1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)

37 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS Việt Nam thì “bắt người là BPNC trong tố tụng hình sự TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀO MINH DŨNG

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI THEO PHÁP

LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀO MINH DŨNG

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI THEO PHÁP

LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số : 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Quang Phương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đào Minh Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ 3

LỜI MỞ ĐẦU 4

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN

BẮT NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 10

1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn và biện biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam 10 1.2 Những yêu cầu và vai trò của biện pháp ngăn chặn bắt người 16 1.3 Biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam từ năm

1945 đến năm 2003 21 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003

VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 29

2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn bắt người 29 2.2 Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn bắt người trên địa bàn tỉnh Hải Dương 56 Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ĐÚNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VIỆT NAM 68

3.1 Các yêu cầu bảo đảm thi hành đúng biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam 68 3.2 Các giải pháp bảo đảm thi hành đúng biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự 80 KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

1 Bảng 2.1: Số đối tượng áp dụng BPNC bắt người tại tỉnh Hải Dương

năm 2011-2015

56

2 Biểu đồ 2.2: Số lượng các đối tượng bị bắt từ năm 2011-2015 57

3 Biểu đồ số 2.3: Số lượng đối tượng bị bắt theo các hình thức bắt từ

năm 2011-2015

58

4 Biểu đồ 2.4: Tương quan các hình thức bắt từ năm 2011 - 2015 59

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những biện pháp ngăn chặn (BPNC), thì BPNC bắt người chiếm

vị trí quan trọng nhất và được áp dụng thường xuyên để đấu tranh và phòng chống tội phạm Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam thì “bắt người là BPNC trong tố tụng hình sự (TTHS) được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang” thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành

án hình sự Việc bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị -

xã hội, “bắt người có tác động trực tiếp đến quyền tự do về thân thể của công dân, một trong các quyền nhân thân quan trọng nhất của con người được quy định trong Hiến pháp Vì vậy, cần phải có sự cân nhắc hết sức thận trọng khi

quyết định việc bắt” [66, tr 200] Việc bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần

nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội cũng như hành vi trốn tránh pháp luật gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi Ngược lại, việc bắt người không đúng pháp luật sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, liên quan đến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Việc nghiên cứu quy định của pháp luật TTHS về BPNC bắt người và thực tiễn thi hành tại địa bàn tỉnh Hải Dương để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề bất cập, những nguyên nhân chủ quan, khách quan làm ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thi hành BPNC bắt người trong TTHS Ngày 27/11/2015 Quốc hội đã thông qua BLTTHS mới Các quy định mới của BLTTHS cần phải nghiên cứu một cách toàn diện để thi hành đúng, hiệu quả, tạo cơ sở pháp lý, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

Trang 8

Thực tế trong những năm qua việc áp dụng BPNC bắt người trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự của Cơ quan điều tra (CQĐT) trong cả nước nói chung cũng như địa bàn Hải Dương nói riêng còn những hạn chế nhất định, dẫn đến hậu quả bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Vì vậy, hiểu đúng và thống nhất các quy định của BLTTHS về BPNC bắt người là điều cần thiết giúp cơ quan pháp luật nâng cao hiệu quả trong việc điều tra, xét xử và thi hành án hình sự Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về BPNC bắt người với tính chất là một trong những BPNC theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn của tỉnh Hải Dương Từ những lý do nêu trên,

tác giả chọn đề tài "Biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật tố tụng

hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)" làm luận

văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về BPNC bắt người Các nghiên cứu này đã được thể hiện trong công trình khoa học được công bố trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành và luận văn thạc sĩ, một số giáo trình giảng dạy môn pháp luật, phần lớn đã tập trung làm rõ được các vấn đề lý luận và pháp lý có liên quan Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả:

Nguyễn Vạn Nguyên có công trình "Các biện pháp ngăn chặn và

những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng" (Nhà xuất bản Công an nhân

dân, Hà Nội, 1995);

