1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục bảo vệ môi trường thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT huyện thủy nguyên thành phố hải phòng

159 576 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 15,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ trọng tâm công tác GDBVMT của ngành GD&ĐT đối với giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về môi trường và BVMT bằng các hình thức phù hợp thông qua việc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHèI HîP GI÷A NHµ TR¦êNG VíI CéNG §åNG TRONG

GI¸O DôC B¶O VÖ M¤I TR¦êNG TH¤NG QUA HO¹T §éNG GI¸O DôC NGOµI GIê L£N LíP CHO HäC SINH TRUNG HäC PHæ TH¤NG

HUYÖN THñYNGUY£N - THµNH PHè H¶I PHßNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHèI HîP GI÷A NHµ TR¦êNG VíI CéNG §åNG TRONG

GI¸O DôC B¶O VÖ M¤I TR¦êNG TH¤NG QUA HO¹T §éNG GI¸O DôC NGOµI GIê L£N LíP CHO HäC SINH TRUNG HäC PHæ TH¤NG

HUYÖN THñYNGUY£N- THµNH PHè H¶I PHßNG

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa họ

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trang 4

- Quý thầy giáo, cô giáo và cán bộ nhân viên đã tham gia giảng dạy, quản

lý, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu;

- PGS TS , người đã trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn với tất cả tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình;

- Các cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, cha mẹ học sinh các trường

trên địa bàn huyện đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp

đỡ, góp ý, cung cấp số liệu cho tôi trong thời gian nghiên cứu;

- Gia đình, bạn bè, các anh/chị học viên cao học của lớp GDVPTCĐ đã thường

xuyên động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu;

Mặc dù rất cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song khả năng bản thân còn hạn chế, không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô giáo và các anh/chị để luận văn được hoàn thiện

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2017

Tác giả

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

4 Giả thuyết khoa học 6

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

8 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 9

9

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 9

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 12

ật ngữ liên quan 15

ủ ờng 15

17

1.2.3 Môi trườ ổ chứ 22

1.2.4 Phối hợp nhà trường và cộng đồ 26

28

Trang 7

1.3.1.Tầm quan trọng củ

ọc sinh THPT 28 1.3.2 Mục tiêu củ

ọc sinh trường THPT 29 1.3.3 Nhiệm vụ

ọc sinh trường THPT 30 1.3.4 Nộ

Trung học phổ thông 32 1.3.5 Lực lượ

Trung học phổ thông 34 1.3.6 Đối tượ

Trung học phổ thông 34 1.3.7 Nguyên tắ

Trung học phổ thông 34

Trung học phổ thông 36 1.3.9 Phương tiệ

rung học phổ thông 37 1.3.10 Hình thức tổ chứ

ọc phổ thông 37

1.3.11 Kết quả

Trung học phổ thông 39 1.4 Công tác phối hợp giữa nhà trường với cộng đồ

trung học phổ thông 39

1.4.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong công tác giáo dục học sinh 39

Trang 8

1.4.2 Vai trò của nhà trường và cộng đồng(gia đình và các tổ chức xã hội) trong việ

40

1.4.3

thông qua tổ chứ ờng THPT 44 1.4.4 Mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng (các lực lượng xã hộ

48

1.4.5 Ý nghĩa của phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ

Trung học phổ thông 51 1.4.6 Mục tiêu phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ

sinh Trung học phổ thông 52

phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ

sinh Trung học phổ thông 52 1.4.8 Chủ thể phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ

sinh Trung học phổ thông 52 1.4.9 Đối tượng phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ

sinh Trung học phổ thông 53 1.4.10 Biện pháp phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ

Trung học phổ thông 53

Trang 9

1.4.11 Hình thức phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ

Trung học phổ thông 53

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ Trung học phổ thông 54

1.5.1 Các yếu tố thuộc về cơ chế, chính sách 54

1.5.2 Các yếu tố thuộc về các chủ thể phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ 55

1.5.3 Các yếu tố thuộc về đối tượng phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong việ 55

1.5.4 Các yếu tố thuộc về tài liệu và nguồn thông tin 55

1.5.5 Các yếu tố thuộc về cơ sở vật chất và nguồn kinh phí: 56

Tiểu kết Chương 1 57

Chương 2:THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘ ỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 58

2.1 Khái quát đặc điể ế, xã hội, giáo dục tại huyện Thủy Nguyên, tp Hải Phòng [12] 58

ự nhiên 58

ế 58

- xã hội 59

60

Trang 10

2.1.5 Các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Thủy Nguyên 60

2.2 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 63

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 63

2.2.2 Đối tượng và qui mô khảo sát 63

2.2.3 Công cụ khảo sát 64

2.2.4.Các phương pháp khác sử dụng trong luận văn 64

2.3 Thực trạng về kết quả ọc sinh các trường Trung học phổ thônghuyện Thủy Nguyên, tp Hải Phòng 64

2.3.1 Thực trạ huyện Thủy Nguyên, tp Hải Phòng 64

2.3.2 Thực trạng nhận thức về phối hợp nhà trường và cộng đồ ổ chứ học sinh Trung học phổ thông của các lực lượ 66

2.3.3 Thực trạng thiết kế các chủ đề học sinh trường Trung học phổ thông 67

2.3.4 Thực trạng lập kế hoạch thực hiện trong cho học sinh trường THPT 69

2.3.5 Thực trạng chỉ đạo và tổ chức thực hiện kế hoạ ọc sinh trường Trung học phổ thông 71

2.3.6 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt độ cho học sinh trường THPT 73

