Những nét chính của vòng này là: thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thay thế cho GATT; giảm thuế và các biện pháp trợ cấp xuất khẩu; giảm hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ-MARKETING
Năm 2017
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu………1
I TỔNG QUAN VỀ WTO VÀ SO SÁNH VỚI APEC……… 2
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của WTO……… 2
1.2 Chức năng hoạt động của WTO……… 5
1.3 Cơ cấu tổ chức của WTO………5
1.4 Nguyên tắc hoạt động của WTO……….7
1.5 Thành viên của WTO……… 9
1.6 Điểm giống nhau và sự khác biệt giữa WTO và APEC……… 9
1.7 Tóm tắt quá trình gia nhập WTO của Việt Nam……….11
1.8 Các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO……… 12
II CÁC HIỆP ĐỊNH CƠ BẢN CỦA WTO……… 25
2.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)……….26
2.2 Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS)………34
2.3 Hiệp định liên quan đến thương mại về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)……37
2.4 Hiệp định các biện pháp thương mại có liên quan đến đầu tư (TRIMS)… 53
III PHÂN TÍCH CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM……….58
3.1 Phân tích cơ hội đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam………….58
3.2 Phân tích cơ hội đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam………….60
Kết luận………63
Tài liệu tham khảo……….64
Trang 3Lời mở đầu
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một tổ chức điều phối thương mại toàn cầu và có vai trò quan trọng bậc nhất hiện nay, đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu Đến thời điểm 29 tháng 7 năm 2017, WTO có tổng cộng 164 thành viên Là thành viên của WTO, các nước sẽ được hưởng các lợi ích và một môi trường thương mại bình đẳng của hệ thống thương mại đa phương Bên cạnh đó, việc thực thi các cam kết mở cửa thị trường sẽ buộc các thành viên phải dỡ bỏ các rào cản bảo hộ, điều này khuyến khích cải cách và tự do hóa kinh tế và thương mại
Việt Nam đã trở thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 Đây là một cột mốc và là một bước đột phá quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Vì vậy, với vị trí là thành viên của WTO đã tạo nên những thay đổi tích cực và sâu sắc đối với môi trường kinh tế, thương mại, cũng như hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta
Hệ thống thương mại đa phương được điều chỉnh bởi những quy tắc chung của hệ thống và các hiệp định của WTO Thực thi các quy tắc và hiệp định đó là nghĩa vụ của mọi thành viên, theo quy định tại điều XXVII của hiệp định Marrakesh, hiệp định thành lập tổ chức thương mại thế giới Bởi vậy, Việc tìm hiểu tổng quan về WTO; điểm giống và khác biệt giữ WTO và các tổ chức khác như APEC, các hiệp định cơ bản của WTO, hay cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam là yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa của bài tiểu luậnvề WTO
và Việt Nam
Trang 4I TỔNG QUAN VỀ WTO VÀ SO SÁNH APEC:
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của WTO:
WTO có tên đầy đủ là Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) Tổ chức này được thành lập và hoạt động từ 1/1/1995 với tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) năm 1947, là tổ chức quốc tế duy nhất thực hiện chức năng giám sát các hoạt động trong lĩnh vực thương mại thế giới với mục đích chính là đảm bảo tự do thương mại và công bằng trong các điều kiện cạnh tranh Bên cạnh đó, WTO đảm nhiệm việc quản lý thực hiện các hiệp định của WTO, diễn đàn đàm phán về thương mại, giải quyết các tranh chấp về thương mại, giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia, trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển, hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
WTO kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan - GATT 1947 (chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá) và là kết quả trực tiếp của Vòng đàm phán Uruguay (bao gồm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư) GATT được thành lập năm 1947 với 23 nước tham gia như là những thành lập viên, cùng nhau xây dựng các hiệp định về thuế và thương mại Đến tháng 05/2010 WTO có 153 nước tham gia Các hiệp định của GATT bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1948 và đến hết năm 1994, GATT đã trải qua 9 vòng đàm phán thương mại như sau:
ra GATT (với tên gọi chính thức là “các bên ký kết”)
- Vòng Annecy (1949): là vòng đàm phán thứ 2 diễn ra năm 1949 tại Annecy, Pháp bao gồm 33 nước tham gia Ở vòng đàm phán này các bên ký kết hiệp định xác định mức giảm thuế bình quân 35% cho 5000 danh mục hàng
Trang 5- Vòng Torquay (1950): Là vòng đàm phán thứ 3 tại Torquay (Anh) bao gồm 38 nước tham gia Các bên nhất trí trao đổi 8700 nhượng bộ quan thuế dẫn đến việc cắt bỏ 25% so với mức năm 1948
- Vòng Geneva (1956): Là vòng đàm phán thứ 4 tại Geneva, bao gồm 26 nước tham gia Tại vòng này đã đạt được những kết quả liên quan đến việc giảm thuế, đề ra chiến lược cho chính sách của GATT đối với các nước đang phát triển, nâng cao vị thế của họ với tư cách
là những thành viên tham gia GATT
- Vòng Dillon (1960-1961): Là vòng đàm phán thứ 5, bao gồm 45 nước tham gia Vòng này chủ yếu bàn về việc giảm thuế Tên gọi được đặt theo tên Thứ trưởng Ngoại giao Hoa
Kỳ C Douglas Dillon
- Vòng Kenedy (1964-1967): Là vòng đàm phán thứ 6 và bao gồm 63 nước tham gia Nội dung thảo luận cũng vẫn là việc giảm thuế, nhưng lần đầu tiên đàm phán giảm thuế theo một phương pháp áp dụng chung cho tất cả các loại hàng hóa chứ không đàm phán giảm thuế cho từng loại hàng hóa một như các vòng trước Hiệp định chống bán phá giá được ký kết (nhưng tại Hoa Kỳ không được Quốc hội nước này phê chuẩn)
- Vòng Tokyo (1973-1979):Là vòng đàm phán thứ 7 và bao gồm 99 nước tham gia Vòng đàm phán này tiếp tục những nỗ lực mà GATT theo đuổi nhằm từng bước giảm bớt hàng rào thuế quan Nhờ vậy, mức thuế quan đã được giảm đi khoảng 1/3 tại 9 thị trường công nghiệp chính của thế giới, đưa mức thuế bình quân áp dụng đối với hàng công nghiệp giảm xuống còn 4,7%.Việc cắt giảm thuế quan, chia thành nhiều giai đoạn trong vòng 8 năm cũng đã tạo ra được một sự hài hòa nhất định, vì những loại thuế cao nhất đã được cắt giảm mạnh nhất
- Vòng Uruguay (1986-1994): bao gồm 123 nước tham gia Đây là vòng đàm phán thứ 8
và cũng là vòng đàm phán tham vọng nhất trong số tất cả các vòng đàm phán của GATT Vòng đàm phán này đã dẫn đến việc thành lập WTO và thông qua một loạt các hiệp định mới Những nét chính của vòng này là: thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT; giảm thuế và các biện pháp trợ cấp xuất khẩu; giảm hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác trong vòng 20 năm; ký kết Hiệp định về Bảo hộ Quyền sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS); mở rộng phạm vi áp dụng của luật thương mại
Trang 6quốc tế sang lĩnh vực dịch vụ thông qua Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS);
dỡ bỏ hạn chế đối với đầu tư nước ngoài
- Ngày 15/04/1994 tại Marrakesh (Maroc), các nước thành viên của GATT đã ký hiệp định thành lập tổ chức thương mại thế giới Từ đó WTO đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995, là một tổ chức hoạt động độc lập với hệ thống liên hiệp quốc
- Vòng đàm phán Doha ( T11/2001- 7/2011): Vòng đàm phán Doha được coi là vòng đàm phán thứ 9 kể từ khi hiệp định GATT ra đời năm 1947, vòng đàm phán này được phát động tại hội nghị bộ trưởng WTO tại Doha của Quarta Các cuộc hợp tiếp theo diễn ra tại Cancun, Mexico (2003), và HongKong (2005) Và các vòng đàm phán liên quan diễn ra tại Geneva, Thụy Sĩ (2004,2006,2009); Paris, Pháp(2005); và Potsdam, Đức(2007) Vòng đàm phán Doha gồm các nội dung chính sau :
✓ Đàm phán về nông nghiệp và dịch vụ:
