Hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ chiến lược lâu dài giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam, nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, có nhậ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ QUANG MẠNH
QUÁ TRÌNH HỢP TÁC LÀO - VIỆT NAM
TRONG ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ AN NINH
CỦA LÀO TỪ NĂM 1962 ĐẾN NĂM 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Lê Quang Mạnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được tham gia và hoàn thành khóa học đào tạo Tiến sĩ (2013 - 2016), tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Học viện An ninh nhân dân và Học viện Chính trị Công an nhân dân là cơ quan đã cử tôi đi học và tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành luận án Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Học viện Khoa học xã hội Việt Nam; Khoa Sử học, Phòng Đào tạo của Học viện
là cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và luận án Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ về tư liệu của các cơ quan chức năng, các trường công an nhân dân của Bộ Công an Việt Nam và đại diện Văn phòng cơ quan an ninh Lào tại Việt Nam, các học viên Lào đã và đang học tập tại Việt Nam để tôi hoàn thành luận án Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Võ Kim Cương, người Thầy đã tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, chia sẻ, hỗ trợ kịp thời cho tôi hoàn thành tốt khoá học
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Lê Quang Mạnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 5
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 8
7 Kết cấu của luận án 8
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào nói chung 9
1.2 Những công trình nghiên cứu về hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào - Việt Nam 16
1.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án 20
1.4 Những vấn đề luận án cần tiếp tục làm rõ 22
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ MỐI QUAN HỆ LÀO - VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA HỢP TÁC AN NINH TRONG QUAN HỆ LÀO - VIỆT NAM 23
2.1 Khái quát về mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào 23
2.2 Nhận thức chung về an ninh quốc gia và vai trò của hợp tác an ninh trong quan hệ giữa Lào và Việt Nam 43
Chương 3: THỰC TIỄN HỢP TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ AN NINH CỦA LÀO TỪ NĂM 1962 ĐẾN NĂM 2012 64
3.1 Nhận thức chung về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo 64
Trang 53.2 Thực tiễn và kết quả hợp tác đào tạo, bồi dƣỡng giữa các cơ quan chức năng, các cơ sở đào tạo của Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam 67 3.3 Hợp tác giữa công an các tỉnh biên giới Lào và Việt Nam trong đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ an ninh 101 3.4 Nhận xét chung về quá trình hợp tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam từ năm 1962 đến năm 2012 111
Chương 4: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HỢP TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ AN NINH GIỮA LÀO VÀ VIỆT NAM 117
4.1 Đánh giá quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dƣỡng cán
bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012 117 4.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra trong qúa trình hợp tác đào tạo cán bộ
an ninh giữa Lào và Việt Nam 129 4.3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả trong hợp tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam 137
KẾT LUẬN 147 TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANQG An ninh quốc gia
ANTT An ninh trật tự
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(Association of Southeast Asian Nations)
CSND Cảnh sát nhân dân
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
NDCM Nhân dân cách mạng
GD – ĐT Giáo dục - đào tạo
PCCC Phòng cháy chữa cháy
TTATXH Trật tự an toàn xã hội
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là hai nước láng giềng, có mối quan hệ hữu nghị và truyền thống tương trợ giúp
đỡ lẫn nhau từ lâu đời Vị trí địa lý và truyền thống lịch sử thân thiện đã gắn kết chặt chẽ hai dân tộc với nhau trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhất
là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo cách mạng ba nước Đông Dương chống lại chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc Mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào tiếp tục được xây dựng, vun đắp, thử thách qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của hai dân tộc giai đoạn (1945 - 1975) và trải qua thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay Mối quan hệ
đó đã trở thành mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, thủy chung, hiếm có, là tài sản quý báu của hai dân tộc
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang có những diễn biến phức tạp, biến đổi nhanh chóng, khó lường, các nước lớn đều đang điều chỉnh chiến lược an ninh quốc gia (ANQG) vì lợi ích quốc gia, dân tộc của mình Khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiềm ẩn và đang xuất hiện những nhân tố gây mất ổn định, đe doạ đến ANQG các nước, trong đó có Lào và Việt Nam Vì vậy, việc hợp tác trong lĩnh vực an ninh giữa Lào và Việt Nam là vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo an ninh của mỗi nước, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh khu vực và thế giới
Trong bối cảnh luôn bị các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá cách mạng tại Lào và Việt Nam, thì việc xác định hợp tác về an ninh giữa hai quốc gia
là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu trong quan hệ hợp tác giữa hai nước Nhìn lại chặng đường lịch sử về quan hệ hợp tác trên lĩnh vực an ninh giữa Lào và Việt Nam, thì lực lượng Công an Việt Nam luôn chủ động đảm nhiệm, gánh vác những công việc khó khăn nhất để hỗ trợ lực lượng An ninh Lào với phương châm
“giúp bạn là tự giúp mình”, “an ninh của bạn cũng chính là an ninh của mình”
Điều đó cũng phải được hiểu là: Đào tạo đội ngũ cán bộ an ninh giúp Lào cũng
Trang 8chính là đào tạo cán bộ an ninh cho Việt Nam
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà nhân dân Lào và Việt Nam đang tiến hành đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới, đồng thời đặt ra những yêu cầu khách quan về tăng cường mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước nói chung, giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công
an Việt Nam nói riêng trên những phương diện và nội dung mới Hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ chiến lược lâu dài giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công
an Việt Nam, nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ vững về chính trị, giỏi về nghiệp
vụ, có nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt
và hợp tác toàn diện giữa lực lượng công an hai nước, tạo lòng tin vững chắc, lâu dài, góp phần tăng cường bền vững mối quan hệ giữa hai đảng, hai nhà nước và hai dân tộc
Để làm tốt nhiệm vụ đó, chúng ta cần phải nhìn vào lịch sử quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo lực lượng an ninh qua các thời kỳ cách mạng, thông qua đó đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Bộ An ninh Lào tại các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Công an Việt Nam; rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam trong thời gian tới
Có thể khẳng định, quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh đã có bề dày lịch sử hơn 50 năm và là một điểm sáng, một bằng chứng sinh động trong bức tranh chung về mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào Tuy nhiên, nghiên cứu về quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo cán bộ an ninh cho Lào thì chưa có công trình nghiên cứu nào
đề cập đến một cách cụ thể và toàn diện Đây là vấn đề rất cần thiết, không chỉ hữu ích đối với các cơ quan, đơn vị liên quan đến công tác đào tạo cán bộ an ninh giữa hai nước mà còn giúp cho Lào và Việt Nam có cái nhìn cụ thể hơn trong hợp tác đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh Từ ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong
Trang 9việc rút ra bài học kinh nghiệm, đánh giá chất lượng, hiệu quả quá trình hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam trong lịch sử sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ an ninh giữa hai nước trong thời gian tới, điều này có ý nghĩa to lớn, có vai trò quan trọng trong hợp tác an ninh chung giữa Lào và Việt Nam nhằm đảm bảo ổn định chính trị, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, phục vụ tích cực các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và công tác đối ngoại đối với từng nước Đây thực sự là một khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa hai nước Chính vì vậy, dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu về lịch sử, đặc biệt là một người tham gia công tác nghiên cứu và đào tạo tại các trường Công an nhân dân - Bộ Công an Việt Nam, tôi thấy rằng, việc nghiên cứu về mối quan hệ Lào - Việt Nam trong hợp tác, đào tạo cán bộ an ninh là một đề tài cần được nghiên cứu một cách cụ thể và nghiêm túc Do đó, nghiên cứu đề tài: “Quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012” có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, khoa học và thực tiễn Đó cũng chính là lý do mà tôi chọn vấn đề này làm đề tài luận án tiến sĩ khoa học lịch sử
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình phát triển và những đặc điểm của hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012 Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm,
dự báo xu thế phát triển và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào, Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của luận án nhằm tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản sau đây:
Một là, làm rõ cơ sở khách quan hình thành, phát triển mối quan hệ hợp tác
an ninh và tính tất yếu trong hợp tác an ninh giữa Lào và Việt Nam
Trang 10Hai là, phân tích thực tiễn quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012 Trong đó làm rõ lịch sử công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng (nêu rõ bối cảnh lịch sử, cấp học, ngành học, chương trình, mục tiêu, loại hình, phương thức tổ chức, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và cơ sở vật chất, phương tiện đảm bảo cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ) Quá trình hợp tác trên lĩnh vực này còn được thể hiện trong việc Bộ Công
an Việt Nam cử chuyên gia sang Lào, giúp Bộ An ninh Lào xây dựng các trường công an, biên soạn chương trình, giáo trình, bài giảng và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tại Lào
Ba là, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an
ninh của Lào tại các cơ sở đào tạo, các cơ quan chức năng, công an các địa phương có chung đường biên giới với Lào thuộc Bộ Công an Việt Nam, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh giữa Lào và Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận án được nghiên cứu trên các địa bàn sau: Bộ An
ninh Lào, Bộ Công an Việt Nam, các trường công an của Lào và Việt Nam, Công
an các tỉnh có chung đường biên giới giữa Lào và Việt Nam
- Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 1962 đến năm 2012
Tôi chọn mốc thời gian nghiên cứu này vì những lý do sau:
- Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền
Trang 11Viêng Chăn tấn công lấn chiếm vùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chính phủ liên hiệp Tháng 4 năm 1962, theo yêu cầu của Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam,
Bộ Công an Việt Nam đã cử đoàn chuyên gia đầu tiên do đồng chí Lê Đông (lúc
đó đang là Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị) làm Trưởng đoàn sang giúp Ban
An ninh Trung ương Lào
- Tháng 8 năm 1962, đồng chí Chăm Mằn (bí danh của đồng chí Xôm Sừn, sau này là Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lào), làm việc với đoàn của Bộ Công an Việt Nam và đề nghị được trao đổi kinh nghiệm về công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ; về nhiệm vụ của công an và nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối công tác công an
- Năm 2012 là mốc thời gian có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mối quan hệ khăng khít, bền chặt giữa Lào và Việt Nam, hai nước tổ chức kỷ niệm 35 năm ngày ký kết Hiệp ước hữu nghị hợp tác (18/7/1977 - 18/7/2012) và 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962 - 05/9/2012), nhằm giáo dục truyền thống, vun đắp và phát huy mối quan hệ đặc biệt Lào và Việt Nam trong hiện tại và tương lai
Nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận án là tình hình và kết quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam trong 50 năm (1962 - 2012); đánh giá tình hình công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào trong 50 năm và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hợp tác đào tạo, bồi dưỡng giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam
4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng những quan điểm lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về đường lối đối ngoại giữa hai nước trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước
Trang 12Nhìn chung, mối quan hệ Lào - Việt Nam nổi lên hai vấn đề lớn, đó là: Mối quan hệ đặc biệt và sự hợp tác toàn diện, trong đó có vấn đề hợp tác an ninh Hai vấn đề này là kim chỉ nam về lý thuyết cho nghiên cứu quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử: Tác giả đã tiến hành sưu tầm, tập hợp tài liệu liên
quan, nhằm tái hiện thực tiễn hợp tác giữa Lào và Việt Nam trên lĩnh vực an ninh,
từ đó phân tích, đánh giá để làm rõ về quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012 Về quan hệ trước năm 1962 được đề cập khái quát với tư cách là cơ sở lịch sử
- Phương pháp lôgíc: Trên cơ sở phân tích nguồn tài liệu, trình bày toàn
diện, có hệ thống về quan hệ hợp tác trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012, luận án đưa ra luận giải, nhận định chung cũng như nhận xét, đánh giá về những thuận lợi, khó khăn, rút ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp nhằm phát triển mối quan hệ hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa hai nước trong thời gian tiếp theo
- Ngoài ra, luận án cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh để có cái nhìn khách quan, sát thực hơn về mối quan hệ này
Quá trình sử dụng các phương pháp nghiên cứu nói trên được nhìn nhận, tiếp cận trên quan điểm mác xít
4.3 Nguồn tài liệu
Luận án tham khảo và sử dụng những nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu gốc: Trong quá trình triển khai thực hiện nghiên cứu đề tài, tác
giả dựa vào các nguồn tài liệu gốc của hai đảng, hai nhà nước; của Bộ An ninh Lào, Bộ Công an Việt Nam, các trường công an của Lào và Việt Nam về hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng Ngoài ra, nguồn tài liệu lý luận chính trị như Văn kiện của Đảng, phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Trung ương và địa
Trang 13phương, đặc biệt là các văn bản về những thỏa thuận hợp tác, báo cáo sơ kết, tổng kết, công văn, quyết định, biên bản hội đàm, thông báo của Bộ Công an Việt Nam
và Bộ An ninh Lào, giữa công an các tỉnh của Lào và Việt Nam từ năm 1962 đến năm 2012 cũng sẽ được lựa chọn để sử dụng hợp lý trong luận án
- Tài liệu chuyên khảo: Luận án dựa vào các tài liệu nghiên cứu về mối
quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào; các tài liệu nghiên cứu về quá trình hợp tác trong đào tạo cán bộ giữa Lào và Việt Nam; các tài liệu nghiên cứu
về quá trình hợp tác trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh từ năm 1962 đến năm 2012, bao gồm: Một số luận án, bài viết nghiên cứu, tham luận khoa học liên quan trực tiếp đến quan hệ Lào - Việt Nam nói chung và quan hệ trên lĩnh vực an ninh, chủ yếu là hợp tác đào tạo, bồi dưỡng nói riêng Ngoài ra, những tài liệu của các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng góp thêm những góc nhìn về đối tượng nghiên cứu của đề tài Bên cạnh đó, nguồn tư liệu phong phú trên mạng internet với nhiều thông tin, hình ảnh liên quan cũng được tác giả khai thác, tuy nhiên, nguồn tư liệu này chủ yếu có giá trị tham khảo
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn tiếp xúc, trao đổi, phỏng vấn một số nhà nghiên cứu, cán bộ, lưu học sinh, sinh viên của Lào và Việt Nam
Nguồn tài liệu sử dụng cho việc nghiên cứu để làm rõ mục đích nghiên cứu với mong muốn kết quả mà luận án đạt được sẽ là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu quy mô, đánh giá đầy đủ, khách quan và hệ thống về quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào giai đoạn (1962 - 2012)
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là công trình nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện vềhợp tác an ninh và tính tất yếu trong hợp tác an ninh giữa Lào và Việt Nam; đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012; đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Bộ An ninh Lào tại các cơ sở đào tạo
Trang 14thuộc Bộ Công an Việt Nam; đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ đặc biệt giữa Lào và Việt Nam, về tính tất yếu trong hợp tác an ninh giữa hai nước và nhận thức về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, trong
đó có sự cần thiết phải hợp tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ an ninh trong giai đoạn (1962 - 2012) giữa Lào và Việt Nam Luận án cũng gợi mở một số vấn đề thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hợp tác an ninh nói chung, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh nói riêng giữa Lào và Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của luận án là công trình khoa học có giá trị tham khảo tốt đối với các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu toàn diện, nhiều lĩnh vực trong mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước và các đơn vị thuộc Bộ Công an Việt Nam như: Văn phòng Bộ Công an, Vụ Hợp tác quốc tế, Viện Chiến lược và Khoa học công an, Viện Lịch sử Công an, Cơ quan đại diện Bộ Công an Việt Nam tại Lào, Cục Tham mưu xây dựng lực lượng, Cục Tổ chức cán bộ, Cục Đào tạo, Cục Công tác chính trị và Công tác quần chúng, Cục Chính sách Luận án cũng có giá trị tham khảo đối với các trường công an của Lào và Việt Nam trong hợp tác đào tạo, bồi dưỡng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài Chương 2: Khái quát về mối quan hệ Lào - Việt Nam và vai trò của hợp tác
an ninh trong quan hệ Lào - Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012
Chương 4: Một số bài học kinh nghiệm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào nói chung
1.1.1 Công trình nghiên cứu “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007)” do Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tổ chức hợp tác cùng nghiên cứu và biên soạn
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào là một điển hình về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong
sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ
xã hội
Nhằm giữ gìn, vun đắp và phát huy mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào trong hiện tại và tương lai, vì sự trường tồn và phát triển của hai dân tộc, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã quyết định
tổ chức hợp tác cùng nghiên cứu, biên soạn công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007)”
Công trình nghiên cứu gồm có sáu sản phẩm: “Lịch sử quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007)” - sản phẩm chính; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) - Văn kiện; Lịch sử quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) - Biên niên sự
kiện; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) -
Hồi ký (gồm các bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; Hồi ký các chuyên gia và
quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào qua các thời kỳ); Lịch sử quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) - Sách ảnh và bộ phim “Bản anh hùng ca quan hệ Việt - Lào”
Trang 16Với tinh thần và phương pháp nghiên cứu, biên soạn công phu, nghiêm túc, khoa học; nguồn tư liệu, tài liệu lịch sử phong phú, đa dạng, có độ tin cậy cao, trong đó có những tư liệu lần đầu được công bố, các công trình nghiên cứu đã trình bày có hệ thống, sâu sắc, toàn diện và khách quan quá trình xây dựng và phát triển của mối quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, trên các lĩnh vực từ năm 1930 đến năm 2007; nêu bật được những thành quả, vai trò to lớn của mối quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc đối với tiến trình cách mạng mỗi nước; tổng kết, phân tích và đánh giá những đặc điểm của mối quan hệ đặc biệt, những thắng lợi, thành tựu nhân dân hai nước đã đạt được trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam thủy chung, son sắt, là tài sản vô giá, là nguồn sức mạnh, nhân tố bảo đảm thắng lợi sự nghiệp cách mạng của mỗi nước; đồng thời đúc kết các bài học kinh nghiệm, gợi mở những vấn đề vận dụng vào hiện tại và tương lai
Sản phẩm chính “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt
Nam (1930 - 2007)” được thu thập xử lý qua 645 đầu mục tài liệu tiếng Việt,
tiếng Lào và các tiếng nước ngoài khác, trong đó phần lớn là các tài liệu, tư liệu gốc, có độ tin cậy cao Số tư liệu, tài liệu trên được xử lý, thẩm định, sử dụng vào việc biên soạn tác phẩm với tinh thần cẩn trọng Các nhà khoa học hai bên đã trao đổi trên tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử, tuân thủ nghiêm túc những quy định của Ban Chỉ đạo Việt Nam và Lào về hợp tác nghiên cứu, biên soạn Sản phẩm chính Tất
cả các vấn đề nêu ra đều được hai bên thảo luận thẳng thắn, tôn trọng ý kiến của nhau
và đi đến nhất trí cao Sản phẩm được Hội đồng nghiệm thu quốc tế do Bộ Chính trị của hai đảng quyết định, các đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trung ương của hai đảng là đồng chủ tịch, đã đánh giá cao chất lượng nội dung sản phẩm nghiên cứu, cụ thể là:
Trang 17Nội dung thứ nhất: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương,
nhân dân hai nước Việt Nam và Lào phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt, đấu tranh giành độc lập, tự do (1930 - 1945)
Nội dung thứ hai: Liên minh Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam chiến đấu
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975)
Nội dung thứ ba: Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam -
Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1976 đến 2007
Nội dung thứ tư: Đánh giá thành quả, bài học và triển vọng
Những nội dung nghiên cứu có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai đảng, nhân dân hai nước Việt Nam và Lào
Công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
(1930 - 2007)” là công trình quy mô lớn nhất từ trước tới nay về mối quan hệ đặc
biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, được nghiên cứu, biên soạn công phu, tương xứng với tầm vóc lớn lao của mối quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc theo tinh thần mà Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã thoả thuận Công trình cũng có ý nghĩa to lớn, có giá trị khoa học, chính trị, tư tưởng cao, góp phần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân và thế hệ trẻ hai nước về mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, thuỷ chung, trong sáng giữa hai nước khi hoàn thành và xuất bản đúng dịp Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội lần thứ IX Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Trên cơ sở đó nâng cao ý thức giữ gìn, củng cố, vun đắp và phát triển mãi mãi mối quan hệ tốt đẹp, hợp tác toàn diện giữa hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Lào; đồng thời, giới thiệu với bạn bè quốc tế về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đấu tranh chống lại sự bóp méo, xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch chia rẽ tình đoàn kết của nhân dân hai nước
Trang 181.1.2 Nhóm những công trình nghiên cứu về mối quan hệ Lào - Việt
Lào và nước ngoài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài về quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào đi vào lịch sử thế giới như một biểu tượng sáng ngời
về tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, một tấm gương mẫu mực và hiếm có về sự thuỷ chung, trong sáng trong lịch sử quan hệ quốc tế Vì vậy, quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Lào - Việt Nam là một chủ đề được các cơ quan, đơn vị, các nhà khoa học của Việt Nam, Lào và nước ngoài đặc biệt quan tâm Đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về chủ đề này, nổi bật là những công trình nghiên cứu sau:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và
hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2007
Sách, ảnh bằng ba thứ tiếng Việt Nam, Lào, Anh, đã phản ánh đầy đủ về mối quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong lịch sử và thời đại ngày nay trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội 1998 “Xây dựng ASEAN thành cộng
đồng các quốc gia phát triển bền vững, đồng đều và hợp tác”, Trung tâm Khoa
học xã hội nhân văn quốc gia, Hà Nội, 1998 Kỷ yếu đã tập hợp những bài viết, bài nghiên cứu của các vị nguyên thủ quốc gia, các nhà nghiên cứu các nước ASEAN với nội dung tìm ra các giải pháp, cách thức để liên kết các quốc gia ASEAN thành cộng đồng các quốc gia phát triển bền vững, đồng đều và hợp tác, trong đó có mối quan hệ Lào - Việt Nam
Nhiều công trình nghiên cứu đã thể hiện khá toàn diện và sâu sắc về mối quan hệ Lào - Việt Nam ở những góc độ khác nhau: Lịch sử, truyền thống, những thành tựu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước qua các thời
kỳ có những công trình sau:
Chu Đức Tính, Biên niên sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh với tình đoàn kết
hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Tác
Trang 19phẩm đã liệt kê đầy đủ những mốc thời gian trong lịch sử, phản ánh những thời điểm, những sự kiện đáng nhớ về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kaysỏn Phômvihản, Hoàng thân - Chủ tịch Xuphanuvông trong việc xây dựng, gìn giữ và vun đắp tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào Tác phẩm cũng đã tái hiện những sự kiện lịch sử, những bài nói, bài viết, bức thư, điện… của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam - Lào, công trình nghiên cứu đã làm
rõ quan điểm “giúp bạn là tự giúp mình”
Phạm Nguyên Long, Phạm Đức Thành, Nguyễn Hào Hùng, “Hòa hợp dân
tộc ở Viêt Nam, Lào, Campuchia trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến bộ và
an ninh khu vực”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991 Tập thể tác giả đã tập
trung nghiên cứu sự cần thiết của liên minh chiến đấu Việt Nam, Lào, Campuchia trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, sự cần thiết trong chiến lược hợp tác 3 nước trên bán đảo Đông Dương trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, an ninh và điều
đó quyết định đến sự ổn định an ninh của ba nước trên bán đảo Đông Dương nói riêng và khu vực ASEAN nói chung
Phạm Đức Thành, Vũ Công Quý, Những khía cạnh dân tộc - tôn giáo trong
tam giác phát triển Việt Nam, Lào, Campuchia, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2009 Các tác giả đã đi sâu vào phân tích những đặc điểm riêng và sự tương đồng trong vấn đề dân tộc - tôn giáo từng quốc gia, đồng thời khẳng định: Việt Nam, Lào, Campuchia muốn làm tốt công tác giữ gìn an ninh trật tự đòi hỏi từng nước phải làm tốt những khía cạnh dân tộc - tôn giáo, điều đó có vai trò quan trọng đối với vấn đề an ninh khu vực
Nguyễn Xuân Sơn, Thái Văn Long, Quan hệ đối ngoại của các nước
ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Các tác giả đã phân tích những
chủ trương, đường lối, quan điểm đối ngoại của các nước ASEAN, trong đó có những đường lối đối ngoại đa phương, song phương và mục tiêu hướng tới xây dựng những điểm cần thống nhất giữa các quốc gia trong việc phát triển quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN
Trang 20Ngoài những công trình nghiên cứu như đã nói ở trên, vấn đề quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam còn được đề cập trong các luận án, luận văn, tạp chí nghiên cứu của nhiều tác giả Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu đã được công bố, đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu như sau:
Nguyễn Thị Phương Nam, Quan hệ Việt Nam - Lào từ 1975 đến 2005,
luận án tiến sĩ năm 2007 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu có hệ thống về quan hệ Việt Nam - Lào từ năm 1975 đến năm
2005 trên các bình diện chính trị - quân sự, kinh tế - thương mại, văn hóa - giáo dục nhằm đánh giá toàn diện về quan hệ song phương giữa hai nước trong thời kỳ xây dựng và phát triển Qua đó nghiên cứu lý giải các vấn đề cơ bản nổi lên trong từng giai đoạn, từng lĩnh vực của mối quan hệ song phương giữa hai nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Nguyễn Hào Hùng, “Những nhân tố thuận lợi và khó khăn trong quan hệ
đặc biệt Việt Nam - Lào hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số
3(66)/2004, tr 25-28 Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, tập trung phân tích, lý giải các nhân tố thuận lợi và khó khăn, yếu
tố trong nước và ngoài nước của từng quốc gia Việt Nam và Lào từ đó đi đến nhấn mạnh các điểm cần chú ý để phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn hiện nay
Nguyễn Hào Hùng, “Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong bối cảnh quốc
tế mới (dưới góc độ an ninh - chính trị)”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số
7(338)/2004, tr 51-57 Tác giả đã phân tích bối cảnh quốc tế có tác động đến mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào và nhìn nhận mối quan hệ giữa hai nước dưới góc độ an ninh - chính trị một cách sâu sắc và là một trong những nhân tố quyết định đảm bảo mối quan hệ hai nước phát triển ở mức độ đặc biệt
Nguyễn Hoàng Giáp, “Nhìn lại quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào trên lĩnh
vực chính trị, an ninh, kinh tế thời kì 1991- 2001”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế,
số 41/2001, tr 3-14 Tác giả đã khái quát toàn bộ mối quan hệ Việt Nam - Lào trên
Trang 21lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế trong 10 năm (1991- 2001) và đã phân tích những thành tựu đã đạt được, những vấn đề còn tồn tại và triển vọng quan hệ về các lĩnh vực nêu trên trong những năm tiếp theo
Trình Mưu, “Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân
Cách mạng Lào quyết định thắng lợi liên minh Việt - Lào”, Tạp chí Lý luận Chính
trị, 12/2008, tr 35 - 39 Tác giả đã khẳng định liên minh là nhu cầu tự nhiên của hai Đảng qua các thời kỳ và sự phối hợp giữa hai đảng trong việc đề ra đường lối chiến lược, sách lược, xây dựng căn cứ địa và hậu phương, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị và hoạt động ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng hai nước
Các công trình nghiên cứu của các tác giả người Lào nói về mối quan hệ Lào - Việt Nam có những công trình sau:
Xỉlửa Bunkhăm, Tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào truyền thống và
triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Tác phẩm đã làm rõ mối quan
hệ Lào - Việt Nam trong hai giai đoạn: Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc, đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà nhân dân hai nước đang tiến hành đã tạo ra những xung lực mới, đồng thời đặt ra những yêu cầu khách quan về gia tăng mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam với những phương thức mới và những nội dung mới
Thong Sivalay, Quan hệ Lào - Việt Nam từ năm 1986 đến 2012 - luận văn
thạc sĩ năm 2013 tại học viện Ngoại giao Tác giả đã phân tích các nhân tố cơ bản
tác động đến quan hệ giữa Lào và Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2012, nghiên cứu thực trạng quan hệ giữa Lào và Việt Nam trên các lĩnh vực an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế… đánh giá một cách tổng thể và đưa ra dự báo, triển vọng quan hệ hai nước trong bối cảnh khu vực, thế giới xuất hiện nhiều vấn
đề mới
Trang 22Hatsakhon PhachanSitthi, Chính sách của Lào đối với Việt Nam từ 1975
đến 2010 - Luận văn thạc sĩ năm 2012 tại học viện Ngoại giao Tác giả đã làm rõ
chính sách đối ngoại của Lào đối với Việt Nam trong giai đoạn (1975 - 2010); đánh giá những thành công và hạn chế của chính sách, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất một số kiến nghị nhằm củng cố, tăng cường và thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, phát triển của từng nước trong tình hình mới
Xamản Vinhakệt (2010), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với mối quan hệ hữu nghị
đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5 Tác giả khẳng
định công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, vai trò của Người đối với sự nghiệp cách mạng của Lào từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng hai dân tộc Việt - Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước
Ngoài ra, trong bài phát biểu của OSCar Salemink (quỹ Ford), ASEAN tiến
tới một cộng đồng các nền văn hóa bền vững trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo quốc tế
tại Hà Nội 1998 “Xây dựng ASEAN thành cộng đồng các quốc gia phát triển bền
vững, đồng đều và hợp tác”, Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn quốc gia, Hà
Nội, 1998 có nói tới sự cần thiết trong hợp tác, đào tạo giáo dục giữa các nước ASEAN trong thời đại hiện nay là yếu tố quan trọng tiến tới xây dựng một cộng đồng các nền văn hóa bền vững và nhấn mạnh sự hợp tác giữa Việt Nam và Lào trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như một điển hình
1.2 Những công trình nghiên cứu về hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
an ninh giữa Lào - Việt Nam
1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu của các tác giả người Việt Nam
Khi nghiên cứu về quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh từ trước đến nay có rất ít tài liệu, các vấn đề nghiên cứu
đa số được trình bày dưới dạng các luận án, luận văn, các bài viết tham luận tại
Trang 23các cuộc hội thảo quốc tế về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; hội thảo về đào tạo đại học tại các trường công an nhân dân Việt Nam, các trường an ninh, cảnh sát của Lào; hoặc nghiên cứu dưới dạng các bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí nội bộ của ngành Công an, cụ thể như sau:
Dương Thị Huệ, Hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng nhân dân
cách mạng Lào về đào tạo cán bộ trong hệ thống chính trị từ 1986 đến 2006, luận
án tiến sĩ năm 2011 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế cần khắc phục trong hợp tác đào tạo cán bộ thuộc hệ thống chính trị của hai đảng, trong đó có cán bộ an ninh; đúc kết những bài học kinh nghiệm từ thực tế lãnh đạo góp phần tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ trong hệ thống chính trị trong giai đoạn mới
Trong số 12/2012, số đặc biệt của Tạp chí Khoa học và Giáo dục an ninh
có một số bài viết nghiên cứu sau:
“Hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào góp phần phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa hai nước” của đồng chí Thượng tướng, GS, TS
Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã nêu khái quát
về sự hợp tác giữa lực lượng công an hai nước trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
“Học viện An ninh nhân dân - 50 năm hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
an ninh nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào” của đồng chí Thiếu tướng, GS,
TS Nguyễn Văn Ngọc - Giám đốc Học viện An ninh nhân dân, đã khẳng định bề
dày lịch sử và chất lượng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh cho nước Cộng
hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Trong báo cáo “Tổng kết 10 năm hợp tác giáo dục và đào tạo với Việt
Nam của Bộ Giáo dục Lào”, Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 10 năm hợp tác giáo dục
và đào tạo Việt Nam - Lào tại Cửa Lò - Nghệ An, 2002, tr.69 Ban Tổ chức đã tổng kết lại những kết quả to lớn đã đạt được giữa Bộ Giáo dục Lào và Bộ Giáo dục và đào tạo Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó, hợp tác đào
Trang 24tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh chiếm một phần không nhỏ, góp phần vào sự thành công chung trong hợp tác giáo dục nói riêng trong mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào nói riêng
Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “65 năm xây dựng và phát triển của Học
viện An ninh nhân dân” tháng 11/2011 có bài viết “Hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo của Học viện An ninh nhân dân” của Trung tướng, PGS, TS Bùi Văn Nam
chỉ nêu khái quát quá trình đào tạo của Học viện An ninh nhân dân cho sinh viên quốc tế, trong đó có công tác đào tạo cán bộ an ninh cho Lào
Đặc biệt, trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội năm 2012, “50 năm hợp
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào”
do Bộ Công an Việt Nam tổ chức Kỷ yếu đã tổng kết lại những kết quả to lớn đạt được giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh Lào trong hợp tác đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh, gồm những bài viết của các nhà giáo, nhà nghiên cứu trong các trường công an Việt Nam đã tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh cho Lào và một số bài viết nói về cảm tưởng của các cựu học viên Lào đã học tập ở Việt Nam, hiện nay đang công tác tại các cơ quan an ninh của Lào, điển hình như:
Tác giả Phạm Quang Bảo trong bài viết “Kinh nghiệm đổi mới phương
pháp dạy học cho học sinh Lào tại trường Văn hóa I”, đã nêu ra ý kiến cho rằng
vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đối với học sinh Lào là nhiệm vụ hết sức khó khăn vì ngôn ngữ giao tiếp giữa giáo viên và học sinh còn hạn chế; hơn nữa, chương trình đào tạo của Lào không đồng nhất với chương trình đào tạo của Việt Nam Việc đổi mới phương pháp dạy học cho học sinh Lào theo hướng tích cực, dạy cho học sinh cách học và tự học đã phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, qua đó thu được những kết quả cụ thể
Trịnh Xuyên, “Công an tỉnh Thanh Hóa tham gia đào tạo, bồi dưỡng kiến
thức thực tế cho cán bộ An ninh Lào”, bài viết cho thấy Công an tỉnh Thanh Hóa
luôn chú trọng và chủ động tham gia công tác hợp tác đào tạo cán bộ an ninh Lào với những nội dung thiết thực, hình thức, biện pháp phù hợp với đặc điểm, điều
Trang 25kiện của hai bên, đảm bảo theo đúng chủ trương của lãnh đạo hai đảng, hai nhà nước, hai tỉnh và hai ngành đã thỏa thuận Thông qua công tác hợp tác đào tạo cán
bộ nói riêng và hợp tác đảm bảo an ninh trật tự (ANTT) nói chung đã kịp thời đấu tranh, ngăn chặn, giải quyết các vấn đề phức tạp nổi lên, giữ vững ANTT khu vực hai bên biên giới, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để chính quyền hai tỉnh Thanh Hóa - Hủa Phăn cùng tập trung chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân…
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu của các tác giả người Lào
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả người Lào đề cập đến những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, như:
Soulixay Phichit, “Quan hệ đặc biệt Lào - Việt trên lĩnh vực an ninh - quốc
phòng từ sau chiến tranh Lạnh đến nay” - luận văn thạc sĩ năm 2008, tại Học viện
Ngoại giao Tác giả đã đi sâu nghiên cứu những thành tựu đạt được trong quan hệ Lào - Việt trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng, trong đó, làm sáng tỏ cơ sở hình thành, bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến mối quan hệ này giữa hai nước; những thành quả đã đạt được trong quan hệ an ninh - quốc phòng, trong đó
có lĩnh vực giáo dục - đào tạo, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm củng cố, thắt chặt mối quan hệ an ninh - quốc phòng giữa hai nước
Viengxay Thammasith, Bảo vệ độc lập của Cộng hoà Dân chủ nhân dân
Lào trên lĩnh vực chính trị - an ninh từ năm 1986 đến năm 2012 - Luận án tiến sĩ
năm 2016 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về mối quan hệ giữa chính trị - an ninh và độc lập dân tộc, quá trình xây dựng lực lượng an ninh góp phần bảo vệ độc lập dân tộc của Lào thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2012, trong đó có sự giúp đỡ của lực lượng Công an Việt Nam
Trong tham luận “Sự hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh
Lào là nhân tố đảm bảo thắng lợi của cuộc đấu tranh giữ vững an ninh trật tự ở mỗi nước” của đồng chíThong Băn Sẻng A Phon - Bí thư trung ương Đảng Nhân
Trang 26dân Cách mạng Lào - Bộ trưởng Bộ An ninh Lào, báo cáo tại hội thảo hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam Và Bộ An ninh Lào tại Hà Nội vào 11/2012 nói tới sự hợp tác về mọi mặt giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh Lào trong đó nhấn mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Trong tham luận“Đội ngũ cán bộ An ninh Lào được đào tạo tại Việt Nam,
thành quả thực tiễn thông qua công tác tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” của
đồng chí Thiếu tướng Kongthông Phômvichit - Thứ trưởng Bộ An ninh nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, báo cáo tại hội thảo hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam
Và Bộ An ninh Lào tại Hà Nội vào 11/2012 có khẳng định chất lượng đào tạo của các trường công an nhân dân Việt Nam trong đào tạo cán bộ an ninh Lào
Trong tham luận“Quan hệ hợp tác giữa Học viện An ninh nhân dân với
Học viện An ninh quốc gia Lào”, báo cáo tại hội thảo hợp tác giữa Bộ Công an
Việt Nam Và Bộ An ninh Lào tại Hà Nội vào 11/2012 tác giả Mala Vilachít đã
khái quát lại quá trình quan hệ hợp tác với Học viện An ninh nhân dân (ANND) Việt Nam để xây dựng Học viện An ninh quốc gia Lào, bắt đầu từ năm 1993 Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến sự quan hệ tranh thủ bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng các trường đại học của nước ngoài, trong đó có các trường đại học của Bộ Công An Việt Nam là người bạn chiến hữu
Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “40 năm quan hệ đặc biệt Việt - Lào
thành tựu và triển vọng” của Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 2002 Có bài
tham luận “Kết quả hợp tác trong lĩnh vực an ninh giữa Lào và Việt Nam” của
đồng chí Thiếu tướng Vilay Đuôngmạni có đánh giá kết qủa hợp tác giữa lực lượng công an hai nước trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
1.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án
Nhìn lại tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến luận án có thể rút
ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -
Lào, Lào - Việt Nam nói trên đã nêu bật những nhân tố tạo nên mối quan hệ đặc
Trang 27biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo của hai đảng, hai nhà nước; những hy sinh cao cả của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân hai nước Qua đó, thể hiện tinh thần nhất quán, xuyên suốt tư tưởng hai nước cùng tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ, giải phóng dân tộc, giành độc lập tự
do, thống nhất Tổ quốc, tiến lên xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau, hợp tác giúp đỡ nhau một cách trong sáng về mọi mặt, từ cấp trung ương đến các địa phương Những nội dung đã được nghiên cứu nêu trên sẽ được tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận án
Thứ hai: Xác định hợp tác về an ninh giữa hai quốc gia là nhiệm vụ cấp
bách và quan trọng hàng đầu trong quan hệ hợp tác của hai nước Tuy nhiên, nghiên cứu về quá trình hợp tác an ninh giữa Lào - Việt Nam và đặc biệt trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh từ trước đến nay có rất ít tài liệu Các vấn đề nghiên cứu đa số được trình bày dưới dạng các bài viết tham luận tại các cuộc hội thảo quốc tế về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; hội thảo về đào tạo đại học tại các trường công an nhân dân Việt Nam, các trường an ninh, cảnh sát của Lào; hoặc nghiên cứu dưới dạng các bài nghiên cứu về một vài vấn
đề cụ thể được đăng trên các tạp chí nội bộ của ngành Công an Nội dung của những vấn đề nghiên cứu đã phần nào khái quát được sự cần thiết trong hợp tác an ninh nói chung và hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh nói riêng Tuy nhiên, để phân tích sâu sắc thực tiễn hợp tác đào tạo, bồi dưỡng, đồng thời rút ra nhận xét, đánh giá và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam thì các vấn đề đã nghiên cứu chưa làm rõ được Vì vậy, nghiên cứu về quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh thực sự là một khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa hai nước
Trang 281.4 Những vấn đề luận án cần tiếp tục làm rõ
Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu có chọn lọc nguồn tài liệu của các nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước, chúng tôi thực hiện luận án “Quá trình hợp tác Lào -
Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012”, đây là vấn đề nghiên cứu rất cần thiết, không chỉ hữu ích đối với các cơ quan, đơn vị liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giữa hai nước mà còn giúp cho Lào và Việt Nam có cái nhìn cụ thể hơn trong hợp tác đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh giữa Lào và Việt Nam Chính vì vậy, dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu về lịch sử tôi thấy rằng việc nghiên cứu về mối quan hệ Lào - Việt Nam trong hợp tác, đào tạo cán bộ an ninh là một đề tài cần được nghiên cứu một cách cụ thể và nghiêm túc để làm rõ một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất: Làm rõ vai trò của hợp tác an ninh trong quan hệ giữa Lào và Việt Nam
Thứ hai: Phân tích thực tiễn hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012
Thứ ba: Rút ra nhận xét, đánh giá, tổng kết để phát hiện những vấn đề
mang tính quy luật, những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam
Trang 29Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ MỐI QUAN HỆ LÀO - VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA HỢP TÁC AN NINH TRONG QUAN HỆ LÀO - VIỆT NAM
2.1 Khái quát về mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
2.1.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
Mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào không phải là một hiện tượng nhất thời, mà đã có tiền đề tự nhiên, cơ sở lịch sử, xã hội từ lâu đời, bắt nguồn từ chính nhu cầu của cuộc sống hàng ngày và những nguyện vọng chính đáng của các thế hệ dân cư, nhất là các tộc người cư trú dọc biên giới hai nước Trong đó, mối quan hệ về địa - tự nhiên và địa - quân sự kết hợp với nhau, tạo nên một mối quan hệ chỉnh thể thống nhất mà trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển của mỗi nước, hai dân tộc Lào và Việt Nam đều nhận thức được phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau không thể tách rời như một tất yếu của lịch sử
2.1.1.1 Về các điều kiện tự nhiên và địa - quân sự của hai nước
a Về các điều kiện tự nhiên
Lào và Việt Nam nằm ở trung tâm bán đảo Ấn - Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Nếu Việt Nam chỉ có chung đường biên giới với ba nước là Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ở phía Bắc; ở phía Tây, giáp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, còn phía Đông, phía Nam giáp biển Đông và phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, thì Lào lại có đường biên giới chung với cả 5 nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở phía Đông, Vương quốc Thái Lan ở phía Tây, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ở phía Bắc, Liên bang Myanmar ở phía Tây Bắc, Vương quốc Campuchia ở phía Nam [172]
Trong phạm vi hẹp hơn là bán đảo Đông Dương, Việt Nam nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn như một bao lơn nhìn ra biển Đông với diện tích 331.212
km2, Lào nằm ở sườn Tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào đất liền của bán đảo, với diện tích 236.800 km2 Như vậy, dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai
Trang 30nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Lào và Việt Nam
Hình thể lãnh thổ hai nước có nét giống nhau, chiều ngang không rộng nhưng trải dài hàng nghìn kilômét Lãnh thổ Việt Nam có chiều dài khoảng 1650
km, vị trí hẹp nhất từ Đông sang Tây là 50 km (Quảng Bình), lớn nhất là 600 km (tại Bắc Bộ); lãnh thổ Lào cũng trải dài khoảng trên 1000 km, chiều ngang không rộng, chỉ khoảng hơn 100 km là chỗ hẹp nhất (vùng Paccađinh) và hơn 500 km là nơi rộng nhất Địa hình tự nhiên này đã quy định hệ thống giao thông ở Việt Nam
và Lào cùng chạy dài theo trục Bắc - Nam: ở Việt Nam là trục quốc lộ số 1A và ở Lào là trục quốc lộ 13 Về mặt tự nhiên, bên cạnh con đường 13 nối Pắc Xế (Lào)
- Kratie (Campuchia) - Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam), Lào có thể thông thương ra biển gần nhất bằng các hệ thống các đường xương cá chạy ngang trên lãnh thổ hai nước như: đường số 6 Sầm Nưa - Thanh Hoá, đường số 7 Xiêng Khoảng - Nghệ An, đường số 8 Khăm Muộn - Hà Tĩnh, đường số 9 Savẳnnàkhẹt - Quảng Trị, đường số 12 Khăm Muộn - Quảng Bình
Do điều kiện tự nhiên nên sự phát triển kinh tế - xã hội của Lào và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có những nét khác biệt Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, để hợp tác cùng phát triển, Lào và Việt Nam hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thị trường Ngoài ra, Lào và Việt Nam lại nằm kề con đường giao thông hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cho nên chiếm vị trí địa - chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á
b Về mặt địa - quân sự
Lào và Việt Nam ở bên cạnh nhau, lại nằm ở một vị trí có tầm quan trọng chiến lược của vùng Đông Nam Á và thế giới Từ trước đến nay, Việt Nam cũng như Lào, thường xuyên là nạn nhân của các thế lực bên ngoài hùng mạnh hơn nhòm ngó, xâm lược
Do bờ biển Việt Nam ở phía Đông tương đối dài, vì vậy phòng thủ về mặt
Trang 31biển gặp nhiều khó khăn hơn, trong khi đó, dựa vào địa thế hiểm trở, nhất là với dãy Trường Sơn - một lợi thế tự nhiên che chở cho cả hai nước, nên nhân dân hai nước chẳng những có thể khắc chế được những điểm yếu hở sườn ở phía Đông đối với Lào, phía Tây đối với Việt Nam, mà còn phát huy được sự cần thiết phải dựa lưng vào nhau, tạo ra nhiều cách đánh của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân; có thể lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh, giành thắng lợi từng bước, tiến lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược Những vị trí quân sự như Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng; hay cao nguyên Bôlôven của Lào và Tây Nguyên, vùng rừng núi Tây Bắc (Việt Nam) đều là những vị trí chiến lược có giá trị quan trọng nhất Đông Dương Các nhà quân sự cũng cho rằng: Ai nắm được những địa bàn trên, người đó sẽ làm chủ toàn bộ chiến trường Đông Dương
Thực tế lịch sử hơn một thế kỷ qua cho thấy: Chủ nghĩa đế quốc luôn coi Đông Dương là một vị trí chiến lược trọng yếu của chúng, cả về chính trị lẫn quân
sự Mọi âm mưu, thủ đoạn xâm lược Đông Dương của đối phương đều tiến hành theo một quy luật chiến tranh chung, đó là triệt để chia rẽ ba nước Đông Dương, dùng lãnh thổ của nước này làm bàn đạp để tấn công, đánh chiếm nước kia và ngược lại Việt Nam bị xâm lược thì Lào cũng không tránh khỏi bị xâm lược và ngược lại Đông Dương bao gồm cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia đã thực sự trở thành một chiến trường chung thống nhất, do đó, tất yếu nảy sinh mối quan hệ ba nước Đông Dương phải đoàn kết, hợp tác với nhau, dựa vào nhau cùng chiến đấu và cùng giành thắng lợi
Đánh giá về vị trí chiến lược của chiến trường Lào và mối quan hệ liên minh chiến đấu giữa Lào và Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng của Lào và
Việt Nam đã nhất trí nhận định: “chỉ khi nào địch chịu thất bại ở Việt Nam thì
chúng mới chịu bỏ Lào” [75] Nắm vững quy luật về mối quan hệ có tính sống
còn đó, Đảng, Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: giúp Lào giành thắng lợi cũng chính là tạo điều kiện thắng lợi của bản thân
mình Đảng, Nhà nước và Quân đội Việt Nam luôn coi nhiệm vụ đoàn kết, phối
Trang 32hợp chiến đấu và giúp đỡ nhân dân, Quân đội Lào là một nhiệm vụ quốc tế quan trọng nhất, đã kiên trì, liên tục thực hiện nhiệm vụ đó ngày càng có hiệu quả, và cuối cùng đã góp phần đưa cuộc cách mạng Lào cũng như cách mạng Việt Nam đến thắng lợi trọn vẹn, triệt để trong năm 1975 Về phía Lào, Đảng, Nhà nước, các lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc Lào cũng đánh giá cao sự đoàn kết, hợp
tác, giúp đỡ của Việt Nam, coi “liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam - Campuchia
và quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam là một trong những nhân tố bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng nước ta” [40; tr 55]
2.1.1.2 Về các nhân tố dân cư, xã hội
Lào và Việt Nam là hai quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Nhiều nhóm tộc người sống xen kẽ nhau, có đồng tộc cư trú ở cả lãnh thổ hai nước, có quan hệ mật thiết, lâu đời với nhau và có nhiều nét chung giống nhau Có thể kể ra các nhóm tộc người: Lào, Lự, Thái, Khơ Mú, Xinh Mun, Mảng sống ở Tây Bắc Việt Nam; H’Mông, Dao sống ở Đông Bắc Việt Nam; B’ru (Vân Kiều), Cơ Tu, Ơ Đu hay Tày Pọng, Brâu, R’Măm sống ở Trung Bộ Việt Nam Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia của hai nước hay nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Đặc điểm địa - tộc người này làm cho quan hệ đồng tộc, thân tộc cho đến nay vẫn tiếp tục chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia Lào - Việt Nam Nói cách khác, biên giới tộc người và văn hoá tộc người không trùng hợp với biên giới hành chính quốc gia là một hiện tượng tương đối phổ biến làm nên bức tranh phức hợp, nhạy cảm trong việc quản lý và phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa ở các vùng biên giới Các mối quan hệ của tộc người Kinh, người Môn - Khơme, người Thái đều gắn với lợi ích bên trong của mỗi quốc gia, đồng thời lại có sức nặng ảnh hưởng đến quốc gia khác, vì thế, nó có thể trở thành những vấn đề nhạy cảm chính trị cao Cho đến nay, trên địa bàn biên giới hai nước Lào và Việt Nam, nhiều địa phương vẫn còn duy trì phương thức canh tác nương rẫy, gắn liền với tình trạng chuyển canh, chuyển cư, thậm chí xâm
Trang 33canh, xđm cư giữa câc hộ dđn Hiện tượng kinh tế - xê hội năy tạo ra sự xâo trộn
về địa vực cư trú của cư dđn ở cả hai bín biín giới vă quâ trình dung hợp văn hóa giữa câc dđn tộc có điều kiện xảy ra Việc một tộc người sống phđn bố ở cả hai quốc gia lă hiện trạng nổi bật của nhiều vùng biín giới Việt Nam - Lăo Vì thế,
trong tđm thức văn hóa của mình, người dđn Việt Nam thường nhắc nhau “bân
anh em xa, mua lâng giềng gần”, còn người dđn Lăo xem người dđn Việt lă chỗ
“bản cạy hươn khiíng” (bản cạnh, nhă kề) đều hăm ý nhấn đến yếu tố không gian
Trong khi đó, ở biín giới Lăo - Thâi Lan, mối quan hệ đồng tộc lại coi trọng yếu
tố huyết tộc, như người Lăo, người Thâi thường nói: “bản phì mường noọng” (bản
chị mường em) Điều năy, thím một lần nữa khẳng định câc quan hệ cội nguồn vă quan hệ tiếp xúc chính lă những điều kiện lịch sử vă xê hội đầu tiín, tạo ra những mối liín hệ vă sự giao thoa văn hóa nhiều tầng nấc giữa cư dđn hai nước Một trong những minh chứng cho nhận định trín đó chính lă hai cđu chuyện huyền thoại của hai dđn tộc đều xoay quanh mô típ quả bầu mẹ, đó lă: người Lăo, thông qua cđu chuyện huyền thoại đê cho rằng câc nhóm dđn cư: Lăo, Thâi, Khơmú, Việt đều có chung nguồn gốc, đặc biệt, trong cđu chuyện năy, Khún Bulôm đê dặn
dò với câc con châu của Người: “Câc con phải luôn luôn giữ tình thđn âi với
nhau, không bao giờ được chia rẽ nhau Câc con phải lăm cho mọi người noi gương câc con vă coi nhau như anh em một nhă, người giău phải giúp đỡ kẻ nghỉo, người mạnh giúp kẻ yếu Câc con phải băn bạc kỹ trước khi hănh động vă đừng bao giờ gđy hấn xđm lăng lẫn nhau” [59; tr 7] Còn ở miền Tđy Quảng
Bình vă Quảng Trị của Việt Nam, người B’ru cũng giải thích nguồn cội của câc dđn tộc Tẵi, Íđí, Xơđăng, Bana, H’Mông, Dao, Tăy, Khơme, Lăo, Thâi, Việt cũng từ quả bầu mẹ Hình tượng quả bầu mẹ đê trở thănh biểu tượng cao đẹp, lý giải nguồn gốc vă tình đoăn kết keo sơn giữa câc dđn tộc hai bín dêy Trường Sơn Chính vì vậy, đến nay câc dđn tộc anh em sống ở khu vực biín giới Lăo vă việt Nam vẫn còn nuôi dưỡng niềm tự hăo vă truyền mêi cho nhau những cđu chuyện
về đạo lý lăm người vô cùng sđu sắc mă người xưa để lại
Trang 342.1.1.3 Về nhân tố lịch sử và văn hoá
a Về nhân tố lịch sử
Theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam như:“Việt điện u linh”,“Lịch
triều hiến chương loại chí” thì năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà Tiền Lý, khi
bị quân Lương ở phương Bắc đàn áp, Lý Nam Đế buộc phải lánh nạn và anh ruột của Vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang đất Lào lập căn cứ chống giặc ngoại xâm [141; tr 43-44], mở ra mối quan hệ đầu tiên Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Còn
hai bộ chính sử khác là “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông
giám cương mục” thì sự kiện quan hệ ngoại giao, thông hiếu đầu tiên giữa các
nước Đại Việt và Lào là vào năm 1067 [92; tr 232] Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV (năm 1353) những quy ước hòa bình đầu tiên về biên giới quốc gia đã được xác lập giữa Đại Việt và Lạn Xạng khi Châu Phạ Ngừm lần lượt chinh phục các mường Lào, lập nên vương quốc Lạn Xạng thống nhất đầu tiên của người Lào Ngoài ra, trong suốt quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427), nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được sự tiếp sức của các tộc trưởng và nhân dân Lào
ở vùng biên giới
Điều đáng nói là trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XV, hai nước Lạn Xạng - Đại Việt mặc dù không phải không có những thời khắc gặp nguy nan, nhưng với tinh thần lấy hòa hiếu làm trọng nên đã sáng suốt và công bằng, có
ý thức đề cao không thù hận, đồng thời biết chủ động vun đắp tình thân ái và hữu nghị lâu dài giữa hai dân tộc
Đến thế kỷ XVII là thời kỳ toàn thịnh của Lạn Xạng dưới Vương triều Xulinhavôngsả (1637 - 1694), nhà vua Lào đích thân cầu hôn công chúa của Vua
Lê Duy Kỳ Tuy nhiên, đây cũng là lúc chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng nên quan hệ giữa hai vương triều Hậu Lê và Lạn Xạng không phát triển được nhiều Cuối thế kỷ XVII, nội bộ hoàng tộc Lào rối ren Tuy nhiên bất chấp hoàn cảnh bất lợi của chế độ phong kiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi
Trang 35dưỡng Chính vì vậy, nửa cuối thế kỷ XVIII, khu vực Mương Phuôn (Xiêng Khoảng) đã trở thành một căn cứ đề kháng quan trọng của nghĩa quân Tây Sơn chống lại thế lực Nguyễn Ánh
Thế kỷ XIX, quan hệ Lào - Việt Nam đã có bước phát triển sâu hơn, nhất là phương cách xây dựng đồng minh giữa nhân dân hai nước Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, hai dân tộc cùng phải đấu tranh chống kẻ thù chung, đó là chủ nghĩa thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ Mỗi khi kẻ thù xâm lược nước này thì trước sau cũng can thiệp nước còn lại Để cứu nước và giữ nước, nhất là chiến đấu với các
đế quốc hung hãn của thời đại, hai dân tộc đã liên minh với nhau, dựa vào nhau để đánh thắng từng bước, tiến lên thắng lợi hoàn toàn kẻ thù xâm lược Lịch sử đã gắn vận mệnh hai dân tộc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, đặt ra cho hai nước mục tiêu chung, do vậy, hai dân tộc cùng chiến đấu, cùng giành thắng lợi là chân lý khách quan, là vấn đề có tính quy luật của cách mạng hai nước
b Về nhân tố văn hóa
Điều cần phải khẳng định là do quan hệ gần gũi và lâu đời nên người Lào
và người Việt đặc biệt là người dân ở vùng biên giới, am hiểu về nhau khá tường
tận Trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi đã mô tả khá ấn tượng về nền văn
hóa độc đáo và phong tục thuần phác của dân tộc Lào cũng như hiện tượng giao thoa văn hóa nở rộ giữa Đại Việt với các nước láng giềng Đông Nam Á, trong đó
có Lào Lạn Xạng
Sự giao thương của người dân Lào với người dân Việt, nhất là với người dân các tỉnh biên giới của Việt Nam cũng khá nhộn nhịp Người dân Việt Nam bày tỏ mối thiện cảm với một số mặt hàng có chất lượng cao của Lào như: vải dệt, chiêng Chính vì vậy, hiện nay, nhiều dân tộc ít người ở Tây Nguyên của nước ta vẫn còn giữ được những chiếc chiêng Lào nổi tiếng Đúng như nhà bác học Lê