Trang 11

2.3.7 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức

cho học sinh trường THPT 76

2.4 Đánh giá chung về thực trạng 77

2.4.1.Những kết quả đạt được và nguyên nhân 77

2.4.2 Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của chúng 78

Tiểu kết Chương 2 81

Chương 3: BIỆ TRONG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜ ỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 82

82

3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 82

3.2.1 Đảm bảo tính khoa học 82

3.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn 83

3.2.3. 83

3.2.4 Đảm bảo tính kế thừa 83

3.2.5 Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống 84

3.3 Một số biệ ổ chứ học sinh các trường THPT huyện Thủy Nguyên, tp Hải Phòng 84

3.3.1 Nâng cao nhận thức về ổ chứ ọc sinh các trường THPT của các bên liên qua (nhà trường, gia đình và cộng đồng) 84

Trang 12

3.3.2 Đa dạng hóa nội dung và hoạt độ

ổ chứ

ọc sinh các trường THPT 88

3.3.3 Tăng cường kế hoạch hóa, tổ chức và kiể ản hồi thông tin nhằm cải tiến phối hợp nhà trường và cộng đồ ọc sinh các trường THPT 92

ế phối hợ ổ chứ ọc sinh trường THPT 97

3.3.5 Nâng cao năng lự ổ chứ cho học sinh trường THPT 100

3.3.6 ở vật chất, trang thiết bị của toàn xã hộ 102

3.3.7 Xây dựng và thực hiện quy định khen thưởng và trách phạt đối với giáo viên, hoặc các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia công tác giáo dụ ọc sinh 104

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 105

3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 106

3.5.1 Mụ nghiệm 107

3.5.2 Nội dung khảo nghiệm 107

Tiểu kết Chương 3 117

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118

122

PHỤ LỤC 125

Trang 13

DANH MỤC BẢNG

61 63 Bảng 2.2 Kết quả điều tra nhận thức của CBQL và giáo viên về sự cần thiết

sinh THPThuyện Th 66 Bảng 2.3 Kết quả điề

cho học sinh trường THPT 67 Bảng 2.4 Kết quả điều tra về công tác xây dựng kế hoạch GDBVMT cho học sinh 69 Bảng 2.5 Kết quả điều tra về mức độ của công tác chỉ đạo hoạt độ

ọ 72 Bảng 2.6 Kết quả điều tra về mức độ của công tác kiể

họ 75 Bảng 3.1 Kết quả điều tra về tính cần thiết củ

học sinh THPT huyệ 109

NGLL cho học sinh THPT huyệ 112

biệ

ọc sinh THPT huyệ 114

Trang 14

NGLL 116 Bảng 3.4 Kết quả điều tra về tính cần thiết và khả thi của các giả

học sinh THPT huyệ 130

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngay từ rất sớm, vào giữa thế kỷ XIX, trong tác phẩm “Phép biện chứng của tự nhiên”, F Ăng ghen đã cảnh báo về sự “trả thù” của của tự nhiên đối với con người khi con người coi mình là “kẻ thống trị” tự nhiên, hành động “bóc lột” tự nhiên một cách thái quá Còn C Mác lại đề cập khía cạnh phản đạo đức, phản văn hóa trong quá trình con người tác động vào tự nhiên[19]

ột trong những mặt trái của

sự phát triển chính là vấn đề suy thoái của môi trường sống của chúng ta; nó có tác động to lớn đến đời sống xã hội không chỉ ở các nước phát triển mà cả ở các nước đang phát triển và kém phát triển; nó không chỉ xuất hiện ở các đô thị, các khu công nghiệp mà còn ở các vùng nông thôn, miền núi Giờ đây, vấn đề ô nhiễm môi trường đã trực tiếp tác động xấu đến mỗi quốc gia, mỗi khu vực, mỗi cộng đồng và từng gia đình Vì vậy, việc bảo vệ môi trường sống đã trở thành việc làm cấp bách và mang tính sống còn đối với mỗi chúng ta

quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, dân số tăng nhanh đã làm môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm, nhiều hệ sinh thái bị phá hủy, diện tích rừng ngày càng thu hẹp do nạn phá rừng bừa

Hậu quả là thiên tai, dịch bệnh xảy ra bất ngờ

đe dọa đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người dân Do vậy, vấn đề giáo dục môi trường cho cộng đồng đã trở thành vấn đề cấp thiết, đặc biệt là lứa tuổi học sinh, thế hệ tương lai của đất nước Việc giáo dục môi trường cho lứa tuổi này có vai trò rất quan trọng vì nếu các em được giáo dục tốt, các em sẽ

là những tuyên truyền viên đắc lực cho gia đình và cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ môi trường

Trang 16

ững năm qua, Đảng, Nhà nước ta cũ bảo vệ môi trường bằng các chủ trương, chính sách và các chương trình hành động cụ thể

ỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Quyết định

số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án đưa GDBVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân, Quyết định

số 256/2003/QĐ-TTg ngày 01/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Đặc biệt Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong từng thời kỳ CNH, HĐH, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị cho các cơ sở giáo dục trong cả nước tổ chức triển khai các nhiệm vụ về GDBVMT và thực hiện tốt các hoạt động GDBVMT trong nhà trường Nhiều nội dung BVMT

đã được thực hiện ở các cơ sở giáo dục, bước đầu đã được những kết quả nhất định Các nhà trường đã tổ chức nhiều hoạt động như: tuyên truyền thôngtin về môi trường, xây dựng môi trường Xanh - Sạch - Đẹp, tổ chức thành công các cuộc thi viết, vẽ, văn nghệ, về chủ đề bảo vệ môi trường Nhiệm vụ trọng tâm công tác GDBVMT của ngành GD&ĐT đối với giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về môi trường và BVMT bằng các hình thức phù hợp thông qua việc lồng ghép vào các môn học, các hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, xây dựng mô hình nhà trường Xanh - Sạch - Đẹp

