1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đề tài phân tích, trình bày về kiến trúc việt nam tập trung vào một trong các thể loại công trình tôn giáo, công trình công cộng và nhà ở

38 388 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 18,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cái đình trang trọng và thiêng liêng là thế, nó gần như đại diện, là biểu tượng của quyền lực làng xã. Nhưng đình làng lại là nơi tụ họp mọi người trong mọi sinh hoạt chung, vốn rất cần cho cuộc sống nông thôn cần có sự nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Đình lại trở thành một nơi thân quen gần gũi với mọi người. Đình, đình làng còn được mọi người gọi bằng cái tên trìu mến mái đình. Nói đến mái là ta nghĩ tới những kết hợp từ như mái nhà, mái trường, mái rạ, mái ấm tình thương. Nó là nơi che chở, là nơi ở, là cuộc sống của mỗi người chúng ta. Nói tới mái đình, người Việt đã làm cho ngôi đình tôn nghiêm trang trọng trở nên thân quen gần gũi hơn:

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN VẼ KIÊN TRÚC VIỆT NAM GVHD : NGUYEN MANH TRI

LỚP : 53KD4

MSV : 21184.53

ĐÈ BÀI: Phân tích, trình bày về kiến Trúc Việt Nam tập trung vào một trong các thể loại său:

e_ Công trình tôn giáo( đình, đền, chùa)

e_ Công trìng công cộng (làng tâm)

e Nhao

BAI LAM

Viét Nam la dat nước có nhiêu dân tộc, trong đó nhóm dân tộc Việt chiếm vị trí chủ yếu, người vIỆt có nên văn hoá lâu đời, đó là nền văn hoá Đông Sơn tất nồi tiếng tồn tại cách đây hon 2000 năm trước công nguyên, tạo dựng những nét cơ bản của văn hoá Việt Nam său này và đóng vai trò chủ đao trong nền văn hoá của đất nước Bên cạnh đó, với vị trí địa lý đặc biệt năm trên đường giao nhău giữa hai nén van minh cô đại của châu Á đó

là Ấn Độ và Trung Quốc

Nền kiến trúc truyền thống Việt Nam phát triển chủ yếu trong thời kì phong kiến trước thế kỉ XIX Nền kinh tế hoàn toàn dựa vào nông nghiệp, sức sản xuất thập, đời sống xã hội nói chung là nghèo nàn và lạc hậu Do đó kiện trúc Ít có, điều kiện phát triển, chỉ có một phần cung điện lâu đài, đinh thự của giai cấp phong kiếnvà mộ số công trình tôn giáo tín ngưởng do huy động được sức người,sức của nên có quy mô đáng kể và tôn tại lau dài Song

do thiên nhiên khắc nghiệt lại thêm các cuộc chiến tranh ø1ữ nước và nội

chiến liên miên khiến nhiều công trình kiến trúc bị tàn phá

Về công trình Tôn Gido( đình, đên, chùa):

Đặc điểm các công trình kiến trúc thê loại này thường được xây dựng ở những nơi có phong cảnh đẹp, gắn bó với núi đồi, sông hồ, đất dựng chùa phải là đất thiêng vào thời Lý các chùa tháp đều xây dựng trên các sườn núi, lẫy núi làm chỗ dựa, trước mặt là một không gian rộng mở, có dòng sông uốn quanh Kiến trúc của các ngôi chùa thời Lý là các ngôi tháp Tháp

Trang 2

cao nhất là tháp 13 tầng Tháp chính là chùa Thời Lý còn có một số ngôi

chùa lớn, xây dựng ở lưng chừng núi, kiêm làm Hành cung của vua

Tháp Bình Sơn

Tháp Bình Sơn thuộc địa phận thôn Bình Sơn, xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tháp Bình Sơn là một di sản của kiên trúc độc đáo thời Lý - Trân còn được bảo tôn nguyên vẹn đên ngày nay

Trang 3

Vanchi

Chùa Trấn Quốc- Hà Nội

chùa được xây dựng vào thời kỳ tiền Lý Nam Đề (544- 548) với tên gọi

"Khai Quốc" (nghĩa là mở nước, ứng với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân) Sau này tên gọi của chùa còn thay đối nhiều lần như "An Quốc" năm Đại

Bảo đời Lê Thánh Tông (1434- 1442), "Trân Quốc" năm Vĩnh Tộ thứ X

(1628); "Trần Bắc" năm 1844 do vua Thiệu Trị đặt nhân dip nha vua ra thăm

xứ Bắc và đến ngày nay thì người dân Hà Nội vẫn gọi chùa là chùa Trấn Quôc

Trang 4

Chùa Thiên Mụ hay còn gọi là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng -vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Dang Trong Day

có thể nói là ngôi chùa cô nhất của Huế

Về mặt bằng , trong tổng thể ngôi chùa từ ngoài vào ta thay co tong tam quan hay tứ trụ tiếp đến là tháp chuông, sân rộng, dãy hành lang bao quanh

ba mặt và cuối cùng là điện thờ hay còn gọi là tòa Tam Bảo thường gồm ba ngôi nhà năm kế nhău: tòa Tiền đường là nơi dâng hương hanh, tòa Thêu hượng là nơi đốt hương , gõ mõ, tụng kinh và tòa thượng điện là nơi đặt tượng phật trên bện gọi là tòa “ Tam Bảo” tượng trưng cho sự tu hành đắc đạo đạo của đức phật Trong khu vực chùa còn có Tháp mang tính chất chế ngự và nhắn mạnh bố cục của công trình theo phương đứng Trên trục chính của quân thê kiến trúc chùa phía trước đặt Tháp tích phật còn phía său đặt Tháp mộ theo kiểu tư do

Trang 5

2¬“ ===' oF NT eee

` ——- —

Sau này kiến trúc của các ngôi chùa Việt Nam đều là một tầng giống như những ngôi nhà ở làng quê Nhưng đó là một toà nhà to, rộng, hình chữ "T",

phân dọc là chỗ thâm nghiêm đề thờ Phật

Chùa được xây dựng bằng những cột gỗ lim cao to Vì, kèo, xà ngang,

xà dọc cũng băng gỗ lim Mái chùa được uốn cong, lợp bằng ngói ta không

có mầu, mũi lượn tròn, phía dưới là ngói chiếu Các góc của mái chùa đều có đầu đao xây cong lên nhễ hình lưỡi đao hoặc nhề hình cái đuôi chim

phượng

Trang 7

Chùa Một Cột

Hệ thống bộ mái của chùa chiếm hai phần ba công trình Đó là đặc trưng kiến trúc của chùa Việt Nam Những ngôi chùa ở miền Bắc mang tính chất chùa cô, vì kiến trúc trên bộ khung bằng gỗ Còn ở miền Nam kiến trúc theo kiêu bê- tông hoá, gọi là kiến trúc chùa đúc.

Trang 8

Bên hông chùa

Trang 9

Chùa Vĩnh Tràng là một ngôi chùa ở ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, cách trung tâm thành phố Mỹ Tho khoảng 3km Đây là một ngôi chùa nôi tiếng ở miễn Nam, được xêp hạng di tích lịch

sử — văn hóa cấp quôc gia, và là một điểm đu lịch nỗi tiếng Chùa Vĩnh

Tràng được xây dựng vào đầu thế ký 19 Chính điện được bài trí trang

nghiêm Chùa còn bảo tồn nhiều tượng cổ, bao lam chạm trổ công phu Bộ Thập bát La hán thượng kỳ thú là những tác phâm tượng tròn độc đáo được các nghệ nhân Nam Bộ tạc vào những năm đầu thế kỷ 20 Chùa được xây cất

do công trình kiến trúc của nhiều người, trong, nhiều năm, là một chùa lớn, được kiến trúc khá tỉnh vi, đa dạng theo lối kiến trúc tông hợp Á — Âu (Pháp,

La Mã, Thái, Miên, Chàm) Tuy nhiên, chùa vẫn mang đậm nét lỗi kiến trúc điêu khắc truyền thống Việt Nam Chùa Vĩnh Tràng được kiến trúc theo dạng chữ Quốc, gôm 4 gian nỗi tiếp nhau (tiền đường, chánh điện, nhà tổ và nhà hậu) rộng 14.000 mý, dài 70 m, rộng 20 m, xây bằng xi măng và gỗ quý, nền đúc cao Ì m, xung quanh xây tường vững chắc Chùa Vĩnh Tràng được kiến trúc theo dạng chữ Quốc, gồm 4 gian nồi tiếp nhau (tiền đường, chánh điện, nhà tổ và nhà hậu) rộng 14.000 m, dải 70 m, rộng 20 m, xây băng xi măng và gỗ quý, nền đúc cao 1 m, xung quanh xây tường vững chắc

Chùa thường được xây dựng theo hướng Nam (hướng của trí tuệ) hay hướng Tây (hướng dương - yên tâm một chỗ)

Trước chùa bao giờ cũng có Tam quan, trên có gác chuông, hình thức là

ba cửa, nhưng nội dung là một tuyên ngôn ba lối nhìn của Dao Phật: Không qúan, giảquán, trung quán Ngoài cửa của Tam quan thường có đôi lần ở trên

đỉnh, tượng trưng cho sức mạnh ở trên cao, sự hiểu biết, kiểm sát tâm linh

của các chúng sinh khi bước vào cửa chùa Sau Tam quan có con đường

"Nhất chính đạo" để đi vào chùa.

Trang 10

Vào chùa là bước vào Tiền đường (nhà phía trước) phải vào cửa bên trái ở

đây có bàn thờ thứ 9 thờ Đức Ông, mặt đỏ Lễ Đức Ông xong, mới đến lễ ở

bàn thờ chính giữa nằm ở chùa trong (Nhà dọc theo kiểu chuôi vô) Đây là

chỗ thờ Phật, có 6 bàn thờ từ cao xuống thấp, là 6 hàng trễng bày các tượng Phật bằng gố hoặc bằng đồng và các thứ đồ thờ nhễ đỉnh hương, cây đèn Khi lễ Phật, không nên vái lia lịa, mà chỉ để tay trước ngực, thắp hương một nén, không thắp nhiều

Bàn thờ chính của chùa có các hàng cao thấp như sau:

-Hang 1 tho Tam thé Phat, la 3 vi: Quá khứ, hiện tại, vị lai (ba thời)

-Hàng 2 thờ Di Đà tam tôn Tượng Di Đà ở giữa Bên trái là Quan Thế Âm

Bỏ Tát Bên phải là là Đại Thế Trí Bồ Tát

10

Trang 11

Chùa Tây Phương

-Hàng 3 thờ Thích Ca Mâu Ni (cầm bông sen đơ lên) Hai tượng hai bên là Văn Thù cưỡi sẽ tử và Phố Hiền cưỡi voi trắng 6 ngà là hai đệ tử của Thích

Ca

-Hàng 4 thờ DI Lặc Tam Tôn Tượng Di Lặc béo phệ, miệng cười rộng -Hàng 5 thờ Thích Ca sơ sinh Tégng là một chú bé đứng trên đài sen mặc quần ngắn, xung quanh có 9 con rông, nên còn gọi là téong Ctru Long

-Hàng 6 thờ Ngọc Hoàng Thượng Đề đội mũ Bình Thiên Bên trái là Nam

Tào câm sô đỏ ghi việc sinh Bên phải là Bắc Đầu cầm số tử Sau khi lễ ở bàn thờ chính xong, còn lễ ở hai bàn thờ nữa là bàn thờ số 7 và 8 ở Tiền

đường Bàn thờ số 7 thờ Ông Thiện và Ông ác (khuyến thiện và trừ ác) Hai ông này đội mũ và mặc áo võ tướng, chân đi giày, còn được gọi là tượng

Kim Cương hoặc Hộ Pháp (bảo vệ Phật) Có chùa còn có 10 tổợng nhỏ đứng hai bên là

“Thập điện Diễm Vương" và ở ngoài hành lang có I§ tượng, gọi là "Thập bát La Hán"

I1

Trang 12

K—

-

Hàng tượng La Hán

Phần sau chùa có Tĩnh thờ chư vị là những vị thần về Đạo giáo Ngoài ra

còn có Nhà thờ tô thờ những vị tăng ni đời trước ở chùa đã mất Nhà Hậu

thờ những người mua hậu chùa đã mất Tăng phòng là nơi để các nhà sư ở Phương Trượng là nơi để vị sư trụ trì ở

Trong khu vực chùa còn có các tháp Đó là nơi chôn cất các nhà sư trẻ chết Tháp một tầng nhễng to là nơi chôn cất các bà hậu, ông hậu là những ngẽời có công xây dựng, tu sửa chùa Tháp 3 tầng là tháp chôn cất các Hoà thượng

Bên cạnh các công trình kiến trúc đó, trong khu vực chùa thường chỉ trồng các loại cây như: cây đề (khuyên chúng sinh đẹp lòng trần để làm điều

thiện), cây đại (cây thiên mệnh, hút sinh lực từ tầng trên xuống đưới), cây gạo (là bậc thang nối trời đất), cây muốỗm (để các linh hồn không nơi nương tựa đến nương nhờ), cây sen (biểu tượng cho âm-cõi niết bàn), cây cúc (biểu tượng cho dương), cây mẫu đơn, cây phù dung

12

Trang 13

Chùa Thiên Mụ

Chùa chính là chốn tịnh viên (vườn tĩnh mịch) Đây là nơi con người đến tâm linh, thánh thiện, cầu mong trừ được điều ác, làm được nhiều điều thiện,

để sống thư thái, tốt lành hơn

Chùa cũng là một nét đẹp văn hoá mang tính dân tộc cao Đó cũng là một tác phẩm nghệ thuật cỗ kính, trang nghiêm của con người hoà nhập với khung cảnh thiên nhiên tươi xanh tĩnh lặng góp thêm cho bức tranh toàn cảnh của làng quê được hoàn mỹ

Kết câu của ngôi thượng diện mang giá trị của kiến trúc cô Việt Nam Trong đó ta thây biê hiện đặc trưng của kiến trúc khung gỗ Việt Nam khác với Trung Quốc và các nước Đông Á, ỏ kiến truc Việt Nam là CỘT-XÀ-KẺ

13

Trang 14

DẢIRl#:IHÉUES vu, | Le

a GMGH 12M CH/ARI

Ee ROS Chm *

Tên gọi máicác câu kiện bộ vì nhà và hệ

Cột là kết câu đứng chịu nén, thường có các loại cột:

- Cột cái: cột chính của nhà đặt ở hai đầu nhịp chính

- Cột quân hay cột con: cột phụ nắm ở đầu nhịp phụ hai bên nhịp chính;

- Cột hiên: nằm ở hiên nhà, phía trước

14

Trang 16

Chor oo

DEP SAN

CHONG GIUGNG

: Ị sore eee eee XÃ NGUŠNG z xà NGUONG

- Xa long hay chếnh: liên kết các cột cái của khung;

- Xà nách hay thuận: liên kết cột quân vào cột cái, trong khung

16

Trang 17

Kẻ là các dầm đơn đặt theo phương chéo của mái nhà, gác lên các cột bằng liên kết mộng, thường có các loại kẻ sau:

- Kẻ ngồi gác từ cột cái sang cột quân, trong khung;

- Kẻ hiên gác từ cột quân sang cột hiên, trong khung Một phần kẻ hiên được kéo đài conson qua cột hiên để đỡ phần chân mái

Trang 18

Về điêu khắc trang trí , trong chùa các bộ phận câus tạo bằng gỗ của

công trình như, cột xà kẻ hoặc bây đều được chạm khắc tỉnh vi Các tháp

đều được trang trí trên mặt đứng, diềm mái khung cửa với các đề tài tôn giáo như tứ linh hay rồng mây hoa lá, cảnh sông nước băng đất nung, màu sắc chủ đạo trong chùa thường là màu vàng- amud của lý tưởng cao quý Ngoài ra, các bức tượng được điêu khắc một cách rất tỉnh xảo, mang tính nghệ thuật rất cao

Tóm lại, bằng những vat liệu gỗ, những nhà kiến trúc, nhà điêu khắc cuối

thé ky XIX, đầu thế kỷ XX đã chạm khắc những hình tượng mang mẫu sắc tôn giáo huyền ảo, thoáng đượm vẻ vương quyền, qua đó ta thấy được

những công trình điêu khắc của người xưa — qua những hình tượng sống động ấy ta thấy rõ cuộc sống vui tươi và ý chí vươn lên của đân tộc Việt Nam —- một dân tộc tự nhận mình là dòng dõi con rồng cháu tiên thể hiện qua

chạm khắc hình tượng tứ linh

18

Trang 19

19

Trang 20

2005

20

Trang 21

Những bức tượng ở chùa Tay Phuong

21

Trang 23

Hình tượng rông thời Lý

Là biểu tượng của sự cao quý, của sức sống vĩnh hăng va suc manh vii tru nên hình tượng r vua chúa H ông được sử dụng nhiều trong kiến trúc cung đình, đình chùa, trang phục ình tượng con rồng cũng thay đổi theo dòng lịch

23

Trang 24

Hình tượng rông thời Trân

Thân rồng thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời Lý, với các đường cong tròn nối nhau, các khúc trước lớn, các khúc sau nhỏ dần và kết thúc như đuôi rắn Vây lưng vẫn thê hiện từng chiếc, nhưng không tựa đầu vào nhau như rồng thời Lý Có khi vảy lưng có dạng hình răng cưa lớn, nhọn, đôi khi từng chiếc vây được chia thành hai tầng Chân rồng thường ngắn hơn, những túm lông ở khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như rồng thời Lý

mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào khoảng trống trên bức phù điêu Và có sự xuât hiện chi tiệt cặp sừng và đôi tay pre we

Hình tượng rông thời Lê

Đến thời Lê, rồng có sự thay đổi hắn, rồng không nhất thiết là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau Đầu rồng

to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mat han, thay vào đó là một chiếc mũi to Mép trên của miệng rồng vẫn kéo dài nhưng được vuốt gần như thắng ra, bao quanh có một hàng vải răng cưa kết lại như hình chiếc lá Răng nanh

24

Trang 25

cũng được kéo dài lên phía trên và uốn xoăn thừng ở gốc Lông mày vẫn giữ hình đáng biểu tượng ômêga, nhưng được kéo dải ra và đuôi vuốt chếch lên phía sau Trên lông mày và chiếc sừng hai chạc, đầu sừng cuộn tròn lại Rồng có râu ngăn và một chân trước thường đưa lên đỡ râu, tư thế thướng thay oO cac con rong đời sau Cổ rong thường nhỏ hơn thân, một hiện tượng it thấy ở những con rông trước đó Như vậy rồng mang dạng thú xuất hiện cuối đời Trần đã thấy phố biến ở đời Lê Sơ nhưng vẫn còn mang dáng dấp truyền thống của loài rắn

Rong thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rông mẹ có bầy rồng con quây quân, rồng đuôi bắt môi, rồng trong cảnh lứa đôi

Trang tri la đê tháp Bình Sơn - Vĩnh Phúc

Lá đê:

25

Ngày đăng: 23/03/2017, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w