Quý Đôn nhận xét: “Thật là một nước đã giàu lại khéo” [46; tr 156] Điều đáng
chú ý là trong quan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộng buôn bán vào sâu lục địa
Trang 36Có thể khẳng định rằng, sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc của triết lý nhân sinh người Việt cũng như người Lào Chính trong cuộc sống chan hoà này, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào
đã ngày càng hiểu nhau hơn và bày tỏ những tình cảm rất đỗi chân thành với nhau
Ngạn ngữ Lào có câu: “Nói hợp lòng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì
dẫu xin mua cũng chẳng bán” (Vầu thực khọ, khỏ kin cò bò thi, vầu bò thực khọ
khỏ xừ cò bò khải) Đó cũng là những tình cảm bình dị nhưng chân thành mà người dân nước Việt dành cho người bạn láng giềng của mình, điều đó còn được
lưu lại trong các thư tịch cổ: “người Lào thuần hậu chất phác”, [44; tr 361] trong giao dịch buôn bán thì “họ vui lòng đổi chác” [45; tr 225]
Mặc dù Lào và Việt Nam có tiếng nói, văn tự không giống nhau, mỗi dân tộc có sự sáng tạo và lựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị - xã hội khác nhau, nhưng những nét tương đồng thì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt đời sống hàng ngày của cư dân Lào và Việt Nam Các nền văn hóa nghệ thuật truyền thống của Lào và Việt Nam dễ dàng tìm thấy, đó là: Sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ các giá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kính người già… Sự tương đồng giữa văn hóa làng - nước của người Việt và văn hóa bản - mường của người Lào xuất phát từ cội nguồn cùng nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á Đồng thời, lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương và hướng thiện
Những yếu tố lịch sử cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá và sự tự nguyện đoàn kết của nhân dân hai nước Lào và Việt Nam trong chống ngoại xâm, nhất là trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược càng khẳng định mối quan hệ đặc biệt giữa Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
Trang 372.1.1.4 Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đặt nền móng vững chắc cho quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trong những năm đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh), với lòng yêu nước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào Người khẳng
định: “Nhân dân Lào, những thổ dân khốn khổ, sống trong cảnh luôn luôn nơm
nớp sợ đi phu Mỗi khi bọn sỹ quan phụ trách bắt phu đến làng, bản là chỉ thấy nhà hoang cửa trống, vì dân đã trốn biệt” [94; tr 89]
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam - Lào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào Trên thực tế,
từ nửa sau những năm 20 của thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào, nhất
là Viêng Chăn, và đã góp ý kiến về việc thực hiện đường lối cách mạng cùng
phương pháp vận động, tổ chức quần chúng ở Lào Người nói: “Cách mạng là sự
Trang 38nghiệp của quần chúng, công nông là lực lượng nòng cốt của cách mạng, nhưng phải có Đảng vững mạnh lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi” Người còn nhấn
mạnh: “là người Đông Dương, dù ở bất kỳ đâu cũng phải làm cách mạng đánh
đuổi thực dân Pháp” [4; tr.18] Điều đó càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật
thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũng trong năm 1928, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức
Như vậy, Lào trở thành một trong những địa bàn đầu tiên trên hành trình trở
về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương Quá trình Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng cho quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào Tiếp đó, Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này trở thành hai đảng lãnh đạo hai nước Ngay từ năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã không ngừng chăm lo, vun đắp cho sự đoàn kết giữa ba nước Đông Dương, vạch ra đường lối, chính sách và phương pháp cách mạng đúng đắn lãnh đạo cách mạng mỗi nước
Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai đảng, hai nhà nước cùng nhân dân hai nước dày công vun đắp, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam
2.1.2 Mối quan hệ Lào - Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập
và trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay
2.1.2.1 Hai dân tộc sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, đoàn kết, gắn bó đánh giặc ngoại xâm
Dân tộc Việt Nam, kể từ khi nhà nước Văn Lang ra đời đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử và liên tục bị chế độ phong kiến phương Bắc xâm lược, thống
Trang 39trị và do đó đã phải không ngừng chiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc Nước Lào cũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và cũng phải ngoan cường chống xâm lược
để khẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dân tộc, một quốc gia độc lập
Từ đầu thế kỷ XX, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào - Việt Nam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp, trong đó, có phong trào chống Pháp ở Áttapư do Khivolảlạt lãnh đạo (1900 - 1901), phong trào Phùmibun ở Trung Lào của Phòcàduột (1901 - 1902) và cuộc khởi nghĩa Hạ Lào do ông Kẹo, ông Cômmađăm lãnh đạo (1901 - 1937) đã có sự liên kết với các cuộc nổi dậy chống Pháp của bộ tộc Xơđăng ở Kon Tum (Việt Nam) Đặc biệt, năm 1918, phong trào chống Pháp của người H’Mông ở Tây Bắc Việt Nam do ChạuPhạpắtchây lãnh đạo lan rộng trên địa bàn nhiều tỉnh Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam, kéo dài đến tận năm 1922 gây cho Pháp nhiều thiệt hại
Như vậy, trước năm 1930 Lào và Việt Nam đã có sự đoàn kết cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế
về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử Từ khi được chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương
ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào - Việt Nam, tình đoàn kết đó đã được phát triển liên tục
và ngày càng bền chặt
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) đã mở đầu trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào Tại Hội nghị lần thứ nhất (tháng 10 năm 1930) Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời xác lập các nguyên tắc, phương hướng, đường lối chính trị và những nhiệm vụ cơ bản cho phong trào cách mạng của ba dân tộc ở Đông Dương, đặt phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương Chính vì vậy, trong những năm (1930 – 1939), các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào luôn hỗ trợ lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng mỗi nước Sự đoàn kết đấu tranh trong thời
Trang 40gian này là cơ sở để nhân dân hai nước Việt Nam - Lào tiếp tục nương tựa lẫn nhau, cùng phối hợp đấu tranh tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở mỗi nước
Trước sự tồn vong của các dân tộc Đông Dương, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương liên tiếp tổ chức các cuộc hội nghị quan trọng, đặc biệt là Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã quyết định nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước và thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu của cách mạng Đông Dương Hội nghị cho rằng các dân tộc Đông Dương đều chịu chung một ách thống trị của phát xít Pháp - Nhật cho nên phải đoàn kết lại đánh đuổi kẻ thù chung
Cuối năm 1944 đầu năm 1945, tình hình thế giới và Đông Dương có nhiều biến đổi, đe dọa trực tiếp quyền lực và lợi ích của phát xít Nhật ở Đông Dương Trước tình hình đó, hai dân tộc Việt Nam - Lào đã phối hợp đấu tranh chống phát xít Nhật, tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, thành lập chính phủ độc lập ở mỗi nước Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1945), Chính phủ Lào Ítxala (Lào tự do) (12-10-1945) là một trong những cơ
sở đưa tình đoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu để hai bên xây dựng mối quan hệ hữu hảo và vững chãi hơn trước, đây là một bước ngoặt đưa tình đoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu Sau khi giành lại được
chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký “Hiệp ước tương trợ Lào - Việt” và “Hiệp
định về tổ chức Liên quân Lào - Việt” [59; tr 116], đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho
sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam - Lào
Ngày 25 tháng 11 năm 1945, trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt
trận Việt - Miên - Lào chống Pháp xâm lược” [54; tr.26] Thực hiện chủ trương