Để thực hiện tốt công tác GDBVMT tại trường phổ thông, triển khai

và thực hiện các nghị quyết và chỉ thị của cấp trên, Sở GD&ĐT Hải Phòng đã

tổ chức đợt tập huấn lồng ghép GDBVMT cho các môn học theo các công

Trang 17

văn số: Số: 7731/BGDĐT-GDTrHV/v: Tập huấn về tích hợp GDBVMTqua dạy nghề phổ thông đã được các trường THPT tham gia đầy đủ, thu được những kết quả nhất định

Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Thủy Nguyên vẫn đang còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, mỗi trường thực hiện theo những cách riêng Một

bộ phận học sinh ở địa bàn nông thôn vẫn đang thờ ơ với vấn đề ô nhiễm môi trường, xem đó là việc của các thành phố lớn; vì vậy chưa quan tâm và thiếu ý thức đối với việc bảo vệ môi trường là điều tất yếu Mặt khác, chính đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên cũng đã và đang gặp nhiều lúng túng trong việc triển khai giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, phần lớn chưa biết cách lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động này, một số trường học thực hiện một cách hình thức, mang tính đối phó

Giáo dục bảo vệ môi trườ

không phải là một môn học cụ thể, mà nó là quá trình giáo dục kết hợp các tình huống, các hoạt động trong giáo dục nhà rườ

ội Nó không có phương pháp hay hình thức giáo dục cụ thể mà cần linh hoạt vận dụng các tình huống, các hoàn cảnh cụ thể để thông qua đó giáo dục học sinh; trong đó vai trò và sự gương mẫu của người giáo viên là vô cùng quan trọng Bản thân người giáo viên không chỉ là người truyền đạt những kiến thức lý thuyết mà phải thể hiện bằng những hành động và việc làm của mình cụ thể trong bảo vệ môi trường.Việ

ạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, đối với các nhà quản lý hiện nay cũng đang gặp nhiều khó khăn Nếu không hiểu về đối tượng giáo viên, học sinh;không nắm vững về thực trạng môi trường địa phương; không hiểu về các nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức thì vấn đề giáo dục bảo vệ

Trang 18

môi trường cho học sinh chỉ dừng lại tính hình thức và không phát huy được hiệu quả Bản thân các nhà quản lý cũng cần phải nghiên cứu để tổ chức các hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động dạy

thể sao cho thật phong phú,đa dạng; quan trọng nhất là phải mang tính thiết thực và thật gần gũi với các em Ngoài việc truyền đạt kiến thức lý thuyết trên

việc làm, các hoạt động trong và ngoài nhà trường để học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống giúp cho các em từng bước hình thành và phát triển năng lực cá nhân về bảo vệ môi trường, sống có ích, có trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội

Đã có một số công trình nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nói chung cũng như trong thực tiễn của thành phố Hải phòng dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện dưới các hình thức như: đề tài khoa học; giáo trình; bài báo; bài đăng tạp chí Tuy nhiên các công trình đề tài nghiên cứu về giáo dục bảo vệ môi trường thì nhiều nhưng nghiên cứu về các

trường thông qua HĐGDNGLL cho học sinh THPT ở huyện Thủy Nguyên Hải Phòng chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào

Th

Trang 19

-ốn được tiếp tục nghiên cứu, phân tích và đưa ra những giải pháp, khuyến nghị về một số biện pháp

cho khối học sinh THPT huyện Thủy Nguyên từ thực tiễn giáo dục của thành phố Hải Phòng góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa đất nước mà vẫn đảm bảo cho sự phát triển mang tính bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân thành phố., đó là những lý do để ọn đề tài

“Phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục bảo vệ môi trường thông

qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận làm tiền đề đánh giá thực trạng và

đề đề xuất một số biệ

GDBVMT thông qua tổ chức HĐGDNGLL cho họ

huyện Thủy Nguyên, tp Hải Phòng

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1Khách thể nghiên cứu

ổ chức

HĐ GDNGLL cho học sinh trường THPT

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Biệ

tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh các trường THPT thuộc huyện Thủy Nguyên, tp Hải Phòng

Trang 20

4 Giả thuyết khoa học

ổ chức HĐGDNGLL cho học sinh trườ

môi trườ

ệc bảo vệ môi trường sống, môi trường sinh hoạ

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luậ

GDBVMT thông qua tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh THPT

- Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lí, giáo viên, họ

Trang 21

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài, các văn bản quản lý giáo dục có liên quan đến trường trung học phổ thông, các văn bản hướng dẫn giáo dục bảo vệ môi trường (Luật giáo dục, Điều lệ trườ

ản dưới luật… );

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

Đối tượng điều tra:Cán bộ, giáo viên, học sinh các trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

Nội dung điều tra: Tìm hiểu thực trạ ức bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ, giáo viên nhằm thu thập thêm thông tin và làm rõ hơn những vấn đề điều tra

- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động giáo dụ

thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến lãnh đạo, các nhà giáo có kinh nghiệm thực tế phục vụ cho khảo nghiệm các biện pháp đề xuất

6.3 Nhóm phương pháp bổ trợ: Thống kê toán học để xử lý số liệu thu được

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 22

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

phần cung cấp những nghiên cứu và đánh giá việc thực hiện giáo dục

hoặc giải pháp giúp chính quyền địa phương điều chỉnh để triển khai thành công hơn các nghị quyết của Đảng; ngoài ra, việc nghiên cứu còn cung cấp cho các cấp ủy Đảng, chính quyền có thêm một nguồn tư liệu tham khảo phục

vụ cho công tác sơ tổng kết và thực hiện Nghị quyết Trung ương Nhà nước trong thời gian gần đây

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn dự kiến được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận về phối hợp nhà trường và cộng đồng trong

thông qua tổ chức cho học sinh THPT

Chương 2 Thực trạng phối hợp nhà trường và cộng đồng trong

sinh THPT huyện Thủy Nguyên, tp Hải Phòng

Chương 3.

cho học sinh THPT huyện Thủy Nguyên, tp Hải Phòng

Trang 23

Chương 1

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở các quốc gia phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Đức… giáo dục môi trường có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, ở nhiều nước giáo dục môi trường đã trở thành môn học Ngoài ra, các nhà trường còn

tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa về tìm hiểu, khám phá thiên nhiên và môi trường sống xung quanh

Trong khu vực Đông Nam á, việc giáo dục môi trường cho học sinh cũng

đã được chú trọng, có nhiều nước đã xây dựng chương trình giáo dục môi trường một cách hệ thống như Thái Lan, Singapore, Indonesie… hoặc giảng dạy lồng ghép trong các môn học khác như Malaysie, Philippine…

Theo từ điển bách khoa Pháp thuật ngữ bảo vệ môi trường có nghĩa là

“la protection de l’environnement”,[33] được giải nghĩa là việc sử dụng các giải pháp nhằm hạn chế hoặc xóa bỏ hoàn toàn những tác động tiêu cực từ hoạt động của con người đối với môi trường

Những nghiên cứu về bảo vệ môi trường xuất hiện vào khoảng cuối thế

kỷ thứ XIX nhưng chủ yếu ở các nghiên cứu về những tác động của hoạt động con người đối với môi trường; mãi đến năm 1972, cùng với việc thành lập Chương trình Liên hợp quốc về bảo vệ môi trường đã đánh dấu sự khởi đầu bằng các hành động bảo vệ môi trường trên bình diện thế giới

Khái niệm giáo dục môi trường đã được nhà khoa học Pháp Jean-Jacques Rousseau nói đến từ đầu thế kỷ XVIII và được Émile nhấn mạnh thông qua khái

Trang 24

niệm môi trường Nhiều năm sau đó, nhà tự nhiên học người Thụy Sỹ, Louis Agassiz đã khuyến khích giới trẻ tăng cường những nghiên cứu về tự nhiên Thực tế, thuật ngữ giáo dục môi trường mới chỉ thực sự được sử dụng từ nửa sau thế kỷ XX, và nó nhanh chóng được các nhà khoa học, các nhà bảo

vệ thiên nhiên và các nhà giáo dục quan tâm Tiếp đó, các chuyên gia về sức khỏe, các tổ chức hữu nghị, các nghị sỹ, các doanh nghiệp… đã đề cập đến thuật nhữ này trên các diễn đàn quốc tế Nhiều tổ chức quốc tế cũng đã được thành lập với nhiệm vụ hướng đến việc giáo dục bảo vệ môi trường như: Liên minh quốc tế về bảo vệ môi trường (1948), Chương trình Liên Hợp quốc về môi trường (1972) Nhiều hội thảo, hội nghị về vấn đề bảo vệ môi trường cũng đã được tổ chức trên bình diện quốc tế: Hội nghị thế giới về môi trường

ở Stockholm (Thụy Điển) vào tháng 6 năm 1972, Hội thảo quốc tế Belgrade (Nam Tư) vào tháng 10 năm 1975, Hội nghị ở Tbilissi (Liên Xô cũ) vào tháng

10 năm 1977… Các hội nghị này cũng đã đưa ra những tuyên bố, hiến chương, các chương trình hành động nhằm đẩy mạnh việc giáo dục môi trường cho công dân

Nhật Bản, hầu hết những ai đã từng đến Nhật Bản về đất nước này là bầu không khí trong lành - một sự trong lành đến kỳ lạ Đường phố vô cùng sạch đẹp, hầu như chẳng có chỗ nào có rác thải bừa bãi, cũng chẳng có chỗ nào có bụi bẩn, kể cả các công trường đang xây dựng Vấn đề an toàn luôn được đặt ra hàng đầu trong tiêu chuẩn xây dựng quốc gia

Việc giữ gìn vệ sinh môi trường của người Nhật thể hiện rất rõ việc họ ứng xử ngoài đường phố Ví dụ, bất cứ công dân Nhật nào đi ra đường cùng chó nuôi đều phải mang theo túi đựng và túi đặc biệt để hốt phân khi chẳng may chúng bậy trên đường Người chủ lúc này phải tự biết giải quyết vệ sinh một cách gọn gàng, ngăn nắp

Người Nhật rất thích những hoạt động dã ngoại ở bên ngoài ngôi nhà của mình Đó là những hoạt động thưởng thức hoa Anh Đào, nhóm cùng nhau

Trang 25

nướng thịt ngoài trời, nhóm cắm trại Sau khi kết thúc các hoạt động này, toàn

bộ hoạt động sau đó - hoạt động không thể thiếu chính là việc làm trả lại cho môi trường xung quanh y như lúc ban đầu - Nhặt rác, dọn dẹp sạch đẹp!