Nguyễn Văn Điệp: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam

theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận án tiến sỹ Luật học, Hà Nội, 2005;

Trần Quang Tiệp: “ Biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp”

Tạp chí TA nhân dân tối cao, số 17/2006, tr 14-17;

Trần Quốc Toàn: “Biện pháp ngăn chặn bắt người đang bị truy nã

trong tố tụng hình sự Việt Nam” Luận văn thạc sỹ luật học, 2008;

Trang 9

Lê Văn Bình: “ Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng

hình sự Việt Nam” Luận văn thạc sỹ luật học, 2010;

Nguyễn Trọng Phúc "Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố

tụng hình sự Việt Nam” Luận án tiến sỹ luật học, 2010;

Nguyễn Hồng Ly “Biện pháp ngăn bắt người và thực tiễn áp dụng của

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng” Luận án

thạc sỹ luật học, 2011;

Nguyễn Thị Huân: “Biện pháp ngăn chặn bắt người phạm tội quả tang

trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” Luận văn thạc sỹ luật học, 2013;

Nguyễn Thị Thu Hoài: “Biện pháp ngăn chặn đối với người chưa

thành niên phạm tội” Luận văn thạc sỹ luật học, 2015;

Trên cơ sở những nghiên cứu và những bài viết của các nhà khoa học cùng với hệ thống các sách giáo trình, sách chuyên khảo sẽ là những cơ sở khoa học để tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa về BPNC bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam

Trong các công trình nghiên cứu của các học giả mới chỉ đề cập đến vấn đề lý luận chung về các BPNC hoặc phân tích các quy định của pháp luật thực định về các biện pháp đó Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát về BPNC bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hải Dương Luận văn này là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này tại tỉnh Hải Dương ở cấp độ luận văn thạc sĩ Luận văn tập trung nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn áp dụng BPNC bắt người qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hải Dương để làm sâu sắc hơn vấn đề nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng BPNC bắt người qua thực tiễn trên địa bàn Hải Dương, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần thi hành đúng BPNC bắt người trong thời gian tới

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện tốt mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Phân tích cơ sở lý luận và pháp lý để làm rõ khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và cơ sở pháp lý của BPNC bắt người

- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng BPNC bắt người theo luật TTHS, bao gồm thực trạng về chủ thể, kết quả và nguyên nhân tồn tại, hạn chế của việc thi hành BPNC bắt người ở tỉnh Hải Dương trong thời gian qua

- Phân tích và đề xuất các phương hướng, giải pháp góp phần thi hành đúng BPNC bắt người ở tỉnh Hải Dương nói riêng và trong cả nước nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận về BPNC bắt người trong TTHS Việt Nam;

- Cơ sở pháp lý của BPNC bắt người trong TTHS;

- Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về BPNC bắt người trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Những điểm mới trong BLTTHS năm 2015 về BPNC bắt người và những giải pháp bảo đảm áp dụng đúng BPNC bắt người

- Về thời gian: Từ năm 2011 đến 2015

Trang 11

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp truyền thống phù hợp với việc nghiên cứu đề tài; cụ thể:

- Phương pháp phân tích, so sánh luật học, bình luận… được sử dụng

để tìm hiểu những vấn đề lý luận về BPNC bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam

- Phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, đánh giá… được sử dụng khi tìm hiểu thực trạng pháp luật về BPNC bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam;

- Phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn giải được sử dụng khi nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

6 Ý nghĩa của luận văn

- Là một công trình nghiên cứu độc lập và chuyên sâu về BPNC bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam, luận văn làm rõ những khái niệm, địa

vị pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của người bị bắt để giúp cho việc áp dụng các quy định của pháp luật đối với người bị bắt được đúng người, đúng tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội Từ đó mở đầu cho một giai đoạn TTHS được chính xác, kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp khắc phục những vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật hiện hành đối với người bị bắt theo pháp luật TTHS Việt Nam ở tỉnh Hải Dương