Được định sẵn trong hiệp định nông nghiệp (điều XX) và hiệp định GATS (điều XIX) của vòng đàm phán Uruguay, mà thực chất đòi giảm bảo hộ, giảm trợ cấp đối với nông sản ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, EU, Nhật để tạo môi trường thương mại bình đẳng, giúp các nước nghèo có điều kiện cạnh tranh nông sản bình đẳng đối với các nước giàu có
✓ Vấn đề tiếp cận thị trường phi nông nghiệp ở các nước đang phát triển:
Hiện tại, thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp bình quân ở các nước công nghiệp phát triển là dưới 5%, còn các nước đang phát triển cao hơn 15% Ở vòng đàm phán Doha diễn ra ở phiên tháng 7/2007, các nước công nghiệp phát triển muốn các nước đang phát triển giảm thếu nhập khẩu hàng công nghiệp, đã đưa ra đề xuất cắt giảm thuế nhập khẩu hàng công nghiệp của 27 quốc gia đang phát triển 23% so với mức thuế nhập khẩu hiện tại,
đề xuất này đã bị nhóm NAMA 11, gồm các nền kinh tế phát triển chủ chốt như Braxin,
Ấn Độ và Nam Phi, chỉ trích là không công bằng Sau đó là những phiên họp diễn ra tại Thụy Sĩ trong các năm 2008-2009 nhưng kết quả thương lượng vẫn còn ở mức kiêm tốn và
bế tắc
✓ Giải quyết các vấn đề tồn đọng nêu ra tại hội nghị Singapore về thuận lợi hóa thương mại và minh bạc hóa sự mua sắm của chính phủ
Trang 7Ngoài ra, ở vòng đàm phán Doha còn giải quyết các vấn đề khác như : quyền của các nước nghèo được nhập khẩu với giá rẻ hoặc được cấp bằng sáng chế sản xuất những loại dược phẩm chữa trị được bệnh như AIDS hay sốt rét… Đến tháng 5/2010, vòng đàm phán Doha vẫn chưa kết thúc vì những bất đồng về: Mức độ cắt giảm trợ cấp nông nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển và việc giảm thuế nhập khẩu đánh vào các sản phẩm công nghiệp ở các nước đang phát triển và các vấn đề quyền tiếp cận với các loại thuốc giá rẻ của người nghèo chưa được giải quyết
1.2 Chức năng hoạt động:
Theo như Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO, tổ chức này có năm chức năng
cơ bản như sau:
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO
- Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO
- Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc hoạch định những chính sách và dụ báo
về xu hướng phát triển tương lai của nèn kinh tế toàn cầu
1.3 Cơ cấu tổ chức của WTO:
Cơ cấu tổ chức của WTO bao gồm (xếp theo thứ tự thẩm quyền từ cao xuống thấp):
1 Hội nghị Bộ trưởng:
Hội nghị Bộ trưởng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO Hội nghị Bộ trưởng ho ̣p ít nhất hai năm mô ̣t lần Hội nghị Bộ trưởng sẽ thực thi các chức năng của WTO Khi một thành viên nào đó yêu cầu, Hội nghị Bộ trưởng cũng có quyền đưa ra những quyết định về tất cả các vấn đề liên quan đến các hiệp định đa phương
Trang 8• Hội nghị bộ trưởng lần đầu tiên được tổ chức tại Singapore tháng 12/1996;
• Hội nghị bộ trưởng lần thứ 2 tổ chức tại Geneve tháng 5/1998 đã quyết định WTO phải nghiên cứu thêm về thương mại điện tử;
• Hội nghị bộ trưởng lần thứ 3 được tổ chức tại Seattle (Mỹ) từ 30/11/1999-
03/12/1999;
• Hội nghị bộ trưởng lần thứ 4 tại Doha được tổ chức từ ngày 9 đến 13/11/2001;
• Hội nghị bộ trưởng lần thứ năm được tổ chức từ ngày 10 đến ngày 14/09/2003 tại Cancun, Mexico;
• Hội nghị bộ trưởng lần thứ 6 tổ chức tại Hongkong tháng 12/2005;
• Hội nghị bộ trưởng lần thứ 7 tổ chức tại Geneve, Thụy Sĩ từ 30/11/2009-
02/12/2009;
2 Đại hội đồng:
Ðại hội đồng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, sẽ họp khi cần thiết Trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị Bộ trưởng thì chức năng của Hội nghị Bộ trưởng sẽ do Ðại hội đồng đảm nhiệm Đa ̣i hô ̣i đồng còn có vai trò là cơ quan giám sát chính sách thương ma ̣i và giải quyết tranh chấp Đa ̣i hô ̣i đồng hành đô ̣ng nhân danh Hội nghị Bộ trưởng và chi ̣u trách nhiê ̣m trước Hội nghị Bộ trưởng
3 Dưới đại hội đồng la ̀ các Hô ̣i đồng về nhiều li ̃nh vực thương mại khác nhau như :
Hội đồng về Thương ma ̣i hàng hóa, Hô ̣i đồng về Thương ma ̣i di ̣ch vu ̣, Hô ̣i đồng về những vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuê ̣ Các Hô ̣i đồng này chi ̣u trách nhiê ̣m trước Đa ̣i hô ̣i
đồng
Các Tiểu ban và Nhóm công tác: Các Tiểu ban trực thuô ̣c Đa ̣i Hô ̣i đồng và các Hô ̣i đồng thương mại Các Tiểu ban này chi ̣u trách nhiê ̣m điều hành viê ̣c thực thi Hiê ̣p đi ̣nh WTO
Cụ thể:
▪ Hội đồng Thương mại Hàng hóa có 11 Tiểu ban;
▪ Hội đồng Thương mại Di ̣ch vu ̣ gồm có các Tiểu ban về di ̣ch vu ̣ tài chính, các Tiểu ban về các cam kết cu ̣ thể;
4 Ban Thư ký của WTO:
Ban thư ký của WTO được đặt tại Geneva Ban Thư ký có khoảng 550 nhân viên Ðứng đầu Ban Thư ký là Tổng Giám đốc do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm, quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, điều kiện phục vụ và thời hạn phục vụ Nhiệm kỳ của Tổng Giám đốc
là 4 năm.Tổng Giám đốc sẽ bổ nhiệm các thành viên của Ban Thư ký Các vụ chức năng
Trang 9của Ban Thư ký trực thuộc Tổng Giám đốc hoặc một Phó Tổng Giám đốc Ban Thư ký có những nhiệm vụ sau:
▪ Trợ giúp về mặt hành chính và kỹ thuật cho các cơ quan chức năng của WTO (các hội đồng, các uỷ ban, …) trong việc đàm phán và thực thi các hiệp định;
▪ Trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và kém phát triển;
▪ Thống kê và đưa ra phân tích về tình hình, chính sách và triển vọng thương mại thế giới;
▪ Hỗ trợ các quá trình giải quyết tranh chấp và rà soát chính sách thương mại;
▪ Tiếp xúc và hỗ trợ các nước thành viên mới trong quá trình đàm phán gia nhập,
tư vấn cho các chính phủ muốn trở thành thành viên của WTO
1.4 Nguyên tắc hoạt động của WTO:
WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc tương đối phức tạp, bao gồm trên 60 hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế Tuy vậy, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng trên cơ sở 5 nguyên tắc pháp lý nền tảng sau:
-Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN):
Là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO.Theo nguyên tắc MFN, WTO yêu cầu một nước thành viên phải áp dụng thuế quan và các quy định khác đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên khác nhau (hoặc hàng hoá xuất khẩu tới các nước thành viên khác nhau) một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hay bất
kỳ một ưu đãi nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm tương tự của tất cả các quốc gia thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện WTO cũng cho phép các nước thành viên được duy trì một số ngoại lệ của nguyên tắc này
- Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT):
Nguyên tắc NT yêu cầu một nước phải đối xử bình đẳng và công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước Nguyên tắc này quy định rằng, bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới (đã trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ được hưởng sự đối xử không kém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước
Trang 10- Nguyên tắc cắt giảm thuế quan và không sử dụng các biện pháp phi thuế quan:
Theo nguyên tắc này, các thành viên WTO phải cam kết cắt giảm dần thuế quan và chỉ
sử dụng hệ thống thuế quan này để bảo vệ sản xuất trong nước - phải bãi bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan (hạn ngạch, cấp phép nhập khẩu…) trừ một số trường hợp hãn hữu được phép Với nguyên tắc này, việc nhập khẩu hàng hoá sẽ trở nên rõ ràng và dễ dự đoán hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu
- Nguyên tắc minh bạch:
Nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên WTO phải công khai, rõ ràng, dễ dự đoán trong các thủ tục, quy trình hay quy định liên quan đến thương mại.Với nguyên tắc này, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tìm kiếm thông tin cần thiết cho hoạt động kinh doanh của mình
mà không phải mất quá nhiều chi phí Ngoài ra, minh bạch hoá cũng giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc nhận biết và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình
- Nguyên tắc cạnh tranh công bằng:
Với nguyên tắc này chính phủ ở các quốc gia thuộc WTO ngoài thực hiện nghiêm
chỉnh 2 cơ chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia, thì còn phải giảm việc áp dụng các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như: trợ giá, tài trợ xuất khẩu hoặc áp dụng các biện pháp giành đặc quyền đặc lợi trong kinh doanh cho một nhóm doanh nghiệp, ví dụ như doanh nghiệp nhà nước Và WTO cũng cho phép các nước có thể áp dụng các biện pháp trả đũa, tự
vệ như áp dụng thuế đối kháng; thuế chống bán phá giá; thuế chống tài trợ xuất khẩu khi các nước khác thông qua hoạt động xuất nhập khẩu có hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại cho nền kinh tế của mình
- Nguyên tắc giành một số ưu đãi về thương mại cho các nước đang phát triển:
WTO áp dụng nguyên tắc này thông qua các biện pháp sau:
✓ Giành ưu đãi về thuế nhập khẩu khi thâm nhập vào các nước công nghiệp phát triển (GSP)
✓ Không phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của WTO như các nước công nghiệp phát triển
✓ Thời gian quá độ để điều chỉnh các chính sách kinh tế và thương mại phù hợp với quy định của WTO dài hơn
Trang 111.5 Thành viên của WTO:
Tính đến ngày 29 tháng 07 năm 2016, WTO có 164 thành viên Ngày 29/7, Afghanistan đã trở thành thành viên đầy đủ thứ 164 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sau khi hoàn tất các thủ tục đàm phán gia nhập kéo dài gần 12 năm
Hình 1.1 Afghanistan trở thành thành viên thứ 164 của WTO
1.6 Sự giống nhau và khác nhau giữa WTO và APEC:
a Những điểm giống nhau:
- Về mục tiêu hoạt động: WTO là tổ chức quốc tế duy nhất thực hiện chức năng giám
sát các hoạt động trong lĩnh vực thương mại thế giới với mục đích chính là đảm bảo tự do thương mại và công bằng trong các điều kiện cạnh tranh Tương tư, APEC cũng có cùng
chung mục tiêu với WTO là thúc đẩy tự do thương mại
- Các biện pháp và chương trình hành động của APEC áp dụng thực hiện mục tiêu tự
do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư phải phù hợp với quy tắc, luật lệ và thoả
thuận trong khung khổ của GATT/WTO
- APEC gắn chặt những cam kết của mình với việc thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO theo hướng thực hiện sâu hơn và sớm hơn trong khuôn khổ APEC (hay còn gọi
là “WTO plus” (WTO+), do đó trên bình diện toàn cầu, các thành viên APEC sẽ cố gắng
thực hiện các mục tiêu về tự do hóa thương mại và đầu tư mà WTO đề ra, đồng thời những mục tiêu ấy lại được cụ thể hóa, giám sát thực hiện chặt chẽ hơn trên bình diện khu vực
Trang 12trong khuôn khổ hợp tác APEC Điều này đã củng cố việc thực hiện các mục tiêu của
APEC
- Về cơ chế hoạt động: Các quyết định trong APEC đều dựa trên cơ sở cùng có lợi, đồng thuận, tự nguyện và phù hợp với các quy định của GATT/WTO với mục tiêu tăng cường hệ thống thương mại đa biên, ủng hộ tự do hoá thương mại và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư
- Phạm vị tự do hóa: cùng áp dụng các biện pháp thuế quan, phi thuế quan đối với hàng hóa, dịch vụ và đầu tư
Không bị ràng buộc ( vì là một diễn đàn kinh tế, không phải là một tổ chức Do vậy, xét về tổng thể, những cam kết trong khuôn khổ APEC không có tính ràng buộc cao như
Cùng có lợi, nguyên tắc đồng thuận, nguyên tắc tự nguyện, phù hợp với nguyên tắc của WTO/GATT,
Số lượng thành
viên
WTO hiện có 164 thành
viên,
APEC hiện có 21 thành viên,
Khu vực Trên toàn thế giới, Vành đai Thái Bình Dương,
Trang 131.7 Tóm tắt quá trình gia nhập WTO của Việt Nam:
o 1-1995: Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO Ban Công tác xem xét việc
gia nhập của Việt Nam được thành lập với Chủ tịch là ông Eirik Glenne, Đại sứ Na Uy tại WTO (riêng từ 1998–2004, Chủ tịch là ông Seung Ho, Hàn Quốc)
o 8-1996: Việt Nam nộp “Bị vong lục về chính sách thương mại”
o 1996: Bắt đầu đàm phán Hiệp định Thương mại song phương với Hoa kỳ
(BTA)
o 1998 - 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công tác về Minh
bạch hóa các chính sách thương mại vào tháng 7-1998, 12-1998, 7-1999, và 11-2000 Kết thúc 4 phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường
o 7-2000: ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ
o 12-2001: BTA có hiệu lực
o 4-2002: Tiến hành phiên họp đa phương thứ 5 với Ban Công tác Việt Nam
đưa ra Bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ Bắt đầu tiến hành đàm phán song phương
o 2002 – 2006: Đàm phán song phương với một số thành viên có yêu cầu đàm
phán, với 2 mốc quan trọng:
o 10-2004: Kết thúc đàm phán song phương với EU - đối tác lớn nhất
o 5-2006: Kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ - đối tác cuối cùng
trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương
o 26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng, Ban Công tác
chính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam Tổng cộng đã có 14 phiên họp đa phương từ tháng 7-1998 đến tháng 10-2006
o 7-11-2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại Geneva
để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO Ngày 7/11/2006, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy đã ký vào Nghị định thư gia nhập của Việt Nam kết thúc 11 năm tiến hành hàng loạt các cuộc đàm phán song phương, đa phương và tham vấn kể từ khi đệ đơn gia nhập vào năm 1995
Trang 14o 11-1-2007 WTO nhận được được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO
1.8 Các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO:
Ngày 7-11-2006, phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng WTO đã thông qua Báo cáo của Ban Công tác và các văn kiện gia nhập của Việt Nam Các thành viên WTO đã đón nhận Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này Ngay sau lễ kết nạp, với
sự chứng kiến của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và Tổng Giám đốc P Lamy đã ký Nghị định thư về
việc Việt Nam gia nhập WTO
Bộ văn kiện gia nhập WTO là thỏa thuận thương mại đồ sộ nhất cả về quy mô và mức độ cam kết mà chúng ta từng ký kết Nó tổng hợp các kết quả của hơn 11 năm đàm phán và là cơ sở để chúng ta thực hiện tư cách thành viên WTO của mình Các cam kết được tổng hợp trong 4 tài liệu sẽ có hiệu lực pháp lý sau 30 ngày kể từ khi Việt Nam thông báo cho WTO về quyết định phê chuẩn của Quốc hội Đó là:
- Báo cáo của Ban Công tác
- Nghị định thư gia nhập
- Biểu cam kết về thuế quan
- Biểu cam kết về dịch vụ
Bên dưới là phần tóm lược những nội dung cam kết chính về đa phương , dịch vụ
và thương mại hàng hóa
1.8.1 Các cam kết đa phương
Các cam kết đa phương của Việt Nam được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc được quy định trong các hiệp định của WTO Đây là những nguyên tắc mang tính ràng buộc với mọi thành viên nhằm mục đích đưa hệ thống luật lệ và cơ chế điều hành thương mại của các nước thành viên phù hợp chuẩn mực chung
Về cơ bản, chúng ta cam kết thực hiện toàn bộ các Hiệp định WTO ngay thời điểm gia nhập Các hiệp định này đưa ra các quy định cụ thể đối với các lĩnh vực
Trang 15thương mại được điều tiết bởi WTO: cấp phép, hải quan, kiểm dịch, chống phá giá, sở hữu trí tuệ
Các cam kết đa phương của Việt Nam thể hiện trong Báo cáo của Ban Công tác như sau:
• Chính sách tài chính - tiền tệ, ngoại hối và thanh toán:
Việt Nam, như tất cả các nước mới gia nhập khác, cam kết tuân thủ các quy định có liên quan của WTO và IMF về chính sách tài chính, tiền tệ, ngoại hối và thanh toán; theo điều 8 của IMF
• Các DN Nhà nước (DNNN) do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát, hoặc được hưởng đặc quyền hoặc độc quyền:
Các DNNN sẽ hoàn toàn hoạt động theo tiêu chí thương mại, Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của DNNN và không coi mua sắm của DNNN là mua sắm chính phủ Nhà nước can thiệp vào hoạt động của DN với tư cách là một cổ đông bình đẳng với các cổ đông khác
Cam kết này là hoàn toàn phù hợp chủ trương đổi mới hoạt động và sắp xếp lại DNNN của nước ta Vì vậy, về cơ bản, nước ta sẽ không phải điều chỉnh Luật DN Nhà nước khi thực hiện cam kết này
• Tư nhân hóa và cổ phần hóa:
Việt Nam sẽ có báo cáo thường niên cho WTO về tiến độ cổ phần hóa chừng nào còn duy trì chương trình này
• Chính sách giá:
Việt Nam cam kết thực thi việc quản lý giá phù hợp các quy định của WTO và sẽ bảo đảm tính minh bạch trong kiểm soát giá thông qua việc đăng tải danh mục các mặt hàng chịu sự quản lý giá và các văn bản pháp luật liên quan trên Công báo
• Khuôn khổ xây dựng và thực thi chính sách:
Việt Nam đưa ra 3 cam kết tại mục này Một là, trong quá trình phê chuẩn văn kiện gia nhập, Việt Nam sẽ xác định thể thức thực thi các cam kết (áp dụng trực tiếp hoặc nội
Trang 16luật hóa) và khẳng định nguyên tắc ưu tiên áp dụng các điều khoản trong cam kết quốc
tế
Hai là, các quy định của WTO được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ; các luật, các quy định dưới luật và các biện pháp khác bao gồm các quy định và biện pháp của chính quyền địa phương đều phải tuân thủ các quy định của WTO
Ba là, các cơ quan tư pháp (cơ quan xét xử) sẽ giữ tư cách độc lập, khách quan khi xét xử các quyết định hành chính thuộc các lĩnh vực mà WTO điều chỉnh
• Quyền kinh doanh (quyền xuất khẩu và nhập khẩu):
Kể từ khi gia nhập, Việt Nam cho phép DN và cá nhân nước ngoài được quyền xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như DN và cá nhân Việt Nam, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại Nhà nước (như xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí) và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi (như gạo và dược phẩm)
DN và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam phù hợp thông lệ quốc tế Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu, không bao gồm quyền phân phối trong nước
• Thuế nhập khẩu, các loại thuế và các khoản thu khác:
Việt Nam cam kết sẽ áp dụng thuế nhập khẩu theo nguyên tắc không phân biệt đối
xử giữa các thành viên WTO (trừ những trường hợp ngoại lệ được WTO cho phép) Nếu tăng thuế nhập khẩu, ta sẽ thực hiện theo quy định của WTO Ta cũng cam kết không duy trì các loại thuế và khoản thu áp dụng riêng cho hàng nhập khẩu (trên thực tế các phụ thu này đã được bãi bỏ)
Trang 17Việt Nam cam kết sẽ miễn, giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử và sẽ không gắn việc miễn, giảm thuế với các yêu cầu về xuất khẩu hay nội địa hóa
• Phí và lệ phí áp dụng với dịch vụ công:
Việt Nam cam kết sẽ áp dụng các loại phí và lệ phí theo quy định của WTO, cụ thể là mức phí sẽ phản ánh đúng giá trị của dịch vụ được cung ứng Mức phí quá cao đang áp dụng với một số dịch vụ (chủ yếu là phí hải quan), vì vậy, sẽ phải điều chỉnh lại khi ta vào WTO
• Thuế nội địa:
Cách áp nhiều mức thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu, bia dựa trên nồng độ cồn của ta hiện nay gián tiếp vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO Ta cam kết trong vòng 3 năm sau khi gia nhập sẽ điều chỉnh lại cách đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định của WTO Cụ thể, đối với rượu trên 20 độ cồn, ta hoặc là sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm; đối với bia, ta sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm
• Biện pháp hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu (bao gồm cấm nhập khẩu,
hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu ):
Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân khối lớn không muộn hơn ngày
31-5-2007 phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam
Với thuốc lá điếu và xì gà, ta cho phép một DN thương mại Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà
Với ô tô cũ, ta cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm với mức thuế nhập khẩu được xác định trong Biểu cam kết về thuế và đáp ứng các tiêu chuẩn
kỹ thuật theo quy định của pháp luật
Việt Nam bảo đảm cơ chế cấp phép nhập khẩu văn hóa phẩm nhằm mục đích kiểm duyệt sẽ tuân thủ theo các quy định về minh bạch hóa của WTO
• Xác định trị giá tính thuế nhập khẩu:
Việt Nam cam kết tuân thủ Hiệp định về xác định trị giá tính thuế nhập khẩu của WTO ngay từ khi gia nhập
Trang 18• Quy tắc xuất xứ:
Việt Nam cam kết tuân thủ Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO từ thời điểm gia nhập Trên thực tế, nước ta không duy trì các quy định về xuất xứ vi phạm quy định của hiệp định này
• Thủ tục hải quan khác và giám định trước khi giao hàng:
Việt Nam cam kết tuân thủ Hiệp định về giám định (giám định bắt buộc) trước khi xếp hàng cũng như các hiệp định có liên quan khác của WTO Trên thực tế, các quy định hiện hành của nước ta không mâu thuẫn với các quy định của WTO
• Việt Nam Chống bán phá giá, chống trợ cấp và các biện pháp tự vệ:
Việt Nam cam kết tuân thủ các hiệp định có liên quan của WTO khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ
Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu chứng minh được với đối tác nào đó, Việt Nam đã hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng quy chế “phi thị trường” đối với nước ta
• Các quy định về xuất khẩu, bao gồm thuế xuất khẩu, phí và lệ phí, thuế nội địa đối
với hàng xuất khẩu và hạn chế xuất khẩu:
Việt Nam cam kết ràng buộc và giảm thuế xuất khẩu chỉ cho loại phế liệu kim loại đen
và kim loại màu và tuân thủ các quy định của WTO về hạn chế xuất khẩu, phí, lệ phí, thuế nội địa đối với hàng xuất khẩu
• Chính sách công nghiệp, bao gồm cả chính sách trợ cấp:
Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO (trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa) Trừ các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, cho DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài ta bảo lưu được thời gian quá độ là 5 năm (trừ đối với ngành dệt may)
• Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, tiêu chuẩn và chứng nhận hợp chuẩn:
Nước ta cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định của Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)
• Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật:
Trên thực tế, hệ thống pháp luật và các biện pháp SPS mà nước ta đang áp dụng không có gì trái Hiệp định SPS Vì vậy, nước ta đã cam kết tuân thủ toàn bộ Hiệp định SPS kể từ khi gia nhập
Trang 19• Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Trims):
Nước ta đồng ý cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Hiệp định Trims từ thời điểm gia nhập
• Khu thương mại tự do và đặc khu kinh tế:
Các quy định và chính sách áp dụng cho các “đặc khu kinh tế” sẽ tuân thủ đúng các quy định của WTO và các cam kết của Việt Nam về trợ cấp, thuế nội địa, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và các quy định khác Luật Đầu tư mới, có hiệu lực từ 1-7-2006, đã điều chỉnh chính sách phù hợp với cam kết này của nước ta
• Những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Trips):
Hệ thống pháp luật trong nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của nước ta tương đối phù hợp với các quy định tương ứng của Hiệp định TRIPs, nên việc nước ta gia nhập WTO và cam kết tuân thủ Hiệp định TRIPs kể từ khi gia nhập WTO về cơ bản không làm phát sinh nghĩa vụ mới
• Các chính sách ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ:
