Tổ chức ứng dụng các giải pháp Hình thức tổ chức tập luyện TDTT ngoại khóa Tổ chức thực nghiệm Đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp Kết quả thực hiện giải pháp đổi mới hình thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT BẮC NINH
-PHÙNG XUÂN DŨNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THỂ DỤC THỂ THAO NGOẠI KHÓA CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THỂ DỤC THỂ THAO HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BẮC NINH – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT BẮC NINH
-PHÙNG XUÂN DŨNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THỂ DỤC THỂ THAO NGOẠI KHÓA CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Phùng Xuân Dũng
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
SPSS Statistical Package for the Social Sciences
2 Đơn vị đo lường
Trang 5MỤC LỤC
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các
1.2 Định hướng phát triển giáo dục thể chất trong thời kỳ đổi mới và những
1.2.1 Định hướng phát triển giáo dục thể chất trong thời kỳ đổi mới 11
1.3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong các trường Đại học, cáo
1.3.2 Thể dục thể thao chính khóa(nội khóa) trong trường học các cấp 23 1.3.3
1.3.3.1
Thể dục thể thao ngoại khóa
Một số khái niệm liên quan
24
24
1.3.3.3 Mục đích của tổ chức hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa trong
1.3.4.3 Các hình thức tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa trong trường học 36 1.3.4.4 Công tác tuyên truyền ý nghĩa hoạt động TDTT ngoại khóa và chính
1.4.1 Một số công trình nghiên cứu liên quan về TDTT ngoại khóa trong
1.4.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan về TDTT ngoại khóa trong
Trang 62.2.3 Phương pháp chuyên gia 53
3.1 Thực trạng hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên trừơng Đại học
3.1.1 Thực trạng về tính chuyên cần tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh
3.1.2 Thực trạng hình thức tập luyện tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh
3.1.5.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên của trường Đại học sư phạm TDTT Hà
3.1.5.3 Thực trạng nhận thức của sinh viên về vai trò của tập luyện TDTT
3.1.6 Xác định các nguyên nhân cơ bản làm hạn chế hiệu quả hoạt động Thể dục
thể thao ngoại khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao
88
88
Trang 73.2.1.1
3.2.1.2
Căn cứ lựa chọn giải pháp
Nguyên tắc đề xuất các giải pháp
88
98 3.2.2
3.2.3
3.2.3.1
3.2.3.2
Lựa chọn các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa cho
sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội
Xây dựng nội dung các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Thể dục
thể thao ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học sư phạm Thể dục thể
thao Hà Nội
Giải pháp: Đổi mới hình thức tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa
Giải pháp: Đổi mới nội dung tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa
101
102
102
112 3.2.3.3 Giải pháp: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất
Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp đã lựa chọn trong thực
tiễn tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa
Tổ chức ứng dụng các giải pháp
Hình thức tổ chức tập luyện TDTT ngoại khóa
Tổ chức thực nghiệm
Đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp
Kết quả thực hiện giải pháp đổi mới hình thức tập luyện TDTT ngoại
khóa
Kết quả thực hiện giải pháp đổi mới nội dung tập luyện TDTT ngoại
khóa
Kết quả thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên và cơ sở vật
chất phục vụ công tác Thể dục Thể thao ngoại khóa
Đánh giá hiệu quả ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
ngoại khóa đối với sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội 141 3.3.3.2 Đánh giá sau thực nghiệm sự tác động của tập luyện Thể dục thể thao ngoại
DANH MỤC CÁC KẾT QUẢ ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
7
Bảng 3.7 Phỏng vấn cán bộ giáo viên về thực trạng cơ sở vật chất
phục vụ hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cho sinh viên trường
Đại học sư phạm TDTT Hà Nội (n=60)
Sau trang 76
9
Bảng 3.9 Phỏng vấn tổng thể sinh viên về thực trạng cơ sở vật chất
phục vụ hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cho sinh viên trường
Đại học sư phạm TDTT Hà Nội (n= 1860)
Sau trang 76
Trang 917 Bảng 3.17 Nhu cầu tập luyện TDTT ngoại khóa của tổng thể sinh viên 96
19
Bảng 3.19 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học sư
phạm TDTT Hà Nội
101
24 Bảng 3.24 Phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên về tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp đổi mới hình thức tập luyện TDTT
27 Bảng 3.27 Kết quả phỏng vấn cán bộ giáo viên về lựa chọn các nội dung tập luyện TDTT ngoại khóa cho sinh viên 115
29 Bảng 3.29 Phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên về tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp đổi mới nội dung tập luyện TDTT
30 Bảng 3.30 Kết quả phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý về mối tương quan giữa tính cấp thiêt và tính khả thi (n=30) 119
31 Bảng 3.31 Phỏng vấn tổng thể sinh viên về giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất phục vụ công tác Thể dục thể thao
ngoại khóa
122
32 Bảng 3.32 Phỏng vấn theo đặc điểm giới tính về giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất phục vụ công tác TDTT ngoại khóa 123
33 Bảng 3.33 Phỏng vấn cán bộ giáo viên về giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất phục vụ công tác TDTT ngoại khóa 124
Trang 1034 Bảng 3.34 Kết quả phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý và giáo viên về tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
và cơ sở vật chất phục vụ công tác Thể dục thể thao ngoại khóa (n= 30)
126
35 Bảng 3.35 Kết quả phỏng vấn cán bộ quản lý về mối tương quan giữa tính cấp thiêt và tính khả thi (n=30) 127
40 tác TDTT ngoại khóa Bảng 3.40 Kết quả nâng cao đội ngũ giáo viên tham gia hướng dẫn công 139
41
Bảng 3.41 Phỏng vấn kết quả cải tạo cơ sở vật chất phục vụ tập thể
dục thể thao ngoại khoá cho sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT
Hà Nội
Sau trang
140
nhóm TN và Nhóm ĐC
Sau trang 144
Trang 11BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 So sánh các chỉ tiêu thể lực của nam và nữ sinh
2 Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả học tập các môn lý thuyết của
3 Biểu đồ 3.3 So sánh kết quả học tập các môn thực hành của
4 Biểu đồ 3.4 So sánh kết quả học tập các môn lý thuyết của
5 Biểu đồ 3.5 So sánh kết quả học tập các môn thực hành của
10 Biểu đồ 3.6 So sánh kết quả thi đẳng cấp của nữ SV nhóm
11 Biểu đồ 3.7 So sánh kết quả thi đẳng cấp của nam SV nhóm
Trang 121
PHẦN MỞ ĐẦU
Mục tiêu của giáo dục nước ta là: Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có lý tưởng, đạo đức, có tính tổ chức và kỷ luật, có ý thức cộng đồng và tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức hiện đại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp và có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ trọng tâm chúng ta cần thực hiện gồm: Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn trên cơ sở đảm bảo chất lượng, điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với sử dụng; thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập Phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, giáo dục và đào tạo nước ta vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế Như Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Trong những năm vừa qua lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém”[2, tr.2]
Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định cần phải có những đổi mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng, đào tạo ra đội ngũ tri thức, lao động đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Nghị quyết
Đại hội cũng đã nêu rõ, một trong 5 nhiệm vụ để phát triển đất nước là “phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực”[2, tr.4] Quan điểm đó đã được thể hiện cụ thể trong Nghị quyết
14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010” và hiện nay là Nghị quyết số 29 NQ/TW ngày 4/11/2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [3,tr2] Điều đó
Trang 132
cho thấy, giáo dục đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, mà trong đó, đội ngũ giáo viên lại chính là lực lượng nòng cốt biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục Xu thế đổi mới giáo dục hiện nay đã
và đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực của người giáo viên Giáo viên trước hết phải là một nhà giáo dục có đủ năng lực hoạt động nghề nghiệp, là một công dân gương mẫu, hăng hái tham gia vào sự phát triển cộng đồng Giáo viên không chỉ đóng vai trò truyền đạt các tri thức khoa học kỹ thuật, mà đồng thời phải là người tổ chức và trực tiếp thực hiện các hoạt động giáo dục
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa Đó là phương tiện giáo dục, giáo dưỡng, bồi dưỡng thế hệ trẻ cho tương lai phát triển toàn diện về Đức, Trí, Thể, Mỹ, Lao động, nhằm xây dựng con người mới XHCN 161] Đó là những con người có khả năng cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức Đảng ta luôn coi trọng vị trí của công tác giáo dục nói chung, của giáo dục thể chất (GDTC) nói riêng và xem GDTC là một mặt của công tác giáo dục toàn diện trong nhà trường XHCN GDTC trong nhà trường các cấp còn giữ một vị trí quan trọng, then chốt trong chiến lược phát triển sự nghiệp TDTT, nhất là trong các trường phổ thông Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội
đã và đang đào tạo sinh viên chuyên ngành GDTC với mục tiêu: Sinh viên sau khi tốt nghiệp “ Biết nhiều môn và giỏi một môn thể thao” và có đầy đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ, có khả năng đảm nhiệm tốt việc giảng dạy TDTT, tổ chức hoạt động trọng tài, thi đấu và các hoạt động ngoại khóa ở các trường từ bậc Đại học đến Tiểu học, đóng góp một phần vào sự nghiệp giáo dục, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của nước nhà
Trang 143
Tuy nhiên, do điều kiện thực tế của nhà trường về các yếu tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực…và một số điều kiện khách quan nên chất lượng của các giờ học chính khóa vẫn còn nhiều hạn chế, chỉ đáp ứng được việc tiếp thu kỹ thuật cơ bản Muốn đáp ứng mục tiêu đào tạo hiện nay của nhà trường, đòi hỏi ngoài giờ học chính khóa, việc tổ chức tập luyện thêm ngoại khóa là hết sức cần thiết
Trong thực tế công tác giảng dạy cho sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội cũng cho thấy, ngoài các giờ học nội khóa, thì các em sinh viên
có nhu cầu hoạt động TDTT ngoại khóa rất lớn, đây là khoảng thời gian các
em được vui chơi, giao lưu, được rèn luyện thêm về thể lực, kỹ năng vận động Trong những năm qua, hoạt động TDTT ngoại khóa mới chỉ hoạt động theo mô hình đơn lẻ, các môn thể thao chưa phong phú, đa dạng, vấn đề tổ chức quản lý hoạt động chưa được chặt chẽ, chưa có các giải pháp đảm bảo tính khoa học và chưa lôi cuốn được nhiều sinh viên tham gia,
Hiểu rõ tầm quan trọng của lĩnh vực nghiên cứu này, nhiều nhà khoa học giáo dục đã quan tâm nghiên cứu, các đề tài tiêu biểu có thể đề cập đến như: Nguyễn Văn Hòa (2004), Hoàng Công Dân (2006), Lê Hồng Cường (2006), Nguyễn Hùng Vĩ(2007), Nguyễn Ngọc Việt (2008),” Trần Kim Cương (2008), Huỳnh Tiến Dũng (2008), Nguyễn Văn Hạ(2009), Nguyễn Quang Huy (2010), Lê Văn Long (2010), Nguyễn Thị Mai Thoan (2011), Vũ Việt Hùng (2012), Lê Trường Sơn Trấn Hải (2012), Trần Hữu Hùng (2013), Nguyễn Đức Thành (2013), Vũ Đức Văn (2014),Trần Vũ Phương (2016) Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu theo hướng nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên chuyên ngành GDTC còn rất ít, chủ yếu các đề tài tập trung các giải pháp nâng cao hoạt đông TDTT ngoại khóa cho sinh viên không thuộc chuyên ngành GDTC, hoặc học sinh THPT, đặc biệt dành cho đối tượng sinh viên trường sư phạm TDTT thì chưa
có đề tài nào đề cập tới [12]; [13]; [19]; [21]; [27]; [28]; [29]; [30]
Trang 154
Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng, tính bức thiết của vấn đề căn
cứ vào các yêu cầu thực tiễn đòi hỏi nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội”
Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc đánh giá thực trạng công tác
thể dục thao ngoại khóa, luận án nghiên cứu lựa chọn các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa một cách phù hợp, nhằm đẩy mạnh phong trào hoạt động tập luyện TDTT NK cho sinh viên trường ĐHSP TDTT
Hà Nội, từ đó nâng cao thể lực và kết quả học tập cho đối tượng nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài luận án xác định giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng hoạt động Thể dục thể thao ngoại
khóa của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội
Để giải quyết nhiệm vụ 1, đề tài giải quyết các nội dung sau:
Thực trạng công tác TDTT ngoại khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội
Thực trạng về nhu cầu tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội
Thực trạng về hình thức tập luyện Thể dục thể thao Ngoại khóa
Thực trạng về nội tập luyện Thể dục thể thao Ngoại khóa
Thực trạng về số lượng, chất lượng giáo viên, người hướng dẫn tập luyện TDTT ngoại khóa
Thực trạng về cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ, phục vụ hoạt động Thể
dục thể thao Ngoại khóa
Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu Lựa chọn và xây dựng giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học
Sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội
Trang 165
Để giải quyết nhiệm vụ 2, đề tài giải quyết các nội dung sau:
Giải pháp 1: Đổi mới hình thức tập luyện Thể dục thể thao Ngoại khóa Giải pháp 2: Đổi mới nội dung tập luyện Thể dục thể thao Ngoại khóa Giải pháp 3: Nâng cao chất lượng đối với giáo viên hướng dẫn và cải
tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, phục vụ hoạt động Thể dục thể thao Ngoại khóa
Nhiệm vụ 3: Ứng dụng và đánh giá kết quả các giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học
sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội
Để giải quyết nhiệm vụ 3 đề tài giải quyết các nội dung sau:
Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp đã nghiên cứu
Đánh giá sự tác động của các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa đối với phong trào tập luyện
Đánh giá sự tác động của các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa đối với sinh viên về thể lực
Đánh giá sự tác động của các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa đối với sinh viên về kết quả học tập
3 Giả thiết khoa học
Hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên đã được BGD &
ĐT ban hành theo chương trình chung của môn học Giáo dục thể chất từ rất lâu Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân mà ít trường Đại học thực hiện một cách nghiêm túc điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo của nhà trường Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp có đủ cơ
sở khoa học, được kiểm chứng trong thực tế phù hợp với điều kiện hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội, là nhân tố thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện, từ đó nâng cao được
thể lực cũng như kết quả học tập của sinh viên trong nhà trường
Trang 176
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp
Hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi khai sinh nền thể thao cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh viết :” Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục “ lời kêu gọi của Người như ánh dương toả chiếu, soi sáng, định hướng cho sự hình thành và phát triển của một nền thể thao mới do Người sáng lập Từ “ Tự tôi ngày nào cũng tập” đến “Khoẻ vì nước” (năm 1946) và nay là :
“Cuộc vận động toàn dân RLTT gương Bác Hồ vĩ đại” đã trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT Việt Nam” Tư tưởng Hồ Chí Minh Trong việc đặt nền tảng xây dựng sự nghiệp TDTT của nước ta là: khẳng định rõ, TDTT
là một trong những công tác cách mạng, vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa
là nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân Mục tiêu của TDTT là tăng cường sức khoẻ của nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống Việt Nam, làm cho dân cường, nước thịnh Tiêu biểu cho điều mong muốn thiết tha của Bác, là lời kêu gọi toàn dân tập thể dục [5]
“ Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần đến sức khoẻ mới thành công, mỗi một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khoẻ mạnh là góp phần làm cho cả nước khoẻ mạnh.Vậy rèn luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước’’ Bác Hồ rất quan tâm đến sự nghiệp phát triển TDTT vì sức khoẻ nhân dân, vì rằng việc gì cũng cần tới sức khoẻ mới thành công Bác kêu gọi toàn dân thường xuyên RLTT nhằm giữ gìn sức khoẻ, nâng cao thể lực cho con người, tin yêu thế hệ trẻ
Thực hiện tâm nguyện của Người, trong những năm qua, Đảng ta với chủ trương: “Để đảm bảo cho sự nghiệp TDTT của nước ta phát triển vững chắc,đem lại những hiệu quả thiết thực, từng bước xây dựng nền TDTT xã hội chủ nghĩa phát triển cân đối, có tính chất dân tộc, khoa học và nhân dân’’
“Công tác TDTT cần coi trọng,
Trang 18sự coi TDTT là một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh - quốc phòng, chưa có chế độ phù hợp với yêu cầu phát triển của TDTT Quản lý của ngành còn kém hiệu quả, chưa phát huy hết vai trò chủ động sáng tạo của toàn xã hội để phát triển TDTT [5],[4]
Trước tình hình mới, định hướng của Đảng về sự nghiệp TDTT: Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế –xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang
Pháp lệnh TDTT đã được uỷ ban thường vụ quốc hội khoá X tham gia và ban hành: TDTT là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân Để phát triển sự nghiệp TDTT, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về
Trang 198
TDTT nhằm nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực toàn dân, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách con người Việt Nam, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để mọi người tham gia hoạt động TDTT và hưởng thụ giá trị TDTT; phát triển TDTT thành tích cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, giữ gìn và phát triển thể thao dân tộc Kết hợp với phát triển thể thao hiện đại phù hợp với bản sắc văn hoá Việt Nam [2],[5]
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sự nghiệp TDTT nước nhà, Thủ tướng chính phủ đã có chỉ thị 133/TTg về quy hoạch phát triển ngành TDTT Trong đó đã nêu: “Ngành TDTT phải xây dựng định hướng phát triển
có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các môn thể thao và các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng; Bộ giáo dục - Đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường Cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn RLTT cho học sinh ở các cấp học, quy chế bắt buộc ở các trường Nhất là trường đại học phải có sân bãi, phòng tập TDTT, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đảm bảo đủ giáo viên, giảng viên TDTT đáp ứng nhu cầu ở tất cả các cấp học” [4, tr2]
Cụ thể: Ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật thể dục thể thao – luật số 77.2006/QH
1, trong đó các điều 20, 21, 22 có quy định rõ:
“Điều 20 Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục, nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao
Trang 20Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Chủ nhiệm
Uỷ ban Thể dục thể thao xây dựng chương trình giáo dục thể chất, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên thể dục thể thao, hướng dẫn nội dung hoạt động thể thao ngoại khoá trong nhà trường
Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo,
tổ chức thực hiện việc xây dựng cơ sở vật chất, bố trí giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các trường thuộc phạm vi quản lý của mình
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm sau đây:
Quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở vật chất, nhà tập đa năng, bảo đảm trang thiết bị, dụng cụ thể thao, chỉ tiêu biên chế giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các trường công lập thuộc địa phương;
Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai theo quy định của pháp luật đối với trường tư thục, trường dân lập để các trường này có điều kiện xây dựng cơ
sở vật chất phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
Điều 22 Trách nhiệm của nhà trường
Tổ chức thực hiện chương trình môn học giáo dục thể chất theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
Tổ chức cho người học tham gia các hoạt động thể thao ngoại khoá Bảo đảm an toàn cho người dạy và người học trong các hoạt động thể dục, thể thao
Phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu thể thao.”
Trang 2110
Để đưa công tác GDTC trong nhà trường trở thành một khâu quan trọng, cũng như xác định nhận thức đúng về vị trí GDTC trong nhà trường các cấp, phải được triển khai đồng bộ với các mặt giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ cho đến Đại học Bộ giáo dục và Đào tạo đã có văn bản quyết định ban hành quy chế về công tác GDTC trong nhà trường các cấp Trong đó, đã khẳng định:
“GDTC được thực hiện trong hệ thống nhà trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển toàn diện GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức: Thể chất – sức khoẻ tốt là nhân tố quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cũng như khẳng định GDTC trong nhà trường các cấp nhằm từng bước nâng cao trình độ văn hoá thể chất và thể thao của học sinh, sinh viên Góp phần phát triển sự nghiệp TDTT của đất nước đáp ứng nhiệm vụ giao tiếp của học sinh, sinh viên Việt Nam và Quốc tế
Nhà trường có trách nhiệm thực hiện chương trình GDTC cho người học Tổ chức hoạt động TDTT ngoại khoá, xây dựng cơ sở vật chất cần thiết đáp ứng việc giảng dạy và hoạt động TDTT trong nhà trường”
Trong các trường Đại học, GDTC có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiện cá tính, nhân cách, những phẩm chất cần thiết và hoàn thiện thể chất cho sinh viên Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khoẻ và phát triển thể lực, tiếp thu những kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản, còn có tác dụng chuẩn
bị tốt về mặt tâm lý và tinh thần của người cán bộ tương lai [1]
Trong hơn 10 năm qua, kể từ buổi lễ phát động “Toàn dân RLTT theo gương Bác Hồ vĩ đại” (26/3/2000) Công tác GDTC và hoạt động thể thao trong trường học đã có nhiều khởi sắc Liên bộ đã phối hợp xây dựng pháp lệnh TDTT và đã được Tổng cục TDTT và Bộ Y tế đã phối hợp xây dựng quy chế về GDTC và y tế trường học được Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo duyệt
ký và ban hành [8]
Trang 2211
Quy chế GDTC và y tế trường học có ý nghĩa quan trọng tạo điều kiện
để nhà trường các cấp và các địa phương triển khai tốt công tác GDTC trong giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên Hai ngành đã và đang nghiên cứu cải tiến nội dung chương trình và sách hướng dẫn GDTC, các hoạt động vui chơi trong ngày học, định hướng giảm tải và nâng cao chất lượng giáo dục Trong quy chế có quy định rõ trách nhiệm của học sinh, sinh viên
“Học sinh, sinh viên có trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập môn thể dục và môn sức khoẻ Sinh viên các trường Cao đẳng và Đại học phải có chứng chỉ GDTC, mới đủ điều kiện thi tốt nghiệp
Học sinh, sinh viên phải thường xuyên tham gia luyện tập và kiểm tra tiêu chuẩn RLTT (đối với học sinh phổ thông) và tiêu chuẩn đánh giá thể lực (đối với sinh viên, học sinh đại học và chuyên nghiệp) Học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn được cấp giấy chứng nhận”[6];[9]
1.2 Định hướng phát triển giáo dục thể chất trong thời kỳ đổi mới
và những yêu cầu trong công tác đào tạo giáo viên
1.2.1 Định hướng phát triển giáo dục thể chất trong thời kỳ đổi mới
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ trên thê giới
đã và đang có những bước chuyển biến vĩ đại, đó là thời đại của "cuộc cách mạng đại công nghệ ", "thời đại nhân văn ", "thời đại của giáo dục đào tạo "
Trước những sự chuyển biến lớn lao về đời sống xã hội và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, tất cả những thay đổi đó, đòi hỏi người làm việc trong nền sản xuất hiện đại phải có năng lực cả về thể chất, lẫn tinh thần ngày càng hoàn thiện hơn Để đáp ứng những yêu cầu của đất nước trong tình hình mới, sự nghiệp thể dục thể thao cần được phát triển đúng hướng theo quan
điểm: “Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực nâng cao
Trang 2312
sức khoẻ thể dục, giáo dục nhân cách đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, nâng cao chất lượng lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang" [4, tr.5]
Đảng và Chính phủ rất coi trọng công tác thể dục thể thao và coi đó là một công tác cách mạng Thể dục thể thao có ý nghĩa và vị trí to lớn trong xây dựng con người phát triển toàn diện, xây dựng đời sống mới, góp phần thiết thực thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước Từ tư tưởng chỉ đạo đó, Đảng - Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác thể dục thể thao trong từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam
Hai ngành thể dục thể thao và giáo dục đào tạo phối hợp với nhau lập
ra một dự án chương trình, có mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm tác động tích cực đến việc bảo vệ, tăng cường sức khoẻ, phát triển thể lực, nâng cao tính tích cực vận động cũng như phát triển các mặt nhân cách con người mới cho các thế hệ học sinh Phổ thông và Cao đẳng, Đại học Chương trình tăng cường sức khoẻ, phát triển thể lực, cải tạo giống nòi và xây dựng lối sống văn hoá thể chất lành mạnh cho thanh thiếu niên nước ta không chỉ có ý nghĩa nhân đạo, xã hội mà còn có ý nghĩa chiến lược về kinh tế[5],[8]
Đó là quá trình làm phát triển tài năng, tinh thần và thể lực của con người Tạo cho họ những năng lực lao động để sản xuất có chất lượng và hiệu quả
Chỉ thị 112 CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng yêu cầu các cấp các
ngành thực hiện tốt các nhiệm vụ "Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh các trường học, duy trì và phát triển phong trào thể dục thể thao trong các lực lượng vũ trang, trong công nhân viên chức và nhân dân" [2] Bước sang
thời kỳ đổi mới, khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước về thể
Trang 2413
dục thể thao Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề cập đến các vấn đề mở rộng, nâng cao chất lượng trong các lĩnh vực thể dục thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao, giáo dục thể chất trong trường học và phát triển lực lượng
vận động viên trẻ Nghị quyết ghi rõ "Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào thể dục thể thao quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân thể thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân ta, trước hết là thế hệ trẻ, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học "
Giáo dục thể chất còn là nội dung bắt buộc đã được khẳng định trong hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hiến pháp năm 1992 đã
ghi rõ: "Việc dạy và học thể dục thể thao trong trường học là bắt buộc" [6]
Gần đây, Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm 1996
đã khẳng định "Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu
Để khẳng định vai trò tất yếu của thể dục thể thao đối với toàn xã hội, cũng như nhằm thúc đẩy nhanh, mạnh hơn nữa phong trào thể dục thể thao quần chúng và phong trào giáo dục thể chất học đường, Đảng ta luôn luôn có những chỉ thị, Nghị quyết kịp thời đề ra chủ trương, đường lối, đẩy mạnh tiến trình phát triển theo từng giai đoạn cách mạng tương ứng với những yêu cầu tình hình và nhiệm vụ cụ thể của đất nước Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết để chỉ đạo công tác thể dục thể thao và giáo dục thể chất
Tại hội nghị giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông toàn quốc
tại Hải Phòng tháng 8/1986, phó Thủ tướng Nguyễn Khánh cũng đã nói "Ước vọng của chúng ta là mỗi thanh niên Việt Nam cả nam lẫn nữ, đều có cơ thể cường tráng cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển "
Vì vậy, giáo dục thể chất trường học là bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục đào tạo cùng với thể thao thành tích cao, giáo dục thể chất trường học, đã góp phần đảm bảo cho nền thể dục thể thao nước nhà phát triển cân đối và đồng bộ
Trang 2514
Bộ giáo dục và đào tạo đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác thể dục thể thao nói chung và công tác giáo dục thể chất nói riêng bằng rất nhiều văn bản pháp qui như:
Thông tư liên tịch số 08 TBDN/TDTT ngày 24/02/1986 về công tác thể dục thể thao trong các trường dạy nghề và sư phạm
Thông tư số 11/TT giáo dục thể chất ngày 1/8/1994 về việc hướng dẫn thực hiện chỉ thị 36 TC/TW
Chỉ thị số 8127/giáo dục thể chất ngày 31/8/2000 hướng dẫn thực hiện công tác giáo dục thể chất, sức khoẻ, y tế trường học năm học 2000 - 2001 với nhiệm vụ
chung: Tiếp tục quán triệt quan điểm cơ bản của Nội quyết TW 2 (khoá 8) đặc biệt
là mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường, nghiêm chỉnh thi hành luật giáo dục, luật chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ trẻ em, luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân, các quy chế văn bản dưới luật về công tác giáo dục thể chất, sức khoẻ, y tê" [8]
Qui hoạch công tác phát triển giáo dục thể chất ngành giáo dục đào tạo năm 1996 - 2000 và định hướng đến năm 2005 của Bộ giáo dục đào tạo Giáo dục con người phát triển toàn diện "Sự kết hợp hài hoà sự phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, cường tráng về thể chất" là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quí, tạo ra sản phẩm trí tuệ và vật chất cho xã hội
Vì vậy, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội Đó chính là mục tiêu cơ bản, quan trọng của chế độ xã hội của nước ta hiện nay
Để thực hiện tốt chỉ thị, nghị quyết của trung ương Đảng về công tác giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường học Bộ Giáo dục đào tạo đưa ra mục tiêu cụ thể:
“Tạo bước phát triển mới về phong trào thể dục thể thao quần chúng trong lực lượng thanh, thiếu niên học sinh, sinh viên đạt 60% trường học các cấp thực hiện giáo dục thể chất có nề nếp và 15% số trường có hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá thường xuyên
Trang 2615
Hoàn thiện củng cố hệ thống tổ chức giáo dục thể chất và thể thao trường học nhằm phát hiện, bồi dưỡng ban đầu và hướng nghiệp cho học sinh năng khiếu
Tăng cường tổ chức quản lý Nhà nước về thể dục thể thao ở các cấp giáo dục, mở rộng các tổ chức xã hội về thể dục thể thao, đưa công tác kế hoạch hoá vào nề nếp
Hoàn thành quy hoạch về cơ sở vật chất thể dục thể thao của ngành giáo dục đào tạo trên phạm vi toàn quốc, xúc tiến xây dựng một số công trình thể dục thể theo trọng điểm ở các khu vực trường
Đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ đào tạo giáo viên thể dục thể thao nhằm tăng cường về số lượng những thành tựu khoa học giáo dục thể chất và y học thể thao, nhằm phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và thể thao học đường"[4],[9]
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng đắc lực cho chiến lược đào tạo con người phát triển toàn diện, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ và văn minh Với quan điểm thể dục thể thao là công tác cách mạng, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác thể dục thể thao nói chung, giáo dục thể chất nói riêng Thấm nhuần quan điểm của Đảng đối với thể dục thể thao - giáo dục thể chất, hai ngành giáo dục đào tạo và thể dục thể thao
đã phối hợp, chỉ đạo nội dung công tác giáo dục thể chất trong tình hình mới, phục vụ đắc lực mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.2 Những yêu cầu trong công tác đào tạo giáo viên
Muốn nâng cao chất lượng dạy học, điều quan trọng bậc nhất là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên - một yếu tố có tính chất quyết định chất lượng, hiệu quả dạy học - làm sao cho họ có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn và năng lực nghiệp vụ sư phạm để đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới nội dung
Trang 2716
và phương pháp dạy học ở phổ thông, góp phần thiết thực nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục mà hiện nay đang giảm sút một cách đáng lo ngại Vấn đề này không thể không bắt đầu từ nhận thức về lí luận, trong đó trước hết cần thiết xác định một quan niệm và nguyên tắc đào tạo cho đúng đắn, phù hợp
Theo tư tưởng sư phạm hiện đại, việc đào tạo giáo viên được xác định trước hết không phải bằng hoạt động dạy, mà phải bằng các hoạt động học của người học Nói cách khác, cách tiếp cận hoạt động dạy phải xuất phát từ cách đặt vấn đề
về cách thức học sinh học như thế nào Bởi vì, mọi hành động của giáo viên xét đến cùng đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học của học sinh Đây là quan niệm đào tạo giáo viên theo triết lí giáo dục lấy người học làm trung tâm Đặt học sinh vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, đòi hỏi giáo viên phải chú ý quan tâm và hướng hành động sư phạm của mình vào học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học để học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh tri thức, tự phát triển năng lực và nhân cách Như vậy, năng lực sư phạm của giáo viên không chỉ là nắm chắc nội dung dạy học và khả năng truyền đạt tri thức, mà còn tổ chức việc học của học sinh, giúp học sinh hình thành một quan điểm học và cách thức học thích hợp với nhu cầu và khả năng của mỗi người Nói vậy là vì dạy học không thể là một việc làm chỉ cần nắm kiến thức bộ môn là đủ để có thể thực hiện được Kiến thức bộ môn chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để người giáo viên có thể giảng dạy Dạy học cũng không thể là một công việc hoàn toàn phụ thuộc vào năng khiếu, khả năng sư phạm có tính chất thiên tư của người giáo viên mà đòi hỏi một loạt các năng lực, kĩ năng nghiệp vụ có tính đặc trưng cho nghề nghiệp Chính những năng lực này và cùng với nó là kiến thức bộ môn, cũng như những tri thức cần thiết thuộc phạm vi khác cần được hình thành, phát triển cho người giáo viên trong quá trình đào tạo Bởi vì, những năng lực nghề nghiệp không phải là cái có sẵn, mà đang được hình thành thông qua hoạt động thực hành, rèn luyện nghiệp vụ trong suốt quá trình đào tạo, cũng như hoạt động nghề nghiệp sau này
Trang 2817
Như vậy, việc đào tạo giáo viên cần dựa trên một quan niệm toàn diện,
cân đối giữa trang bị kiến thức và phương pháp luận bộ môn cũng như những
hiểu biết khác với việc hình thành một hệ thống năng lực, kĩ năng nghề nghiệp có tính chuyên môn hoá Xuất phát từ quan niệm này, việc đào tạo giáo viên nói chung và giáo viên TDTT trong các nhà trường nhất thiết phải thông qua một chương trình thực hành nghiệp vụ với một hệ thống các thao tác, kĩ năng cụ thể với những chỉ dẫn sư phạm cần thiết, tỉ mỉ, nhằm giúp sinh viên thực hành luyện tập, nhờ đó đạt được những kĩ năng và sự thành thạo nhất định để có thể thực hiện được các nhiệm vụ, yêu cầu do hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi khi họ đi vào “hành nghề” sau này[26];[32];[35];[37]
Để giúp cho sinh viên đi sâu vào các tri thức bộ môn và thành thạo trong thực hành, luyện tập kĩ năng nghề nghiệp, cần xác định một số vấn đề
có tính nguyên tắc phù hợp với quan niệm trên đây
Thứ nhất: Đào tạo giáo viên phải kết hợp đi sâu vào kiến thức bộ môn
và kiến thức tâm lí - giáo dục, lí luận và phương pháp dạy học với những kĩ năng sư phạm cần thiết để tổ chức, hướng dẫn hoạt động học cho học sinh
Trong quá trình đào tạo, không nên tuyệt đối hoá hay đề cao đến mức cực đoan kiến thức và phương pháp luận bộ môn mà giáo sinh sẽ dạy Song, cũng cần thấy rằng: sự thiếu hiểu biết, đi sâu vào nội dung môn học, sẽ không cho phép người giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp cận, chiếm lĩnh kiến thức bộ môn một cách chắc chắn và sáng tạo Một điều không thể chối cãi là trình độ, năng lực giảng dạy của giáo viên một phần phụ thuộc vào việc nắm chắc, làm chủ một tổng thể tri thức bộ môn giảng dạy và những hiểu biết thấu đáo về phương pháp luận
bộ môn đó Thế nhưng, là một chuyên gia về việc học, người giáo viên không thể không tính toán đến những câu hỏi: Nên ưu tiên những kiến thức nào trong giảng dạy? Để học sinh chiếm lĩnh được kiến thức đó cần phải tổ chức, hướng dẫn học sinh tiếp cận theo những cách thức, quy trình nào? Cái gì có thể xảy ra trong đầu
Trang 2918
học sinh khi họ hành động theo cách thức như vậy? Con đường nào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh vận hành việc học để lĩnh hội tri thức một cách tích cực và sáng tạo? Tất cả những vấn đề đó, đòi hỏi người giáo sinh phải nắm chắc
và làm chủ kiến thức nghề nghiệp, hiểu biết về tâm lí - giáo dục, về lí luận dạy học
và phương pháp giảng dạy bộ môn Những kiến thức nghề nghiệp này không phải biết để biết mà biết để làm, để sử dụng một cách có hiệu quả trong việc tổ chức hoạt động dạy học ở trường phổ thông sau này Vì vậy, trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm, giáo sinh cần phải được luyện tập, thực hành những kĩ năng nghiệp vụ thiết thực dựa trên sự hiểu biết và nắm vững các chiến lược giảng dạy,
để khi ra trường có thể làm chủ một hệ thống tương đối đầy đủ, chắc chắn các năng lực nghề nghiệp, các cách thức, thao tác thực hành sư phạm nhằm tổ chức, hướng dẫn việc học cho học sinh một cách có hiệu quả[ 26],[32],[37],[41]
Thứ hai: Đào tạo giáo viên phải kết hợp chặt chẽ giữa thực hành sư
phạm với phân tích lí thuyết làm cơ sở cho thực hành
Việc đào tạo giáo viên trong các nhà trường, chẳng những phải kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức bộ môn và kiến thức tâm lí - giáo dục, lí luận và phương pháp dạy học với những kĩ năng nghề nghiệp cần thiết để tổ chức, điều khiển hoạt động dạy học, mà còn phải ưu tiên kết hợp giữa thực hành sư phạm với phân tích lí thuyết, làm cơ sở cho thực hành, luyện tập Đây là hai nguyên tắc đào tạo có quan hệ thống nhất, chứ tuyệt nhiên không phải là các cách diễn đạt khác nhau về cùng một luận điểm Nguyên tắc thứ nhất là sự nhận thức toàn diện, cân đối về mối quan hệ hữu cơ giữa kiến thức bộ môn và hiểu biết lí thuyết về tâm lí - giáo dục, về lí luận và phương pháp dạy học, với những kĩ năng nghề nghiệp tương ứng Còn nguyên tắc thứ hai, là sự nhìn nhận đúng đắn về mối quan hệ qua lại giữa hoạt động luyện tập, thực hành sư phạm với sự hiểu biết và phân tích lí thuyết làm cơ sở cho hoạt động thực hành đó Trong thực tế đào tạo, không phải không còn gặp hiện tượng giáo
Trang 3019
sinh có thể nắm vững những hiểu biết lí thuyết, nhưng chỉ biết để biết chứ không phải biết để làm, vì những hiểu biết đó không gắn kết với các kĩ năng, thao tác thực hành, không ứng dụng được vào những tình huống dạy học trong thực tiễn Ngược lại, có trường hợp thực hành của giáo sinh chỉ là mô phỏng, bắt chước đơn giản, có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa các hoạt động thực hành, mà thiếu sự phân tích cơ sở lí thuyết tương ứng vốn được coi là mô hình hoá hoạt động thực hành
Trong quá trình đào tạo giáo viên, phải thường xuyên chú ý kết hợp giữa hiểu biết lí thuyết và thực hành, không nên chỉ coi trọng thực hành Việc thực hành phải thực sự là sự vận dụng lí thuyết vào thực tiễn Mặt khác, những hiểu biết lí thuyết cần phải sản sinh ra những hoạt động thực hành và xuất phát từ sự phân tích thực hành, làm cho việc thực hành trở nên sáng rõ và
có thể phân tích được bằng những hiểu biết lí thuyết Như vậy, sự kết hợp này đòi hỏi lí thuyết phải có đầy đủ ý nghĩa thực tiễn và thực hành phải mang đầy
đủ ý nghĩa lí luận Nói cách khác, sự hiểu biết lí thuyết phải dẫn đến thực hành, định hình cho thực hành và việc thực hành có thể làm nảy sinh nhu cầu hiểu biết lí thuyết, mang lại thông tin cho lí thuyết Song, cũng cần thấy rằng: việc thực hành, giảng dạy không chỉ quy về sự áp dụng một mô hình lí thuyết, bởi vì nó không thể bao trùm toàn bộ việc thực hành được Do vậy, trong quá trình thực hành, cần kết hợp hành động với suy nghĩ bằng lí luận về hành động Đây là một đòi hỏi rất cần thiết, vì như vậy việc thực hành sẽ được mô hình hoá bằng lí thuyết, được phân tích bằng hiểu biết lí thuyết, tránh được sự bắt chước giản đơn Hơn nữa, lí thuyết và thực hành luôn được đặt trong mối quan hệ qua lại thường xuyên và điều chỉnh lẫn nhau
Những vấn đề trên đây, chứng tỏ sự cần thiết phải đưa vào chương trình đào tạo một hệ thống kĩ năng, thao tác thực hành nghiệp vụ cụ thể dựa trên quan niệm và mô hình lí thuyết tương ứng Trong quá trình đào tạo, bên cạnh trang bị
Trang 3120
cho giáo sinh những tri thức bộ môn và kiến thức nghề nghiệp, nhất thiết phải tổ chức, hướng dẫn họ thực hành, luyện tập để đạt được ở một mức độ thành thạo nhất định những kĩ năng, thao tác nghiệp vụ này, giúp họ có thể làm chủ được hoạt động dạy học ở phổ thông sau khi ra trường [26],[37]
Thứ ba: Cần tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa luyện tập, thực hành sư phạm
với hoạt động nghề nghiệp của giáo viên
Việc đào tạo ở trường sư phạm chẳng những chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai của giáo sinh, mà còn là cơ hội giúp họ trải qua các kinh nghiệm trong việc “hành nghề” Vì vậy, bên cạnh trang bị những kiến thức bộ môn, những hiểu biết thuộc lĩnh vực giáo dục và dạy học, còn phải giúp giáo sinh nắm vững những kĩ năng nghề nghiệp thông qua luyện tập thường xuyên và có hệ thống Song, phải thừa nhận rằng: không có một chỉ dẫn thực hành sư phạm nào là vạn năng, bởi vì không thể nào lường trước hết được tất cả những tình huống đặc thù trong khi “hành nghề” Bởi vậy, trong quá trình đào tạo cần chú ý kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hành sư phạm với hoạt động nghề nghiệp của giáo viên Nói khác đi, việc luyện tập, thực hành sư phạm không nhằm mục đích chỉ để thực hành, mà cần gắn kết với những nhiệm vụ, tình huống dạy học sau này giáo sinh sẽ phải đảm nhận, thực thi trên lớp học
Thế nhưng, việc thực hành gắn với hoạt động nghề nghiệp của giáo viên cũng không có nghĩa là giúp giáo sinh làm quen với mô hình sẵn có, hay rập khuôn máy móc theo lề lối cũ, mà cần giúp người giáo viên tương lai, bằng sự suy nghĩ sáng tạo, biết phân tích, quy chiếu với mô hình lí thuyết - thực hành được đào tạo Từ đó, có thể làm thay đổi tầm nhìn về hoạt động nghề nghiệp sau này, đồng thời làm cho việc luyện tập, thực hành hợp lí hơn
Tuy nhiên, việc thực hành ở trường sư phạm có thể không cho phép giáo sinh quan sát, phân tích được sự vận hành của hoạt động học, vì thiếu vắng những chủ thể học sinh, thiếu vắng một cộng đồng có nhân cách của lớp
Trang 3221
học Điều đó, làm cho hoạt động thực hành của giáo sinh thường tập trung vào việc dạy mà chưa hướng đến việc học của học sinh, chưa chú ý xử lí mối quan hệ tương tác đa chiều giữa giáo viên - học sinh - tri thức Vì vậy, trong quá trình đào tạo nói chung và thực hành sư phạm nói riêng, phải chú ý đúng mức đến hoạt động nghề nghiệp tương lai của giáo sinh Chúng ta không thể đòi hỏi ở giáo sinh sự vận dụng thành thạo những kĩ năng nghề nghiệp để thực hiện những nhiệm vụ, xử lí các tình huống dạy học khi “hành nghề”, nếu chưa giúp họ thực hành, phân tích và trải nghiệm được những nhiệm vụ, tình huống đó trong quá trình đào tạo Bởi vậy, một đòi hỏi có tính nguyên tắc là trong quá trình đào tạo, cần phải thông qua thực hành, rèn luyện nghiệp vụ để giúp cho người giáo viên tương lai làm chủ được những năng lực, kĩ năng nghề nghiệp tương ứng với những nhiệm vụ, tình huống dạy học cụ thể, mà khi ra trường họ phải đảm nhiệm và xử lí hằng ngày trên lớp học
1.3 Giáo dục Thể chất trong Giáo dục và Đào tạo
1.3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của Giáo dục thể chất trong các trường
Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam
Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTC được hiểu là:
“Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất
và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”
Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục, nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo từ thế hệ này cho thế hệ khác Điều đó có nghĩa là, GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà
sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm GDTC chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (kỹ năng, kỹ xảo) và giáo dục tố
Trang 33Chương trình GDTC trong trường Đại học, nhằm giải quyết các nhiệm
vụ sau đây:
Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện nói trên để tự rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT ở cơ sở
Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu trong cuộc sống, nhằm đạt hiệu quả tốt trong quá trình học tập và đạt những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng và năm học trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi
Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình độ thể thao của vận động viên (VĐV), sinh viên”
Nền giáo dục của chúng ta đang phát triển theo hướng hiện đại hoá, hướng ra thế giới và nhìn vào tương lai TDTT là một bộ phận cấu thành quan
Trang 3423
trọng của giáo dục trong nhà trường Công tác giáo dục cần phải đặt TDTT vào những vị trí xứng đáng, và phải được coi trọng nhằm để tăng cường thể chất học sinh, giữ gìn sức khoẻ phát triển tâm sinh lý Giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ và giúp học sinh nắm được các tri thức cơ sở của TDTT, kỹ năng
và kỹ thuật cơ bản, làm cho học sinh lý giải được mục đích nhiệm vụ, vị trí và
ý nghĩa của TDTT nhà trường trong xã hội Đồng thời phải trang bị được những nguyên lý cơ bản của rèn luyện thân thể và phương pháp tự rèn luyện thân thể có khoa học để thích ứng với việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt giải trí Yêu cầu sư phạm, phải đảm bảo giáo dục học sinh tình yêu Tổ quốc, bồi dưỡng hứng thú TDTT, ý thức thường xuyên luyện tập TDTT, phát triển cá tính học sinh, bồi dưỡng ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm ngoan cường
và tính sáng tạo, bồi dưỡng học sinh biết phục tùng tổ chức, tuân thủ kỹ thuật, tác phong đoàn kết hợp tác, tính hoạt bát năng động, bồi dưỡng mỹ cảm TDTT và hành vi có văn hoá của học sinh [67];[68]
1.3.2 Giờ học Thể dục thể thao chính khóa (nội khóa) trong trường học các cấp
Giờ học TDTT chính khóa có đặc điểm chung của hình thức lớp-bài Dấu hiệu quan trọng nhất của hình thức này là nhà sứ phạm (giáo viên TDTT, HLV, hướng dẫn viên) giữ vai trò chủ đạo, điều khiển trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học Sự tác động tương hỗ giữa người dạy và người học tạo nên điều kiện sư phạm tốt nhất cho quá trình GDTC Ưu thế của giờ học chính khóa còn thể hiện
ở chỗ: buổi tập được tiến hành chặt chẽ theo kế hoạch học tập của nhà trường, theo thời khóa biểu chung của toàn trường, lớp học gồm một số lượng học sinh
ổn định, cùng lứa tuổi, hoạt động đã liên kết học sinh thành tập thể Đó là những điều kiện không kém quan trọng để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục
- giáo dưỡng trong quá trình giáo dục thể chất Đây là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành trong kế hoach học tập của nhà trường Chủ yếu đào tạo
Trang 3524
giáo dục về thể chất, thể thao cho sinh viên là nhiệm vụ chủ yếu, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát triển tố chất thể lực và phối hợp vận động cho học sinh, sinh viên Đồng thời, giúp họ có năng lực nhất định đẻ tiếp thu được các kỹ thuật động tác TDTT
Mục tiêu chính của đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong trường học là: “ xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thể thao của học sinh, sinh viên, phát triển tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT trường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòng nhân đạo cho học sinh
Giờ học chính khóa Thể dục thể thao mang tính chất pháp quy, quy định đối với học sinh, sinh viên và cán bộ giảng dạy Là giờ học theo chương trình có quy định thời gian và quy cách đánh giá chất lượng, được bắt đầu từ mẫu giáo, sau đó là dạy TDTT theo chương trình ở các cấp học cho đến đại học [10],[15]
Bản thân giờ học Thể dục thể thao có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt với việc quản lý và giáo dục con người trong xã hội Việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể thể một cách hài hòa, bảo vệ và củng cố sức khỏe, hình thành năng lực chung
và chuyên môn Mặt khác, trong giờ học TDTT những phẩm chất ý trí của con người như: lòng dũng cảm, tính mạnh dạn quyết đoán, tính kiên trì và khả năng tự kiềm chế… được hình thành và hoàn thiện Các giờ học chính khóa còn có vai trò trong việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tập thể, sự thẳng thắn trung thực
1.3.3 Giờ học Thể dục thể thao ngoại khóa
1.3.3.1 Một số khái niệm liên quan:
Khái niệm giải pháp: Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa” Giải pháp’’ được hiểu là phương pháp giải quyết một vấn đề[36].Ở đây giải pháp được
Trang 3625
hiểu là cách thức, là một công cụ người ta dùng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn Trong cách hiểu này đôi khi người ta cũng dùng thuật ngữ “ biện pháp” để thay thế Theo từ điển Tiếng Việt “ biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”[36] Tuy nhiên hai khái niệm này có thể dùng thay thế cho nhau trong thực tiễn, nhưng về bản chất, khái niệm
“giải pháp” có nghĩa là nội dung rộng lớn hơn, có tính chất vĩ mô hơn so với “ biện pháp” thường để chỉ cách thức giải quyết một công việc cụ thể nào đó Theo nghĩa này, người ta còn xem biện pháp là cách thức, công cụ thực hiện giải pháp để thực hiện giải pháp đó
Trong quản lý, giải pháp dùng để giải quyết một vấn đề thường được đặt ra trên nền tảng của việc phân tích các điểm mạnh(thành tựu), điểm yếu(hạn chế) của một tổ chức, những cơ hội và thách thức đối với tổ chức đó trong bối cảnh chung của xã hội ở phạm vi quốc gia và quốc tế Giải pháp đồng thời cũng dựa trên các quan điểm, mục tiêu tổng quất và mục tiêu chung của vấn đề được đặt ra và giải quyết ở tầm vĩ mô
Trong giáo dục, mọi vấn đề quan hệ giáo dục đề có tính quy luật Giải pháp GD là một hệ thống những quy luật, nhiệm vụ của các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục là phải nghiên cứu tìm ra các quy luật đảm bảo cho những thành công của công tác giáo dục Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải phân tích được thực tiễn giáo dục Việt Nam nói riêng và các nền GD tiên tiến trên thế giới, từ đó khái quát thành những giải pháp cơ bản, đúng đắn, phù hợp với nền DG trong nước
Giải pháp thường được gắn liền với từ " đột phá" hoặc " then chốt" nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của giải pháp đó Có thể hiểu "giải pháp đột phá" là giải pháp mở đường cho các giải pháp khác, còn " giải pháp then chốt" là giải pháp quan trọng, có tác dụng quan trọng đối với toàn bộ các vấn đề liên quan Như trong các giải pháp Chiến lược phát triển GD 2011-2020, Thủ tướng chính
phủ đã xác định giải pháp " đổi mới quản lý giáo dục là giải pháp đột phát", còn
" phát triển nhà giáo và CBQL GD là giải pháp then chốt"[74]
Trang 3726
Trong đề tài luận án này sử dụng khái niệm giải pháp với ý nghĩa là cách thức để nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội Như vậy khái niệm giải pháp mà đề tài sử dụng còn là một phương thức tổ chức thực hiện gồm có mục đích, nội dung, phương pháp triển khai, cách đánh giá kết quả
Khái niệm hiệu quả: Theo từ điển tiếng Việt là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại[36] Tính hiệu quả theo quan niệm chung, đó là sự thể hiện
mối quan hệ chung nhất giữa đầu tư công sức, nhân lực, vật lực với kết quả đạt được sau một giai đoạn nhất định xét theo mục tiêu giáo dục trong những điều kiện cụ thể Vì vậy việc đánh giá hiệu quả có thể thực hiện một cách định lượng thông qua quá trình thu thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện của đối tượng với mục tiêu đề ra
Trong công tác TDTT trường học, đánh giá hiệu quả GDTC và HĐTT
là quá trình thu thập và xử lý thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về chương trình, mục tiêu, PPDH, những hoạt động khác có liên quan của nhà trường và ngành GD Đánh giá hiệu quả GDTC và HĐTT trường học là so sánh kết quả của các hoạt động GDTC và thể thao trường học đã đạt được với mục tiêu đề ra Mục tiêu của việc đánh giá hiệu quả giáo dục cũng là mục tiêu của quá trình giáo dục
Về phương diện kỹ thuật, đánh giá hiệu quả TDTT trong trường học cần xác định các vấn đề như:
Khẳng định tính xác thực của mục tiêu GDTC và hoạt động Thể thao trường học
Xác định mực độ đạt được của mục tiêu thể hiện trong sản phẩm GD Khẳng định tính nhân quả giữa quá trình GDTC và HĐTT đối với sản phẩm được đào tạo, nói cách khác là chất lượng đầu ra của học sinh, sinh viên
Tính hiệu quả của hoạt động TDTT trong trường học còn thể hiện qua kết quả học tập và rèn luyện, đó là mức độ thành tích đạt được, xem xét mối quan hệ với công sức, thời gian bỏ ra với mục tiêu đã xác định Như vậy, kết
Trang 3827
quả học tập, rèn luyện của học sinh, sinh viên là mức độ thực hiện những mục tiêu đã định trước Vì vậy, đánh giá hiệu quả dạy học được thông qua đánh giá kết quả học tập, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, sinh viên, về những yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân của tình hình học tập nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh, sinh viên học tập ngày một tiến bộ hơn
Với cách hiểu như vậy hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa là kết quả như yêu cầu của của hoạt động TDTT ngoại khóa mang lại Hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên là sự thể hiện mối quan hệ chung nhất giữa đầu tư công sức cho hoạt động ngoại khóa bao gồm nhân lực, vật lực với kết quả đạt được sau một giai đoạn nhất định xét theo mục tiêu của hoạt động ngoại khóa trong những điều kiện cụ thể Vì vậy việc đánh giá hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa có thể thực hiện một cách định lượng thông qua quá trình thu thập thông tin về phong trào tập luyện, về trình độ, khả năng thực hiện của đối tượng đối với mục tiêu đã đề ra
Như vậy hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa được đánh giá qua phong trào tập luyện và được thể hiện thông qua số người tham gia tập luyện, số câu lạc bộ và đội tuyển, ngoài ra TDTT ngoại khóa là yếu tố cấu thành lên TDTT trường học chính vì thế khi đánh giá về trình độ của người tập nó còn được đánh giá thông qua kết quả học tập, kết quả thi đẳng cấp
và kết quả rèn luyện thể lực của sinh viên, đó là mức độ thành tích đạt được, học lực đạt được xem xét với mối quan hệ với công sức, thời gian bỏ
ra với mục tiêu đã xác định
Để đánh giá hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa đối với sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội, luận án đánh giá về hoạt động phong trào thông qua tính chuyên cần tập luyện của sinh viên Đánh giá về kết quả điểm học tập thông qua điểm học thực hành, điểm lý thuyết và kết quả kiểm tra đẳng cấp, ngoài ra còn đánh giá thông qua 09 test về thể lực
Trang 3928
Hoạt động TDTT ngoại khóa: là hoạt động TDTT tự nguyện có tổ chức
được tiến hành ngoài giờ chính khóa, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi
và sức khỏe của học sinh, sinh viên Hoạt động TDTT ngoại khóa rất đa dạng bao gồm hoạt động TDTT được quy định trong giờ giải lao, huấn luyện đội tuyển của trường phổ thông, tập luyện trong các CLB TDTT, các hoạt động thi đấu thể thao[44]
Hoạt động TDTT ngoại khóa có vị trí đáng kể trong giáo dục và trong TDTT trường học nói chung và trong hệ thống giáo dục đào tạo Đại học nói chung Các hoạt động ngoại khóa cùng với các hoạt động dạy học cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục Vì thế, hoạt động TDTT ngoại khóa là một bộ phận cấu thành quan trọng của TDTT trường Đại học, là con đường trọng yếu để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của TDTT trường học Do đó, không có TDTT ngoại khóa, thì TDTT trường học cũng không hoàn chỉnh Hoạt động TDTT ngoại khóa có thể thỏa mãn nhu cầu tham gia hoạt động TDTT của sinh viên, thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao, thúc đẩy cho sự phát triển nhân cách toàn diện, hình thành chế độ lao động - nghỉ ngơi khoa học, phát triển toàn diện đức, trí, thể, mĩ dục, làm phong phú sinh hoạt nghiệp vụ của sinh viên Mặt khác, các buổi tập ngoại khóa có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn giờ học chính khóa, đòi hỏi ý thức tự tập luyện, tinh thần độc lập sáng tạo cao Nhiệm vụ
cụ thể và nội dung buổi tập ngoại khóa phụ thuộc vào sở thích và hứng thú
cá nhân, của một bộ phận học sinh, sinh viên có nhu cầu ham thích tập luyện TDTT trong thời gian nhàn rỗi để qua vận động tập luyện giúp nâng cao chất lượng giờ học nội khóa góp phần phát triển năng lực, thể chất toàn diện và nâng cao thành tích thể thao cho học sinh, sinh viên Giờ học ngoại khóa nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học nội khóa, được tiến hành vào giờ tự học của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT, hướng dẫn viên hoặc tự tập luyện tự do Ngoài ra, còn các hoạt động thể thao quần
Trang 4029
chúng ngoài giờ học còn có: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội đại biểu từng môn thể thao, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hang ngày, thể dục thể thao buổi sáng, giờ tự tập luyện của học sinh, sinh viên, phong trào tự rèn luyện thân thể Như buổi tập nội khóa, cấu trúc buổi tập ngoại khóa phải đảm bảo cơ thể dần dần bước vào hoạt động điều kiện tốt nhất để thực hiện phần cơ bản và phần kết thúc của buổi tập [10][13]
Do nội dung buổi tập ngoại khóa có sự khác biệt, nên cách tổ chức tập luyện có đặc trưng riêng Hoạt động ngoại khóa với chức năng động viên hấp dẫn nhiều người hơn tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rèn luyện thân thể tham gia cổ vũ phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể
Mục đích của tập luyện TDTT ngoại khóa tổ chức trong thời gian nhàn rỗi của học sinh, sinh viên có nội dung: giáo dục những hiểu biết và những kiến thức sử dụng tự giác các phương tiện giáo dục thể chất khác nhau trong dời sống và hoạt động hàng ngày Những buổi tập ngoại khóa có nội dung khác nhau giúp cho học sinh, sinh viên nắm được nội dung trong chương trình học tập về TDTT, chuẩn bị cho họ thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, ngoài ra giúp hoàn thiện các nội dung thể thao vận động tự chọn Tập luyện TDTT ngoại khóa là hình thức tập luyện tự nguyện, nhằm tăng cường vận động để củng cố sức khỏe, duy trì và nâng cao khả năng hoạt động thể lực, rèn luyện cơ thể và chữa bệnh, đồng thời giáo dục các tố chất vận động và ý chí, tiếp thu các kỹ năng kỹ xảo vận động
Giữa hình thức tập luyện nội khóa và ngoại khóa có mối liên hệ lẫn nhau Tập luyện ngoại khóa giữ vai trò, vị trí quan trọng là bổ xung và củng
cố hiệu quả công tác giáo dục thể thất trong nhà trường và góp phần tạo nếp sống vận động và rèn luyện thân thể, lành mạnh, sôi nổi, phong phú vui tươi, lạc quan, loại bỏ được cuộc sống trống rỗng vô vị, chơi bời lêu lổng của một
số học sinh, sinh viên trong thời gian nhàn rỗi, nhất là học sinh, sinh viên thành thị Việc kết hợp tốt giữa tập luyện thể dục thể thao nội khóa với ngoại