Quá trình phát triển thủy lợi tỉnh vĩnh phúc và bộ máy quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc .... Ngành: Quản l
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NINH QUANG HƯNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TẠI TỈNH VĨNH PHÚC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Đình Thao
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Ninh Quang Hưng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc Thầy giáo, PGS.TS Trần Đình Thao đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn kế hoạch và đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước; cán bộ nhân viên các Công ty TNHH MTV thủy lợi Phúc Yên, Tam Đảo, Liễn Sơn; hộ nông dân các xã Phúc Yên, Tam Đảo, Lập Thạch đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Ninh Quang Hưng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình và biểu đồ ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm có liên quan 5
2.1.3 Nội dung quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp 18
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp 26
2.2 Cơ sở thực tiễn 29
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi ở một số nước trong khu vực 29
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi ở các địa phương trong nước 30
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu của đề tài 34
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 35
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
3.1.3 Các Công ty TNHH MTV Thủy lợi 45
Trang 53.2 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 47
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu 47
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin, số liệu 49
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 50
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 52
4.1 Quá trình phát triển thủy lợi tỉnh vĩnh phúc và bộ máy quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 52
4.1.1 Quá trình phát triển thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc 52
4.1.2 Thực trạng bộ máy quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 57
4.2 Thực trạng quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 60
4.2.1 Thực trạng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 60
4.2.2 Thực trạng lập kế hoạch phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 61
4.2.3 Thực trạng tổ chức thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 66
4.2.4 Thực trạng thanh kiểm tra giám sát thực hiện kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp 85
4.3 Thành công và hạn chế trong quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 90
4.3.1 Những thành công của quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc 90
4.3.2 Những hạn chế của quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc 93
4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 98
4.4.2 Các yếu tố chủ quan 99
4.5 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 101
4.5.1 Quan điểm và định hướng 101
Trang 64.5.2 Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc 104
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 111
5.1 Kết luận 111
5.2 Kiến nghị 113
Phụ lục 118
Tài liệu tham khảo 122
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
PTNT Phát triển nông thôn
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Vĩnh Phúc phân theo huyện, thị 39
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 40
Bảng 3.3 Số đơn vị hành chính, dân số tỉnh Vĩnh Phúc 41
Bảng 3.4 Số lượng mẫu điều tra tại các điểm nghiên cứu 49
Bảng 4.1 Cơ cấu sử dụng đất phân theo các hệ thống thủy lợi 55
Bảng 4.2 Sự tham gia của cán bộ các đơn vị trong công tác lập kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc 63
Bảng 4.3 Kế hoạch phân bổ vốn đầu tư trong chương trình kiên cố hóa kênh mương và bê tông hóa mặt bờ kênh loại I, II giai đoạn 2012 – 2015 của tỉnh Vĩnh Phúc 65
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện Nghị quyết số 29 của HĐND tỉnh về chương trình kiên cố hóa kênh mương và bê tông hóa mặt bờ kênh loại I, II giai đoạn 2012 – 2015 68
Bảng 4.5 Thực tế cấp phát vốn đầu tư theo Nghị quyết số 29 của HĐND tỉnh giai đoạn 2012 – 2015 69
Bảng 4.6 So sánh kế hoạch phân bổ và thực tế cấp phát vốn đầu tư theo Nghị quyết số 29 của HĐND tỉnh giai đoạn 2012 – 2015 70
Bảng 4.7 Thực tế cấp phát vốn đầu tư ở các Công ty thủy lợi theo Nghị quyết số 29 của HĐND tỉnh 72
Bảng 4.8 Đánh giá tiến độ giải ngân nguồn vốn đầu cho các công trình kiên cố hóa kênh mương thuộc Nghị quyết số 29 của HĐND Tỉnh trong nội dung chương trình kiên cố hóa kênh mương 74
Bảng 4.9 Đánh giá công tác thanh quyết toán vốn các công trình trong chương trình kiên cố hóa kênh mương thuộc Nghị quyết số 29 của HĐND Tỉnh 75
Bảng 4.10 Diện tích, kinh phí cấp bù thủy lợi phí của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 đến 2014 77
Bảng 4.11 Kết quả thực hiện đầu tư các công trình thuộc Nghị quyết số 33/2010/NQ-HĐND tỉnh Vĩnh Phúc 79
Trang 9Bảng 4.12 Kết quả thực hiện cấp phát vốn đầu tư công trình theo Nghị quyết
33/2010/NQ-HĐND về thủy lợi phí 80 Bảng 4.13 Đánh giá tiến độ giải ngân vốn cho các công trình thuộc Nghị quyết số
33/2010/NQ-HĐND tỉnh Vĩnh Phúc 84 Bảng 4.14 Đánh giá công tác thanh quyết toán vốn các công trình thuộc Nghị
quyết số 33/2010/NQ-HĐND tỉnh Vĩnh Phúc 84 Bảng 4.15 Đánh giá công tác thanh kiểm tra giám sát các công trình thuộc
chương trình kiên cố hóa kênh mương theo Nghị quyết số 29 của HĐND Tỉnh Vĩnh Phúc 87 Bảng 4.16 Đánh giá công tác thanh kiểm tra các công trình thuộc Nghị quyết số
33/2010/NQ-HĐND tỉnh Vĩnh Phúc 88 Bảng 4.17 Diện tích phục vụ tưới cây vụ đông 2014 ở các Công ty TNHH MTV
thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc 88 Bảng 4.18 Đánh giá của hộ nông dân về tình hình cung cấp nước đầy đủ và kịp
thời của hệ thống thủy lợi trên địa bàn 89 Bảng 4.19 Tác động của hệ thống thủy lợi đến hoạt động sản xuất nông nghiệp
của hộ điều tra 89 Bảng 4.20 Đánh giá công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong
lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc 102 Bảng 4.21 Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến công tác quản lý vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc 104 Bảng 4.22 Ý kiến về việc tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước đối với vốn đầu tư từ
ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi 105 Bảng 4.23 Trình độ năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý các đơn vị 106 Bảng 4.24 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
của cán bộ quản lý các đơn vị 101
Trang 10DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc 35 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015 (phân theo ngành kinh tế) 43 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015 (phân theo thành phần kinh tế) 44 Hình 4.1 Cơ cấu bộ máy quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh
vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc 59 Biểu đồ 4.1 So sánh kế hoạch và thực tế phân bổ vốn đầu tư theo Nghị định số 29
giai đoạn 2012 – 2015 71 Biểu đồ 4.2 So sánh kế hoạch và thực tế phân bổ vốn đầu tư theo Nghị định số 29
giai đoạn 2012 – 2015 theo từng chương trình 71
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Ninh Quang Hưng
Tên luận văn: “Tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong
lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc”
Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60 34 04 01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trong những năm gần đây, tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều chương trình, dự
án đầu tư trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh, sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh Tuy nhiên, công tác quản lý vốn đầu tư trong lĩnh vực thủy lợi thời gian qua của tỉnh đã bộc lộ một số bất cập, yếu kém cần có những giải pháp để tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi
tại tỉnh Vĩnh Phúc Xuất phát từ thực tế trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tăng
cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc”
Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu thực trạng quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua, trên cơ sở đó
đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc thời gian tới
Nghiên cứu đã phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước: khái niệm quản lý vốn đầu tư, phân tích đặc điểm, vai trò, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; từ kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi ở các nước trong khu vực và các tỉnh thành trong nước, nghiên cứu rút ra một
số bài học kinh nghiệm vận dụng vào nghiên cứu quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc
Nghiên cứu đã phân tích đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua, chỉ ra được những thành công trong công tác quản lý vốn đầu tư: vốn đầu tư trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc đã đáp ứng được nhu cầu phát triển hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh; việc xây dựng kế hoạch vốn và thực hiện giải ngân vốn, cũng như công tác thanh kiểm tra giám sát giải ngân, quyết toán vốn được thực hiện đúng theo quy định về đầu tư và sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, mang lại hiệu quả trong đầu tư
Trang 12Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế cần khắc phục trong công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc: bất cập trong phân cấp quản lý vốn; chất lượng công tác lập kế hoạch vốn chưa cao; vẫn còn những sai phạm gây thất thoát, lãng phí vốn ngân sách Nhà nước; việc kiểm tra giám sát của các cơ quan Nhà nước chưa sâu, diện kiểm tra còn hẹp
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc bao gồm: các yếu tố khách quan như hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế phân cấp quản lý; các yếu tố chủ quan như mô hình tổ chức
bộ máy quản lý và trình độ năng lực của cán bộ quản lý
Để khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, bao gồm: hoàn thiện phân cấp quản lý vốn; hoàn thiện quy trình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện giải ngân vốn; tăng cường công tác kiểm tra giám sát; hoàn thiện bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý vốn Việc áp dụng đồng bộ hệ thống các giải pháp sẽ mang lại tác động tích cực trong quản lý vốn đầu tư
từ NSNN
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Ninh Quang Hung
Thesis title: "Enhancing management of investment capital from the State
budget in the field of irrigation for agricultural production in Vinh Phuc province"
Major: Economic Management Code: : 60340401
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
In recent years, Vinh Phuc Province has implemented many programs and projects in the field of water resources in service agricultural production in the province, using State budget funds of the provincial level However, the management invested in the irrigation areas of the province recent years have revealed a number of shortcomings and weaknesses need to have solutions to enhance the management of investment capital from the State budget in irrigation area in Vinh Phuc Province.Coming from this reality, the author choose to study the topic "Enhancing management of investment capital from the State budget in the field of irrigation for agricultural production in Vinh Phuc province"
The objective of the study is to understand the situationmanagement of investment capital from the State budget in the field of irrigation in the last time of Vinh Phuc province, based on which proposed the orientation and a number of solutions to enhance the management of investment capital from the State budget in the field of irrigation for agricultural production in Vinh Phuc Province near future
Research has analyzed and clarify some theoretical issues and practical management of investment capital from the State budget: the concept of investment management, analyze the characteristics, roles, content, factors affecting the management of investment capital from the State budget; Experience investment capital management from the State budget in the irrigation sector of the region and the provinces in the country Research draws some experience lessons to apply the management of investment capital from the State budget in the field of irrigation for agricultural production in Vinh Phuc province The planning and implementation of capital disbursement, as well as monitoring of disbursement and settlement of funds is carried out in accordance with the regulations on investment and which use of investment capital from the State budget,and bring investment efficiency
Besides, research has shown the limitations to be overcome in the management
of investment capital from the State budget in the the irrigation sector in the Vinh Phuc Province: The shortcomings in the decentralization of management of capital;Quality of
Trang 14capital planning is not high; there are still irregularities causing loss,waste of state budget;the control and supervision of the State authorities are not deep, narrow test area
Factors affect the management of investment capital from the State budget in the field of the irrigation in Vinh Phuc province, including: The objective factors such as the system of legal documents, mechanism of decentralization; The subjective factors such as the organizational model management apparatus and the qualifications of the management staff
To overcome the limitations in the management of investment capital from the State budget in the field of the irrigation, researchers have proposed a number of measures to enhance the management of investment capital from the State budget, including: Completing the decentralization of capital; Improving the process of planning and organizing the implementation of the disbursement; To enhance the inspection and supervision; Completing the organizational structure and staff working the capital management.The adoption of a comprehensive system of solutions will bring positive effects in the management of investment capital from the State budget
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những thập kỷ qua đặc biệt sau ngày thống nhất đất nước được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đã đầu tư xây dựng được hệ thống công trình thuỷ lợi đồ sộ: 1.967 hồ chứa, 10.000 trạm bơm, 8.000 km đê sông đê biểnphục
vụ phát triểncác ngành kinh tế, phát triểnnông nghiệp,phòng tránh giảm nhẹ thiên tai,đào tạogầntrăm nghìn cán bộ làm công tác thuỷ lợi từ Trung ương đến địa phương do vậy góp phần quan trọng đưa Việt namtừ chỗ thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới Bộ mặt nông thôn mới không ngừng đổi thay, an ninh lương thực, an toàn trước thiên tai, ổn định xã hội,
sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường được cải thiện
Kết quả đầu tư xây dựng thuỷ lợi đã xây dựng được 75 hệ thống thủy lợi lớn, 1967 hồ chứa dung tích trên 0.2 triệu m3, hơn 5.000 cống tưới, tiêu lớn, trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa có tổng công suất bơm 24,8x106m3/h, hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ; đã xây dựng 5.700 km đê sông, 3.000 km đê biển, 23.000 km bờ bao và hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm km kè và nhiều hồ chứa lớn tham gia chống lũ cho hạ du, các hồ chưa lớn thuộc hệ thống sông Hồng có khả năng cắt lũ 7 tỷ m3, nâng mức chống lũ cho hệ thống đê với con lũ 500 năm xuất hiện một lần Tổng năng lực của các hệ thống đã bảo đảm tưới trực tiếp 3,45 triệu ha, tạo nguồn cho 1,13 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha; cấp và tạo nguồn cấp nước 5-6 tỷ m3/năm cho sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, dịch vụ ; Cấp nước sinh hoạt nông thôn đạt 70-75% tổng số dân (Phạm Thị Khanh 2003)
Hiệu quả đầu tư phát triển thuỷ lợi đã tạo điều kiện quan trọng cho phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác, năng suất, sản lượng lúa đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu; phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, bảo
vệ tính mạng, sản xuất, cơ sở hạ tầng, hạn chế dịch bệnh; hàng năm các công trình thuỷ lợi bảo đảm cấp 5 – 6 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp dịch vụ
và các ngành kinh tế khác; góp phần phát triển nguồn điện và cải tạo môi trường Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), tổng vốn đầu tư cho thuỷ lợi trong giai đoạn năm 2011 – 2014 là hơn 28.800 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng hơn 79% đầu tư toàn ngành Số vốn này được phân bổ đầu tư cho
Trang 16thuỷ lợi theo hướng đa chức năng để phục vụ nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi, cung cấp nước cho dân sinh và sản xuất công nghiệp Trong đó, nuôi trồng thủy sản được ưu tiên đầu tư phát triển bên cạnh việc xây dựng các dự án công trình thủy lợi đầu mối, hệ thống đê điều và an toàn hồ chứa Cùng với đó,
Bộ cũng ưu tiên vốn nhiều hơn cho nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng công trình; phát triển thủy lợi nhỏ kết hợp với thủy điện ở khu vực miền núi; hỗ trợ áp dụng các phương pháp tưới tiết kiệm nước và nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thủy lợi
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2014, cả nước đã xây dựng được 110 hệ thống thủy lợi vừa và lớn (diện tích tưới trên 2.000 ha); trên 6.500 hồ chứa thủy lợi, trong đó có 560 hồ chứa lớn (dung tích trữ lớn hơn 3 triệu m3 nước); 1.000 km kênh trục lớn, 5.000 cống tưới, tiêu lớn để phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
về cấp thoát nước phục vụ công nghiệp và dân sinh Tổng năng lực tưới hệ thống thủy lợi đến năm 2013 đạt 3,52 triệu ha đất canh tác, đảm bảo tưới cho 7,26 triệu
ha lúa (tăng 360.000 ha so với năm 2010) Bên cạnh đó, các công trình thủy lợi còn phục vụ tưới cho khoảng 1,5 triệu ha rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày, tiêu thoát nước cho hơn 1,75 triệu ha đất nông nghiệp Trong giai đoạn 2011 -
2014, nhiều dự án trọng điểm, quy mô lớn ở miền Trung, Tây Nguyên, Trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long đã được đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả như hồ Rào Đá (Quảng Bình) phục vụ tưới 5.900 ha; hệ thống tưới Phan Rí - Phan Thiết (Bình Thuận) tưới 13.000 ha; hệ thống thủy lợi Đá Hàn (Hà Tĩnh) tưới 2.700 ha
Ngày 4/7/2013, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có Quyết định số 1717/QĐ-CT
về Phê duyệt Quy hoạch phát triển thuỷ lợi tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Dự án do Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Vĩnh Phúc làm chủ đầu tư và trường Đại học Thuỷ lợi là đơn vị tư vấn Mục tiêu của dự án nhằm phát triển bền vững, quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 – 2020 và định hướng đến 2030 Phương án quy hoạch bao gồm các giải pháp công trình và phi công trình nhằm giải quyết các vấn đề về cấp thoát nước phục vụ nông nghiệp, thuỷ sản, sinh hoạt và các ngành kinh tế khác, phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai bão lũ, bảo vệ môi trường sinh thái theo hướng phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả nguồn đất và nước Với nhiệm vụ là đảm bảo cung cấp đủ nước cho 90.000 ha
Trang 17lúa và hoa màu (với mặt bằng canh tác khoảng 41.000 ha, năm 2015); Trong đó: lúa 60 ngàn ha; Ngô 15 - 17 ngàn ha; Rau, hoa 5 ngàn ha; Cây ăn quả vùng đồi 10.000 ha
Tổng kinh phí thực hiện dự án là 13.428 tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2011 – 2015 sử dụng hết 5.801 tỷ đồng, gồm đầu tư cho xây dựng công trình tưới (xây dựng mới và nâng cấp) là 1.248 tỷ đồng, đầu tư cho công trình tiêu là 1.167 tỷ đồng, đầu tư cho công trình phòng chống lũ là 3.386 tỷ đồng
Thực tế công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua đã bộc lộ một số bất cập, yếu kém trong công tác quản lý như công tác bố trí và giải ngân vốn đầu tư cho các công trình còn chậm so với kế hoạch phân bổ vốn dẫn đến tiến độ và chất lượng các công trình thủy lợi chưa đảm bảo, chưa phát huy được hết hiệu quả của các công trình… và cần những giải pháp nào để tăng cường quản lý vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Vĩnh Phúc
Đề tài “Tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc” được tác giả
lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, nhằm giải đáp các câu hỏi nêu trên
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất định hướng và một số giải pháp tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thuy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp;
- Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục
vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua;
Trang 18- Đề xuất định hướng và một số giải pháp tăng cường quản lý vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hoạt động quản lý vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc
- Đối tượng điều tra khảo sát là cán bộ quản lý các cấp (chủ đầu tư), các nhà thầu xây dựng, người dân được hưởng lợi từ các công trình trong lĩnh vực thủy lợi
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc tập trung vào các chỉ tiêu đánh giá, nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn đầu
tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Vĩnh Phúc
- Phạm vi về thời gian: Các thông tin, số liệu thứ cấp được tổng hợp trong khoảng thời gian 3 năm từ năm 2013 - 2015 Các số liệu điều tra khảo sát được thực hiện trong năm 2015 đến hết tháng 3 năm 2016
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
a Khái niệm đầu tư
Đầu tư là một hoạt động trong nền kinh tế Đó là việc bỏ ra một lượng nguồn lực xác định (tiền, của cải vật chất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu
và nhân lực ) tiến hành một hay nhiều hoạt động nhằm thu về kết quả lớn hơn lượng nguồn lực đã bỏ ra ban đầu Hoạt động đầu tư có thể là đầu tư của cả nền kinh tế, đầu tư của các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế, đầu tư của các hộ gia đình, các cá nhân (Phô Thi San Sa May, 2014)
Có nhiều loại đầu tư khác nhau Nếu căn cứ vào phương thức đầu tư, có 3 loại đầu tư là đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư sản xuất Nếu căn
cứ vào tính chất đầu tư, có hai loại đầu tư là đầu tư phát triển, đầu tư chuyển dịch Căn cứ vào thời gian đầu tư, có đầu tư dài hạn và đầu tư ngắn hạn,
Đầu tư tài chính là loại đầu tư, trong đó, người đầu tư bỏ tiền cho vay
hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất Chẳng hạn, gửi tiết kiệm, mua trái phiếu Chính phủ, mua cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty là những dạng đầu tư tài chính Đánh bạc, đánh đề cũng là một hình thức đầu tư tài chính nhưng không được pháp luật cho phép Tiền và các giấy tờ có giá này gọi là tài sản tài chính Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này)
mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư
Đầu tư thương mại là loại đầu tư, trong đó người đầu tư bỏ tiền ra để
mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở
Trang 20hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ
Đầu tư sản xuất là loại đầu tư, trong đó người đầu tư bỏ tiền mua máy
móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, nhà xưởng, thuê lao động, để tiến hành các hoạt động sản xuất nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác Đầu tư sản xuất là điều kiện chủ yếu để tạo ra việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong
xã hội Đầu tư sản xuất còn bao gồm hoạt động, trong đó nhà đầu tư bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ, thực hiện duy tu bảo dưỡng các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội
Đầu tư dài hạn là đầu tư diễn ra trong khoảng thời gian từ 10 năm trở lên,
thường có quy mô lớn Đầu tư dài hạn thường là hoạt động đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất lâu dài cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Đầu tư ngắn hạn là đầu tư trong khoảng dưới 10 năm Đầu tư ngắn hạn
có tác dụng tạo lực đẩy cho sự phát triển của công ty trong từng thời kỳ ngắn Đây là cách mà nhà đầu tư (cá nhân, doanh nghiệp, nhà nước) có thể bổ trợ, củng cố kế hoạch dài hạn Thông qua đầu tư ngắn hạn, nhà đầu tư có thể thích ứng nhanh hơn, có đối sách tốt hơn, phản ứng nhanh nhạy hơn với sự biến động của thị trường, của nền kinh tế
Đầu tư chuyển dịch là loại đầu tư làm cho tài sản được dịch chuyển từ
người này sang người khác trong nền kinh tế, nhưng không làm tăng tài sản hay tiềm lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư chuyển dịch làm cho tài sản của nhà đầu tư tăng lên nhưng làm giảm tài sản của người khác trong nền kinh tế
và không làm cho nền kinh tế giàu lên nhờ tăng tài sản hoặc tăng thêm tiềm lực sản xuất Xét về bản chất, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại được coi
là đầu tư chuyển dịch (Phô Thi San Sa May, 2014)
Vốn đầu tư là những chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, thiết bị, vật tư,
Trang 21nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hóa, cầu cống, đường xá…); tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực (trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ khoa học kỹ thuật) Vốn đầu tư có thể do cá nhâ, doanh nghiệp hoặc Nhà nước đầu tư Vốn đầu tư của Nhà nước bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước, được bỏ ra để thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn); tài sản vật chất (nhà máy, thiết bị, vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hóa, cầu cống, đường xá); tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực (trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ khoa học kỹ thuật) cho toàn bộ nền kinh tế
Phạm trù vốn rất rộng, có nhiều quan niệm khác nhau, vốn là tiền, tài sản (Viện Kinh tế, 2009); vốn là tài sản có mục đích vào sản xuất kinh doanh để tạo
ra hàng hóa, sản phẩm cho xã hội, là toàn bộ của cải vật chất, có tác giả lại cho rằng vốn là nguồn lực kinh tế khi đã đưa vào chu chuyển (Brandley R.Schiller, 2002); vốn là những chi tiêu (Tổng cục Thống kê, 2011); vốn là hàng hóa (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2002); vốn là toàn bộ nguồn lực đưa vào chu chuyển (Trần Xuân Kiên, 2010) nhiều nhà nghiên cứu muốn làm rõ về khái niệm của vốn một số tác giả lại đi sâu hơn một loại vốn nào đó, nghiên cứu về vốn một cách định tính, một số tác giả lại định lượng nó
Nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển theo nghĩa hẹp nhất là tiền vốn, theo nghĩa rộng, bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên Là loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội, không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của người chủ đầu tư mà cả của nền kinh tế
Vốn đầu tư tài chính và vốn đầu tư thương mại là các loại vốn đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản chính của người đầu tư, tác động gián tiếp làm tăng tài sản của nền kinh tế, tích lũy cho đầu tư phát triển, cung cấp vốn đầu tư cho phát triển và thúc đẩy quá trình lưu thông phân phối các sản phẩm (Trần Viết Nguyên, 2015)
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp để thực hiện các hoạt động đầu
tư, là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định, thường được thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động (Trần Viết Nguyên, 2015)
Trang 22Trong nông nghiệp, vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp được hiểu là những chi phí bỏ ra để hình thành nên tài sản cố định (nhà, xưởng ), hàng tồn kho, tài sản vô hình được sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp
Vốn đầu tư phát triển là vốn đầu tư loại trừ vốn đầu tư tài chính (vốn đầu
tư cho các hoạt động tài chính như ngân hàng, thị trường vốn ) và vốn đầu tư thương mại (vốn đầu tư cho các hoạt động dịch vụ, du lịch )
Do nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất (khác với lĩnh vực dịch vụ bao gồm
cả tiền vốn bỏ ra để làm tăng hoặc duy trì năng lực sản xuất và nguồn lực để nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội trong một thời kỳ nhất định Vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư tạo ra tài sản cố định, vốn đầu tư làm tăng tài sản lưu động, vốn chi mua các tài sản quý hiếm , và vốn đầu tư phát triển khác nhằm nâng cao dân trí, tăng cường phúc lợi xã hội, cải thiện môi trường sinh thái, hỗ trợ dân sinh (Trần Viết Nguyên, 2015)
Theo đó, vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp theo quan niệm ở Việt Nam và hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành thống kê, ngành nông nghiệp bao gồm vốn đầu tư để xây dựng nhà cửa, đầu tư thiết bị trong nông nghiệp, vốn đầu tư của các dự án xây dựng đê, kè, sông biển, hồ chứa, kiên cố hóa kênh mương, giao thông nội đồng, xây dựng các trạm bơm, các dự án trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, đầu tư hạ tầng nuôi, trồng thủy sản, cảng cá, bến neo đậu, tránh trú tàu thuyền, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ, kỹ thuật trong nông nghiệp, nhập, lai tạo và sản xuất nông nghiệp, thú y, khuyến nông, đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực trong nông nghiệp (Trần Viết Nguyên, 2015)
Tuy nhiên, các công trình đê, kè, hồ chứa là các công trình phục vụ chủ yếu dân sinh, hạ tầng kỹ thuật cho xã hội, bảo vệ gìn giữ môi trường, do vậy, khi tính toán các tiêu chí hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp về mặt kinh
tế không đưa vào khoản mục vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp (Trần Viết Nguyên, 2015)
b Khái niệm quản lý vốn đầu tư
Quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là hoạt động tác động của chủ thể quản lý (Nhà nước) lên các đối tượng quản lý (vốn đầu tư, hoạt động sử dụng vốn đầu tư) trong điều kiện biến động của môi trường để nhằm đạt được các mục tiêu nhất định
Trang 232.1.1.2 Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
a Vai trò của vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (Phô Thi San Sa May, 2014)
- Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động địa phương;
- Có vai trò làm tăng tổng cầu và kích thích tăng trưởng kinh tế địa phương và kinh tế quốc gia trong ngắn hạn;
- Có tác động thu hút vốn đầu tư từ địa phương khác và từ nước ngoài;
- Có tác động làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế địa phương và góp phần tăng năng lực sản xuất của cả nền kinh tế, tăng tổng cung của nền kinh
tế trong dài hạn;
- Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước có tác dụng cải cách cơ cấu ngành
b Đặc điểm của vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (Phô Thi San Sa May, 2014)
- Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với quyền lực của ngân sách Nhà nước;
- Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước liên quan chặt chẽ với mức đóng thuế của dân địa phương và đầu tư của hộ gia đình, doanh nghiệp;
- Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thường được sử dụng vì lợi ích cả cộng đồng, lợi ích của địa phương, lợi ích quốc gia;
- Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được sử dụng vào chương trình, dự
án có quy mô lớn và quan trọng của địa phương, của quốc gia
c Các loại vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (Phô Thi San Sa May, 2014)
- Căn cứ vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước:
+ Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là thuế, phí;
+ Vốn từ ngân sách Nhà nước từ nguồn vốn viện trợ;
+ Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là nguồn vốn ODA
- Căn cứ vào chủ thể quản lý, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước có các loại sau:
+ Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trung ương;
+Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước địa phương ;
+ Nguồn vốn phát triển của chính phủ
Trang 24Đây là vốn phát triển do chính phủ hỗ trợ cân đối cho địa phương Chính phủ hỗ trợ vốn cho những địa phương có nguồn vốn thu ngân sách thấp, ngân sách địa phương không thể tự cân đối để thực hiện được các mục tiêu phát triển trên địa bàn Do vậy, ngân sách Chính phủ cấp hỗ trợ vốn đầu tư phát triển để thực hiện nhiệm vụ chi của địa phương
Vốn đầu tư do chính phủ cấp hỗ trợ đầu tư có mục tiêu là vốn thực hiện các chương trình, mục tiêu, nhiệm vụ có phạm vi theo vùng, theo ngành hoặc toàn quốc nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của chính sách đầu tư công trong từng thời kỳ
2.1.1.3 Quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là việc chính quyền sử dụng tổng thể các biện pháp, công cụ tác động vào quá trình phân bổ và sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước cho đầu tư trong lĩnh vực thủy lợi nhằm đạt được các mục tiêu về kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định (Phô Thi San Sa May, 2014)
Khi xem xét khái niệm trên cần lưu ý một số điểm:
Một là, chủ thể quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước Ví dụ như vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp tỉnh thì chính quyền cấp tỉnh là chủ thể quản
lý Ở mỗi quốc gia, chủ thể quản lý được tổ chức theo mô hình riêng và có chức năng cụ thể do pháp luật quy định
Ở Việt Nam, nếu chính quyền cấp tỉnh là chủ thể quản lý thì có Hội đồng nhân dân tỉnh, UBND tỉnh là cơ quan có chức năng chủ thể quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp tỉnh
Hai là, đối tượng quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là ngân sách Nhà nước được sử dụng đầu tư và cơ quan, đơn vị, tổ chức tham gia vào quá trình đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Vốn ngân sách Nhà nước được sử dụng đầu tư, trong trường hợp là vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh, bao gồm từ việc thu thuế và phí ở mỗi địa phương (mỗi tỉnh) được để lại theo quy định của Luật ngân sách, ngân sách Nhà nước Trung ương điều chuyển cho tỉnh, viện trợ nước ngoài cho tỉnh Khoản vốn viện trợ có thể do nước ngoài (chính phủ, các tổ chức phi chính phủ ) viện trợ cho
Trang 25chính phủ và chính phủ phân bổ cho tỉnh hoặc do các tổ chức nước ngoài thông qua chính phủ, viện trợ trực tiếp cho các địa phương
Ba là, mục tiêu quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước góp phần đảm bảo hiệu quả đầu tư từ ngân sách Nhà nước, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, ngành, vùng, lãnh thổ, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng Trong quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi đảm bảo mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp
Bốn là, phương thức và công cụ quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước bao gồm việc phân cấp quản lý, lập kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, tổ chức thực hiện vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước, tổ chức bộ máy, bố trí đội ngũ cán bộ quản lý vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước; kiểm tra, kiểm soát vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước Năm là, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được thực hiện trong một số lĩnh vực quan trọng Các lĩnh vực đó bao gồm những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không đủ khả năng hoặc không được phép đầu tư Đầu
tư trong lĩnh vực thủy lợi để phục vụ phát triển nông nghiệp là một trong những lĩnh vực như vậy
Sáu là, cơ chế quản lý vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là hệ thống các biện pháp, công cụ, cách thức chính quyền sử dụng để quản lý vốn từ ngân sách Nhà nước cho đầu tư trong lĩnh vực thủy lợi trên địa bàn tỉnh Cơ chế
đó bao gồm hệ thống pháp luật, chính sách, các quy định của Nhà nước, trung ương về quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; các chính sách và các quy định của chính quyền địa phương ban hành và áp dụng riêng cho quản lý vốn đầu
tư từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn mình
Bảy là, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ở mỗi địa phương phải phù hợp và thống nhất với quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp trung ương Quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ở cấp địa phương được thực hiện trên địa bàn mỗi tỉnh Do đó, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp tỉnh được sử dụng ở phạm vi và quy mô tỉnh Theo đó, việc quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cấp tỉnh được thực hiện ở phạm vi hẹp hơn và không phức tạp như quản lý vốn đầu tư ở cấp trung ương Mặt khác, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cấp trung ương do chính quyền trung ương thực hiện, đồng thời được áp dụng chung đối với tất cả các địa phương trong cả nước Trong khi
Trang 26đó, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp tỉnh, một mặt phải tuân thủ quy định chung về quản lý của chính quyền trung ương, mặt khác, chính quyền địa phương (tỉnh) có thể được quyền quyết định theo quy định phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, do chính quyền trung ước quy định Một điểm cần nhấn mạnh trong quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ở địa phương là các quyết định quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp địa phương phải bảo đảm tính tập trung thống nhất, vì lợi ích của địa phương nhưng không mâu thuẫn với lợi ích của quốc gia hay lợi ích của địa phương khác (Phô Thi San Sa May, 2014)
2.1.1.4 Thủy lợi và vai trò của thủy lợi trong nền kinh tế
a Khái niệm về thủy lợi
Thuỷ lợi là lĩnh vực kinh tế kỹ thuật rộng lớn gồm nhiều hoạt động đấu tranh với tự nhiên để khai thác mặt có lợi của nguồn nước trên và dưới mặt đất phục vụ sản xuất và đời sống đồng thời hạn chế những tác hại của nước gây ra đối với sản xuất và đời sống (Nguyễn Thị Vòng, 2012)
b Vai trò của thủy lợi trong nền kinh tế (Nguyễn Thị Vòng, 2012)
Thực tiễn hiện nay đã chứng minh rằng, trên thế giới nước nào có hệ thống thuỷ lợi đảm bảo thì nền sản xuất nông nghiệp của nước đó ổn định và dần dần được nâng cao Đối với các nước chậm phát triển thì hệ thống thuỷ lợi của các ngành nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng đang là những vấn đề nan giải, phức tạp liên quan đến cả kinh tế và xã hội Cùng với việc tăng trưởng và phát triển trong nông nghiệp nhằm đáp ứng mọi yêu cầu về lương thực thực phẩm thì có nhiều nước trên thế giới sự phát triển của thuỷ lợi đã trở thành quy
mô quốc gia Cụ thể Chính Phủ của các nước đã phát động các chương trình tưới nước với mục tiêu chính là đảm bảo tự túc lương thực và chương trình đó đã đạt được nhiều kết quả tốt do hệ thống thuỷ lợi phục vụ tốt Như vậy, trong nông nghiệp, thuỷ lợi có thể được định nghĩa như là việc sử dụng kỹ thuật của con người để tăng và kiểm soát việc cung cấp nước cho trồng trọt
Ở nước ta cũng như ở nhiều nước trên thế giới, trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, thuỷ lợi là một ngành kinh tế kỹ thuật có vị trí quan trọng Công tác thuỷ lợi được tiến hành với nhiều nội dung song có thể khái quát ở hai nội dung chính cơ bản sau:
Trang 27- Thuỷ lợi tiến hành trị thuỷ như đắp đê, đắp đập, đào sông để chỉnh trị dòng chảy, phòng chống lũ lụt, bão nhằm khắc phục và giảm nhẹ thiên tai
- Thuỷ lợi tiến hành công tác thuỷ nông như đào kênh, khơi nguồn, xây dựng cầu, cống, mương máng để phục vụ sản xuất nông nghiệp phục vụ dân sinh và các ngành kinh tế khác, cải tạo và bảo vệ môi trường
Với hai nội dung cơ bản trên của công tác thuỷ lợi thì thuỷ lợi đã thể hiện vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế nếu không tiến hành trị thuỷ thì hậu quả khôn lường sẽ diễn ra làm thiệt hại nặng nề về kinh tế cơ sở hạ tầng vật chất cây lương thực sẽ bị nước lũ cuốn trôi, mặt khác nó còn tác động rất xấu đến công tác môi trường
Nội dung thứ hai của thuỷ lợi là tiến hành công tác thuỷ nông, thuỷ nông
là một ngành kinh tế kỹ thuật thực hiện chức năng quản lý, khai thác tài nguyên nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực khác
Thực tiễn đã chứng minh rằng, thuỷ nông đã và sẽ đóng một vai trò làm tăng trưởng sản lượng lương thực để thoả mãn nhu cầu của loài người cả trong hiện tại và tương lai
Toàn thế giới có 14% diện tích canh tác đươc tưới và 8,2% diện tích được tiêu (tiêu cho cả diện tích phi canh tác), những giá trị sản phẩm nông nghiệp thu được trên diện tích này chiếm 38% tổng giá trị nông nghiệp toàn thế giới, hiện tại Việt Nam có 36,1% diện tích canh tác được tưới và 21,4% được tiêu (tiêu cả trên diện tích phi canh tác) đã cho số sản phẩm nông nghiệp thu được trên đó chiếm 68% tổng sản phẩm nông nghiệp
Tuy mức độ phát triển thuỷ nông của thế giới, của một số khu vực cũng như ở nhiều quốc gia còn ở mức độ thấp, nhưng sự phát triển đó chủ yếu được thực hiện từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây Vì vậy mặc dù dân số thế giới trong vòng
40 năm qua từ (1960 - 1999) tăng gần 2 lần (khoảng 6 tỷ so với 3 tỷ) và mặc dù hầu hết đất đai canh tác đã được loài người sử dụng song nhìn chung lương thực bình quân đầu người của thế giới vẫn tăng nhanh hơn mức tăng dân số Trong thập kỷ 80, bình quân lương thực đầu người trên thế giới tăng 5% (loại trừ tình trạng thiếu lương thực cục bộ)
Viện nghiên cứu lúa quốc tế cho rằng, tăng tiềm năng sản xuất nông nghiệp cuả trái đất rất lớn, chỉ cần đầu tư có hiệu quả vào nông nghiệp, trước hết là khâu tưới, tiêu nó có thể đảm bảo nuôi sống 10 tỷ người Như vậy vai trò của thuỷ nông đối với sản xuất nông nghiệp là rất quan trọng được biểu hiện cụ thể sau:
Trang 28- Thứ nhất: Thuỷ nông là tiền đề mở rộng diện tích canh tác do việc phát triển các hệ thống tưới và tiêu tạo ra các vùng đất canh tác mới
- Thứ hai: Thuỷ nông là tiền đề làm tăng vụ do đó tăng diện tích gieo trồng trên diện tích canh tác, tăng vòng quay của diện tích đất nông nghiệp
-Thứ ba: Thuỷ nông góp phần thâm canh tăng năng suất cây trồng, thay đổi cơ cấu cây trồng, góp phần nâng cao tổng sản lượng và giá trị tổng sản lượng
Do cung cấp đủ lượng nước cho nhu cầu sinh trưởng và tiêu thoát kịp thời đã làm cho năng suất cây trồng tăng thêm được từ 20 - 30% theo tài liệu của FAO, các loại giống mới có tưới tiêu hợp lý đạt được 80 - 90% năng suất thí nghiệm, nếu không chỉ đạt 30 - 40% Đồng thời thuỷ nông cần dùng nước để cải tạo đất thông qua việc thâu chua, phèn rửa mặn làm tiền đề để áp dụng dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật nông nghiệp nên đã làm cho năng suất cây trồng tăng cao Như vậy sự đóng góp của thuỷ nông đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp đã được các nhà chuyên gia trên thế giới chỉ ra cụ thể như sau:
Trong các yếu tố nước, phân, giống và các yếu tố khác làm tăng sản lượng lúa là 100% thì nước chiếm tỷ lệ cao nhất 25,5%; 22,2%; 22,1% và 30,2% Và cũng chỉ ra mối tương quan giữa mức độ thuỷ lợi hoá với việc tăng năng suất lúa diễn ra theo quan hệ mang tính chất tỷ lệ thuận Các nước có mức độ hoá 60% cho năng suất 6 tấn/ 1ha/ 1 năm và 40% cho 4 tấn/ 1ha/ 1năm, còn 25% cho 2 tấn/ 1ha/ 1năm
Như vậy, nếu không có thuỷ lợi thì không thể tiến hành sản xuất nông nghiệp được và nó được coi là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp Cho nên thuỷ lợi phải đi trước một bước thì mới tạo tiền đề cho nông nghiệp phát triển vững chắc
Thực tiễn sản xuất trong nhiều năm qua ở nước ta cũng như các nước trên thế giới đã khẳng định những hiệu quả mà các hệ thống công trình thuỷ lợi mang lại là hết sức to lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Như vậy, công trình thuỷ lợi là các công trình hay hệ thống công trình nhằm khai thác mặt lợi của nước, phòng chống các mặt có hại do nước gây ra hoặc kết hợp cả hai mặt đó
Công trình thuỷ lợi còn được xem là cơ sở kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu
hạ tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nước và bảo vệ môi trường sinh thái, có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trang 29Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi hệ thống là một yêu cầu khách quan của công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Một hệ thống công trình thuỷ lợi bao gồm các thành phần cơ bản sau:
- Công trình đầu mối (đập dâng, hồ chứa, trạm bơm hoặc cống lấy nước);
- Hệ thống kênh (kênh chính, kênh nhánh các cấp);
- Các công trình hệ thống kênh (cống lấy nước đầu kênh, cống điều tiết các loại );
- Hệ thống kênh mương cống bọng nội đồng
Hệ thống công trình thuỷ lợi nói trên là một chỉnh thể phải được vận hành bảo dưỡng theo một quy trình quản lý thống nhất gọi là quy trình quản lý hệ thống Quy trình được thiết lập trên cơ sở luận chứng kinh tế kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật của hệ thống nhằm khai thác có hiệu quả các thông số kinh tế kỹ thuật đã được duyệt bảo đảm an toàn công trình trong mọi tình huống, đảm bảo hài hoà lợi ích dùng nước của địa phương, khu vực hộ dùng nước
Ở nước ta, hơn 40 năm qua Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng hoàn thiện nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi và từ đó đã khắc phục được tình trạng úng hạn, mở rộng diện tích gieo trồng góp phần cải tạo đất, thâm canh tăng
vụ, tăng năng suất cây trồng Hàng năm công trình thuỷ lợi còn cung cấp nhiều tỷ m3 nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, khắc phục thiên tai có những tiến bộ đáng kể đặc biệt là sản xuất lương thực, cụ thể hơn là góp phần khắc phục dần tình trạng úng hạn trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta, từng bước cải thiện đất mặn, chua, phèn, hoang hoá, mở rộng diện tích sản xuất, tạo điều kiện đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, cùng với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng mùa vụ có nhiều thuận lợi Diện tích tưới tiêu nước qua từng thời kỳ được
mở rộng không ngừng, ngoài diện tích lúa ra, các hệ thống công trình thuỷ lợi hiện
có còn bảo đảm tưới và cấp nước hàng tỷ m3 cho các lĩnh vực khác Đồng thời còn tiêu úng đất sản xuất và cải tạo đất ven biển Với kết quả đó công tác thuỷ lợi nói chung và các công trình thuỷ lợi nói riêng đã góp phần tích cực vào mặt trận sản xuất nông nghiệp và giành được những thắng lợi rực rỡ liên tiếp
- Thứ tư: Thuỷ lợi tạo điều kiện cho các ngành kinh tế quốc dân phát triển Thực tiễn sản xuất trong thời gian qua đã khẳng định những hiệu quả mà các hệ thống, các công trình thuỷ lợi mang lại là hết sức to lớn, không những đối với sản xuất nông nghiệp mà còn đối với các ngành kinh tế quốc dân và đời sống xã hội
Trang 30Ngoài phục vụ cho nông nghiệp và dân sinh, phát triển giao thông thuỷ, phát điện, nuôi cá tạo việc làm tại chỗ, điều hoà phối hợp lại dân cư và cải thiện môi trường sinh thái góp phần phát triển nông thôn toàn diện, thực hiện xoá đói giảm nghèo Cho nên ngày nay ở đâu có thuỷ lợi đảm bảo thì đời sống nhân dân ổn định, ở đâu chưa có thuỷ lợi thì việc xoá đói giảm nghèo còn đặt ra gay gắt Mặt khác, thuỷ lợi là ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có vai trò hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nước và nâng cao đời sống nhân dân, lợi ích mà ngành thuỷ lợi đem lại là cải tạo thiên nhiên, chiến thắng thiên tai, hạn hán lũ lụt, khai thác mặt lợi ngăn trừ mặt hại, phục vụ quốc tế dân sinh và bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Ngoài diện tích lúa ra, các hệ thống công trình thuỷ lợi còn đảm bảo tưới cho hàng chục vạn hecta hoa màu, cây công nghiệp Đồng thời hàng năm các công trình thuỷ lợi đã được khai thác tổng hợp phục vụ giao thông, thuỷ sản, thuỷ điện, du lịch, góp phần tạo việc làm tại chỗ Cụ thể công tác thuỷ lợi nói chung
và các công trình thuỷ lợi nói riêng đã cung cấp một lượng nước đầy đủ và đảm bảo yêu cầu ngoài nông nghiệp ra còn cho mọi ngành khác có liên quan, nhằm phát triển một nền kinh tế xã hội chung ở nước ta, việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước để phục vụ cho nhiều ngành kinh tế giữ vai trò hết sức quan trọng
- Thứ năm: Thuỷ lợi góp phần cải tạo môi trường, nâng cao điều kiện dân sinh kinh tế
Đối với cung cấp nước phục vụ nông nghiệp và dân sinh
Trong giai đoạn xây dựng công nghiệp hoá nguồn nước giữ vai trò quan trọng thứ hai trong giai đoạn phát triển hiện nay Tính đến năm 1999 nguồn nước
do các hệ thống cung cấp nước sạch cho các khu công nghiệp, thành phố, thị xã
và một số thị trấn mới phục vụ được cho trên 20 triệu dân và hàng năm mới sử dụng khoảng 0,6 tỷ m3 nước ngầm dưới đất Hầu hết các hộ nông dân các thị trấn còn lại đều dùng nước giếng tự nhiên hoặc nước sông suối chưa được xử lý thành nước sạch
Tiến hành chương trình nước ăn vùng cao, đặc biệt là các vùng phía bắc khó khăn nhất làm gọn dứt điểm từng vùng.Tạo nguồn nước ngọt nâng cao chất lượng nước ngọt ở vùng mặn nhằm góp phần quyết định cho nước sạch nông
Trang 31thôn Qui hoạch và xúc tiến các công trình cải tạo nguồn nước cho các khu công nghiệp trọng điểm
Đối với môi trường xã hội
Công trình thuỷ lợi ngoài phục vụ cho các ngành còn cải tạo và bảo vệ môi trường, đặc biệt là cung cấp nguồn nước sạch cho xã hội, tạo nguồn nước ngọt đảm bảo tưới tiêu, thau chua, rửa mặn ở các vùng đất xấu Nếu phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian nguồn nước không chỉ mang lại lợi ích kinh tế xã hội to lớn mà có thể gây ra cả những hiểm hoạ nghiêm trọng như ngập lụt, úng hạn thiệt hại tính mạng tài sản nhân dân, cho nên cần phải đầu tư phát triển công trình thuỷ lợi, đây là vấn đề an toàn của quốc gia, của xã hội và công trình thuỷ lợi được hiểu là nhiều công trình thiết yếu quan trọng của cộng đồng Ngoài ra khai thác và sử dụng nguồn nước phải tuân theo nguyên tắc tổng hợp, nội dung một cách tối ưu, sử dụng hợp lý, không phung phí huỷ hoại làm cạn kiệt nguồn nước thay đổi môi trường sinh thái Quy hoạch khai thác và sử dụng phải đảm bảo sự lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, không nên làm ô nhiễm nguồn nước sạch và nước ngọt sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường chung và gây ảnh hưởng đến toàn xã hội
2.1.2 Vai trò của quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Một là, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển lĩnh vực thủy lợi của địa phương
Mục tiêu phát triển lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp được xác định cho từng năm và cho từng thời kỳ Nhưng mục tiêu này sẽ được thực hiện bằng nhiều chương trình chính sách khác nhau Quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi được thực hiện tốt điều đó có nghĩa là vốn ngân sách Nhà nước được bơm đủ, bơm đúng chỗ, đúng lúc theo đó, các mục tiêu trong phát triển hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp mới có thể được thực hiện Quản lý tốt vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp sẽ đảm bảo thúc đẩy đầu tư của chính quyền địa phương cũng như của các doanh nghiệp trên địa bàn trong lĩnh vực thủy lợi
Trang 32Hai là, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được các cơ quan chức năng của Nhà nước xác định tính khả thi của việc bố trí các nguồn vốn cho dự án đầu tư, đặc biệt
là việc bố trí vốn ngân sách Nhà nước, xác định điểm dự án đầu tư và nhu cầu sử dụng vốn, giai đoạn thực hiện vốn đầu tư Nhà nước, đảm bảo vốn ngân sách Nhà nước và các nguồn vốn khác cho đầu tư, phối hợp giữa các cơ quan chức năng để thúc đẩy sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả Bên cạnh đó, Nhà nước tiến hành kiểm tra, kiểm soát vốn đầu tư để uốn nắn, chấn chỉnh nhằm mục tiêu sử dụng đúng đắn và tiết kiệm các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước Mặt khác, việc kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước còn hạn chế tình trạng thất thoát lãng phí, tham nhũng trong quá trình sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Ba là, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp có vai trò định hướng cho các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực thủy lợi, thúc đẩy việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả
Bốn là, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp sẽ góp phần đảm bảo kỷ cương, kỷ luật chính sách (Phô Thi San Sa May, 2014)
2.1.3 Nội dung quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được xem xét trên 4 nội dung: phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, lập kế hoạch vốn đầu tư, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra thực hiện kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (Phô Thi San Sa May, 2014)
2.1.3.1 Phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Phân cấp quản lý là việc chủ thể quản lý cấp trên phân chia và trao quyền cho cấp quản lý thấp hơn một phần quyền quản lý, đồng thời, quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm cho mỗi cấp quản lý Phân cấp quản lý về bản chất đó là sự phân chia một phần quyền quản lý của chủ thể này cho chủ thể khác Người được phân cấp quản lý (được cấp trên trao quyền quản lý) có quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật một cách toàn diện về nội dung được phân cấp trong quá
Trang 33trình tổ chức thực hiện công việc, độc lập xử lý, quyết định mọi vấn đề, không phụ thuộc vào người đã phân cấp cho mình
Mục tiêu của phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là việc phân chia quyền quản lý giữa chính quyền các cấp, từ cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện; nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền các cấp trên cơ sở phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền Nhà nước, bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất và thông suốt của Chính phủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước nói chung và ngân sách Nhà nước đầu tư trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp nói riêng; nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu và lợi ích của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương
Về nguyên tắc phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, việc phân cấp thường tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, việc phân cấp đối với quyết định phân bổ và sử dụng vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước được căn cứ vào điều kiện cụ thể về đội ngũ cán bộ và quy mô ngân sách Nhà nước Trong phân cấp đầu tư giữa trung ương và địa phương thì vấn đề ý nghĩa của các công trình hoặc lĩnh vực đầu tư và tính chất đầu tư là tiêu chí quan trọng nhất; còn việc phân cấp đầu tư giữa tỉnh và huyện thì số lượng và chất lượng cán bộ làm công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước giữ vai trò lớn hơn
Thứ hai, phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước xuất phát từ lợi ích quốc gia, vì sự phát triển chung của đất nước, đảm bảo hài hòa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia, không chỉ vì lợi ích cục bộ của địa phương Do đó, việc phân cấp được dựa trên nguyên tắc đảm bảo khai thác, phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương vì mục đích phát triển của các địa phương và cho phát triển chung Sự kết hợp hài hòa lợi ích quốc gia và lợi ích của địa phương, lợi ích của từng tỉnh và lợi ích của các tỉnh trong mỗi vùng là nguyên tắc được tuân thủ nghiêm ngặt trong phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Thứ ba, phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tuân thủ yêu cầu đảm bảo chống khép kín, chống tham nhũng, thất thoát, lãnh phí Khép kín từ khâu thiết kế, dự toán kinh phí, thẩm định dự án đầu tư đến khâu thi công hay thực hiện đầu tư thường làm đội nhu cầu vốn ngân sách Nhà
Trang 34nước một cách vô lý Nguyên tắc phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là đảm bảo hạn chế tối đa tình trạng tham nhũng, thất thoát lãng phí trong việc sử dụng ngân sách Nhà nước đầu tư trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp
Thứ tư, phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cơ chế kiểm tra, giám sát và có chế tài thưởng phạt nghiêm minh đối với các chủ thể tham gia sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước Cơ chế giám sát yếu ớt, lỏng lẻo sẽ tạo cơ hội cho thất thoát, lãng phí phát triển
Việc phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước có sự phận định
rõ quyền hạn và trách nhiệm quản lý và sử dụng vốn ngân sách Nhà nước của từng cấp Đối với ngân sách Nhà nước cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh phê duyệt dự toán, điều chỉnh, phân bổ, quyết toán ngân sách địa phương do các Ban quản lý đầu tư ở tỉnh lập và trình
Phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được dựa trên căn cứ tính chất, phạm vi hoạt động, lĩnh vực đầu tư, quy mô và nguồn vốn đầu tư chính quyền địa phương được quyền quyết định các dự án đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp địa phương và cấp giấy phép cho các dự án đầu tư nước ngoài phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng quản lý của địa phương UBND tỉnh có thể đề nghị Chính phủ điều chỉnh lại các nguồn thu và tăng
tỷ lệ để lại cho địa phương theo hướng để các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức phát triển trung bình của cả nước tự cân đối được chi thường xuyên theo định mức của Chính phủ
Phân cấp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp địa phương còn được dựa vào phân cấp quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Việc phân cấp đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện theo các loại dự án, công trình và theo quy mô vốn của dự án, công trình
2.1.3.2 Lập kế hoạch phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Hàng năm, vào thời điểm được quy định, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm sau Căn cứ chỉ thị này, Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước năm sau, đồng thời thông báo dự toán ngân sách Nhà nước đã được phê duyệt cho các địa phương Bộ Kế hoạch và Đầu
Trang 35tư ban hành thông tư hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư phát triển và phối hợp với Bộ Tài chính thông báo vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách Nhà nước đã được phê duyệt
Tại cấp tỉnh, UBND tỉnh hướng dẫn lập dự toán địa phương Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, xem xét dự toán ngân sách của các đơn vị thuộc tỉnh, dự toán thu do các cơ quan thuế, hải quan lập, dự toán thu chi của cấp huyện Trên cơ sở đó, hai sở tổ chức thực hiện lập dự toán thu chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Sau khi tổng hợp, Sở Tài chính báo cáo UBND tỉnh xem xét Sau đó báo cáo dự toán ngân sách địa phương sẽ được gửi đến Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan quản lý các chương trình, mục tiêu quốc gia
Quốc Hội quyết định dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương năm sau trước ngày 15 tháng 11 Sau khi dự toán ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội quyết định, Bộ Tài chính lập phương án tỷ lệ phần trăm phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách từng địa phương đối với các khoản thu cần phải phân chia theo quy định và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định Căn cứ vào tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách Trung ương với ngân sách địa phương do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định cho từng địa phương và nguồn thu phân chia giữa các cấp chính quyền địa phương, UBND tỉnh quyết định tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách cấp tỉnh với ngân sách cấp huyện Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan quyết định dự toán ngân sách địa phương, thực hiện phân bổ ngân sách địa phương trên cơ sở báo cáo của UBND tỉnh và báo cáo thẩm tra của Ban kinh tế - ngân sách của UBND tỉnh Trường hợp có thay đổi lớn về thu chi ngân sách của tỉnh, UBND tỉnh có quyền điều chính dự toán ngân sách sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn và đúng quy định của pháp luật UBND quyết định các chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách địa phương UBND tỉnh còn quyết định một số khoản thu về phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật Việc lập kế hoạch vốn đầu
tư từ ngân sách Nhà nước hoàn thành khi dự toán ngân sách tỉnh đã được UBND cấp tỉnh thông qua
Cùng với việc lập kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, UBND tỉnh còn xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách đối với vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước một cách đồng bộ, kịp thời và phù hợp với những điểm đặc thù
Trang 36của đầu tư ở từng địa phương, bao quát đầy đủ, toàn diện các giai đoạn của quy trình đầu tư Các chính sách này hướng tới việc thực hiện các mục tiêu cụ thể của từng dự án đầu tư, của cả chương trình đầu tư từ ngân sách Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo chiến lược phát triển từng ngành, lĩnh vực và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước
2.1.3.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Tổ chức thực hiện kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là quá trình
sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong kế hoạch trở thành hiện thực Tổ chức thực hiện kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là tuân thủ các chỉ tiêu dự kiến ban đầu, mà còn phải phân tích ứng với những biến đổi khách quan khi thực hiện và đảm bảo tính hiệu quả của vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Đây là giai đoạn trọng tâm của quá trình quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc tổ chức quản lý, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đầu tư trên địa bàn tỉnh Ban quản lý đầu tư ở các sở thực hiện giám sát việc sử dụng ngân sách dành cho đầu tư của UBND và các đơn vị sử dụng ngân sách Các sở, ban, ngành chịu trách nhiệm trước UBND về triển khai kế hoạch vốn đầu tư thuộc phạm vi mình quản lý
Thực hiện kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước gồm, phân bổ vốn đầu tư theo kế hoạch đã được phê duyệt, việc tổ chức thực hiện các chương trình,
dự án đầu tư, các nhiệm vụ chi đầu tư trong dự toán ngân sách, tổ chức việc cấp phát vốn và thanh, quyết toán vốn đầu tư cho các đơn vị thụ hưởng Mọi khoản cấp phát vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước đều được thực hiện qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
Trên cớ ở tổng mức vốn được phê duyệt, UBND tỉnh thực hiện phân bổ vốn đầu tư cho các công trình, dự án cụ thể, cho các huyện theo kế hoạch vốn đầu tư của tỉnh
Phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho các công trình, dự án được thực hiện theo nguyên tắc tuân thủ các quy định của Luật ngân sách Nhà nước Theo đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước chỉ bố trí cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Các công trình, dự án được bố trí vốn phải nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt, có đủ các thủ tục đầu tư theo quy định về quản lý vốn đầu tư Việc bố trí vốn tập trung, đảm bảo hiệu quả đầu
Trang 37tư, ưu tiên bố trí các dự án quan trọng quốc gia và các dự án lớn khác, các công trình dự án hoàn thành trong kỳ kế hoạch, vốn đối ứng cho các dự án ODA, không bố trí vốn cho các dự án khi chưa xác định được rõ nguồn vốn Việc phân bổ vốn đảm bảo dành đủ vốn để thanh toán các khoản nợ và ứng trước năm kế hoạch
Về thẩm quyền phân bổ vốn đầu tư, đối với vốn đầu tư thuộc địa phương quản lý, UBND cấp huyện lập phương án phân bổ đầu tư trình UBND tỉnh quyết định Riêng các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn để lại theo Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và dự án bổ sung có mục tiêu
từ Nhà nước Trung ương cho các địa phương còn phải tuân thủ theo các quy định
về đối tượng đầu tư và mục tiêu sử dụng của từng nguồn vốn đầu tư
Việc cấp phát vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được thực hiện trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về xây dựng công trình Điều đó có nghĩa là chỉ những dự án đầu tư thực hiện đầy đủ các trình tự của dự án đầu tư và xây dựng thì mới được cấp vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Việc cấp phát vốn đầu tư từ ngân sách Nhàn nước được thực hiện đúng mục đích Cấp phát vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho các dự án đảm bảo đúng kế hoạch đã được nhà nước xét duyệt Đây là một nguyên tắc quan trọng, đảm bảo đầu tư có kế hoạch và cân đối nền kinh tế trong cả nước, trong mỗi vùng
và trong mỗi ngành kinh tế
Phương thức cấp phát vốn đa dạng Vốn có thể được cấp một lần, trước khi dự án được tiến hành Vốn đầu tư có thể được cấp nhiều lần, theo tiến độ dự
án hoặc mức độ hoàn thành của dự án, hoặc tạm ứng trước
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được thực hiện theo đúng mức độ thực
tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự án được duyệt Điều này đảm bảo việc cấp phát đúng mục đích, đúng giá trị của công trình Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được cấp phát trực tiếp cho từng công trình, theo phương thức cấp phát không hoàn trả và cho vay có hoàn trả Quá trình chi vốn đó được thực hiện dưới sự kiểm tra của cơ quan quản lý cấp phát
Việc cấp phát vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được kiểm tra, đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả Kiểm tra trong toàn bộ chu kỳ đầu
tư, từ giai đoạn đầu đến khi công trình vào sử dụng Thực hiện nguyên tắc này nhằm thúc đẩy việc sử dụng vốn hợp lý, đúng mục đích
Trang 38Trong quá trình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, UBND cấp tỉnh quyết định các chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện tốt kế hoạch vốn đầu
tư của địa phương, kiểm tra việc thực hiện vốn đầu tư, đảm bảo ngân sách Nhà nước được thực hiện nghiêm theo các quy định của Nhà nước, giám sát việc thực hiện kế hoạch vốn đầu tư nhằm kiểm định chủ trương đầu tư của tính có đạt mục tiêu đề ra không và việc tổ chức thực hiện kế hoạch vốn đầu tư có đảm bảo cho việc chủ trương được thi hành có hiệu quả không Giám sát còn cho biết vốn đầu
tư từ ngân sách Nhà nước có được sử dụng hiệu quả và đúng mục đích không
2.1.3.4 Thực hiện quyết toán vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được quyết toán theo dự toán ngân sách nhà nước (quyết toán năm) và quyết toán theo công trình hoàn thành (thực hiện khi công trình hoàn thành được bàn giao đưa vào sử dụng)
Việc quyết toán theo năm, sau khi kết thúc năm ngân sách, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được kiểm tra để đánh giá lại những việc đã làm được, chưa làm được, xác định tính đúng đăn của số liệu báo cáo thực hiện vốn đầu tư Việc quyết toán được thực hiện trong thời gian của năm ngân sách tiếp theo Ở cấp quốc gia, Quốc hội xem xét, phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách Nhà nước trong đó có quyết toán chi đầu tư chậm nhất là 18 tháng Quốc hội phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách Nhà nước trên cơ sở bản trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban kinh tế ngân sách của Quốc hội Ở cấp tỉnh, vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước được UBND tỉnh phê duyệt trong quyết toán ngân sách địa phương Quy trình quyết toán ngân sách Nhà nước thuộc ngân sách địa phương quản lý được thực hiện từ dưới lên, trên cơ sở các báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán gửi cho cơ quan tài chính Ngân sách cấp dưới đã được quyết toán được gửi lên cấp trên và là một bộ phận cấu thành của ngân sách quyết toán cấp trên Cấp huyện lập quyết toán của mình gửi lên Sở Tài chính và UBND tỉnh
Sở Tài chính tổng hợp và lập quyết toán ngân sách cấp tỉnh, gửi UBND tỉnh xem xét và phê duyệt
Về quyết toán công trình, dự án hoàn thành, sau khi các công trình, dự án
sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng, chủ đầu tư thực hiện quyết toán theo quy định của Nhà nước Báo cáo quyết toán công trình, dự án đã hoành thành được lập cùng với hồ sơ hoàn công
và được thực hiện kiểm toán, thông qua hội đồng thẩm định Sau đó, những hồ sơ báo cáo này được trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, kiểm tra Việc quản lý vốn
Trang 39đầu tư từ ngân sách Nhà nước theo từng công trình, dự án được coi là kết thúc khi công trình, dự án được hoàn thành, hoàn tất các thủ tục quyết toán theo quy định và chấm dứt việc theo dõi tài khoản cấp phát vốn tại Kho bạc Nhà nước
2.1.3.5 Kiểm tra thực hiện kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Kiểm tra là một nội dung quan trọng của quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Mục tiêu của kiểm tra quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là nhằm đảm bảo cho các luật, pháp lệnh và các quy định về quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được thi hành một cách nghiêm minh và công bằng Kiểm tra quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn nhằm tăng cường vai trò giám sát, trách nhiệm của các chủ thể quản lý Nhà nước nhằm hạn chế, đẩy lùi các hành vi tham nhũng, thất thoát, lãng phí nguồn lực quốc gia Qua kiểm tra, cơ quan quản
lý có thể xác định được tính đúng đắn, hợp lý của các chính sách, cơ chế quản lý vốn đầu tư của các cơ quan quản lý, đồng thời có thể phát hiện những hạn chế, bấp cập trong chính sách và cơ chế quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước Mặt khác, kiểm tra giúp cho các cơ quan quản lý phát hiện các sai phạm, những
vi phạm của các chủ thầu, của các cơ quan tổ chức thực thi chính sách, cơ chế quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Hình thức kiểm tra có thể là kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, giám sát, thanh tra, kiểm toán Kiểm tra đối với việc thực hiện kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được thực hiện trên một số nội dung như sau:
- Hình thành bộ máy kiểm tra vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp huyện Bộ máy này có thể được thành lập riêng để kiểm tra một số
dự án đầu tư quan trọng sử dụng ngân sách Nhà nước hoặc có thể sử dụng bộ máy kiểm tra hiện có để kiểm tra Đó là các cơ quan thanh tra (Thanh tra Chính phủ, các cơ quan thanh tra chuyên ngành tại các bộ, ngành, địa phương như thanh tra xây dựng, thanh tra tài chính, thanh tra kế hoạch và đầu tư ), cơ quan kiểm tra chi ngân sách Nhà nước và thẩm định báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành, các cơ quan kiểm tra, kiểm soát, xét xử, cơ quan kinh tế nhà nước
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, địa vị pháp lý của từng cơ quan kiểm tra, kiểm soát để có cơ sở pháp lý khi thực thi nhiệm vụ;
- Tiến hành các hoạt động kiểm tra vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định
Trang 40Việc kiểm tra đối với vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước được thực hiện trong toàn bộ quá trình đầu tư phát triển, từng giai đoạn trong chu trình của đầu tư, kiểm tra, việc hình thành và hoạt động của cơ quan chủ đầu tư, Ban quản lý đầu tư, việc thanh toán và quyết toán vốn đầu tư, việc thực hiện các mục tiêu của từng dự án đầu tư, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước Mục đích của kiểm tra, kiểm soát là để phát hiện những mặt tích cực, chỉ ra được những khuyết điểm, sai phạm Cùng với kiểm tra là xử lý kết quả kiểm tra, nhằm phát huy được những yếu tố tích cực, đẩy lùi, hạn chế, ngăn chặn, răn đe một cách hữu hiệu tình trạng tham nhũng, lãng phí vốn đầu tư ở các đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ nhà nước trong quản lý vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
Yêu cầu của kiểm tra là trung thực, đầy đủ, chính xác, khách quan và kịp thời Vì vậy, cơ quan quản lý của chính quyền tỉnh tạo điều kiện thực hiện chức năng kiểm tra, nhằm đảm bảo các yêu cầu của kiểm tra, từ tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, quy định về địa vị pháp lý, quy định chức năng, nhiệm
vụ một cách chặt chẽ, về quy trình, đảm bảo tính độc lập trong hoạt động
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
2.1.4.1 Yếu tố khách quan
a Yếu tố thuộc về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước luôn phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung và sự phát triển của ngành, lĩnh vực nói riêng Do đó, nhiệm vụ quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước luôn phải bám sát phục vụ các mục tiêu này kể cả về quy mô và phạm vi đầu tư Chẳng hạn, để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, phân bổ chi ngân sách Nhà nước phải có sự ưu tiên cho vốn đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi và duy trì việc vận hành các công trình này để đảm bảo phục vụ tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp (Phô Thi San
Sa May, 2014)
b Yếu tố thuộc về chính sách tài chính quốc gia
Nội dung chủ yếu của chính sách tài chính quốc gia bao gồm chính sách huy động (vốn trong nước, vốn nước ngoài), chính sách thuế, chính sách sử dụng