lĩnh hội
Đ.v học tập (1) Test Trung
gian
Đ.v học tập (2)
Tổng kết
Test k.thúc
Khuyến cáo
Trang 24Mô hình cấu trúc của Modul dùng trong nghiên cứu có thể được thể hiện đơn giản qua sơ đồ của hình 1.5
Hình 1.5 Mô hình cấu trúc Modul đào tạo
Modul giống như những viên gạch xây dựng chương trình, có thể thay
đổi dễ dàng để thích ứng với sự phát triển của kỹ thuật Có thể chỉ thay đổi về nội dung trong một Modul mà không bắt buộc đối với các Modul khác, đơn
giản là chỉ cải tiến những phần riêng biệt
1.2.2.5 Đơn nguyên học tập
Ký hiệu của đơn nguyên: ĐN
Nội dung đào tạo của mỗi Modul được chia thành từng phân tố gọi là
đơn nguyên học tập Mỗi đơn nguyên học tập trình bày một vấn đề chuyên biệt về kiến thức và kỹ năng của một nghề nào đó và có thể dùng cho cả người dạy lẫn người học
Mỗi đơn nguyên học tập thường được cấu trúc bởi các thành phần sau
đây:
- Mục tiêu cho người học;
- Danh mục các phương tiện, thiết bị, vật liệu, cần cho việc học tập;
- Danh mục các đơn nguyên học tập có liên quan;
Trình độ đầu ra
Trang 251.2.3 Phân loại chương trình đào tạo
1.2.3.1 Chương trình đào tạo theo môn học
Đây là kiểu chương trình đào tạo truyền thống, theo thời gian, lớp bài, khoá học Chương trình thường được xây dựng theo các môn học, chương, mục ít bám sát với ngành, nghề Giáo viên tập trung vào bao quát tài liệu giảng dạy Người học hiếm khi biết chính xác họ sẽ học cái gì trong mỗi phần của chương trình và có ít cơ hội để kiểm tra quá trình và không gian giờ học Vì vậy chương trình thiếu linh hoạt, mềm dẻo Cuối mỗi kỳ một số học viên hoàn thành tốt chương trình, còn một số khác thì không hoàn thành tốt hoặc không hoàn thành yêu cầu đặt ra
Trong kiểu chương trình này (hình 1.6), các môn học được tạo thành bởi các “lát cắt ngang” Các môn chung, các môn học kỹ thuật cơ sở, phần lý thuyết chuyên môn, phần thực hành nghề được cấu trúc riêng biệt, chúng liên kết với nhau một cách tương đối độc lập
Hạn chế của chương trình kiểu này:
- Kỹ năng hành nghề chỉ được hình thành sau một thời gian học tập
trung tương đối dài ở trường (thường là sau khoá học)
- Không tạo điều kiện cho người học tự lựa chọn để phù hợp với điều
kiện cá nhân như học vấn, tài chính
- Khó khăn khi cần phải thay đổi chương trình
- Không tạo điều kiện cho sự liên thông giữa các trình độ cũng như
các phương thức đào tạo
Trang 26Hình 1.6 Kiểu chương trình đào tạo theo cấu trúc môn học
1.2.3.2 Chương trình đào tạo theo Modul kỹ năng hành nghề
Đây là một phương thức đào tạo nhằm cung cấp cho người học có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hành vi thái độ tương ứng với một nghề nghiệp nào đó trong xã hội ở các trình độ khác nhau
Mỗi Modul là sự tích hợp của nhiều lĩnh vực khoa học, ở nhiều mức độ khác nhau và hướng tới một mục tiêu rõ rệt, thường đó là một thao tác nghề nghiệp để làm được một công việc nhỏ nào đó Nội dung của các Modul được soạn thảo đảm bảo tính lắp lẫn (để có thể dùng chung cho nhiều nghề) và tính xếp chồng (theo các trình độ khác nhau)
Trong chương trình đào tạo theo Modul kỹ năng hành nghề (MKH), khái niệm môn học bị phá vỡ Toàn bộ nội dung kiến thức khoa học đã tích hợp lý thuyết và thực hành, giúp người học nhanh chóng hình thành được các năng lực hoạt động nghề nghiệp Có thể mô tả lối cấu trúc chương trình theo MKH bằng sơ đồ hình 1.7 Các “lát cắt dọc” thay thế cho “lát cắt ngang” Chương trình được xây dựng trên các vấn đề trọn vẹn của các Modul Trong trường hợp này, ranh giới giữa các lĩnh vực kiến thức và kỹ năng không còn nữa
MKH là phần nội dung đào tạo của một hay một số nghề hoàn chỉnh
được cấu trúc theo các Modul tích hợp giữa lý thuyết và thực hành mà sau khi
Lát cắt ngang Thực hành nghề
Các môn học lý thuyết chuyên mônCác môn kỹ thuật cơ sở Các môn chung
Trang 27học xong học sinh có thể ứng dụng vào và hành nghề trong xã hội Tiêu chí
đánh giá của nó chính là kỹ năng hành nghề hay cũng chính là các NLTH của người học
Hình1.7 Kiểu chương trình đào tạo theo MKH
Ưu điểm của chương trình đào tạo theo MKH:
- Mục tiêu đào tạo và cấu trúc nội dung đa dạng, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với nhu cầu của người học cũng như người sử dụng
lao động
- Đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ là một quy trình và được thực hiện thường xuyên, tạo điều kiện cho người học có thể nhanh chóng
đi vào nghề nghiệp cũng như có thể nâng cao trình độ nghề nghiệp
tới đỉnh cao khi có điều kiện
- Nội dung đào tạo được tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề, thực hiện tốt nguyên lý “học đi đôi với hành”, nâng cao chất lượng
và hiệu quả đào tạo
Thực hành nghềCác môn học lý thuyết chuyên mônCác môn kỹ thuật cơ sở Các môn chung
Lát cắt dọc
Modul 1
Modul 3
Modul
4
Modul 5 Modul
2
Trang 28- Nhanh chóng và kịp thời bổ sung được những kiến thức và kỹ năng nghề phù hợp với sự biến đổi của tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, có
điều kiện để đào tạo bám sát được yêu cầu của sản xuất Vì đây là hệ thống mở, có thể bổ sung hoặc thay đổi các đơn nguyên học tập một
cách dễ dàng
- Nâng cao tính mềm dẻo, linh hoạt của quá trình đào tạo nghề, tạo
điều kiện liên thông giữa một nghề, đặc biệt đối với những nghề cùng một lĩnh vực kỹ thuật nhờ vào việc sử dụng chung một số
Modul đơn vị
- Hiệu quả kinh tế và đào tạo cao, vì hầu hết các kiến thức và kỹ năng
đều có thể được sử dụng ngay để hành nghề sau khi học xong mỗi
MKH
- Người học có thể tự học, tự đánh giá nhờ vào các hướng dẫn, các bài tập kiểm tra, trắc nghiệm sau khi học xong mỗi đơn nguyên, mỗi
Modul
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong quá trình dạy học nhờ
vào những quy định và hướng dẫn cụ thể
- Có điều kiện thực hiện “cá nhân hoá cao” trong đào tạo nhờ việc
đánh giá khả năng trình độ của từng học viên trước khi học và việc hướng dẫn lựa chọn các Modul thích hợp để đạt được yêu cầu học
tập của họ cũng như mục tiêu đào tạo của nhà trường
Hạn chế của chương trình đào tạo theo MKH:
- Thiếu tính hệ thống chặt chẽ của từng bộ môn khoa học, kỹ thuật
- Cấu trúc nội dung đào tạo hoàn chỉnh cho toàn khoá của một nghề
kém phần logic
- Việc trang bị những kiến thức kỹ thuật cơ bản cho một nghề diện rộng để tạo khả năng phát triển lâu dài cũng như tạo nên tính thích ứng cao của học sinh với sự biến đổi của khoa học và công nghệ bị
Trang 29hạn chế bởi thời gian đào tạo và cấu trúc logic của quá trình đào tạo Mặt khác, kiến thức lý thuyết chỉ dừng ở mức thấp Người học khó
dạy cần hoàn chỉnh theo quy định
- Giáo viên cần có trình độ cao và phải được bồi dưỡng phương pháp
giảng dạy theo MKH
- Bởi vậy, đào tạo nghề theo MKH sẽ rất thuận lợi cho các loại hình
đào tạo ngắn hạn, còn đối với hệ đào tạo dài hạn thì cần được vận dụng từng bước và phối hợp giữa phương thức đào tạo theo MKH với phương thức đào tạo truyền thống hiện nay
1.2.3.3 Chương trình đào tạo kết hợp
Thực chất của kiểu chương trình này là sự kết hợp giữa chương trình
đào tạo theo môn học (kiểu truyền thống) và chương trình theo MKH (hình 1.8)
Theo kiểu chương trình này, khối kiến thức các môn chung, các môn kỹ thuật cơ sở là một thành phần của chương trình đào tạo theo Modul và được Modul hoá thành các học phần Phần lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề
được tích hợp thành các Modul (Modul kỹ năng)
Trang 30Hình 1.8 Mô hình kiểu chương trình đào tạo kết hợp
Chương trình đào tạo kết hợp giữa môn học và Modul gọi là chương trình đào tạo theo Modul (CTM), có nhiều ưu điểm do kết hợp được hai kiểu chương trình đào tạo trên Với chương trình đào tạo kiểu này nó sẽ tạo khả năng tốt để tổ chức quá trình đào tạo nghề một cách linh hoạt, năng động, giảm thiểu tối đa sự trùng lặp nội dung do có sự tích hợp giữa lý thuyết
chuyên môn và thực hành nghề, đặc biệt là nâng cao NLTH của người học 1.2.4 Quan điểm tiếp cận chương trình đào tạo theo Modul
Như phần trên đã trình bày, chương trình dạy học theo truyền thống và chương trình dạy học theo NLTH đều có những mặt mạnh, mặt hạn chế nhất
định
Mặt mạnh của kiểu chương trình theo môn học là ở chỗ, việc dạy và học theo các môn học giúp người học nhanh chóng nắm bắt được bản chất khoa học của các sự vật và hiện tượng Kiến thức của người học được hình thành một cách hệ thống theo logic của các bộ môn khoa học tương ứng Đó là cơ sở giúp người học có khả năng tư duy sáng tạo và có tiềm năng phát triển trong nghề nghiệp Mặt hạn chế của chương trình đào tạo với cấu trúc theo các môn học chính là ở chỗ không có được những đặc trưng ưu điểm của chương trình
đào tạo với cấu trúc Modul
Thực hành nghề Các môn học lý thuyết chuyên môn Các môn kỹ thuật cơ sở Các môn chung
Modul 1
Modul
2
Modul 3
Modul
4
Modul 5
Trang 31Quan điểm xây dựng chương trình dạy học sao cho có thể kế thừa, phát huy được tối đa những ưu điểm hay mặt mạnh và loại trừ được càng nhiều càng tốt những hạn chế của cả hai loại cấu trúc nội dung chương trình, đã hình thành nên kiểu chương trình kết hợp môn học và Modul (gọi tắt là chương trình theo Modul) cũng đã trình bày ở trên
Tiếp cận xây dựng chương trình dạy học theo Modul thể hiện cụ thể như sau:
- Hình thành loại chương trình kết hợp giữa dạy học theo NLTH với dạy học theo các môn học truyền thống
- Khối kiến thức chung, văn hoá bổ trợ hoặc khoa học cơ bản và lý thuyết cơ sở được xây dựng thành các môn học
- Khối kiến thức lý thuyết chuyên môn và kỹ năng thực hành được xây dựng thành các Modul kỹ năng nghề
1.2.5 Chương trình đào tạo theo Modul
- Khối kiến thức các môn chung: do nhà nước quy định, gồm các môn
bắt buộc như Chính trị, Pháp luật, Giáo dục thể chất, Quốc phòng, Ngoại ngữ, Tin học
Trang 32- Khối kiến thức các môn kỹ thuật cơ sở: được xây dựng theo nhóm
ngành học nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng nền tảng của nhóm ngành học để giúp người học lĩnh hội các kiến thức chuyên môn cũng như hình thành NLTH Đối với ngành Điện Công nghiệp và Dân dụng, các môn kỹ thuật cơ sở bao gồm: Điện cơ sở, Máy điện
và khí cụ điện, Điện tử cơ bản, Đo lường và thiết bị đo
1.2.5.2 Mối quan hệ của các thành phần trong CTM