- Một số kinh nghiệm được rút ra từ các phân tích và đánh giá ở trên sẽ

là cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bắt người theo pháp luật TTHS Đồng thời, giúp cho người bị bắt, người bảo

Trang 12

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị bắt và các cơ quan TTHS áp dụng các quy định pháp luật về người bị bắt một cách đúng đắn, hiệu quả và chính xác

Với ý nghĩa như vậy, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo khi học tập, nghiên cứu về chuyên ngành Luật hình sự và TTHS

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn bắt người và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm thi hành đúng biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 13

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT

NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn và biện biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn

“BPNC là một trong những chế định quan trọng trong luật TTHS nước ta” [4, tr7] Các BPNC mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa người phạm tội, bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở quá trình điều tra, truy tố, xét xử cũng như để đảm bảo thi hành án Các BPNC khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Việc áp dụng các BPNC gắn liền với sự hạn chế một số quyền và tự do cá nhân đối với bị can, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhưng lại bảo về được quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều công dân khác, như: người bị hại, bị đơn dân sự, ngươi có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan “Bảo vệ các quyền và tự do ấy trong TTHS

có ý nghĩa chính trị-pháp lý và trên bình diện chung là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [42, tr20]

Vì vậy, BLTTHS đã dành một chương riêng để quy định về những BPNC Trong những văn bản pháp luật, tài liệu hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về BPNC

BLTTHS Việt Nam hiện hành không đưa ra một khái niệm cụ thể về BPNC, Điều 79 BLTTHS năm 2003 chỉ đưa ra những căn cứ áp dụng BPNC như sau:

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng

tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc

sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, CQĐT, VKS, TA trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có

Trang 14

thẩm quyền theo quy định của BLTTHS có thể áp dụng một trong những BPNC sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [48, Điều 79]

Việc quy định những căn cứ áp dụng BPNC để bảo đảm cho hoạt động của những cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh nhằm tiến tới loại trừ hiện tượng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội Căn cứ vào mục đích của chúng, có thể chia thành ba nhóm sau:

- Nhóm 1: Gồm những biện pháp nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án như: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm;

- Nhóm 2: Gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập và ghi nhận chứng cứ như: Khám xét người, khám xét chỗ ở, địa điểm nơi làm việc, khám nghiệm hiện trường, xem xét dấu vết trên thân thể ;

- Nhóm 3: Gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho quá trình tiến hành tố tụng được diễn ra bình thường và thuận lợi như: Kê biên tài sản, áp giải bị can, bị cáo, người

bị kết án, dẫn giải người làm chứng, những biện pháp xử lý

do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa [66, tr 193-194]

Trong khoa học luật TTHS Việt Nam cũng có những khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn

Theo Từ điển Luật học giải thích biện pháp ngăn chặn là:

Biện pháp cưỡng chế về mặt TTHS áp dụng khi có

đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn

Trang 15

chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [73, tr.69] Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội đưa

ra khái niệm:

BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy

tố, xét xử và thi hành án hình sự [66, tr193]

Có thể thấy những khái niệm trên đã phản ánh được những dấu hiệu đặc trưng của BPNC Những khái niệm đó đều dựa trên cơ sở phân tích nội dung những quy phạm pháp luật tại Điều 79 BLTTHS năm 2003, cũng như thực tiễn áp dụng trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

Nhằm xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh trong đó bao hàm những dấu hiệu đặc trưng như: căn cứ áp dụng, mục đích áp dụng, thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng Mọi hành vi áp dụng BPNC không đúng đối tượng, thẩm quyền, căn cứ, cũng như thủ tục đều bị coi là vi phạm pháp luật.Tác giả xin đưa ra khái niệm:

BPNC là những biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội khi có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án hình sự

BLTTHS năm 2003 quy định những BPNC gồm: Bắt người (bốn trường hợp bắt: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người trong trường hợp