Người Nhật lại có ý thức bảo vệ môi trường như vậy là do ý thức giáo dục từ nhỏ Từ khi ở trên ghế nhà trường, mọi học sinh đều phải tham gia các trò chơi tập thể và chơi thể thao trong phòng tập, nhà thể chất và mọi công việc mà ai cũng cho là việc dĩ nhiên đó là thu dọn đồ và lau sàn Ở trường học, họ không thuê bất cứ nhân công nào cho việc này mà học sinh đều phải thay phiên nhau dọn vệ sinh trường học, lớp học của mình.Fan Nhật cho rằng

họ phải có ý thức với môi trường, dù là ở bất cứ đâu, không nhất thiết phải tại nước Nhật, họ quan niệm tôn trọng thiên nhiên, tôn trọng môi trường là nghĩa

vụ của họ Ý thức của họ lúc này đã nâng tầm cộng đồng Nhật Bản - một cộng đồng không chỉ ích kỷ làm đẹp, làm sạch cho quốc gia mình mà bất cứ nơi đâu

Singapore - đất nước có biểu tượng Sư tử mình cá (MerLion) còn được mệnh danh là “Thành phố cây xanh”, “Thành phố sạch nhất thế giới”- Sạch bởi môi trường sinh thái và giao thông rất thân thiện với con người

Môi trường sinh thái trên đất nước này được đặc biệt quan tâm Chính phủ Singapore đã coi nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển KT-XH Bên cạnh chính sách dành đất

để có những khu vườn thực vật rộng 52ha- nơi có vườn lan quốc gia với 3.000 loài hoa phong lan, vườn chim Jurong, đảo Sentosa, và phần đất hai bên của tất cả các con đường, phố đều nằm trong ngút ngàn của 3 tầng thực vật quanh năm xanh mướt, thì Singapore còn cho ra nhiều đạo luật liên quan đến môi trường và các biện pháp thi hành các chế tài dân sự, hành chính và hình sự Tóm lại, việc bảo vệ môi trường là nhiệm vụ toàn cầu, được cả thế giới quan tâm; để thực hiện tố nhiệm vụ này cần có sự chung tay của tất cả các quốc

Trang 26

gia, và phải bắt đầu từ việc giáo dục thế hệ trẻ Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải đưa vào chương trình giảng dạy trong các nhà trường, ở các cấp học Tuy nhiên, từ kinh nghệm các nước đi trước, nếu chỉ có việ

ể học sinh được tham gia hoạt động, từng bước hình thành cho học sinh kỹ năng, thái độ và hành vi trong việc bảo vệ môi trường, hướng đến sự phát triển bền vững

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về

đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT cũng đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện

GD&ĐT là đổi mới từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự QL của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD - đào tạo và việc tham gia củ ản thân người học… người học là chủ thể

trung tâm của quá trình GD; GĐ có trách nhiệm kết hợp với NT và XH trong việc

GD nhân cách, lối sống cho con emmình” [2, 4]

Đại hộ ốc lần X đã xác định nhiệm vụ của Giáo dục và

Đào tạo là: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức,

nội dung, phương pháp dạy học, thực hiện: Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [34,2]

So với thế giới, việc giáo dục bảo vệ môi trường ở Việt Nam được thực hiện muộn hơn, mới chỉ được đề cập từ lần Cải cách giáo dục lần thứ 3 (năm 1979) Từ đó đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này, cụ thể như:

- Tác giả Nguyễn Đình Thái có công trình nghiên cứu “Vị trí và bước

đầu định hướng nội dung, biện pháp giáo dục môi trường ở bậc tiểu học Việt Nam”; tác giả Nguyễn Thị Vân Hương có đề tài “Một số biện pháp nâng cao

Trang 27

nghiên cứu của mình, hai tác giả này đã đưa ra được mục tiêu, nội dung và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở bậc tiểu học

- Tác giả Nguyễn Phi Hạnh - Nguyễn Thị Thu Hằng đã nghiên cứu đề tài

“Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông”; tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng với đề tài “Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục

môi trường qua môn địa lý ở trường phổ thông cơ sở”, tác giả Nguyễn Dược

cũng đã đề cập đến vấn đề giáo dục môi trườ ờng phổ thông ở Việt Nam Qua các nghiên cứu trên, các tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong các nhà trườ

ồng thời bước đầu đã đưa ra một số phương pháp và cách thức tiếp cận giáo dục môi trường

[35]

động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

Trong những năm gần đây đã có n

sinh, đó là

- Công văn 3051/BGDĐT-KHCNMT hướng dẫn xây dựng kế hoạch bảo

vệ môi trường năm 2013 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Trang 28

- Công văn 3051/BGDĐT-KHCNMT hướng dẫn xây dựng kế hoạch bảo

vệ môi trường năm 2013 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

-Công văn 3411/BGDĐT-KHCNMT năm 2014 hướng dẫn xây dựng kế

hoạch bảo vệ môi trường năm 2015 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

- Công văn 2029/BGDĐT-KHCNMT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về

việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2016

- Công văn 3857/BGDĐT-GDTrH tích hợp nội dung Giáo dục bảo vệ

Môi trường các môn học cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông

- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 01/12/2003 của Thủ tướng

Như vậy, qua nghiên cứu, có thể thấy ở Việt Nam đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các cơ sở lý luận, các mô hình hoạt động và đưa ra các giải pháp mang

Trang 29

tính tổng thể Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về

ục bảo vệ môi trường thông qua HĐNGLL cho học sinh THPT huyệ

phát triển một số thông tin, số liệu, luận điểm của các nhà nghiên cứu trên

[27]

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [30] thì “GD là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà GD tới người được GD trong các cơ quan GD nhằm hình thành nhân cách cho họ”

Trang 30

Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà trường ở Việt Nam: “Sự học tập trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và tương lai của thanh niên là tương lai của đất nước mình Vì vậy cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi…phải dạy cho họ có ý chí tự lập tự cường quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” Người cho rằng học tập ở nhà trường chính là yếu tố quyết định đến việc xây dựng đất nước, phục vụ đắc lực cho nâng cao dân trí, đẩy lùi giặc dốt Tầm quan trọng của nhà trường là không thể phủ nhận Như vậy, nhà trường có thể coi là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội, đóng vai trò tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội

Trang 31

-dung, phương

1.2.1.3.Giáo dục nhà trường: mang tính tự giác và tính mục đích rõ ràng

GDNT được tổ chức và diễn ra theo một kế hoạch đào tạo xác định NT có kế hoạch cụ thể cho từng môn học, từng loại hình đào tạo,… trong khoảng thời gian Nhà trường và quản lý nhà trường hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm,… cho từng lớp Bởi vì kế hoạch là một văn bản pháp quy, kế hoạch đào tạo xác định được những trạng thái của nhà trường trong từng giai đoạn Có tính logic Nội dung giáo dục của nhà trường được chọn lọc một cách khoa học cơ bản và được sắp xếp một cách có hệ thống Hoạt động giáo dục, quá trình giáo dục (giáo dục theo nghĩa rộng) của nhà trường do cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, những người được đào tạo một cách bài bản về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm thiết kế, tổ chức và vận hành, kiểm tra và điều chỉnh trên cơ sở của khoa học giáo dục Phương pháp và phương tiện giáo dục nhà trường về nguyên tăc là tôn trọng học sinh, được lựa chọn và sử dụng trên cơ sở khoa học phù hợp với trình độ, tâm sinh lý học sinh và nội dung giáo dục cho phép đem lại kết quả bằng con đường ngắn nhất

1.2.2.1.Cộng đồng

Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi ích, cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong một khu vực xác định Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của một nhóm các cá nhân và không thực hiện các chức năng như một thể thống nhất

Trang 32

Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/cơ quan/tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với các khác” Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: CĐ là “cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ

cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thực vật, cũng

có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người – CĐ người

CĐ là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn CĐ yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy

có tính cội nguồn Và CĐ được xem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích có tính riêng lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị

CĐ người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các CĐ sinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm CĐ có nhiều tuyến nghĩa khác nhau đồng thời CĐ cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học…

Khi nói tới CĐ người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội”

có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong CĐ

Theo quan điểm Mác – Lênin, CĐ là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự CĐ hóa lợi ích giống nhau của các thành viên

về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành CĐ đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động

Trang 33

Quan niệm về CĐ theo quan điểm trên là quan niệm rất rộng, có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm người trong CĐ này chính là “điều kiện tồn tại và hoạt động”, là

“lợi ích chung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng”, “giá trị”chung…Thực chất đó là

CĐ mang tính giai cấp, ý thức hệ

Xuất phát từ tiếng La tinh, “Cộng đồng” – communis có nghĩa là

“chung/công cộng/được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người” Đặc điểm/ dấu hiệu chung của CĐ này chính là đặc điểm để phân biệt nó với CĐ khác

Dấu hiệu/đặc điểm để phân biệt CĐ này với CĐ khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng, xã, quận/huyện, quốc gia, châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia CĐ

*Phân loại cộng đồng

Tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại CĐ theo những dấu hiệu khác nhau Trong một số tài liệu, người ta chia CĐ theo các nhóm sau[18]:

- Nhóm CĐ theo địa vực: thôn xóm, làng bản, khu dân cư, phường xã, quận

huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ cho đến cả quả địa cầu của chúng ta

Ở nước ta, ở quy mô tỉnh, thành phố thì chúng ta có 63 tỉnh, thành phố, theo quy

mô xã phường thì chúng ta có trên chục ngàn xã, phường, ở quy mô thôn xóm, khu dân cư (nhỏ hơn xã phường) thì chúng ta có hàng trăm ngàn CĐ

- Nhóm CĐ theo nền văn hóa: nhóm này bao gồm: CĐ theo hệ tư tưởng,

văn hóa, tiểu văn hóa, đa sắc tộc, dân tộc thiểu số… Nhóm này cũng có thể bao gồm cả CĐ theo nhu cầu và bản sắc như CĐ người khuyết tật, CĐ người cao tuổi

- Nhóm CĐ theo tổ chức: được phân loại từ các tổ chức không chính thức

như tổ chức gia đình, dòng tộc, hội hè cho đến những tổ chức chính thức chặt chẽ hơn như các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị, tổ chức hành chính nhà

Trang 34

nước, tổ chức kinh tế, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, xã hội… từ phạm vi nhỏ ở một đơn vị hoặc trong phạm vi quốc gia cho đến phạm vi quốc tế

Cũng có thể phân loại CĐ theo đặc điểm khác biệt về kinh tế - xã hội:CĐ khu vực đô thị và CĐ nông thôn

Trong bối cảnh Việt Nam, CĐ được hiểu là một chỉnh thể thống nhất bao gồm những người dân (dân cư) sinh sống trong đơn vị hành chính cơ sở:

xã (địa bàn nông thôn), phường (địa bàn thành thị) hay đơn vị hành chính dưới xã, phường, đó là thôn/làng, bản (địa bàn nông thôn/ nông thôn miền núi) và tổ dân cư/ khu dân cư (địa bàn thành thị) cùng với hệ thống các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức nghề nghiệp… mà những người dân đó là thành viên dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí của Nhà nước

Như vậy, CĐ là một đơn vị hành chính, kinh tế - xã hội có tính độc lập tương đối trong một quốc gia Trong mỗi CĐ có các thành viên CĐ là các cá nhân hoặc gia đình đang sinh sống trên địa bàn, có những tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức xã hội mà các thành viên CĐ tham gia sinh hoạt trên địa bàn dân cư, các tổ chức kinh tế, dịch vụ mà thành viên CĐ tham gia làm việc

Ở Việt Nam ngày nay, các tổ chức chính trị - xã hội đó có thể là các tổ chức trong khối Mặt trận tổ quốc xã phường: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường/ xã; Hội/ Chi hội Phụ nữ; Hội/ chi hội người cao tuổi; Hội/ chi hội Cựu chiến binh; Hội nông dân (đối với địa bàn nông thôn); tổ chức tôn giáo (nếu có)… Tổ chức chính quyền: Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân; một số tổ chức kinh tế địa phương: Hợp tác xã nông nghiệp; Hợp tác xã thủ công, Doanh nghiệp… Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn có Trạm Y tế xã/ phường; bệnh viện, trường học; tổ chức Đảng, chi bộ Đảng

đồng (communiti education ):

Trang 35

Nói đến GDCĐ, có thể hiểu theo nghĩa rộng đó là nền GD được tiến hành trong các cơ quan, tổ chức, đoàn thể do nhà nướ ết lập, cung cấp các phương tiện và đảm nhiệm các chi phí, đồng thời được các lực lượng và các thành viên trong XH tham gia tổ chức và tiến hành quá trình đào tạo thế hệ trẻ trong NT cũng như ngoài NT [36]

GD CĐ hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm hoạt động do các đoàn thể nhân dân tham gia gánh vác như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, các tổ chức quần chúng khác về VH nghệ thuậ ỹ thuật, cơ sở sản xuất, kinh doanh, các tập thể, cá nhân có nhiệt huyết coi sự cộng tác, giúp đỡ, đảm nhiệm việc

GD thế hệ trẻ là hoạt động CĐ của bản thân

Môi trường GD CĐ có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát

triển nhân cách của trẻ Quá trình này thường phát triển bằng hai con đường: tự

phát và tự giác

- Con đường tự phát bao gồm tất cả các yếu tố tích cực, tiêu cực; tốt, xấu của

đời sống XH vô cùng phức tạp do cá nhân tự lựa chọn theo nhu cầu, trình độ tự

GD của mình

- Con đường tự giác là những tổ hợp tác động trực tiếp hay gián tiếp có

hướng đích, có nội dung, có phương pháp bằng nhiều hình thức của các tổ chức,

cơ quan, các đoàn thể cùng tham gia trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Đây là một lực lượng đông đảo, có uy tín trong XH, có khả năng tập hợp quần chúng, có lòng nhiệt tình, có phương pháp GD phong phú, đa dạng có sức thuyết phục cao, nhất là đối với trẻ em hư, nhiễm tật xấu hoặc các em có hành

vi vi phạ

Để phát huy lợi thế, tính tích cực của GD CĐ đối với công tác GDHS của NT, trước hết các tổ chức, các cơ quan, đoàn thể XH và các thành viên của các tổ chức trên phải thực hiện tốt chức năng chuyên biệt của mình, là tấm gương sáng trong

Trang 36

việc chấp hành các chủ trường, đường lối của Đả ủa Nhà nước, có nhiều việc làm góp phần vào công tác GD thế hệ trẻ thành công dân tốt, phát triển toàn diện, đảm bảo yêu cầu, đòi hỏi XH

Với sự phát triển kinh tế - XH của đất nước như ngày nay, tiềm năng GD củ

ất lớn, GD CĐ tất yếu trở thành một trong các nhân tố vô cùng quan trọng, góp phần hỗ trợ đắc lực cho GD NT và GD GĐ thực hiện mục tiêu đào tạo của Đảng, Nhà nước và XH yêu cầu

1.2.3.1 Môitrườngtheonghĩakháiquát:

L à một tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường nhất định.[31

32,639] Tiếng Anh

môi trường là “environment”, tiếng Pháp là “environnement” đều có nghĩa là

“cái bao quanh”

Theo Điều 3, Luật BVMT của Việt Nam, 2005: Môi trường bao gồm

các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [29]

Theo Hoàng Đức Nhuận, môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián

Trang 37

Đối với Vũ Trung Tạng, môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên… mà ở đó, cá thể, quần thể, loài… có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình

Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin…) trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người”

Tóm lại, có thể hiểu môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và

xã hội bao quanh con người, có ảnh hưởng, có tác động qua lại với con người

và với các hoạt động của con người

* Bảo vệ môi trường

Thuật ngữ bảo vệ môi trường theo tiếng pháp có nghĩa là “la protection

de l’environnement”, được giải nghĩa là việc sử dụng các giải pháp nhằm hạn

chế hoặc xóa bỏ hoàn toàn những tác động tiêu cực của những hoạt động của con người đối với môi trường [33]

*Giáo dục môi trường là

Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái[17]

* Giáo dục bảo vệ môi trường : giáo dục cho học sinhnhững kiến thức, hiểu biết về môi trường, những kỹ năng sống và làm việc trong một môi trường phát triển bền vững[16]

Trang 38

Giáo dục bảo vệ môi trường theo tiếng Pháp là tuyên truyền những hiểu biết và những giá trị của môi trường đối với người học nhằm khuyến khích hình thành thái độ và phát triển những năng lực cần thiết để tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong việc thực hiện các giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống con người trong môi trường, đồng thời cùng chung tay hành động để cải thiện chất lượng môi trường sống [33] Trên bình diện chung, giáo dục bảo vệ môi trường hướng đến việc nâng cao nhận thức, hiểu biết về môi trường, về trách nhiệm công dân và có thái độ

cá nhân hướng đến xây dựng “công dân sinh thái” (éco- citoyenneté) Xu thế ngày nay, khái niệm giáo dục môi trường từng bước được thay bằng khái niệm mới “giáo dục phát triển bền vững” Liên hệ với tám mục tiêu Thiên niên kỷ hướng đến sự phát triển bền vững được Liên Hợp quốc đưa ra, việc giáo dục này nhằm đưa ra những thông tin về những chỉ số cần thiết để thực hiện các mục tiêu trên, như: cải thiện điều kiện ăn ở; phương thức giao thông, sản xuất, tiêu dùng…

Trên phương diện cá nhân, giáo dục môi trường cho phép phát triển sự đồng nhất của con người với tập thể, của cá nhân với cộng đồng trong phạm

vi một nền văn hóa biết tôn trọng cuộc sống

Ở Việt Nam, Dự án VIE/95/041 năm 1996 cho rằng: “Giáo dục bảo vệ

môi trường là một quá trình thường xuyên qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, kỹ năng, giá trị, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai” [6, 8]

Như vậy, giáo dục bảo vệ môi trường là quá trình hình thành và phát triển ở

người học sự hiểu biết và những giá trị, từng bước hình thành thái độ, hành vi, thói quen, năng lực hành động để giải quyết những vấn đề liên quan đến môi trường sống, tạo điều kiện cho họ chung tay xây dựng xã hội phát triển bền vững

Trang 39

ục bảo vệ môi trường : Mặc dù

không qua trường lớp nào đào tạo về những kiến thức về môi trường nhưng với khả năng tự học đặc biệt cùng với những trải nghiệm trong thực tiễn, qua quá trình hoạt động cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn luôn thể hiện là một người đi tiên phong trong nhận thức và nhất quán trong tư duy và ngày càng phong phú, sinh động cụ thể ý thức bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững Điều này thể hiện trong rõ trong cuộc đời của Bác thể hiện qua nhiều bài nói, bài viết, qua các câu chuyện sinh hoạt hằng ngày

Năm 1972, tại Hội nghị thế giới lần thứ nhất về môi trường họp tại Stoc- khôm (Thụy Điển), ra lời kêu gọi các quốc gia cần quan tâm đến vấn đề bảo

vệ môi trường Thế nhưng từ trước đó rất lâu, nhất là bắt đầu từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động, kêu gọi đồng bào

ta bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững trên các lĩnh vực khác nhau, trong đó có phát động toàn dân thực hiện Tết trồng cây, với câu thơ nay

đã đi vào tâm can của mỗi người dân Việt Nam:

“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây

Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”

“ Mùa xuân là Tết trồng cây Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”

Mặc dù trong thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1969, Bác dồn sức lo toan cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa trước sự tàn phá rất khốc liệt của kẻ thù, nhưng Người vẫn dành quan tâm nhiều đến vấn đề bảo vệ môi trường, viết bài, trồng cây ở nhiều nơi Ngoài việc quan tâm nhắc nhở, kiểm tra, trực tiếp trồng cây ở nhiều nơi, Bác

đã ra lời kêu gọi, viết 7 bài đăng trên Báo Nhân Dân Đặc biệt, cách ngày “đi xa” không lâu, vào 11 giờ trưa ngày 16-2-1969 (tức Mồng một Tết năm Kỷ Dậu), Bác đến thăm và chúc Tết nhân dân xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây Người

Trang 40

đã cùng nhân dân khai xuân, trồng cây trên quả đồi tại xã Buổi trưa, dưới bóng cây trên đồi xã Vật Lại, Bác thân mật nói: “Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới, nhưng các cháu ngày nay thì biết chế độ dân chủ cộng hòa Đất nước bây giờ là của ta, cho nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi” Vào ngày 23-2-1969, tuy sức khỏe yếu, nhưng Bác vẫn nhớ gửi thưởng Huy hiệu của Người cho 4 cụ già có thành tích xuất sắc trong phong trào trồng cây gây rừng Đến nay Tết trồng cây đã trở thành phong tục tập quán, thành truyền thống tốt đẹp của đất nước ta, dân tộc ta Có rất nhiều, rất nhiều câu chuyện cảm động kể về tấm gương sống thân thiện với thiên nhiên, bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn môi trường của Bác Hồ mà chúng ta cần học tập, làm theo Trong những năm qua, khi nói về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa đề cập nhiều đến nội dung này

Trước tình trạng môi trường ở nhiều nơi trên nước ta đang bị hủy hoại, ô nhiễm và xuống cấp, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác một cách lãng phí, quản lý lỏng lẻo, thiết nghĩ các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp chính quyền, tổ chức chính trị-xã hội, các cơ quan chức năng cần có những giải pháp hữu hiệu, triệt để hơn để ngăn chặn, xử lý, giải quyết những vấn đề bức xúc về tài nguyên, môi trường Học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương bảo vệ môi trường của lãnh tụ Hồ Chí Minh, sống thân thiện với thiên nhiên, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên rất quan trọng và cần thiết Bởi vì đó là một nội dung trong đạo đức của mỗi công dân, mỗi cán bộ, công chức, đảng viên hiện nay

1.2.4.1 Phối hợp

Theo từ điển Tiếng Việt [32,786 ]: “Phối hợp là cùng chung góp, cùng

hành động ăn khớp để hỗ trợ cho nhau”

Theo quan niệm thông thường: Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai

hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung

Ngày đăng: 23/06/2017, 17:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4. Kết quả điều tra về công tác xây dựng kế hoạch GDBVMT - Phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục bảo vệ môi trường thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT huyện thủy nguyên thành phố hải phòng
Bảng 2.4. Kết quả điều tra về công tác xây dựng kế hoạch GDBVMT (Trang 83)
Bảng 2.6. Kết quả điều tra về mức độ của công tác kiểm tra, đánh giá - Phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục bảo vệ môi trường thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT huyện thủy nguyên thành phố hải phòng
Bảng 2.6. Kết quả điều tra về mức độ của công tác kiểm tra, đánh giá (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w