Như đã trình bày ở trên, Modul kỹ năng và môn học là những thành phần cơ bản trong CTM Ngay trong cùng một cấp trình độ đào tạo, các thành phần này có mối quan hệ với nhau nhằm giải quyết các vấn đề của người học
Hình 1.7 Mối quan hệ giữa các thành phần của CTM
Modul kỹ năng (M): Hình thành NLTH một nhiệm vụ
Học phần môn học (MH): những kiến thức môn chung, KTCS góp phần hình thành NLTH cũng như trình độ đào tạo
Thể hiện mối liên hệ chính thức
Thể hiện mối liên hệ có thể
Trình độ đào tạo
Modul kỹ
năng M1
Modul kỹ năng M2
Modul kỹ năng Mn
Học phần
môn học
MH1
Học phần môn học
MH2
Học phần môn học
MHn
Trang 33Trong mối quan hệ này, các đường mũi tên nét đứt thể hiện mối liên hệ
có thể Mối liên hệ này xảy ra trong các trường hợp khi một học phần môn học có thể tham gia vào việc hình thành nhiều NLTH (Modul) trong cùng trình độ hoặc có thể tham gia vào việc hình thành NLTH ở trình độ cao hơn (dưới dạng các đơn vị học trình) Mối quan hệ này thể hiện tính mềm dẻo trong xây dựng CTM
1.3 Quy trình xây dựng chương trình đào tạo kết hợp Modul - môn học
Quy trình này bao gồm 8 giai đoạn như sơ đồ của hình 1.8 dưới đây
Hình 1.8 Các giai đoạn xây dựng chương trình đào tạo
1.3.1 Giai đoạn nghiên cứu
Giai đoạn nghiên cứu bao gồm các công việc:
- Xác định nhu cầu đào tạo
- Lựa chọn nghề cần biên soạn chương trình
- Đưa ra mục tiêu và phạm vi các chương trình cần biên soạn
- Xác định mục tiêu và chiến lược đào tạo trong nhà trường
Sản phẩm: Báo cáo kết quả nghiên cứu
Trang 341.3.2 Phân tích ngành nghề theo phương pháp DACUM kết hợp với
phương pháp chuyên gia
Lựa chọn phương pháp DACUM vì đây là phương pháp phân tích ngành nghề tiên tiến, đã áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới trong quá
trình phát triển chương trình đào tạo
Để khắc phục sự hạn chế của phương pháp DACUM, cần sử dụng thêm phương pháp chuyên gia để hoàn chỉnh sơ đồ phân tích ngành nghề và bổ sung những định hướng phát triển của ngành nghề trong tương lai
Sản phẩm: Danh mục các nhiệm vụ và công việc trong ngành nghề
1.3.3 Phân tích công việc
Xác định:
- Các bước thực hiện của từng công việc trong sơ đồ DACUM
- Các tiêu chuẩn thực hiện của từng bước công việc (theo tiêu chuẩn ngành nghề trong thực tiễn)
- Các dụng cụ, trang bị, vật liệu cần thiết để thực hiện từng bước công việc
- Các kiến thức HS cần thiết để thực hiện từng bước công việc
- Các vấn đề an toàn trong từng bước công việc
- Các quyết định, các lỗi thường gặp trong từng bước công việc
Trang 35- Hệ thống và nhóm các kiến thức theo logic hành nghề thành các Modul
- Xác định thời lượng cần thiết để dạy các môn học và các Modul
- Phân tích logic trình tự dạy học theo các môn học và các Modul trong chương trình
- Xác định các vấn đề về tổ chức đào tạo
- Xác định các yêu cầu và công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu đào tạo đã đề ra
- Xác định các nguồn lực và các giới hạn cần thiết để thực hiện chương trình đào tạo
Sản phẩm: Đề cương chương trình đào tạo
1.3.5 Biên soạn chương trình
- Viết mục tiêu và mục tiêu thực hiện các Modul/ môn học
- Xác định các yêu cầu và công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu thực hiện của các Modul/ môn học
- Xác định các nguồn lực cần thiết để dạy và học Modul/ môn học
- Xác định số lượng các bài dạy, viết mục tiêu thực hiện cho các bài
- Xác định nội dung và thời lượng dành cho các bài
- Biên soạn chương trình đào tạo ngành nghề theo mẫu định dạng quy định
Sản phẩm: Chương trình đào tạo hoàn chỉnh
1.3.6 Thử nghiệm chương trình đào tạo
- Xác định phạm vi và quy mô đào tạo thử nghiệm
- Biên soạn các công cụ giám sát và quản lý đào tạo thử nghiệm
- Tiến hành đào tạo thử nghiệm một số nội dung trong điều kiện thực tế
- Tổ chức đúc rút kinh nghiệm
- Điều chỉnh, bổ sung chương trình đào tạo
Sản phẩm: Chương trình đào tạo đã hiệu chỉnh
Trang 361.3.7 Đánh giá chương trình đào tạo
- Đánh giá tính chất nhận được của chương trình đào tạo
- Đánh giá hiệu suất và hiệu quả trong quá trình đào tạo (chất lượng đào tạo
so với các mục tiêu đã đề ra, chi phí nguồn lực hợp lý)
- Đánh giá hiệu quả ngoài của quá trình đào tạo (chất lượng đào tạo tác
động tới nơi sử dụng người tốt nghiệp, tới xã hội và người học)
Sản phẩm: Các khuyến nghị về chương trình đào tạo và triển khai
1.3.8 Triển khai chương trình đào tạo
- Quyết định ban hành và phạm vi sử dụng của chương trình đào tạo
- Kiểm định năng lực đào tạo tại các cơ sở có đủ điều kiện
- Triển khai đào tạo ở những cơ sở có đủ điều kiện
- Thanh tra và quản lý việc đào tạo đúng theo chương trình đã ban hành
Sản phẩm: Các quyết định ở vĩ mô và các khoá đào tạo ngành nghề
Kết luận chương 1
Trong chương này tác giả đã nghiên cứu:
- Quan điểm dạy học theo năng lực thực hiện
- Tổng quan về chương trình đào tạo theo Modul
Để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, trường Trung học Điện tử - Điện lạnh cần phải đổi mới chương trình đào tạo theo hướng mềm dẻo, tạo điều kiện thuận lợi cho người học và chương trình đào tạo theo Modul (CTM) đã đáp ứng yêu cầu này
Trang 37Chương 2
Đánh giá thực trạng chương trình đào tạo
tại trường Trung học Điện tử - Điện lạnh Hà Nội 2.1 Giới thiệu về trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội
2.1.1 Một số đặc điểm của trường
Trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội (tiền thân là Trường Trung sơ cấp Thuỷ lợi) được thành lập từ năm 1964 Đến năm 1994, nhà trường được nâng cấp thành trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội
Trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội là đơn vị sự nghiệp giáo dục chuyên nghiệp trong hệ thống các trường THCN của thành phố Trường là một trong các đơn vị được giao nhiêm vụ đào tạo Kỹ thuật viên trung cấp và Công nhân kỹ thuật nhóm ngành, nghề: Viễn thông, Công nghệ thông tin, Điện tử,
Điện lạnh, Điện dân dụng và Công nghiệp, Tự động hoá và Điều khiển tự
động
Để đảm bảo chất lượng đào tạo, thành phố đã đầu tư xây dựng nghề nghiệp bằng dự án trung tâm công nghiệp nhỏ đa ngành do chính phủ ấn Độ viện trợ Với 35 năm xây dựng trưởng thành và phát triển, cùng với những đổi thay của đất nước, nhà trường đã nhiều lần chuyển đổi mục tiêu đào tạo nhằm
đáp ứng nhiệm vụ được giao Cùng với việc tăng cường sơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ - giáo viên nhà trường đã được củng cố, xây dựng và phát triển để đáp ứng nhu cầu đào tạo mới
Trong 35 năm qua nhà trường đã đào tạo hàng chục ngàn kỹ thuật viên
và công nhân kỹ thuật cho Thủ đô và đất nước trên các lĩnh vực Công nghiệp, Nông nghiệp, Kinh tế văn hoá Trong quá trình học tập, học sinh được thực hành trên các máy móc thiết bị hiện đại và thực tập nâng cao tại các Công ty doanh nghiệp phù hợp với ngành nghề đào tạo Tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp
Trang 38có việc làm đạt từ 90 đến 92% và được các đơn vị sản xuất đánh giá là có kiến thức chuyên môn và tay nghề
Và đến tháng 10 năm 2006, trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội sẽ nhận quyết định lên Cao đẳng và trở thành trường Cao đẳng Điện tử - Điện lạnh Hà Nội
2.1.1.1 Về trình độ đào tạo
- Hệ Kỹ thuật viên trung cấp (KTV)
- Hệ Công nhân kỹ thuật (CNKT)
- Sắp tới trường có thêm hệ Cao đẳng (CĐ)
Ngoài ra, các học sinh tốt nghiệp hệ KTV trung cấp một số chuyên ngành được dự tuyển hệ cao đẳng liên thông hoặc tại chức đúng chuyên ngành
đã theo học
2.1.1.2 Về đối tượng và hình thức tuyển sinh
- Đối với hệ KTV: tốt nghiệp Trung học phổ thông, xét tuyển căn cứ tổng
điểm tổng kết 2 môn Toán và Vật lý (theo học bạ lớp 12)
- Đối với hệ CNKT: tốt nghiệp Trung học phổ thông, Trung học bổ túc và Trung học cơ sở
2.1.1.3 Về quy mô và loại hình đào tạo
- Quy mô đào tạo:
+ Đào tạo chính quy tập trung 3000 học sinh/ năm
+ Đào tạo ngắn hạn: 350 học sinh/ năm
+ Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: 250 học sinh/ năm
+ Đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu
- Đào tạo chính quy dài hạn:
+ Hệ KTV trung cấp: thời gian đào tạo là 24 tháng
+ Hệ CNKT: tuyển sinh tốt nghiệp THPT (hoặc THBT) thời gian đào tạo 24 tháng, tuyển sinh tốt nghiệp THCS thời gian đào tạo từ 30 đến
36 tháng
Trang 39- Đào tạo không chính quy, ngắn hạn: đào tạo nghề cấp chứng chỉ với thời gian 3, 6, 9 tháng
động
- Hệ CNKT: gồm các nghề là Sửa chữa Điện tử dân dụng, Sửa chữa Điện tử công nghiệp, Sửa chữa Điện xí nghiệp và dân dụng, Sửa chữa và Vận hành thiết bị lạnh, Sửa chữa và Lắp ráp máy tính, Kỹ thuật truyền dẫn và đường thuê bao ở hệ CNKT, với đối tượng tuyển sinh tốt nghiệp THCS, nhà trường chỉ đào tạo các nghề: Sửa chữa Điện xí nghiệp và dân dụng, Sửa chữa Điện tử dân dụng, Sửa chữa và Lắp ráp máy tính
2.1.1.5 Về kế hoạch chương trình giảng dạy
Kế hoạch và chương trình đào tạo của nhà trường đang sử dụng đối với cả hệ KTV và CNKT là do Sở Lao động thương binh và Xã hội ban hành trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đối với hệ KTV và CNKT thuộc loại hình đào tạo chính quy dài hạn vẫn áp dụng kế hoạch chương trình theo kiểu truyền thống, còn hệ ĐTN ngắn hạn một số áp dụng theo kiểu Modul, ví dụ chương trình đào tạo ngắn hạn 3 tháng theo Modul cho nghề: Sửa chữa và Vận hành thiết bị Lạnh (Phụ lục 1)
2.1.1.6 Về tổ chức quá trình đào tạo
Việc tổ chức quá trình đào tạo được nhà trường thực hiện dưới hình thức kết hợp giữa dạy lý thuyết và thực hành Đối với hình thức đào tạo chính quy tập trung thì sau một năm học lý thuyết cơ sở, học sinh sẽ được tăng cường học thực hành và đi thực tập nâng cao Còn đối với các hình thức khác như đào
Trang 40tạo ngắn hạn hay đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu thì học sinh chủ yếu
21 người Trong đó 100% đạt tiêu chuẩn chức danh giáo viên Trung học
chuyên nghiệp, 20% giáo viên đạt trình độ trên đại học
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức của nhà trường:
2.1.2.2 Cơ sở vật chất của nhà trường
Trường TH Điện tử - Điện lạnh Hà Nội có cơ sở tại Phường Dịch Vọng
- Quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội, có diện tích mặt bằng 15.000 m2, gồm:
Trường có trang thiết bị dùng cho giảng dạy và học tập đầy đủ, hiện đại
Điều kiện các phòng học lý thuyết, thực hành và thí nghiệm, xưởng thực tập
Khoa CNTT
Khoa
KH cơ
bản
Các khoá đào tạo