Trong đề mục này, bên cạnh việc làm rõ các chính sách tác động đến thương mại dịch vụ, ta đưa ra một số cam kết để làm rõ, hoặc bổ sung thêm cho Biểu cam kết dịch
- Không quá 3 tháng sau ngày Nghị định thư gia nhập WTO được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê chuẩn, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định hướng dẫn việc cấp phép cung ứng dịch vụ chuyển phát nhanh Các DN có vốn đầu tư nước ngoài cung ứng
Trang 20dịch vụ chuyển phát nhanh có quyền sở hữu và vận hành các phương tiện đường bộ phục vụ cho việc cung ứng dịch vụ của họ
- Các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sẽ được dành đối xử quốc gia trong các vấn đề liên quan thiết lập hiện diện thương mại Việt Nam không cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài được mở thêm điểm giao dịch ngoài trụ sở của chi nhánh, nhưng sẽ không hạn chế số lượng chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Máy rút tiền tự động (ATM) không chịu sự điều chỉnh của quy định hạn chế mở thêm
“điểm giao dịch ngoài trụ sở chính” Ngân hàng nước ngoài sẽ được hưởng đối xử MFN
và đối xử NT trong việc lắp đặt và vận hành máy ATM
- Nước ta đồng ý cho phép các bên tham gia liên doanh được tự thỏa thuận về tỉ lệ vốn tối thiểu cần thiết để quyết định các vấn đề quan trọng của công ty TNHH và công ty cổ phần Để thực thi cam kết này, ta sẽ có hình thức pháp lý thích hợp để sửa điều 52 và
104 của Luật DN
• Minh bạch hóa:
Việt Nam cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ dành tối thiểu 60 ngày cho việc đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực điều chỉnh của WTO Ta cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí hoặc trang tin điện
tử (website) của các bộ, ngành Trên thực tế lâu nay ta đã làm
1.8.2 Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ
Nước ta đã cam kết khoảng 110 phân ngành trong tổng số 155 phân ngành thuộc 11 ngành dịch vụ theo phân loại của WTO
Cam kết về dịch vụ trong WTO rộng hơn về diện, nhưng không cao hơn nhiều về mức
độ mở cửa so với Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) Nước ta đã bảo vệ được những ngành, phân ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch với mức độ cam kết gần như BTA Với các ngành khác, nước ta đã có những bước tiến phù hợp định hướng phát triển thương mại dịch vụ nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung Điều quan trọng là nước ta đã đạt được một lộ trình thực thi với thời gian chuyển tiếp trong khoảng 3 đến 5 năm cho các cam kết chính trong các ngành dịch vụ quan trọng
Về cơ bản, cam kết mở cửa thị trường dịch vụ có thể được tóm tắt như sau: Cam kết nền (tức là những cam kết được áp dụng chung cho tất cả các ngành, phân ngành dịch vụ trong Biểu cam kết): Các công ty nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam dưới hình
Trang 21thức chi nhánh, trừ phi điều đó được cho phép theo cam kết trong từng ngành cụ thể Các công ty nước ngoài cũng được phép mua cổ phần trong các DN Việt Nam, nhưng mức mua trong từng ngành sẽ phải phù hợp với hạn chế về phần vốn thuộc sở hữu nước ngoài quy định trong Biểu cam kết (riêng ngành ngân hàng, phía nước ngoài chỉ được phép mua tối đa 30% cổ phần) Các công ty nước ngoài cũng được phép đưa cán bộ quản lý vào Việt Nam làm việc, nhưng tối thiểu 20% số cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam.Về cơ bản, các cam kết nền trong WTO là gần giống với cam kết của nước ta trong BTA
Cam kết cụ thể:
1 Dịch vụ kinh doanh
Theo phân loại của GATS, ngành dịch vụ này được chia thành 46 phân ngành Ta cam kết 26 phân ngành Các cam kết chính bao gồm:
- Bảo lưu quy định DN 100% vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) chỉ được cung cấp dịch
vụ cho các DN có vốn ĐTNN và các dự án nước ngoài ở Việt Nam trong vòng 1 năm, kể
từ khi gia nhập, đối với dịch vụ thuế, 3 năm, kể từ khi gia nhập, đối với dịch vụ kiến trúc, dịch vụ thiết kế đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan
- Có lộ trình tăng tỉ lệ vốn góp trong liên doanh, tiến tới cho phép thành lập DN 100% vốn nước ngoài với các dịch vụ thiết kế đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, dịch vụ quảng cáo, nghiên cứu thị trường, dịch vụ phân tích và kiểm tra kỹ thuật Nhìn chung, các DN 100% vốn nước ngoài chỉ được phép thành lập ở Việt Nam trong khoảng từ 2 đến
5 năm sau khi gia nhập
Như vậy, một số phân ngành được cam kết ở mức hiện trạng của ta, hoặc cam kết gần với mức trong BTA (thí dụ như dịch vụ kiến trúc, tư vấn kỹ thuật, quy hoạch đô thị, quảng cáo, dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật ), với một số khác, ta có một số bước tiến so với BTA, song nhìn chung đều phù hợp với thực tế và định hướng phát triển thị trường các dịch vụ này trong nước hiện nay, đồng thời, ta vẫn giữ được một khoảng thời gian quá độ hợp lý để bổ sung, ban hành các quy định về quản lý trong nước (thí dụ như dịch vụ tư vấn quản lý, dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ, dịch vụ tư vấn liên quan đến khoa học - kỹ thuật)
Trang 222 Dịch vụ thông tin (viễn thông)
- Về cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng: Cam kết trong WTO không có nhân nhượng thêm so với BTA Trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông cơ bản, bên nước ngoài chỉ được phép đầu tư dưới hình thức liên doanh với nhà khai thác Việt Nam được cấp phép với vốn góp tối đa là 49%
- Về cung cấp dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng: Trong 3 năm đầu kể từ khi gia nhập WTO, bên nước ngoài chỉ được phép đầu tư dưới hình thức liên doanh với nhà khai thác Việt Nam được cấp phép với phần vốn góp tối đa là 51% Ba năm sau khi gia nhập, bên nước ngoài mới được phép tự do lựa chọn đối tác liên doanh và nâng mức vốn góp lên 65%
Riêng với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) và dịch vụ viễn thông gia tăng giá trị được cung cấp trên hạ tầng mạng do Việt Nam kiểm soát, bên nước ngoài được phép tự do lựa chọn đối tác liên doanh ngay sau khi gia nhập và được phép tham gia vốn góp tối đa ở mức 70% vốn pháp định của liên doanh đối với dịch vụ VPN
- Về cung cấp dịch vụ viễn thông qua biên giới: Ba năm sau khi gia nhập, các công ty
đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam sẽ được cấp phép sử dụng trực tiếp dịch vụ vệ tinh của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Ta cũng có cam kết cho phép bên nước ngoài được kết nối và bán dung lượng cáp quang biển kết nối với các trạm cập bờ của Việt Nam với
lộ trình cụ thể
Về tổng thể, cam kết của ta cao hơn mức cam kết của Trung Quốc đưa ra năm 2000 nhưng thấp hơn nhiều mức cam kết của các nước gia nhập WTO sau Trung Quốc Bên cạnh đó, ta đã thành công trong việc bảo lưu hạn chế “nước ngoài phải liên doanh với đối tác Việt Nam đã được cấp phép” và giữ được mức vốn góp tối đa là 49% với dịch vụ viễn thông cơ bản có hạ tầng mạng
3 Dịch vụ xây dựng
Mức độ cam kết vẫn giữ như BTA nhưng bổ sung nội dung về chi nhánh Cụ thể, sau
3 năm kể từ khi gia nhập WTO, ta cho phép thành lập chi nhánh với điều kiện trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam Nhìn chung, cam kết đối với dịch vụ xây dựng là phù hợp với hiện trạng tại Việt Nam
4 Dịch vụ phân phối
Trang 23Cam kết của ta cho phép bên nước ngoài thành lập liên doanh với phần vốn góp tối đa là 49% kể từ khi gia nhập Hạn chế vốn góp này được từng bước nới lỏng và đến năm 2009, DN 100% vốn nước ngoài mới được phép thành lập
Tương tự BTA, ta không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài Bên cạnh
đó, với nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, phân bón, xi-măng , ta chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm Quan trọng nhất, ta hạn chế rất chặt khả năng mở điểm bán lẻ của DN
có vốn ĐTNN Mức cam kết của ta trong WTO thấp hơn hiện trạng, vì trên thực tế, một
số tập đoàn phân phối lớn đã thành lập siêu thị 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam Việc hạn chế khả năng mở điểm bán lẻ sẽ giữ được thị trường cho các nhà phân phối Việt Nam
5 Dịch vụ giáo dục
Phạm vi cam kết rộng hơn so với BTA nhưng vẫn thấp hơn hiện trạng của ta và hoàn toàn phù hợp chủ trương xã hội hóa giáo dục của nước ta Các cơ sở đào tạo có vốn nước ngoài phải tuân thủ các yêu cầu đối với giáo viên nước ngoài, chương trình đào tạo phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam phê chuẩn Riêng dịch vụ giáo dục phổ thông cơ sở ta chỉ cho phép đối với phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Phương thức 2)
7 Dịch vụ tài chính
- Dịch vụ bảo hiểm
Ta cho phép nhà cung cấp nước ngoài được cung cấp qua biên giới một số loại hình dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm cho DN có vốn ĐTNN và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, tái bảo hiểm, bảo hiểm đối với vận tải quốc tế Nhà cung cấp dịch vụ bảo
Trang 24hiểm nước ngoài được thành lập công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài sau khi gia nhập WTO, được cung cấp các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc từ ngày 1-1-2008 và thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO
Về tổng thể, mức cam kết này là tương đương với BTA (trừ cam kết về chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ) Mức cam kết này cũng thấp hơn nhiều so với cam kết của các nước gia nhập WTO gần đây
- Dịch vụ ngân hàng
Một số cam kết trong lĩnh vực quan trọng này được giữ ở mức như BTA, như không cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài mở điểm giao dịch ngoài trụ sở chi nhánh, hạn chế các tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của các ngân hàng thương mại quốc doanh cổ phần hóa, chưa tự do hóa các giao dịch vốn Bên cạnh đó, ta cũng đưa ra một
số bước tiến phù hợp với thực trạng và chính sách của ngành, như cho phép các ngân hàng nước ngoài thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài, đẩy nhanh lộ trình cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam
Nội dung các cam kết này hoàn toàn phù hợp với Luật Chứng khoán nước ta mới ban hành và định hướng phát triển của ngành
Trang 25chuyên khoa từ 1 triệu USD xuống còn 200.000 USD (ta đã bãi bỏ yêu cầu này trên thực tế)
9 Dịch vụ du lịch
Đối với dịch vụ khách sạn - nhà hàng, trong vòng 8 năm kể từ khi gia nhập, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn Đối với dịch vụ lữ hành và điều hành tour du lịch, ta cho phép thành lập liên doanh không hạn chế vốn góp nước ngoài Các công ty có vốn ĐTNN không được phép cung cấp dịch
vụ đưa khách ra nước ngoài (outbound) và dịch vụ lữ hành nội địa (domestic) Các cam kết này hoàn toàn phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam
10 Dịch vụ văn hóa, giải trí
Với dịch vụ giải trí, phía nước ngoài chỉ được phép thành lập liên doanh sau 5 năm kể
từ khi gia nhập với mức vốn góp tối đa là 49% Với lĩnh vực kinh doanh trò chơi điện tử, việc cung cấp phải thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam được cấp phép và phần vốn góp của phía nước ngoài không quá 49%
11 Dịch vụ vận tải
- Dịch vụ vận tải biển và hỗ trợ vận tải biển:
Ta không hạn chế nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vận chuyển hàng hóa qua biên giới, không cam kết đối với vận tải hành khách Sau 2 năm kể từ khi gia nhập, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập liên doanh khai thác đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam với phần vốn góp không quá 49% vốn pháp định
Ngoài ra, kể từ khi gia nhập, công ty nước ngoài được phép thành lập liên doanh với 51% sở hữu nước ngoài và sau 5 năm là công ty 100% vốn nước ngoài để cung cấp một
số dịch vụ vận tải biển quốc tế Số lượng liên doanh tối đa là 5 công ty ở thời điểm gia nhập, cứ 2 năm cho phép thêm 3 công ty, sau 5 năm kể từ khi gia nhập sẽ không hạn chế
số lượng công ty
Ta cam kết cho phép nước ngoài liên doanh để cung ứng một số dịch vụ hỗ trợ vận tải như dịch vụ xếp dỡ container, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi container
- Dịch vụ vận tải đường bộ:
Trang 26Ta không cam kết dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách qua biên giới Bên nước ngoài được phép thành lập liên doanh 49% và sau 3 năm lên 51% để cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách tại Việt Nam trên cơ sở xem xét từng trường hợp cụ thể 100% số lái xe của các liên doanh phải là công dân Việt Nam
- Dịch vụ vận tải đường thủy, đường sắt và đường không:
Tương tự dịch vụ vận tải đường bộ, ta chưa cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được vận chuyển hàng hóa và hành khách qua biên giới Với dịch vụ vận tải đường thủy,
ta cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập WTO Với dịch
vụ vận tải đường sắt, ta cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài nhưng chỉ được vận tải hàng hóa
Đối với dịch vụ bán và tiếp thị sản phẩm hàng không, dịch vụ đặt giữ chỗ bằng máy tính, ta cam kết theo thực tế hiện hành Đối với dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng máy bay,
ta cho phép thành lập liên doanh 51% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập WTO Sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, ta cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài
Danh mục miễn trừ tối huệ quốc
Ta bảo lưu một số ngoại lệ MFN (tức chỉ áp dụng với bên ký kết mà không đa phương hóa trong WTO) với một số lĩnh vực, gồm các Hiệp định bảo hộ đầu tư song phương (BIT) đã ký với các nước; các thỏa thuận trong lĩnh vực sản xuất, phát hành và trình chiếu phim ; và dịch vụ vận tải biển
1.8.3 Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại hàng hóa
1.8.3.1 Cam kết mở cửa thị trường nông sản
Gia nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra các cam kết mở cửa thị trường nông sản thuộc các nhóm sau:
- Cam kết về thuế quan: Việt Nam đã đưa ra cam kết về mức thuế nhập khẩu tối đa
được phép áp dụng (gọi là mức cam kết) đối với 100% số dòng thuế hàng nông sản
- Cam kết về các biện pháp phi thuế quan: Việt Nam đã đưa ra cam kết liên quan đến
các biện pháp hạn ngạch thuế quan, các biện pháp quản lý chuyên ngành nông nghiệp (xem thêm Phần về Các biện pháp bảo hộ nông nghiệp phi thuế)
- Quyền đàm phán ban đầu (INR): Trong quá trình thực hiện cam kết, trong một số
trường hợp nhất định không lường trước được, Việt Nam có thể tăng thuế cao hơn mức
Trang 27cam kết Trong trường hợp đó, Việt Nam phải đàm phán trước với những nước dành được Quyền đàm phán ban đầu (tên những nước đó được ghi bên cạnh mỗi dòng sản phẩm trong Biểu cam kết) Những nước đề nghị INR đối với nông sản của Việt nam chủ
yếu là Mỹ, Úc, New Zealand, Braxin
1.8.3.2 cam kết mở cửa thị trường hàng phi nông sản
Đàm phán mở cửa thị trường hàng hóa của Việt Nam khi gia nhập WTO tập trung vào vấn đề thuế nhập khẩu và các biện pháp phi thuế Về thuế nhập khẩu, Việt Nam đã đàm phán với các nước đối tác WTO trong các vấn đề:
• Ràng buộc tất cả các dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu (tức là Việt Nam
đưa ra cam kết về các mức thuế nhập khẩu tối đa có thể áp dụng đối với tất cả các mặt hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam)
• Chỉ dùng thuế nhập khẩu làm công cụ để bảo hộ duy nhất
• Cắt giảm thuế nhập khẩu, nhất là các mặt hàng đang có thuế suất áp dụng cao
(hay còn gọi là thuế suất đỉnh) và các mặt hàng mà các nước thành viên WTO khác có lợi ích thương mại lớn
• Tham gia các hiệp định tự do hoá theo ngành của WTO để cắt giảm toàn bộ
thuế áp dụng cho ngành đó xuống mức 0% (Hiệp định công nghệ thông tin, Hiệp định về thiết bị máy bay dân dụng, thiết bị y tế) hoặc hài hoà thuế suất ở mức thấp (Hiệp định hoá chất, Hiệp định hàng dệt may)
II CÁC HIỆP ĐỊNH CƠ BẢN CỦA WTO:
Các hiệp định WTO chứa đựng những thể chế, quy tắc, và luật lệ nhằm điều chỉnh quan hệ thương mại toàn cầu Có trên 50 hiệp định đa phương đã được ký kết Các thành viên WTO phải cam kết thực thi hầu hết các hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện Trong đó có 4 hiệp định quan trọng nhất, đặc biệt các nhà ngoại thương cần lưu ý:
- Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT),
- Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS),
- Hiệp định liên quan đến thương mại về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS),
- Hiệp định các biện pháp thương mại có liên quan đến đầu tư (TRIMS),
Ngoài ra còn có các hiệp định quan trọng khác:
- Hiệp định về nông nghiệp,
- Hiệp định về giá hải quan,
Trang 28- Hiệp định về dệt may (ATC),
- Hiệp định về trợ cấp và chống trợ cấp,
- Hiệp định về chống bán phá giá,
- Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch,
- Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT),
2.1 Hiệp định thương mại hàng hóa (GATT):
GATT là một hiệp định tổng hợp gồm 38 điều chứa đựng những quy định chung về
thương mại hàng hoá, trong đó có những nội dung quan trọng như sau: Đề ra các nguyên tắc không phân biệt đối xử: tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia (Điều 1, 3, 14); Đàm phán, sửa đổi, rút bỏ các ưu đãi (Điều 2, 27, 28); Các ngoại lệ (Điều 20, 21); quy định về thuế chống phá giá và thuế đối kháng (Điều 6); xác định trị giá hải quan (Điều 7); xuất xứ (Điều 9); hạn chế định lượng (Điều 11, 13); tự vệ (Điều 12, 19);trợ cấp (Điều 16), doanh nghiệp thương mại nhà nước (Điều 17); ưu đãi dành cho các nước kém phát triển (Điều 36-38), được đưa vào nội dung của GATT từ năm 1964
GATT có 4 nguyên tắc cơ bản: Chỉ được phép bảo hộ sản xuất trong nước bằng thuế quan, không cho phép sử dụng các hạn chế định lượng, trừ những trường hợp đặc biệt; thuế quan phải giảm dần và bị ràng buộc không tăng trở lại; áp dụng đãi ngộ tối huệ quốc; Áp dụng đãi ngộ quốc gia
2.1.1 Quy định WTO về tự do thương mại hàng hóa (quy định về giảm thuế
quan và phi thuế quan) Theo nguyên tắc cắt giảm thuế quan và không sử dụng các biện pháp phi thuế quan:
Các thành viên WTO phải cam kết cắt giảm dần thuế quan và chỉ sử dụng hệ thống thuế quan này để bảo vệ sản xuất trong nước - phải bãi bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan (hạn ngạch, cấp phép nhập khẩu…) trừ một số trường hợp hãn hữu được phép Với nguyên tắc này, việc nhập khẩu hàng hoá sẽ trở nên rõ ràng và dễ dự đoán hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu
2.1.1.1 Quy định về giảm thuế quan:
WTO thừa nhận thuế quan (thuế nhập khẩu) là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước Biện pháp này được đặt ra là do thuế quan là biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng là biện pháp mang tính minh bạch nhất
Trang 29Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên WTO Một số phương thức kỹ thuật áp dụng cho các biện pháp thuế quan của WTO:
a) Thuế hoá:
Do tính dễ dàng và dễ đàm phán cắt giảm của thuế quan, các thành viên WTO thoả thuận một cách thức mới cho việc tiếp cận thị trường nông sản là chỉ sử dụng thuế quan Các biện pháp hạn chế số lượng tồn tại trước Vòng Uruguay nay phải tiến hành thuế hoá tức là chuyển biện pháp phi thuế thành một mức thuế quan bổ sung có tác dụng tương đương Trong nông nghiệp người ta còn sử dụng hạn ngạch thuế quan Hạn ngạch thuế quan là cơ chế cho phép duy trì mức thuế suất thấp áp dụng với hàng nhập trong phạm vi hạn ngạch và mức thuế suất cao hơn đối với hàng hoá nhập khẩu vượt hạn ngạch Mức thuế đạt được sau khi thuế hoá sẽ tiếp tục được ràng buộc và cắt giảm thông qua đàm phán
b Ràng buộc về thuế quan:
Khi một nuớc thành viên cam kết “ràng buộc” về thuế suất với một dòng thuế, thành viên đó sẽ không được nâng thuế nhập khẩu cao hơn mức ràng buộc đó Đối với các sản phẩm nông nghiệp các nước thành viên cam kết ràng buộc thuế quan đối với toàn bộ các mặt hàng Trong lĩnh vực công nghiệp, các nước phát triển ràng buộc thuế 99% số mặt hàng Các con số tương ứng của các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi là 73% và 98% Các con số này đảm bảo mức độ tiếp cận thị trường an toàn hơn cho các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế Các mặt hàng không nằm trong biểu cam kết sẽ phải chịu mức thuế suất ràng buộc Tuy nhiên, ngay cả đối với các mặt hàng này vẫn phải tuân thủ nguyên tắc MFN
c Cắt giảm thuế quan :
Các nước thuộc WTO phải giảm thuế quan và không tăng thuế nhập khẩu để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại Ví dụ, trong lĩnh vực nông nghiệp, các nước phát triển cam kết cắt giảm trung bình 36% các dòng thuế và mỗi dòng cắt giảm 15% mức thuế, tiến hành trong 6 năm kể từ 01/01/1995, còn các nước đang phát triển giảm 24% trong vòng 10 năm Trong lĩnh vực công nghiệp,các nước phát triển cắt giảm 40% thuế và đưa mức thuế nhập khẩu hàng công nghiệp từ 6.3% bình quân xuống còn 3.8 %
2.1.1.2 Quy định về phi thuế quan:
WTO quy định các nước thành viên phải xóa bỏ các rào cản phi thuế quan, bao gồm cả các rào cản có tính chất hành chính như hạn ngạch, giấy phép, hạn chế xuất khẩu tự nguyện và quy định bắt buộc về tỷ lệ nội địa hóa để được tiêu thụ trong nước.Tuy nhiên, các thành viên khác có thể sử dụng các biện pháp phi thuế để hạn chế nhập khẩu trong
Trang 30những trường hợp hàng hóa ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, văn hoá truyền
thống, môi trường, và sức khoẻ con người như sau:
- Các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu:
Các biện pháp phi thuế quan cần được bãi bỏ, tuy nhiên trong trường hợp cần thiết vẫn
có thể áp dụng như: đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ văn hóa truyền thống, môi trường, sức khỏe cộng đồng
– Các biện pháp thủ tục cấp phép nhập khẩu:
WTO quy định cấp phép nhập khẩu phải đơn giản, rõ ràng và dễ dự đoán Các chính phủ phải công bố thông tin đầy đủ cho các nhà kinh doanh biết giấy phép được cấp như thế nào và căn cứ để cấp Khi đặt ra các thủ tục cấp phép nhập khẩu mới hay thay đổi các thủ tục hiện tại, các thành viên phải thông báo theo những quy định cụ thể cho WTO Việc xét đơn nhập khẩu cũng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ
– Các biện pháp bảo vệ tạm thời đối với các nước thành viên WTO:
Thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng và hành động tự vệ khẩn cấp.Việc ràng buộc
thuế quan không được tăng và áp dụng chúng một cách bình đẳng với mọi đối tác thương mại (MFN) là công cụ chủ yếu để đảm bảo thương mại toàn cầu được tiến hành thuận lợi Tuy nhiên, trong một số bối cảnh nhất định, WTO cho phép một nước thành viên có thể không tuân thủ các nguyên tắc này, cụ thể như sau:
· Phá giá và thuế chống bán phá giá:
Phá giá xảy ra khi một công ty xuất khẩu một sản phẩm với giá thấp hơn giá thông thường tại nước sản xuất Không phải khi nào phá giá cũng tạo ra cạnh tranh không công bằng Khi hành động phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất của một thành viên WTO cho phép thành viên đó đặt ra thuế chống bán phá giá để khắc phục những thiệt hại do phá giá gây nên.Tuy nhiên, việc áp dụng thuế chống bán phá giá phải tuân thủ theo những thủ tục chặt chẽ và phức tạp do WTO đưa ra
· Trợ cấp và thuế đối kháng:
Trợ cấp có thể được sử dụng để hỗ trợ cho một ngành sản xuất non trẻ vươn lên, chiếm lĩnh thị trường hoặc vì các mục đích khác Hầu như ngành nào cũng sử dụng trợ cấp Tuy nhiên một số hình thức trợ cấp bị cấm trong WTO, đặc biệt là trợ cấp xuất khẩu nông sản Khi hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành công nghiệp của một thành viên, thành viên có thể đặt ra thuế đối kháng để hạn chế thiệt hại do hành động trợ cấp gây ra
· Tự vệ khẩn cấp:
Trang 31Khi nhập khẩu một mặt hàng nào đó tăng lên đột biến và gây thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất của một quốc gia, thì WTO cho phép các thành viên bị thiệt hại có thể
sử dụng biện pháp tự vệ tạm thời kể cả hạn chế số lượng để khắc phục thiệt hại do nhập khẩu với số lượng lớn gây ra Nước áp dụng tự vệ khẩn cấp phải có nghĩa vụ thông báo về biện pháp mà mình đang áp dụng và tiến hành tham vấn với các nước bị ảnh hưởng
Tóm lại, trong quá trình hội nhập, việc xóa bỏ hàng rào thuế quan và các rào cản phi thuế quan là tất yếu khách quan do sự ràng buộc mà các quốc gia đã cam kết với nhau trong một định chế thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu là WTO cùng với các cam kết khác khi các quốc gia ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương Căn nguyên quan trọng để các quốc gia đi đến cam kết và thực hiện các cam kết này chính là những lợi ích của tự do hóa thương mại mang lại lớn hơn những bất lợi mà nó gây ra Tuy vậy, quá trình cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nước thành viên WTO với tư cách là một điều tất yếu khách quan cũng không phải chỉ diễn ra trên những con đường rải đầy hoa hồng Quá trình ấy cũng gặp không ít khó khăn trở ngại Đó chính là sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ Thất bại của vòng đàm phán Doha trong suốt hơn một thập
kỷ từ 2001 đến 2012 là minh chứng cho nhận định này Liên hệ Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, đã 10 năm là thành viên WTO Nhiều vấn đề đặt ra trong khi cắt giảm thuế quan và xóa bỏ hàng rào phi thuế quan đã dần dần được xử
lý Đó là các vấn đề hoàn thiện quy định pháp luật về thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và thuế chống phân biệt đối xử; tích cực đổi mới thể chế để hướng đến mục tiêu nền kinh tế Việt Nam được các nước WTO thừa nhận là nền kinh tế thị trường; tích cực trao đổi thông tin hỗ trợ các doanh nghiệp thích ứng với các biện pháp mà các nước áp dụng để thích ứng với quá trình xóa bỏ hàng rào thuế quan và các rào cản phi thuế quan Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra mà Việt Nam cần giải quyết trong thời gian tới
2.1.2 Những quy định riêng cho các nước đang phát triển:
Hiện nay 3/4 số thành viên của WTO là các quốc gia đang phát triển vì vậy một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các quốc gia đang phát triển để khuyến khích phát triển và cải cách nền kinh tế của họ
Để thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực hiện các hiệp định của WTO Ví dụ cụ thể, WTO cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời
Trang 32gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình Ngoài ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn.Toàn bộ những ưu đãi trong các hiệp định của WTO dành cho các nước đang phát triển, kém phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại trong đầu tư và dịch vụ
Giành ưu đãi về thuế nhập khẩu khi thâm nhập vào thị trường các nước công nghiệp phát triển (thuế quan ưu đãi - GSP):
Là mức thuế mà các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển ví dụ như
EU cho Việt Nam Mức thuế này sẽ được điều chỉnh từ 2 tới 3 năm một lần Hàng hóa được chia ra làm ba mức 1.Nhóm rất nhạy cảm, 2 Nhóm nhạy cảm và 3 Nhóm không nhạy cảm Hàng hóa càng nhạy cảm thì mức thuế sẽ càng cao; nhạy cảm được đo vào khả năng ảnh hưởng tới hàng nội địa Chương trình này chỉ nhằm mục đích tạo ưu đãi cho thương mại hàng hóa, mà không giải quyết các khó khăn hay vấn đề khác tại các nước đang phát triển Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có trong danh mục các mặt hàng được hưởng GSP như: hàng dệt may, giầy dép, đồ gỗ, rau quả, thực phẩm chế biến… Tuy nhiên, đa số các mặt hàng này đều trong diện nhạy cảm (S), nên chỉ được giảm thuế nhập khẩu Đặc biệt, các mặt hàng dệt may, nông sản, thủy sản còn phải tuân theo các điều khoản phòng vệ và giám sát khá chặt chẽ của EU đối với số lượng nhập khẩu (Phần II và Phần III của Quy định số 978/2012) Mới đây, theo quyết định của Ủy ban châu Âu, mặt hàng giầy dép của Việt Nam (nhóm S-12a, Phụ lục V), được ra khỏi danh sách các mặt hàng “trưởng thành” của EU Như vậy từ 01/01/2014, các mặt hàng giầy dép và túi xách của Việt Nam đều được hưởng quy chế GSP tiêu chuẩn với mức thuế 0% đối với hàng không nhạy cảm (NS) và giảm thuế 3,5% đối với hàng nhạy cảm (S) Năm 2013, Việt Nam xuất khẩu hàng giầy dép và túi xách vào EU đạt hơn 3 tỷ USD, với việc được hưởng GSP từ 01/01/2014, dự kiến xuất khẩu các mặt hàng này sang EU sẽ tăng mạnh trong năm
2014
Các biện pháp về thuế quan:
Khi tham gia vào WTO, các nước đang phát triển phải cam kết ràng buộc thuế đối với 100% hàng nông sản và 73% sản phẩm công nghiệp, còn các nước công nghiệp phát triển
là 100% và 97% Ngoài ra dựa trên mức thuế đã ràng buộc, các nước thành viên phải tiến
Trang 33hành cắt giảm thuế quan Trong lĩnh vực nông nghiệp, thuế suất đối với các nông sản sẽ được cắt giảm trung bình 36% ở các nước phát triển (mức giảm tối thiểu mỗi dòng thuế không ít hơn 15%) và 24% ở các nước đang phát triển (mức giảm tối thiểu đối với mỗi dòng thuế không ít hơn 10%) Việc cắt giảm được tiến hành lần lượt trong vòng 6 năm đối với các nước phát triển (1995-2000) và 10 năm đối với các nước đang phát triển (1995-2004)
Các biện pháp phi thuế quan:
- Các biện pháp hạn chế định lượng
WTO không cho phép dùng hạn ngạch, giấy phép có tính định lượng để hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ sản xuất trong nước, trừ sản phẩm dệt và may mặc Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, WTO yêu cầu các thành viên phát triển phải nâng dần tỷ lệ tăng trưởng hạn ngạch hàng dệt và may mặc qua các năm Đối với sản phẩm nông nghiệp, các nước có thể dùng hạn ngạch thuế quan Riêng với các nước đang phát triển, chậm phát triển, WTO cho phép sử dụng các biện pháp hạn chế định lượng như hạn ngạch, giấy phép này trong một thời gian nhất định, nhưng thời gian này dài hay ngắn phải thông qua đàm phán chứ không được tuỳ ý áp dụng
- Trợ cấp xuất khẩu và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ:
Trợ cấp trong nông nghiệp: Theo nguyên tắc chung của WTO, các thành viên của tổ chức này phải tiến hành cắt giảm trợ cấp xuất khẩu và dần xoá bỏ các biện pháp trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản WTO quy định rằng, các thành viên phải cam kết cắt giảm và tiến tới xoá bỏ tất cả các chính sách hỗ trợ trong nước mà chính phủ nước mình đang duy trì Nhưng, đối với các nước đang và kém phát triển thì không phải đưa vào các cam kết cắt giảm của mình các hỗ trợ nhỏ hơn 10% giá trị sản lượng nông sản nhận được
sự hỗ trợ đó
Trợ cấp trong công nghiệp: WTO yêu cầu các thành viên của mình phải loại bỏ ngay các hình thức trợ cấp trong lĩnh vực công nghiệp, nhưng cũng có những ưu tiên cho các nước đang phát triển vì chính sách trợ cấp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế của các nước này Ngoài trợ cấp xuất khẩu, các thành viên đang phát triển còn có thể áp dụng trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa trong vòng 5 năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực Riêng đối với các thành viên trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường được tiếp tục duy trì trợ cấp xuất khẩu
và trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa trong vòng 7 năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực