Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một trong những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp và tiến tới xoá đói, giảm nghèo. Cơ cấu kinh tế bao gồm: Cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng kinh tế. Trong đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành được coi là nội dung cơ bản, quan trọng hàng đầu trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trang 1Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một trongnhững nội dung cơ bản của đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Việcđẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phát huytiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp vàtiến tới xoá đói, giảm nghèo Cơ cấu kinh tế bao gồm: Cơ cấu ngành, cơ cấuthành phần và cơ cấu vùng kinh tế Trong đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành được coi là nội dung cơ bản, quan trọng hàng đầu trong tiến trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá.
Khu vực miền núi Thanh Hoá có vị trí, vai trò rất quan trọng trong tiến
trình phát triển kinh tế của tỉnh Với dân số 854,3 nghìn người, diện tích gần
80.000 km2, miền núi Thanh Hoá là địa bàn chiến lược cả về kinh tế - xã hội vàquốc phòng - an ninh của cả nước nói chung, của tỉnh Thanh nói riêng
Những năm vừa qua, nhờ có các chính sách hỗ trợ phát triển, khu vựcmiền núi Thanh Hoá nhận được sự quan tâm thường xuyên của Tỉnh và Trungương Nhiều chính sách, chương trình đã được thực hiện nhằm đưa miền núiThanh Hoá phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào cácdân tộc miền núi Về cơ bản, kinh tế - xã hội trong khu vực có sự thay đổi tíchcực trên tất cả các lĩnh vực: Hệ thống chính trị ổn định và ngày càng được hoànthiện; kinh tế có bước phát triển khá; văn hoá, giáo dục, y tế đáp ứng được yêucầu phát triển; an ninh – quốc phòng được giữ vững
Tuy nhiên, so với các khu vực khác trong tỉnh, sự phát triển của khuvực miền núi Thanh Hoá vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của khuvực Cho đến nay cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế ngành nói riêng của khuvực còn chưa hợp lý Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế vẫn trong tình trạng thấp kém;
Trang 2sản xuất còn mang tính tự cung, tự cấp; chưa có quy hoạch trong khai thác tài nguyênthiên nhiên; tình trạng du canh du cư vẫn còn xảy ra; nghèo đói, thiếu nước, mù chữ,v.v vẫn tồn tại, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới
Vì vậy, để kinh tế các huyện khu vực miền núi Thanh Hoá phát triểnphải xây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp lý Trong đó, vấn đề có tính chấtquyết định là xây dựng được một cơ cấu kinh tế ngành phù hợp Xuất phát từ
lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực miền núi Thanh Hoá hiện nay” làm
đối tượng nghiên cứu của luận văn Thạc sỹ
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã có nhiều công trình được công
bố trên các góc độ tiếp cận khác nhau:
* Góc độ chung có các công trình
Đề tài, “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam - Thông tin
chung” của PGS.TS Bùi Tất Thắng, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm
2009 Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành, những tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, đềtài đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời
kỳ thực hiện chính sách đổi mới kinh tế Trong đó, bao gồm cả quá trìnhchuyển dịch cơ cấu giữa các ngành và trong nội bộ các ngành Phân tích, kháiquát tác động của những nhân tố mới cả trên thế giới và trong nước đối với xuhướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới
Bài báo,“Bàn về cải tiến cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam” của PGS.TS
Ngô Doãn Vịnh - Viện Chiến lược phát triển, tạp chí Kinh tế và Dự báo sốtháng 1 – 2010 Bài báo đưa ra quan niệm về cải tiến cơ cấu kinh tế, theo đó cảitiến cơ cấu kinh tế là một quá trình nhằm phát huy được lợi thế so sánh của đấtnước, tạo ra khả năng cạnh tranh cao, đem lại hiệu quả lớn và đảm bảo yêu cầu
Trang 3bền vững cho toàn bộ quá trình phát triển Chủ thể chủ yếu và trực tiếp của việccải tiến cơ cấu kinh tế là nhà nước và doanh nghiệp Muốn cải tiến thành côngthì nhà nước và doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị chu đáo Tác giả cũng chỉ rõtình trạng cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong hệ thống kinh tế thế giới Đồngthời, khái quát những lợi thế so sánh chủ yếu và khả năng cải tiến cơ cấu kinh tếcủa Việt Nam
Bài báo “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - thực trạng và những vấn đề đặt ra” của TS Trần Anh Phương, Tạp chí Cộng sản, số 1(169), năm 2009.
Bài báo khẳng định chuyển dịch cơ cấu kinh tế là con đường nhanh chóngđưa nước ta ra khỏi tình trạng lạc hậu, kém phát triển Khái quát nội dungchuyển dịch cơ cấu kinh tế, khái quát lại toàn bộ kết quả chuyển dịch cơ cấukinh tế sau hơn 20 năm đổi mới Đồng thời, tác giả chỉ rõ những mâu thuẫntrong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kiến nghị năm giải pháp đẩymạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước trong thời kỳ mới
Bài báo,“Cơ cấu ngành kinh tế: mục tiêu, tiến độ và cảnh báo”, của
tác giả Đào Ngọc Lâm, Tạp chí Cộng sản, số 16 năm 2005 Trong bài báo, tácgiả đã tập trung nghiên cứu về cơ cấu kinh tế ngành, quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế ngành thời kỳ đổi mới Khái quát tính tất yếu, quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế ngành Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những mục tiêu đặt
ra trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và chỉ tiêu cụ thể đối với các ngànhkinh tế Đồng thời, làm nổi bật mối quan hệ tương hỗ giữa những mục tiêu đặt
ra, tiến độ của việc hoàn thành các mục tiêu về chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế Phân tích khả năng đạt được mục tiêu trong thực tiễn Chỉ ra nhữngvấn đề cảnh báo đối với các ngành trong quá trình chuyển dịch chung, chỉ rõnhững yêu cầu đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhằm đạtđược mục tiêu
Trang 4* Dưới góc độ kinh nghiệm của các địa phương có các công trình Bài báo, “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của tác giả Phan Ngọc Mai Hương, tạp
chí Kinh tế và Dự báo số 5, năm 2006 Bài báo đã tập trung trình bày về thựctrạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, phân tích những ưu, khuyết điểm củaquá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sởphân tích thực trạng, tác giả đưa ra bốn quan điểm có tính chất định hướngquá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên Các địnhhướng đề cập đến cơ sở và những yêu cầu thực hiện nhằm đảm bảo quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đúng hướng, đạt được những mục tiêu đãđịnh Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm hướng tới việc thực hiện thắnglợi mục tiêu đặt ra đến 2020
Bài báo,“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Gia
Lai” của tác giả Hải Thu, tạp chí Ngoại thương, số 34 năm 2004 Bài báo chỉ
rõ, Gia Lai là một tỉnh miền núi, có điều kiện tự nhiên, khí hậu rất thuận lợicho việc phát triển nông, lâm nghiệp Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỷ trọng chủyếu trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Trên cơ sở khái quát thành tựu, hạn chếtrong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Tác giảkhẳng định vai trò của ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn Gia Laitrong việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Qua đó đã làmthay đổi tập quán canh tác lạc hậu của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộcthiểu số; chuyển từ sản xuất lúa rẫy theo phương thức phát đốt, chọc tỉa, sửdụng các giống truyền thống năng suất thấp sang phương thức đầu tư thâmcanh các giống cây nông nghiệp, công nghiệp, cây ăn quả có năng suất, giá trịkinh tế cao Một số vùng sản xuất tập trung, chuyên canh quy mô lớn đã hìnhthành và phát triển Số lượng đàn gia súc, gia cầm cũng ngày một tăng Trên
Trang 5cơ sở đó, tác giả chỉ rõ những định hướng nhằm tiếp tục đẩy mạnh chuyểndịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn mới: Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ khuyến nông; tăng cường ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, sửdụng giống mới công nghệ cao, các giống lai tạo chất lượng tốt; tập trung huyđộng mọi nguồn vốn để đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nôngnghiệp; thực hiện các chương trình, dự án chuyển đổi cơ cấu giống cây trồngvật nuôi, các dự án phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến vàtiêu thụ sản phẩm
* Đối với khu vực miền núi Thanh Hoá có các công trình
Đề tài, “Nghiên cứu, đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
-xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Thanh Hoá thời kỳ
2001 – 2004” - Đề tài khoa học của Cục thống kê Thanh Hoá năm 2005 Trên
cơ sở số liệu thể hiện mức độ hoàn thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội, đề tài tậptrung nghiên cứu làm rõ tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội trên địabàn tỉnh Thanh Hoá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2001
- 2004 Trong đó, tập trung vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành,bao gồm cả sự chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành và chuyển dịch trong nội
bộ ngành Đề tài tập trung phân tích rõ những ưu điểm, hạn chế của quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Trên cơ sở đó chỉ ra những nguyên nhân
và kiến nghị giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
-xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đề tài, "Nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội 11 huyện miền núi Thanh Hoá"- Cục Thống kê Thanh Hoá năm 2010 Đề tài đã tập trung làm rõ
thực trạng kinh tế - xã hội khu vực miền núi Thanh Hoá, chỉ rõ những mặt
đã làm được và những yếu kém, tồn tại Đồng thời, phân tích, luận giảinguyên nhân của những thành công và hạn chế trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của khu vực Kiến nghị các giải pháp làm cơ sở cho Uỷ ban
Trang 6nhân dân tỉnh hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùngmiền núi Thanh Hoá đến năm 2030.
Bài báo, “Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ”
của tác giả Mai Văn Ninh, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 7 năm 2005 Bài báokhái quát quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong các nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội Khẳng định tính tất yếu của quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa nhằm phát huy lợi thế, tạo bước phát triểnmạnh mẽ về kinh tế - xã hội trong thời gian tới Đồng thời, chỉ rõ một trongnhững nhân tố đảm bảo quá trình chuyển dịch diễn ra đúng hướng là phải giữvững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Bài báo khái quát những thànhtựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộtỉnh Thanh Hóa Từ đó, chỉ ra những phương hướng nhằm giữ vững và tăngcường sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bài báo, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở Thanh
Hó a” của tác giả Lê Khả Đấu, tạp chí Khoa học Công nghệ Thanh Hóa, Số 3
năm 2004 Bài báo trình bày khái quát kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế củatỉnh Thanh Hoá từ năm 1996 đến năm 2003 Phân tích những thành côngcũng như hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Luận giải rõ nguyên nhân của những thành công vàhạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trên cơ sở đó, tác giả đãđưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa tỉnh Thanh Hoá
Các công trình nghiên cứu nói trên đều đã đề cập đến quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo nhiều góc độ, phạm vi khác nhau Tuy
nhiên, vấn đề: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực miền núi Thanh Hoá hiện nay” vẫn chưa có đề tài nào
nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện dưới góc độ kinh tế chính trị
Trang 73 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
Nhằm luận giải cơ sở khoa học của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá Trên cơ sở đó đề xuất những quanđiểm, giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành khu vực miền núi Thanh Hoá trong thời gian tới
* Nhiệm vụ:
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miềnnúi Thanh Hoá những năm qua Chỉ rõ những nguyên nhân hạn chế và nhữngmâu thuẫn đặt ra trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vựcmiền núi Thanh Hoá dưới góc độ kinh tế chính trị học
Trang 8* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu, bao gồm:
Hệ thống phương pháp nghiên cứu nền tảng là phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị cùng các phươngpháp phân tích, thống kê, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá…
Phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của công trình góp phần luận giải tính khoa họccủa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
và có thể tham khảo đối với các địa phương khác Đồng thời, cũng có thể được
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy kinh tế chính trịliên quan đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
7 Kết cấu của luận văn
Gồm có: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH KHU VỰC MIỀN NÚI THANH HÓA
1.1 Một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
1.1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
* Cơ cấu kinh tế
Theo tiến trình phát triển của lịch sử, khi lực lượng sản xuất phát triểnđến một mức độ nhất định sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển.Theo đó, nền sản xuất xã hội được phân chia thành các ngành, các lĩnh vựctheo tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật Đồng thời, trên cơ sở thế mạnhcủa từng khu vực sẽ hình thành các vùng kinh tế khác nhau Khi các ngành,các lĩnh vực của nền kinh tế được hình thành tất yếu đòi hỏi phải giải quyếtmối quan hệ giữa chúng với nhau Sự phân công lao động xã hội và mối quan
hệ tương tác giữa các ngành, các lĩnh vực là cơ sở hình thành cơ cấu kinh tế
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán kinh tế chính trị học”, khi phân tíchquá trình phân công lao động xã hội C.Mác viết “Cơ cấu kinh tế xã hội là toàn bộnhững quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượngsản xuất vật chất” [35] C.Mác cũng nhấn mạnh, cơ cấu là một sự phân chia vềchất và một tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội Vì vậy, khiphân tích cơ cấu kinh tế phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng
Đối với nước ta, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về cơ cấukinh tế trên cơ sở phương pháp tiếp cận khác nhau:
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Cơ cấu kinh tế là tổng thể cácngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợpthành Như vậy, nói đến cơ cấu kinh tế là nói đến sự phân chia các ngành, cáclĩnh vực, các bộ phận và mối liên hệ giữa chúng trong nền kinh tế
Theo triết học duy vật biện chứng, cơ cấu (hay kết cấu) là một kháiniệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu thị sự
Trang 10thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó.
Cơ cấu, chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và tổng thể, biểu hiện ranhư là một thuộc tính của sự vật hiện tượng, biến đổi cùng với sự biến đổi của
sự vật hiện tượng Như vậy, có thể thấy có nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức
cơ cấu của khách thể và các hệ thống
Theo quan điểm lý thuyết hệ thống thì cho rằng: Cơ cấu kinh tế là mộttổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại với nhau trong những không gian và thời gian, những điều kiệnkinh tế - xã hội nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính lẫn định lượng, cả
về số lượng và chất lượng, phù hợp với mục tiêu được xác định của nền kinh tế
Như vậy, mặc dù tiếp cận trên các góc độ khác nhau, song nhìn chungcác khái niệm cơ cấu kinh tế đều được biểu hiện như là sự tập hợp những mốiliên hệ, liên kết hữu cơ giữa các bộ phận, các lĩnh vực, các ngành kinh tế.Theo đó, cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế củanền kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những mốiquan hệ tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những khônggian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những
mục tiêu nhất định
Kế thừa các quan điểm trên, có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định giữa chúng hợp thành
Cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ của nền kinh tế, cả những yếu tố vậtchất - kỹ thuật cả những yếu tố kinh tế - xã hội Như vậy, khi phân tích cơ cấukinh tế cần tiếp cận trên cả phương diện vật chất - kỹ thuật và kinh tế - xã hội
* Thứ nhất, xét cơ cấu kinh tế về mặt vật chất - kỹ thuật bao gồm:
Cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực kinh tế: Trên khía cạnh này, cơ cấu kinh
tế phản ánh số lượng, vị trí, tỷ trọng các ngành nghề, lĩnh vực bộ phận cấu
Trang 11thành nền kinh tế Cơ cấu vật chất - kỹ thuật phản ánh trình độ lực lượng sảnxuất hiện có Trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phâncông lao động xã hội sẽ hình thành cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực tương ứng.
Cơ cấu theo quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ của các loại hình tổchức sản xuất: Trên khía cạnh này, cơ cấu kinh tế phản ánh chất lượng củacác ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ: Trên khía cạnh này cơ cấu kinh tếphản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế - xã hội củacác vùng, phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất
* Thứ hai, về mặt kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế bao gồm:
Cơ cấu thành phần kinh tế: Phản ánh khả năng khai thác năng lực tổchức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội Biểu hiện mối quan hệgiữa các bộ phận, thành phần kinh tế dựa trên chế độ, hình thức sở hữu khácnhau Mặt kinh tế - xã hội của cơ cấu kinh tế thể hiện trình độ phát triển xãhội, mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình phát triển;trình độ hoàn thiện quan hệ sản xuất của nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá và tiền tệ:Phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa cácngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất.Khi quan hệ hàng hoá và tiền tệ phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của cácngành sản xuất và dịch vụ, tạo ra sự thay đổi của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế vừa mang tính khách quan vừa mang tính lịch sử - xã hội: Tính lịch sử, khi nền kinh tế có sự phân công lao động xã hội, có cácngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tếvới tỷ lệ cân đối tương ứng giữa các bộ phận Tỷ lệ đó thay đổi thường xuyên
và tự giác theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và diễn biến khách quancủa nhu cầu xã hội cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu đó
Trang 12Tính khách quan, cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của xã hội
và các điều kiện phát triển của một quốc gia Sự hình thành và thay đổi cơ cấukinh tế do sự tác động từ chính nội tại sự phát triển và các quy luật kinh tếkhách quan Sự tác động từ chiến lược phát triển kinh tế, hay sự quản lý củaNhà nước chỉ có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự chuyển đổi cơ cấu kinh
tế trong một thời gian nhất định chứ không thể thay đổi hoàn toàn nó
Mặt khác, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay đổikhông ngừng của lực lượng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị
- xã hội của từng thời kỳ Cơ cấu kinh tế được hình thành khi quan hệ giữacác ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được thiết lập một cách cân đối và sựphân công lao động diễn ra một cách hợp lý
Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất là xu hướng phổ biến
ở mọi quốc gia Tuy nhiên, mối quan hệ giữa con người với con người, conngười với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn lịch
sử, mỗi quốc gia lại có sự khác nhau Sự khác nhau đó bị chi phối bởi quan hệsản xuất đặc trưng, văn hoá - xã hội và các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc.Các nước có hình thái kinh tế - xã hội giống nhau nhưng vẫn có sự khác nhautrong việc hình thành cơ cấu kinh tế, bởi vì điều kiện kinh tế - xã hội, chiếnlược phát triển của mỗi nước có sự khác nhau
Sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu
tố Trong đó, việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý luôn là vấn đề có ý nghĩa thenchốt Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách hợp lý khi chủ thể quản lý Nhànước có khả năng nắm bắt các quy luật khách quan, đánh giá đúng nguồn lựctrong nước và nước ngoài để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình hìnhthành cơ cấu kinh tế Theo hướng đó, cơ cấu kinh tế hợp lý phải thoả mãn đượccác tiêu chí sau:
Thứ nhất, cơ cấu kinh tế phải phù hợp với các quy luật khách quan
Đây là tiêu chí quan trọng nhất biểu hiện tính hợp lý của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt, cô đọng nội dung chiến lược phát triển
Trang 13kinh tế - xã hội của từng giai đoạn phát triển nhất định Tuy nhiên, không vìthế mà áp đặt chủ quan, tự đặt cho các ngành những tỷ lệ và vị trí trái ngượcvới yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội
Một cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật kinh tế khách quan là cơ cấu đượchình thành dựa trên cơ sở những tiền đề hiện thực Theo hướng đó, việc xácđịnh các ngành, lĩnh vực, bộ phận cùng với vị trí, tỷ trọng và mối quan hệtương tác giữa chúng phải tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan Nói cáchkhác, cơ cấu kinh tế phải được hình thành trên cơ sở trình độ phát triển củalực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Bất cứ hành vi nào mangtính áp đặt và không tuân thủ quy luật kinh tế khách quan sẽ làm cho cơ cấukinh tế đó không phát huy được hiệu quả Đề cập đến vấn đề này, trong tác phẩm
“Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”, Lê Nin chỉ rõ: “Vìnước ta (Nước Nga) là một nước tiểu tư sản và rất lạc hậu, cho nên có một sốđặc điểm khác với các nước tiên tiến” [32] Trên cơ sở đó, Lê Nin chỉ rõ nướcNga có các thành phần kinh tế: 1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là mộtphần lớn có tính chất tự nhiên; 2) sản xuất hàng hoá nhỏ (Trong đó bao gồm đại
đa số nông dân bán lúa mì); 3) Chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4) Chủ nghĩa tư bảnnhà nước; 5) chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh tại, mà nóbiến đổi cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.Điều đó có nghĩa, khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất địnhthì cơ cấu kinh tế cũng thay đổi theo Cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý là một
cơ cấu có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng
Thứ hai, cơ cấu kinh tế phản ánh được khả năng khai thác sử dụng
nguồn lực kinh tế trong nước và đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế vàkhu vực, nhằm tạo ra sự cân đối, phát triển bền vững
Cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý khi cho phép phát huy hết mọi tiềmnăng, thế mạnh của nền kinh tế Đảm bảo phát huy lợi thế sẵn có và tạo ra
Trang 14những lợi thế mới trong quá trình hội nhập Trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh
và những ưu thế riêng tạo bước phát triển tại những ngành có ưu thế, thôngqua đó dẫn dắt nền kinh tế phát triển Những nguồn lực của nền kinh tế chỉ cóthể được phát huy một cách đầy đủ thông qua một cơ cấu kinh tế hợp lý, giảiphóng hết mọi năng lực sản xuất của xã hội
Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, cơ cấukinh tế phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp với xu thế tiến bộ của khoahọc - công nghệ, ứng dụng nhanh và có hiệu quả những thành tựu của khoahọc công nghệ trên thế giới Nếu không có sự tiếp cận và ứng dụng khoa họccông nghệ trong quá trình xây dựng cơ cấu kinh tế sẽ khiến cho cơ cấu kinh tếlạc hậu, không tận dụng được những thành tựu của văn minh nhân loại vàoquá trình phát triển kinh tế Đồng thời, cơ cấu kinh tế hiện đại cho phép nềnkinh tế cùng với những sản phẩm kinh tế tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu,khẳng định những giá trị riêng
Thứ ba, cơ cấu kinh tế phải phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của
khu vực và thế giới
Hiện nay, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn mọinền kinh tế trên thế giới Vì vậy, việc xây dựng cơ cấu kinh tế luôn chịu sựtác động của quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Điều đó đòi hỏiviệc xây dựng cơ cấu kinh tế phải nằm trong xu thế chung của khu vực vàthế giới Đảm bảo sự phát triển đồng điệu trong nhịp điệu phát triển chung.Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế làm cho các nền kinh tế có xuhướng vừa hợp tác vừa đấu tranh để phát triển Theo hướng đó, cơ cấu kinh
tế chỉ hợp lý khi nó được đặt trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới,phát triển theo xu hướng chung của nền kinh tế thế giới Sự dịch chuyển về
cơ cấu thị trường quốc tế sẽ có ảnh hưởng nhanh chóng đến hoạt động sảnxuất kinh doanh, cơ cấu kinh tế của các quốc gia
Trang 15* Cơ cấu kinh tế ngành
Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới các góc độ khác nhau như: cơ cấukinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu kinh tế thành phần Trong đó, cơcấu kinh tế ngành giữ vai trò quan trọng nhất Cơ cấu kinh tế ngành, lĩnh vựckinh tế là cơ cấu phản ánh số lượng, vị trí, tỷ trọng các ngành nghề, lĩnh vực bộ phậncấu thành nền kinh tế Cơ cấu kinh tế ngành phản ánh mặt vật chất, kỹ thuật của cơcấu kinh tế Trong nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế ngành giữ vai trò quan trọngnhất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh
tế ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển bởi vì, sự thay đổi của
cơ cấu kinh tế biểu hiện sự thay đổi của lực lượng sản xuất Đối với các nướcđang phát triển, lực lượng sản xuất biến đổi mạnh mẽ, phân công lao động xãhội ngày càng sâu sắc kéo theo sự thay đổi về cơ cấu kinh tế là điều đươngnhiên Mặt khác, quá trình phát triển cũng chứng kiến sự hình thành và pháttriển những ngành nghề mới trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của mỗi nềnkinh tế Từ đó, có thể hiểu:
Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ
lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế ngành phản ảnh phần nào trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Nói đến cơ cấu kinh tế ngành trước hết là nói đến tổng thể các nhómngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia Tuỳ theo trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội mà nềnkinh tế được chia thành các nhóm ngành khác nhau Về cơ bản, nền kinh tếbao gồm các nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Trong đó,nhóm ngành nông nghiệp bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp; nhómngành công nghiệp bao gồm các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, côngnghiệp chế biến, công nghiệp khai thác; nhóm ngành dịch vụ và du lịch bao gồmthương mại, du lịch, dịch vụ…
Trang 16Bên cạnh các ngành, cơ cấu kinh tế ngành còn biểu hiện số lượng và tỷ trọngcủa các nhóm ngành Theo đó, cơ cấu kinh tế ngành chỉ rõ số lượng các ngành, mốitương quan giữa các ngành, vị trí, vai trò của các ngành trong nền kinh tế.
Như vậy, khi nền kinh tế hình thành nên các nhóm ngành, các mối quan
hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành cũng được hình thành, các mốiquan hệ tương tác này hướng vào các mục tiêu đã xác định Cơ cấu kinh tếnói chung, cơ cấu kinh tế ngành nói riêng là một phạm trù trừu tượng, liên tụcbiến đổi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, muốn nắm vững bản chấtcủa cơ cấu kinh tế ngành và thực thi các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể củanền kinh tế quốc dân
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Quá trình sản xuất vật chất luôn chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ
của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển, phân công laođộng xã hội ngày càng sâu sắc, tính chuyên môn hoá trong lao động ngàycàng cao, sẽ làm xuất hiện hoặc biến mất một số ngành kinh tế Nói cáchkhác, sự phát triển của phân công lao động xã hội và lực lượng sản xuất tấtyếu dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành nghề Như vậy, cơ cấu kinh tế ngànhluôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấukinh tế luôn vận động, phát triển Sự thay đổi đó bao gồm cả về số lượng
và về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành Từ đó, có thể hiểu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự thay đổi về số lượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữa các ngành trong nền kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không chỉ là thay đổi về số lượng, vịtrí, tỷ trọng và mối quan hệ giữa các ngành mà còn là sự thay đổi về lượng vàchất trong nội bộ các ngành Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là cải tạo cơ
Trang 17cấu cũ, lạc hậu, chưa phù hợp thành cơ cấu mới hoàn thiện và phù hợp hơn.Như vậy, thực chất chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự điều chỉnh mốiquan hệ, tỷ trọng giữa các ngành cho phù hợp với các mục tiêu kinh tế - xãhội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện rõ nét thông qua hai quá trình:Chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành: là sự thay đổi về vị trí, tỷ trọng giữacác ngành trong nền kinh tế cả về cơ cấu giá trị, cơ cấu vốn, cơ cấu lao động Theo
đó, khi vị trí, tỷ trọng của nhóm ngành này tăng lên sẽ đồng nghĩa với việc vị trí
và tỷ trọng nhóm ngành khác giảm xuống tương ứng trong tổng giá trị sản phẩm
xã hội Quá trình chuyển dịch giữa các ngành được xác định thông qua các chỉ số
về tổng giá trị sản phẩm xã hội làm ra Đây cũng là tiêu chí đánh giá quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành một cách chính xác
Song song với quá trình chuyển dịch giữa các ngành luôn có sựchuyển dịch trong nội bộ ngành Theo đó, cùng với sự thay đổi vị trí, vaitrò và tỷ trọng của từng ngành trong tổng giá trị xã hội thì ngay trongmột ngành cũng có sự thay đổi về mặt cơ cấu giữa các phân ngành.Chuyển dịch trong nội bộ ngành là sự chuyển dịch vị trí, vai trò và tỷtrọng của các phân ngành trong nội bộ ngành đó Đối với ngành nôngnghiệp là sự dịch chuyển giữa các ngành nông, lâm, ngư; đối với côngnghiệp là công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến,công nghiệp khai thác; đối với dịch vụ và du lịch là thương mại, du lịch
và dịch vụ Sự dịch chuyển trong nội bộ ngành thể hiện rõ nét quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế ngành thể hiện rõ nét bức tranh toàn cảnh của nền kinh
tế, quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế ngành luôn chịu sự tác động củanhững nhân tố ảnh hưởng đến nền kinh tế, bao gồm cả nhân tố bên ngoài vànhân tố bên trong; cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan
Trang 18Nhân tố bên ngoài
Trước hết, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phụ thuộc và chịu ảnh
hưởng lớn từ xu thế chính trị - xã hội trong khu vực và thế giới
Xét đến cùng chính trị là biểu hiện tập trung của nền kinh tế Sự biến động
về chính trị - xã hội của một nước hay một số nước, nhất là nước lớn, sẽ tác độngmạnh mẽ đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao côngnghệ, tiếp thu khoa học kỹ thuật… của các nước khác trên thế giới và khu vực Do
đó, khi thị trường và nguồn lực từ nước ngoài thay đổi, buộc các quốc gia phảiđiều chỉnh chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành cho phù hợp
Hai là, xu thế toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá lực lượng sản xuất
Xu thế này tạo ra sự phát triển đan xen vào nhau, khai thác thế mạnhcủa nhau, hợp tác với nhau một cách toàn diện cả trong sản xuất và trao đổihàng hoá, dịch vụ Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế cho phép hình thành mạnglưới sản xuất quốc tế, đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới và sự phát triểnmạnh mẽ của các công ty đa quốc gia, đã thúc đẩy quá trình phân công laođộng xã hội vượt xa hơn biên giới của một vùng lãnh thổ Ngày nay, một sảnphẩm hàng hoá không chỉ là sản phẩm của một quốc gia, mà có thể có sựtham gia của nhiều công ty, xí nghiệp thuộc nhiều nước trong khu vực và thếgiới cùng sản xuất Đối với các quốc gia hướng về xuất khẩu thì yếu tố này trởthành nhân tố không thể thiếu trong quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành Xu thế này tạo ra sự đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh củanhau, thúc đẩy hợp tác với nhau một cách toàn diện cả trong sản xuất, trao đổihàng hoá, dịch vụ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ Tính phụ thuộclẫn nhau giữa các nền kinh tế tăng lên, các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữacác nước và các khu vực ngày càng trở lên sâu rộng và mật thiết hơn
Ba là, các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ
Thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ thông tin là nhữngyếu tố bên ngoài tác động và ảnh hưởng lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 19ngành Các yếu tố này tạo điều kiện cho các nhà sản xuất kinh doanh nắm bắtthông tin, hiểu thị trường và hiểu đối tác mình muốn hợp tác Từ đó, giúp họđịnh hướng sản xuất kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh phù hợpvới xu thế hợp tác đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, cùng nhauphân chia lợi nhuận Khoa học kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến được coi
là nhân tố quyết định đối với quá trình sản xuất, làm tăng mạnh giá trị kinh tế cácngành, lĩnh vực, tạo ra những bước đột phá lớn thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế
Các nhân tố bên ngoài có vai trò rất quan trọng và là nhân tố tác độngđến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Song nhân tố bêntrong mới là những yếu tố quyết định
Nhân tố bên trong
Một là, nhân tố thị trường và tiêu dùng của xã hội
Thị trường và nhu cầu xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngànhkinh tế Nếu như xã hội không có nhu cầu thì không thể có bất kỳ một quátrình sản xuất nào diễn ra cả Cũng như vậy không có thị trường thì không cókinh tế hàng hoá
Thị trường và nhu cầu xã hội không chỉ quy định về số lượng mà cả
về chất lượng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ Vì vậy, nó có tác độngtrực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế; đến xuhướng phát triển và phân công lao động xã hội; đến vị trí và tỷ trọng giữacác ngành trong nền kinh tế quốc dân
Hai là, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng
sử dụng tư liệu lao động để tác động vào điều kiện tự nhiên, tạo ra sản phẩmhàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội Lực lượng sản xuất là yếu tốđộng nhất, là động lực phát triển của xã hội Nhu cầu của xã hội là vô tận và
Trang 20ngày càng đòi hỏi khắt khe Muốn đáp ứng đầy đủ những nhu cầu xã hội đòihỏi trước hết là phải phát triển lực lượng sản xuất Sự phát triển không ngừngcủa lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ,thiết bị, hình thành các ngành nghề mới, biến đổi lao động giản đơn thành laođộng phức tạp, tạo ra sự phát triển của ngành này hoặc ngành khác Sự phát triển
đó phá vỡ cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế ngành mới với vị trí, tỷtrọng của các ngành phù hợp hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội Quá trìnhphát triển đó diễn ra một cách khách quan và từng bước tạo ra một sự cân đốihợp lý hơn, có khả năng khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài Nhưvậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành
cơ cấu kinh tế ngành Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng khiến cho cơcấu kinh tế ngành cũng luôn luôn thay đổi
Mặt khác, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, điều kiện tựnhiên ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.Những yếu tố tự nhiên tạo điều kiện cho phép phát triển một ngành sảnxuất nào đó một cách thuận lợi hoặc khó khăn Lợi thế tự nhiên tác độngđến tăng trưởng kinh tế không những theo chiều rộng mà còn đảm bảo chotăng trưởng theo chiều sâu nếu có chính sách khai thác, sử dụng hiệu quả.Lợi thế tự nhiên tạo ra những lợi thế cho nền kinh tế, là cơ sở hình thành vàphát triển các ngành kinh tế khác nhau Tuy nhiên, những yếu tố, điều kiện
tự nhiên chỉ là nền tảng để có thể phát triển kinh tế, tích luỹ đầy đủ các yếu
tố để phát triển theo chiều sâu
Ba là, quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế quản lý
Cơ chế quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nói riêng Nếu
cơ chế chính sách khoa học, phù hợp với quy luật khách quan và tình hìnhthực tiễn thì sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho quá trình
Trang 21chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh và hiệu quả Ngược lại, nếu cơ chếchính sách thiếu căn cứ khoa học, không xuất phát từ quy luật khách quan sẽkìm hãm, làm chậm lại quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trên thực tế, thể chế chính trị - xã hội – kinh tế tác động đến quátrình phát triển trên khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường
xã hội Vì vậy, mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan và tính lịch
sử xã hội, nhưng nó lại chịu sự tác động, chi phối của Nhà nước Nhànước tác động gián tiếp thông qua định hướng chiến lược, đặt ra các mụctiêu phát triển kinh tế – xã hội và khuyến khích mọi ngành kinh tế pháttriển nhằm đạt các mục tiêu đề ra
Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, không quy định
cụ thể về cơ cấu kinh tế song thông qua hệ thống pháp luật, các quy định, thểchế, chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, Nhà nước có
sự điều tiết vĩ mô, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực kinh tế phát triển theo địnhhướng chung, đảm bảo tính cân đối và đồng bộ của nền kinh tế
Bốn là, đặc điểm văn hoá – xã hội
Nhân tố văn hoá – xã hội bao trùm nhiều mặt từ các tri thức phổ thôngđến các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, vănhọc, lối sống và các ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong tục tậpquán,…Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự pháttriển cao Những đặc điểm văn hoá - xã hội có thể có tác động tích cực hoặctiêu cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Năm là, dân số
Dân số được xem là nguồn lực quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Sự tác động của nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơcấu kinh tế ngành được xem xét trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học
kỹ thuật mới… Trình độ dân trí và kết cấu dân cư ảnh hưởng lớn đến chất
Trang 22lượng nguồn nhân lực Các ngành nghề chỉ có thể phát triển mạnh mẽ và bềnvững trên cơ sở nguồn nhân lực của nền kinh tế dồi dào Không thể phát triểnkhoa học kỹ thuật trên cơ sở dân trí thấp, khả năng tiếp thu hạn chế
Thứ hai, quy mô dân số, kết cấu dân cư và thu nhập dân cư có ảnh hưởng đến
quy mô và tính chất của thị trường Dân số đông là tiền đề cho một thị trường rộnglớn, thu nhập dân cư ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành các ngành sản xuất vàcác loại thị trường Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ
* Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Hiện nay trên thế giới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đang diễn
ra theo hai xu hướng, đó là:
Chuyển dịch từ khu vực sản xuất vật chất sang khu vực dịch vụ Xuhướng này thường diễn ra ở các nước có nền kinh tế phát triển cao, dưới ảnhhưởng của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại
Chuyển dịch trong nội bộ khu vực sản xuất vật chất, chủ yếu là chuyểndịch cơ cấu từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp Xu hướng nàychủ yếu ở các nước đang phát triển, gắn liền với quá trình công nghiệp hoá
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
* Quan niệm chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước nói chung và của tỉnh Thanh Hoá nói riêng đang đặt khu vựcmiền núi Thanh Hoá trước những cơ hội và thách thức mới Sự xuất hiện cácngành nghề mới trong quá trình giao lưu và hội nhập, sự thay đổi về tỷ trọnggiữa các ngành đang trở thành xu hướng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá Trên cơ sở quan niệm chung
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đã trình bày trên, vận dụng vào thực tiễncác huyện miền núi Thanh Hoá có thể hiểu:
Trang 23Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá là hoạt động chủ động của các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế nhằm thay đổi
số lượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác của các ngành kinh tế khu vực miền núi Thanh Hoá cho phù hợp với xu thế chung của sự phát triển
* Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở miền núi Thanh Hoá Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là một nội dung cốt lõi của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và Thanh Hoá nói riêng
Thực chất quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình thay đổi
từ lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động vớimáy móc, công cụ hiện đại Theo hướng đó, tỷ trọng lao động trong khốingành công nghiệp và dịch vụ tăng lên, lao động nông nghiệp giảm xuống.Quá trình đó đồng nghĩa với quá trình thay đổi về cơ cấu kinh tế ngành.Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là vấn đề có tầm quan trọngđặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất trongkhu vực Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không đơn thuần là
hệ quả thụ động của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và phân cônglao động xã hội Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành một cách hợp lý còn
là nhân tố mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất,thúc đẩy phân công lao động ngày càng sâu sắc
Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là chuyển từ cơ cấu kinh tế
cũ, lạc hậu sẽ được sang cơ cấu kinh tế mới, hợp lý và hiện đại hơn, tạo động lựcmạnh mẽ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi Thanh Hoá.Nói cách khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhằm tạo ra đầy đủ nhữngđiều kiện tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo đà cho sựphát triển lực lượng sản xuất trong khu vực Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển kinh tế - xã hội khuvực miền núi Thanh Hoá
Trang 24Hai là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhằm khai thác tiềm năng thế
mạnh của khu vực miền núi Thanh Hoá, phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơcấu kinh tế của Tỉnh và đất nước
Cơ cấu kinh tế ngành được hình thành trên cơ sở sự phát triển của lựclượng sản xuất và phân công lao động xã hội, tại đó những ngành có ưu thế riêngtất yếu sẽ có sự phát triển mạnh mẽ Trên cơ sở sự phát triển của các ngành có ưuthế, hình thành những đầu tàu, động lực dẫn dắt nền kinh tế trong khu vực pháttriển Đồng thời, chính những ưu thế đó là cơ sở hình thành cơ cấu kinh tế ngànhmột cách hợp lý Sự phù hợp của cơ cấu ngành nghề sẽ cho phép phát huy hết mọitiềm năng của khu vực, tạo đà phát triển mạnh mẽ Mục tiêu của quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế ngành nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực, đảm bảo cho sựphát triển của khu vực miền núi Thanh Hoá theo đúng quỹ đạo phát triển của tỉnh
và quốc gia
Ba là, từ thực tiễn cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
Trong những năm vừa qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khuvực miền núi Thanh Hoá đã đạt được những kết quả to lớn, tạo ra những cơ hội vàkhả năng phát triển to lớn cho khu vực Về cơ bản, cơ cấu kinh tế ngành có bướcchuyển dịch hợp lý, cho phép khai thác được những tiềm năng trong khu vực Xuhướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phù hợp với đường lối phát triển chung,
tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng, nông nghiệp chuyểndịch theo hướng sản xuất hàng hoá Tính chất tự cung tự cấp của nền kinh tế đãdần được thay thế bởi quan hệ hàng hoá tiền tệ Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại không
ít những hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, quá trìnhchuyển dịch còn chậm, chưa cho phép tạo ra những bước phát triển đột phá chokinh tế khu vực Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tuy có tăng nhưng chưa tươngxứng với tiềm năng của vùng Ngành nông nghiệp tuy có hướng về sản xuất hànghoá nhưng chưa thực sự tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, phần lớn còn mang nặng
Trang 25tính tự cung, tự cấp Về cơ bản miền núi Thanh Hoá vẫn là khu vực kinh tế khókhăn, đời sống đồng bào các dân tộc vùng núi còn ở mức thấp Thậm chí cơ cấukinh tế ngành còn tạo ra những sức ì nhất định, cản trở sự phát triển kinh tế - xãhội Vì vậy, để nền kinh tế miền núi Thanh Hoá phát triển cần tiếp tục đẩy mạnhquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc
từ thực tiễn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, thông qua đó đặt nền móng cho
sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế khu vực
* Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Thanh Hoá nói chung, miền núi ThanhHoá nói riêng trước hết tuân theo xu hướng chung là:
Quá trình chuyển dịch trong nội bộ khu vực sản xuất vật chất, chủyếu là chuyển dịch cơ cấu từ khu vực nông nghiệp sang khu vực côngnghiệp Khi thu nhập theo đầu người tăng lên thì tỷ trọng của sản phẩmnông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân sẽ giảm xuống, tỷ trọng sảnphẩm công nghiệp sẽ tăng lên Đó cũng chính là kết quả của quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế Đến một mức độ nào đó, sẽ có sựchuyển dịch từ khu vực sản xuất vật chất sang khu vực dịch vụ, và đến mộttrình độ nhất định tỷ trọng của dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn công nghiệp
Các ngành kinh tế sẽ tịnh tiến đến ngành có vốn cao; chuyển từ nềnkinh tế với công nghệ cũ, lạc hậu, năng suất lao động thấp, chất lượng sảnphẩm kém sang nền kinh tế cơ giới hoá, hoá học hoá, điện khí hoá, chuyênmôn hoá với công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại, năng suất lao động, chấtlượng sản phẩm cao hơn; từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức với côngnghệ cao, điện tử hoá, tin học hoá, tự động hoá, siêu xa lộ thông tin cùng vớiđội ngũ công nhân trí thức đông đảo Cùng với quá trình phát triển, các ngànhsản xuất vật chất phát triển theo chiều rộng sẽ dần dần chuyển sang xu thế
Trang 26phát triển theo chiều sâu do tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động có hạn.Bước tịnh tiến này sẽ đảm bảo sự phát triển bền vững.
Trên cơ sở xu hướng chung, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngànhkhu vực miền núi Thanh Hoá diễn ra theo các xu hướng sau:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều ngành mới sẽ ra đời, nhiềukhu, cụm công nghiệp và các đô thị, thị trấn, thị tứ sẽ hình thành trong khuvực miền núi Thanh Hoá Vì vậy, cơ cấu kinh tế ngành sẽ có xu hướngchuyển dịch từ nền nông nghiệp là chủ yếu sang phát triển công nghiệp vàdịch vụ Trong đó, nông nghiệp giảm dần về giá trị tương đối nhưng vẫn tănglên về giá trị tuyệt đối Công nghiệp và dịch vụ tăng cả tương đối và tuyệt đối
Nội bộ các ngành cũng có sự chuyển dịch về cơ cấu, quy mô, trình độcông nghệ với chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế ngày càng cao Sự biếnđổi cơ cấu kinh tế ngành dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động và dân cư, laođộng giản đơn có xu hướng giảm dần cùng với quá trình tăng lên của lao độngchuyên môn kỹ thuật Cơ cấu dân cư khu vực miền núi cũng có xu hướngchuyển từ đại bộ phận sống ở nông thôn sang sống ở các đô thị, thị trấn, thị tứ vàcác cụm công nghiệp
Thứ hai, chuyển nền kinh tế với công nghệ cũ lạc hậu, năng suất lao động
thấp, chất lượng sản phẩm kém sang nền kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Những năm gần đây xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đangchuyển sang sử dụng trang thiết bị hiện đại, ứng dụng khoa học kỹ thuật tạo
ra năng xuất và chất lượng cao Tuy nhiên, khu vực miền núi Thanh Hoá về
cơ bản vẫn lạc hậu trong quá trình phát triển
Muốn có sự phát triển mạnh mẽ, cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núiThanh Hoá phải có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghệ cũ, lạc hậu,năng suất lao động thấp phải dần được thay thế bằng công nghệ mới, hiện đại,năng suất cao Sự phù hợp về cơ cấu kinh tế một mặt, vừa là đòi hỏi khách quan
Trang 27của sự phát triển lực lượng sản xuất, mặt khác, lại là cơ sở tạo tiền đề cho sự pháttriển mạnh mẽ hơn nữa của lực lượng sản xuất trong khu vực Trên cơ sở ứng dụngkhoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành chophép phát huy hết mọi tiềm năng, thế mạnh trong khu vực tạo đà phát triển mạnh
mẽ trong tương lai
Thứ ba, chuyển từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội ngàycàng sâu sắc, tất yếu sẽ phá bỏ tính chất tự cấp, tự túc chuyển sang sản xuấthàng hoá Quá trình đó khiến cho cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núiThanh Hoá vốn dựa trên sản xuất nông nghiệp là chính sang một nền kinh tế
có cơ cấu ngành phát triển đồng đều và gắn bó chặt chẽ với nhau trên cơ sởphân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc
Thứ tư, chuyển dịch từ cơ cấu nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở
hướng về xuất khẩu
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hoá đang đặt ra những cơ hội và thách thứcđối với các khu vực đang phát triển Toàn cầu hoá nền kinh tế đang tạo ra những
cơ hội lớn để có thể nhanh chóng tiếp thu khoa học công nghệ, phương phápquản lý và tiếp cận các nguồn đầu tư Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng đặt ra nhữngthách thức không nhỏ, dễ khiến cho các khu vực chậm phát triển ngày càng tụthậu xa hơn, dễ bị lệ thuộc Miền núi Thanh Hoá cũng đang trong quá trìnhchuyển dịch theo hướng mở, khai thác thị trường ngoài khu vực, tận dụng lợi thế
và các nguồn lực bên ngoài, phát huy tối đa nội lực nhằm đạt mục tiêu phát triểnnhanh, mạnh và bền vững
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoánằm trong chiến lược phát triển chung của tỉnh Thanh Hoá, vấn đề đó được thểhiện trong đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Thanh Hoá Đây chính là cơ
sở về mặt đường lối, chủ trương và chính sách phát triển của vùng Theo đó, tỷtrọng ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, tỷ trọng ngành nông nghiệp
Trang 28giảm xuống tương ứng Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành hướng vào việc
phát huy tiềm năng, thế mạnh của khu vực
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thể hiện sự nỗ lực chủ quan của các cấp,các ngành trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tạiđịa phương Trên cơ sở bám sát đường lối, chủ trương, chính sách phát triển, nắmbắt xu hướng vận động chung và phân tích tình hình thực tiễn, các cấp, các ngànhxây dựng biện pháp chỉ đạo sát đúng nhằm đảm bảo quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế ngành nói riêng diễn ra đúng hướng
1.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
1.2.1 Những đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của miền núi Thanh Hoá ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
* Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý, miền núi Thanh Hoá là sự nối dài của Tây Bắc Bộ, phíaBắc giáp Hoà Bình, phía Đông giáp Ninh Bình và các huyện trung du, đồngbằng Thanh Hoá, phía Tây giáp Lào, phía Nam giáp Nghệ An Miền đồi núiThanh Hoá có diện tích trên 7.994,30 km2, chiếm 2/3 diện tích Thanh Hoá, baogồm 11 huyện: Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước,Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lạc, Cẩm Thuỷ và Thạch Thành
Khí hậu trong khu vực được chia làm các vùng khác nhau: Vùng đồinúi phía Bắc và phía Tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn nên có nguồn lâmsản dồi dào Trong đó sông Chu và các phụ lưu có nhiều điều kiện thuận lợi
để xây dựng các nhà máy thủy điện, có rừng Quốc gia Cúc Phương với nhiềuloại thú quý, gỗ quý Phía Nam là vùng có đồi núi thấp, khí hậu nóng ẩm, đấtmàu mỡ thuận lợi trong việc phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây đặcsản Trong đó có Rừng quốc gia Bến En (thuộc địa bàn huyện Như Thanh vàhuyện Như Xuân), có rừng phát triển tốt, với nhiều gỗ quý, thú quý
Trang 29Dân số trung bình khu vực miền núi Thanh Hoá 854.350 người, mật độ dân
số 107 người/ km2, có 26 xã miền núi thuộc bảy huyện giáp ranh, trong đó có601.238 đồng bào các dân tộc Thái, Thổ, Mường, Dao, Mông, Khơ Mú sinh sống
Là vùng đất, vùng người - địa linh nhân kiệt nên miền núi Thanh Hoá luôn là địabàn chiến lược cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh của cách mạng cảnước nói chung, của tỉnh Thanh nói riêng
* Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá
Trong những năm qua, nhiều chương trình, dự án, các nhóm chính sách đãđược triển khai trên địa bàn các huyện miền núi như: Nhóm chính sách về pháttriển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn; Chương trình 135 giai đoạn I chi cho
102 xã để xây dựng 675 công trình hạ tầng thiết yếu: Giao thông, thuỷ lợi, trườnghọc, điện nước sinh hoạt Tổng kết Chương trình 135 giai đoạn 2006 - 2010, tỉnhThanh Hoá được Trung ương cấp 856.250 triệu đồng, bình quân mỗi xã được2.500 triệu đồng cho giải quyết những vấn đề khó khăn của đồng bào dân tộc như:nhà ở, nước sinh hoạt; vay vốn phát triển sản xuất, trợ giúp di dân thực hiện địnhcanh, định cư; trợ giá, trợ cước các mặt hàng thiết yếu Giai đoạn II đang đượctriển khai thực hiện, dự kiến sẽ trong vòng 5 năm (2011 – 2015) với số vốn đầu tư
900 tỉ đồng Ngoài ra, nguồn kinh phí 388.984 triệu đồng thuộc Chương trình 134
- CP của Chính phủ đã được tỉnh nhanh chóng triển khai đến các huyện miền núi.Bình quân mỗi huyện được hỗ trợ 54,4 tỉ đồng cho làm nhà thuộc dự án 167 cho12.954 hộ, đầu tư xây dựng 43 công trình giao thông liên huyện, xã
Song song với triển khai đầu tư vốn thông qua các nhóm chính sách
-dự án lớn, nhóm chính sách phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo và việclàm cấp cơ sở như: Quĩ người nghèo, vay ưu đãi cũng được thực hiện Tínhđến nay, quỹ vay vốn tín dụng đã thực hiện cho vay vốn ưu đãi trên 48.000lượt hộ nghèo với tổng dư nợ là 390.521 triệu đồng
Trang 30Cùng với việc thực hiện Chương trình 134, 135 của Chính phủ, Nghịquyết 30a/2008/NQ - CP của Chính phủ cũng được triển khai thực hiện Theo
đó, 315 tỷ đồng đã được đầu tư xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi,trung tâm dạy nghề Bên cạnh đó, một số công trình trọng điểm như: Thuỷđiện Cửa Đạt, Bệnh viện Ngọc Lặc đã hoàn thành; thuỷ điện Bá Thước, Ximăng Thanh Sơn, đường vành đai phía Tây đang được triển khai xây dựng
Đến nay, 100% xã đặc biệt khó khăn đã có trường học, nhà mẫu giáo vàcác lớp bán trú dân nuôi Các bản xa trung tâm đều có lớp cắm bản, tình trạnghọc ca 3 được xoá bỏ Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 90% - 95% Y
tế đã có bước phát triển mạnh, công tác khám chữa bệnh cơ bản đáp ứng nhucầu của nhân dân Gần 100% xã đồng bào dân tộc miền núi có nhà văn hoáhoặc điểm bưu điện văn hoá Nhiều thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng; gần90% xã có điện thoại; hơn 90% số xã đặc biệt khó khăn có trạm truyền thanh…Đời sống văn hoá, tinh thần của đồng bào không ngừng được nâng lên Đội ngũcán bộ người dân tộc thiểu số có bước trưởng thành Tỷ lệ cán bộ người dântộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các cấp ngày càng lớn mạnh
Hiệu quả từ các chính sách, chương trình dự án của Nhà nước cũngnhư của tỉnh, đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực miền núi ThanhHoá chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, đặc biệt là với 7 huyện nghèo Tuynhiên, khu vực miền núi Thanh Hoá vẫn đang là một khu vực gặp nhiều khókhăn, có 7/11 huyện nằm trong nhóm huyện nghèo nhất cả nước Cơ cấu kinh
tế nói chung, cơ cấu kinh tế ngành nói riêng chuyển dịch còn chậm, chưa khaithác hết tiềm năng, thế mạnh của vùng
1.2.2 Những thành tựu, hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
1.2.2.1 Những thành tựu đã đạt được
Một là, các ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá
Trang 31Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của vùng đã có sự phát triểnđúng hướng, phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đấtnước nói chung, của tỉnh Thanh Hoá nói riêng Tốc độ phát triển kinh tế(GDP) năm 2006 - 2010 ước đạt 13,5% Nhịp độ phát triển kinh tế hàng nămtăng bình quân 15% Cơ cấu kinh tế ngành đã có sự chuyển dịch đúng hướng.
Sự chuyển dịch đó biểu hiện trên các góc độ sau:
* Chuyển dịch giữa các ngành
Sự chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành được thể hiện trên hai nội dung:chuyển dịch cơ cấu giá trị và chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành
Chuyển dịch cơ cấu giá trị
Theo số liệu biểu 1.1 cho thấy: Giá trị tuyệt đối của ngành nông nghiệp từnăm 2006 đến năm 2010 liên tục tăng Năm 2006 là 830,7 tỷ đồng, năm 2011 tănglên 1288,5 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm 9,0% Giá trị tuyệt đối củangành công nghiệp từ 394,0 tỷ đồng, tăng lên 1063,1tỷ đồng vào năm 2011, tốc độtăng bình quân đạt 26,3% Giá trị tuyệt đối của ngành dịch vụ tăng từ 438,7 tỷ đồngnăm 2006 lên 1012,8 tỷ đồng vào năm 2011, tốc độ tăng bình quân 15,1% Năm
2011 tỷ trọng nông - lâm nghiệp chiếm 38,3%; công nghiệp - xây dựng 31,6%, dịch
vụ 30,1% Từ phân tích trên cho thấy, mặc dù tỷ trọng của ngành nông nghiệp vẫncao hơn ngành công nghiệp và dịch vụ, song nhìn chung cơ cấu kinh tế ngành củavùng đã có sự chuyển đổi phù hợp Xét về giá trị tuyệt đối, tất cả các ngành đều tăngsong, tốc độ tăng của ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh hơn ngành nôngnghiệp
Biểu 1.1 GIÁ TRỊ SẢN XUẤT PHÂN THEO NGÀNH KHU VỰCMIỀN NÚI THANH HOÁ
Đơn vị tính: Tỷ đồng
CHIA RANÔNG
NGHIỆP
CÔNG
Trang 32Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành
Như trên đã đề cập, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện
ở chuyển dịch cơ cấu giá trị và cơ cấu lao động Trong những năm vừa qua,cùng với sự chuyển dịch cơ cấu giá trị giữa các ngành nông nghiệp, côngnghiệp và dịch vụ, cơ cấu lao động giữa các ngành này trong khu vực cũng có
sự chuyển dịch nhất định Mặc dù số lượng lao động tuyệt đối của ngànhnông nghiệp vẫn cao hơn nhiều so với ngành công nghiệp cũng như ngànhdịch vụ Tuy nhiên, tốc độ tăng về số lượng lao động của ngành công nghiệp
và của ngành dịch vụ nhanh hơn tốc độ tăng lao động của ngành nông nghiệp
Theo số liệu biểu 1.2 cho thấy: Từ năm 2005 đến năm 2010, tốc độtăng bình quân về số lượng lao động của ngành nông nghiệp là 1,7%, ngành côngnghiệp là 3,4% và ngành dịch vụ là 4,7% Sự chuyển dịch đó được thể hiện rõ hơntrong tỷ trọng lao động của các ngành trong tổng số lao động của vùng Nếu nhưlao động trong nông nghiệp năm 2005 chiếm 80% thì năm 2011 giảm còn 78%,tương ứng cùng thời kỳ, lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ10% lên 10,6%, lao động trong ngành dịch vụ tăng từ 9,1% lên 11,0%
Biểu 1.2 LAO ĐỘNG ĐANG LÀM VIỆC PHÂN THEO NGÀNH KINH
TẾ KHU VỰC MIỀN NÚI THANH HOÁ
Đơn vị tính: Nghìn
người
CHIA RANông, lâm nghiệp
và thuỷ sản
Công nghiệp
và xây dựng Dịch vụ
Trang 33Đồng thời với sự chuyển dịch số lượng lao động giữa các ngành, trình
độ người lao động của có sự chuyển dịch đáng kể Lao động giản đơn có xuhướng giảm dần, lao động qua đào tạo có tay nghề cao được nâng lên Bướcđầu các trung tâm đào tạo nghề tại các huyện và trường trung cấp nghề miềnnúi Thanh Hoá tại Ngọc Lặc đang phát huy tốt vai trò, đủ sức đảm đương đàotạo lao động cung cấp cho các hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương, sẵnsàng cung cấp lao động cho các khu vực khác trong vùng
* Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành
Chuyển dịch trong nội bộ ngành nông nghiệp
Trong những năm vừa qua, sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngànhnông nghiệp khu vực miền núi Thanh Hoá diễn ra tương đối rõ nét Điều đóđược thể hiện trước hết trong cơ cấu giá trị của các phân ngành Theo số liệubiểu 1.3 cho thấy: Từ năm 2005 đến năm 2010, giá trị tuyệt đối của các phânngành: trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ đều tăng Trong đó, đã có sự chuyển dịch
cơ cấu từ ngành trồng trọt sang ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ Nếu như năm
2005 giá trị của phân ngành trồng trọt là 3411,1 tỷ đồng chiếm 72,2%, năm
2010 tăng lên 3808,3 tỷ đồng chiếm 69,9% (giảm 2,3%) Trong cùng thời kỳ, giátrị của phân ngành chăn nuôi là 1219,4 tỷ đồng, chiếm 25,8% của toàn ngành,năm 2010 tăng lên 1454,3 tỷ đồng, chiếm 26,7% giá trị toàn ngành (tăng 0,89%).Biểu 1.3 GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THEO GIÁ SO SÁNH PHÂN THEO NGÀNH KINH TẾ
Trang 34Cùng với phát triển vùng nguyên liệu mía đường, diện tích cây côngnghiệp dài ngày và ngắn ngày cùng được phát triển như: Cây cao su, đến năm
2010 diện tích toàn khu vực đạt 23.483 ha, trong đó diện tích cao su trồng mới là9.588 ha (Phụ lục 8), tập trung ở các huyện Như Xuân, Ngọc Lặc, Thạch Thành,Cẩm Thuỷ Sản lượng mủ khô năm 2010 đạt 6.718 tấn (Phụ lục 9) Hình thànhvùng cao su tập trung, cung cấp nguyên liệu cho 2 nhà máy chế biến mủ cao suCẩm Thuỷ và Như Xuân Cây sắn diện tích hiện nay đạt 13.804 ha, sản lượng159.085 tấn Cây dứa diện tích hiện nay là 1.000 ha, sản lượng 25.000 - 30.000tấn Cây lạc năm 2010 có diện tích 2.403 ha, sản lượng 4.005 tấn
Chuyển dịch trong nội bộ ngành công nghiệp
Trang 35Mặc dù là vùng núi, trình độ phát triển còn thấp hơn nhiều khu vực miền xuôi.Tuy nhiên, trong thời gian qua, nội bộ ngành công nghiệp và xây dựng có bướcchuyển biến theo hứng tích cực, bước đầu hình thành các ngành công nghiệp như:Công nghiệp chế biến nông, lâm sản:
Trên cơ sở giữ vững công xuất của các cơ sở hiện có: Công ty míađường Lam Sơn, công ty mía đường Việt - Đài, một số cơ sở chế biến nôngsản có công nghệ cao đã được xây dựng như: dây chuyền chế biến nước dứa
cô đặc thuộc nhà máy chế biến dứa Như Thanh Xây dựng mới nhà máy chế biến mủcao su công suất 3.000 tấn mủ khô/năm; nhà máy ván sàn từ luồng ở Thường Xuân100.000m2/năm Phát triển các cơ sở chế biến nông sản phục vụ trực tiếp cho đồngbào các dân tộc như xay xát gạo, ngô, chế biến đậu phụ, chế biến thức ăn gia súc Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng:
Mặc dù không phải là thế mạnh của khu vực, nhưng dưới tác động củaquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhu cầu vật liệu xây dựng của khuvực ngày càng tăng Do đó, trong thời gian qua, một số cơ sản xuất vật liệuxây đã được xây dựng như: nhà máy xi măng Ngọc Lặc công suất 1,4 triệutấn/năm; nhà máy gạch tuy - nen Ngọc Lặc công suất 25 triệu viên/năm; nhàmáy gạch không nung tại Bá Thước công suất 20 triệu viên/năm; nhà máytấm lợp fibroximăng tại Ngọc Lặc công suất 1 triệu m2/năm; nhà máy đá ốplát xuất khẩu tại Lang Chánh, Ngọc Lặc 500.000 m2/năm
Công nghiệp điện - thuỷ điện:
Là khu vực miền núi nên ngoài thế mạnh là nông - lâm sản, một thếmạnh khác của khu vực là tiềm năng thuỷ điện Nhận thức rõ vấn đề đó, đểđáp ứng nhu cầu điện năng của khu vực, trong những năm vừa qua tỉnh ThanhHoá đã tiến hành nghiên cứu, quy hoạch phát triển một số nhà máy thuỷ điệnbậc thang các sông thuộc hệ thống sông Mã, sông Chu và các sông khác như:nhà máy thuỷ điện Cửa Đặt công suất 97 MW; nhà máy thuỷ điện Bản Uôn
Trang 36công suất 280 MW; nhà máy thuỷ điện Sông Lò công suất 92 MW Bên cạnhnhững nhà máy thuỷ điện có công xuất vừa, một số nhà máy thuỷ điện nhỏnhư: Suối Bom (4,5 MW), Sao Luông (3,5 MW), Sông Chàng (3 MW), Tam
Lư (7 MW) cũng được triển khai xây dựng
Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản:
Xây dựng nhà máy khai thác và chế biến quặng sắt tại Như Xuân - NhưThanh 72.000 tấn/năm; nhà máy tuyển cao lanh Lang Chánh 200.000tấn/năm, nhà máy sản xuất bột nhẹ Cẩm Thuỷ 40.000 tấn/năm, nhà máy phânbón vi sinh tại Ngọc Lặc, Thạch Thành 20.000 tấn/năm
Ngoài ra, để tạo công ăn việc làm cho nhân dân trong vùng, trong thời gianqua, một số cơ sở may mặc, các cơ sở sản xuất hàng thủ công cũng được xây dựngnhư: xí nghiệp may xuất khẩu Vân Du (Thạch Thành) công suất 500.000 sản phẩm/năm; xí nghiệp may xuất khẩu Ngọc Lặc công suất 1 triệu sản phẩm/năm
Theo số liệu biểu 1.4 cho thấy, từ năm 2008 đến nay, ngoài những sảnphẩm truyền thống, vùng miền núi Thanh Hoá đã xuất hiện một số sản phẩm côngnghiệp mới như sản xuất đá ốp lát, sản xuất xi măng, ván sàn, cót ép Điều đó chothấy, ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực từ ngành côngnghệ cũ, lạc hậu sang công nghệ mới có năng suất lao động và giá trị cao
Biểu 1.4 MỘT SỐ SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦAKHU VỰC MIỀN NÚI THANH HOÁ
SẢN PHẨM
ĐƠN VỊTÍNH
Trang 37vụ mới hình thành trong khu vực như tài chính tín dụng, du lịch, thôngtin liên lạc có bước tăng trưởng khá.
Hai là, bước đầu đã có sự đầu tư thay thế công nghệ cũ lạc hậu, năng
suất lao động thấp bằng công nghệ mới có năng suất chất lượng cao
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội
bộ ngành về trình độ công nghệ của các ngành miền núi Thanh Hoá trongthời gian qua cũng đã có sự chuyển dịch tương đối rõ nét Công nghệ cũ,lạc hậu dần được thay thế bằng những công nghệ mới, tạo ra năng xuất laođộng xã hội cao hơn trong tất cả các ngành công nghiệp, nông nghiệp cũngnhư dịch vụ Theo số liệu biểu 1.5 cho thấy, đối với lĩnh vực công nghiệp,năm 2006 năng suất lao động đạt 39,7 triệu đồng/người/năm, đến năm 2010tăng lên 73,9 triệu đồng/người/năm Năng suất lao động trong lĩnh vực thuỷsản năm 2006 đạt 16,0 triệu đồng/người/năm Năm 2010 đạt 26,0 triệuđồng/người/năm Đặc biệt trong ngành nông nghiệp, năm 2006 năng suấtlao động trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ đạt 4,3 triệu đồng/người/năm, đếnnăm 2010 tăng lên 9,6 triệu đồng/người/năm (tăng 2.2 lần) Điển hình như
Trang 38đối với cây ngô, mặc dù diện tích năm 2008 là 28.708 ha giảm xuống27.607 ha vào năm 2010 nhưng do ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt
là sử dụng giống mới nên sản lượng vẫn tăng từ 93.402 tấn năm 2008 lên94.936 tấn năm 2010 (Phụ lục 10, 11)
Hệ thống máy móc phục vụ chế biến nông, lâm sản được sử dụng ngàycàng nhiều Tích cực sử dụng giống mới trong lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt,tạo năng suất cao và ổn định Tiếp cận và chuyển giao các loại giống mới, cóhiệu quả từ các địa phương khác Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nuôi trồngtập trung Bên cạnh thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến, bước đầu hìnhthành các ngành công nghiệp mới với trình độ khoa học kỹ thuật cao (Nhà máy
xi măng Ngọc Lặc, tuyển cao lanh Lang Chánh)
Bước đầu chuyển từ việc bán nguyên liệu thô sang bán các sảnphẩm chế biến, giá trị kinh tế cao Trước kia, các sản phẩm từ khu vựcmiền núi Thanh Hoá chủ yếu được bán dưới dạng sản phẩm thô, hoặc
có sản phẩm hoàn thiện nhưng thông qua tiểu thương để tìm thị trườngthì hiện nay, đã xuất hiện các doanh nghiệp hoạt động ngay tại khu vực
để có thể tạo ra các sản phẩm hoàn thiện, giá trị kinh tế cao, đồng thời
tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ Các yếu tố về cơ sở hạ tầng cho việctiếp cận và sử dụng công nghệ mới đã và đang được xây dựng, hoànthiện tạo điều kiện và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào sảnxuất kinh doanh
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong những năm vừaqua là một điểm nhấn tích cực cho quá trình sử dụng công nghệ mới Hệthống internet đã được phổ biến đến tận những điểm bưu điện văn hoá xãcho phép nền kinh tế tiếp cận nhanh hơn với khoa học kỹ thuật hiện đại.Tốc độ ứng dụng khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất kinh doanhkhông ngừng được tăng cường Trong những năm vừa qua, bà con nông
Trang 39dân đã tích cực sử dụng giống cây, con hiện đại; ứng dụng những thành tựukhoa học vào sản xuất giúp cho năng suất, chất lượng cao hơn Hệ thốngmáy móc phục vụ sản xuất, chế biến trên địa bàn ngày càng được sử dụngmột cách phổ biến
Biểu 1.5 NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG XÃ HỘI PHÂN THEO NGÀNHKINH TẾ KHU VỰC MIỀN NÚI THANH HOÁ
Đơn vị tính: Triệu đồng/ ngườiNGÀNH
Nguồn [7]
Ba là, các ngành kinh tế trong vùng bước đầu đã có sự phát triển theo
hướng sản xuất hàng hoá
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến kinh tế nói chung, kinh
tế hàng hoá cũng như việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núiThanh Hoá chậm phát triển là do kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thôngcủa vùng còn kém Nhận thức được điều đó, trong những năm vừa qua cơ sở hạtầng được ưu tiên tăng cường, chiếm gần 50% cơ cấu vốn đầu tư Các tuyếnđường giao thông chính nối miền núi với miền xuôi; các cầu qua sông lớn cơbản được xây dựng và phát huy hiệu quả; hệ thống giao thông nông thôn miềnnúi cơ bản được đầu tư ngay cả những xã vùng sâu, vùng xa; 11 thị trấn huyện lỵ
ở 11 huyện miền núi và 20 trung tâm cụm xã được đầu tư xây dựng từ nguồnvốn của Chương trình 135 đã được hình thành và bước đầu phát triển
Trang 40Cùng với sự phát triển không ngừng của cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,kinh tế khu vực miền núi Thanh Hoá dần khắc phục tính chất tự cung, tự cấp.Giao thương thuận tiện cho phép các sản vật vùng núi được đưa ra thị trườngmột cách nhanh chóng Các sản phẩm của núi rừng trước đây chỉ phục vụ sinhhoạt của đồng bào giờ trở thành những sản phẩm có giá trị kinh tế, làm lợi chođồng bào khu vực Sự phát triển đó được thể hiện cụ thể với từng ngành như sau:
* Về nông nghiệp
Với thế mạnh của vùng là rừng núi, vì vậy trong thời gian qua khu vực
đã phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, tập trung tạo ra bước đột phá cả về
số lượng và chất lượng Đến năm 2010, đàn bò đạt: 73.5 nghìn con; đàn trâu:156.3 nghìn con; đàn lợn: 270.300 con (Phụ lục 12, 13, 14,) Phát triển mạnhđàn bò sữa trong nhân dân
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý lâm nghiệp, khuyến khích phát triển cácloại rừng, vùng nguyên liệu giấy và các vùng nguyên liệu phục vụ chế biến lâmsản khác, đặc biệt là cây luồng - vốn là loại cây truyền thống của vùng Tính đếnnay, diện tích luồng toàn khu vực đạt gần 70.000 ha, trải rộng khắp các vùng núicủa tỉnh, sản lượng khai thác từ 20 đến 25 triệu cây và đạt doanh thu khoảng 300
tỷ đồng mỗi năm
Cùng với mở rộng diện tích cây luồng, vùng nguyên liệu giấy cũng được quyhoạch và phát triển Đến nay, diện tích vùng nguyên liệu giấy đạt 173.000 ha trên địabàn 7 huyện (Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc
và Cẩm Thuỷ) phục vụ nhà máy giấy Châu Lộc công suất 6 vạn tấn bột giấy/năm
Mặc dù là khu vực miền núi song trong thời gian qua đồng bào đã tậndụng ao, hồ nuôi cá truyền thống, nuôi lồng bè và chuyển đổi một số diện tíchlúa năng suất thấp sang nuôi cá kết hợp; năm 2010 diện tích nuôi trồng đạt3.500 ha, sản lượng 7.770 tấn cá các loại
* Về công nghiệp