Trang 16

khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; Bắt người có lệnh truy nã); Tạm giữ; Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Mỗi BPNC có những quy định cụ thể về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng, do đó tùy từng trường hợp để áp dụng BPNC để đạt hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

1.1.2 Khái niệm về biện pháp ngăn chặn bắt người

Theo Từ điển Luật học thì:

Bắt là một trong những biện pháp ngăn chặn mà CQĐT, Viện kiểm sát (VKS) hoặc Tòa án (TA) áp dụng khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như khi thấy cần thiết để đảm bảo thi hành án [73,

tr 44]

Bắt người trong TTHS là giữ người thực hiện hành vi phạm tội, không cho người đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đề phòng người đó bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án

Hoạt động bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị,

xã hội vì bắt người đúng hay không đúng các quy định của pháp luật có liên quan và ảnh hưởng đến những quyền cơ bản của công dân: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm…của công dân, liên quan đến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bắt người như vật nên thời gian trước đây Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật TTHS quy định chi tiết về việc bắt người như: Luật số 103-SL/005 ngày 20/5/1957, Sắc luật số 002-SLT ngày 18/6/1957; Sắc luật số 02-SL ngày 15/3/1976; Bộ luật TTHS năm 1988-Bộ luật TTHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam BPNC bắt người một chế định pháp lý quan trọng trong TTHS nước ta Việc quy định và thi hành đúng đắn BPNC bắt người là bảo đảm rất quan

Trang 17

trọng cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của TTHS là phát hiện nhanh chóng, xử

lý kịp thời và công minh người thực hiện hành vi phạm tội, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội, ngăn không cho người phạm tội tiếptục phạm tội hoặc phạm tội mới; đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trong khoa học luật TTHS bắt người được nhiều tác giả nghiên cứu

và có những quan niệm, ý kiến khác nhau, cụ thể:

Ths Nguyễn Hữu Huân cho rằng: “Bắt người là BPNC có tính cưỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bắt người nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ mà pháp luật quy định” [40, tr5]

Theo quan niệm của Ths.Nguyễn Mai Bộ:

Bắt người là giữ người phạm pháp lại, không cho tiếp tục tự do hoạt động, chặn đứng hành động phạm tội đề phòng người đó lẩn trốn, tự sát, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây trở ngại cho việc điều tra Bắt người là một trong những biện pháp cưỡng chế cần thiết nhất của Nhà nước để trấn áp, ngăn chặn những hành động phạm tội… Bắt người là một trong những BPNC do CQĐT, VKS, TA áp dụng đối với bị can, bị cáo và

có thể đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật [5, tr31-32]

Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm:

BPNC bắt người là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật,

Trang 18

tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự [66, tr200]

Quan điểm như trên về BPNC bắt người trong TTHS đã đưa ra được những dấu hiệu đặc trưng của của BPNC bắt người nhưng chưa đưa ra chủ thể tiến hành BPNC bắt người và cho rằng một trong những mục đích của bắt người là tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành

xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật [65, tr.214]

Quan điểm như trên về BPNC bắt người trong TTHS là chưa đưa ra được hết các đối tượng áp dụng như người bị truy nã

Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm BPNC bắt người trong TTHS như sau:

BPNC bắt người là BPNC trong TTHS do cơ quan, người có thẩm quyền theo luật định áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố; người đang có hành vi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã khi có căn

cứ do luật định, nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

BPNC bắt người không phải là biện pháp trừng phạt của pháp luật đối với người phạm tội mà BPNC của TTHS được áp dụng để tước bỏ điều kiện gây ra tội phạm, chặn đứng hành vi phạm tội và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm sự hoạt động đúng đắn của những cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Ngày đăng: 09/05/2017, 19:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1: Số đối tượng áp dụng BPNC bắt người tại tỉnh Hải Dương - Biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)
1 Bảng 2.1: Số đối tượng áp dụng BPNC bắt người tại tỉnh Hải Dương (Trang 6)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm