1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận môn triết học vận dụng mối quan hệ giữa các chung, cái riêng và cái đơn nhất trong việc phát triển ngân hàng bán lẻ tại việt nam

16 1,5K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 153,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINHVIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU MÔN HỌC: TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁI CHUNG, CÁI RIÊNG VÀ CÁI ĐƠN NHẤT TRONG VIỆC PHÁ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU MÔN HỌC: TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI

VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁI CHUNG, CÁI RIÊNG VÀ CÁI ĐƠN NHẤT TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

GVHD: TS BÙI VĂN MƯA Lớp : 16C1PHI50102 Nhóm : 7

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 08– 2016

Trang 2

BIÊN BẢN HỌP NHÓM

(V/v: Phân công hoàn thành bài tập tiểu luận nhóm môn Triết học)

Địa điểm: Quán café Sách 18A Cộng Hòa

Thành phần tham gia: Nguyễn Thị Thanh Định (Trưởng nhóm)

Các thành viên khác gồm :

- Nguyễn Ngọc Hoàng Khiêm

- Nguyễn Lê Phượng Sang

- Đặng Thị Thanh Tâm

- Lê Phương Thảo Thời gian họp lần 1: 8h30 – 11h ngày 31/07/2016

Nội dung cuộc họp: Thảo luận và phân công hoàn thành bài tập tiểu luận nhóm môn Triết học

1 Một số nội dung cơ bản:

- Ý tưởng về đề tài đã được các thành viên thảo luận qua mail vào ngày 8/7/2016, nhóm đã chọn đề tài “Cái chung, cái riêng và vận dụng mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung trong thực tiễn doanh nghiệp” Trước buổi họp, các thành viên đã thảo luận và giới hạn phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực cụ thể

- Trưởng nhóm tổng kết và chọn lĩnh vực vận dụng vào thực tiễn là

Ngân hàng, vì vậy đề tài được chọn sẽ là Cái chung, cái riêng và Cái chung, cái riêng

và vận dụng mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung trong việc phát triển Ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam Đồng thời nhóm thông qua dàn ý tiểu luận.

Dựa trên dàn ý được đề xuất, trưởng nhóm phân công công việc các thành viên:

+ Thanh Định :Tổng hợp bài từ các thành viên khác, viết mở bài và kết luận

+ Hoàng Khiêm + Thanh Tâm : Phụ trách chương 1 : Cơ sở lý luận về đề tài

+ Phượng Sang và Phương Thảo phụ trách chương 2 : Vận dụng Cái chung, cái riêng và vận dụng mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung trong việc phát triển Ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam

+ Phương Sang phụ trách chỉnh sửa cả bài và in ấn

Trang 3

Thời gian gửi bài cho nhóm trưởng trước ngày 24/08/2016.

Thời gian họp lần 2: 8h30 – 11h ngày 27/08/2016

Nội dung cuộc họp: tổng hợp đề tài và đánh giá công việc của các thành viên

- Trưởng nhóm đọc kết quả tổng hợp bài từ các thành viên

- Các thành viên đóng góp ý kiến

+ Phương Thảo bổ sung giải pháp về thương hiệu

+ Phượng Sang : Bổ sung thêm giải pháp trong chương 2 : “Mỗi NHTM thành lập bộ

máy điều hành, nghiên cứu và thực thi việc phát triển dịch vụ NHBL, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng và chú trọng nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động NHBL “

+ Hoàng Khiêm cho rằng cần bổ sung ý nghĩa phương pháp luận để hoàn thiện cơ sở lý luận trong chương 1

- Trưởng nhóm thảo luận và chỉnh sửa nội dung tiểu luận bản cuối cùng

- Các thành viên đồng ý thông qua bài tiểu luận

Trưởng nhóm đánh giá mức độ đóng góp đề tài các thành viên như sau:

đóng góp

1 Nguyễn Lê Phượng Sang Đúng tiến độ 100%

2 Lê Phương Thảo Đúng tiến độ 100%

3 Nguyễn Ngọc Hoàng Khiêm Đúng tiến độ 100%

4 Nguyễn Thị Thanh Định Đúng tiến độ 100%

5 Đặng Thị Thanh Tâm Đúng tiến độ 100%

Trưởng nhóm

Nguyễn Thị Thanh Định

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 4

Ngày … tháng … năm …

TS Bùi Văn Mưa

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, Tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo sau Đại học của trường Đại học Kinh Tế TP.HCM cùng quý Thầy Cô đã hướng dẫn, dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như sự hỗ trợ về điệu kiện học tập tốt nhất giúp quá trình nghiên cứu và hoàn thành bài tập của nhóm được dễ dàng hơn

Tập thể nhóm xin cảm ơn giảng TS Bùi Văn Mưa đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để chúng em hoành thành tốt Tiểu luận nghiên cứu này

Bài Tiểu luận nghiên cứu này được thực hiện trong thời gian ngắn, bước đầu còn nhiều

bỡ ngỡ nên bài viết của nhóm không tránh khỏi những thiếu sót, tập thể nhóm rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy và các bạn

Kính chúc Viện Đào tạo sau Đại học của trường Đại học Kinh Tế TP.HCM cùng quý Thầy Cô luôn hoàn thành xuất sắc sự nghiệp giáo dục và đạt được những kết quả tốt đẹp nhất

TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2016

Tập thể nhóm chân thành cảm ơn

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

CNTT Công nghệ thông tin

NHTM Ngân hàng thương mại

NHBL Ngân hàng bán lẻ

TTTC Thị trường tài chính

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DVNH Dịch vụ ngân hàng

Trang 7

VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁI RIÊNG, CÁI CHUNG VÀ CÁI ĐƠN NHẤT TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

Chương 2: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁI RIÊNG, CÁI CHUNG VÀ CÁI ĐƠN NHẤT TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

2.

2.

Tài liệu tham khảo

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

Phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững là mục tiêu phấn đấu của tất cả các nước

Để thực hiện được mục tiêu đó cần thiết phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý Sau hơn 30 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển dần trở thành nước có thu nhập vào nhóm trung bình Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng khu vực II ( công nghiệp và xây dựng), giảm tỷ trọng khu vực I ( nông, lâm thủy sản), tỷ trọng khu vực III ( dịch vụ) khá cao nhưng chưa ổn định Xu hướng chuyển dịch như vậy là phù hợp với yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển để trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, chúng ta đã bước đầu chú trọng phát triển ngành dịch vụ, tạo điều kiện để thúc đẩy ngành dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, trong đó Phát triển ngân hàng bán lẻ là cơ hội để cho các ngân hàng thể hiện được năng lực, thương hiệu của mình.Mới chập chững bước vào nền kinh tế thị trường đầy gian khó, phức tạp, ngành ngân hàng tại Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm trên cơ sở cân nhắc, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước nhà Trong quá trình học hỏi đó, triết học Mác- Lênin, đặc biệt là cặp phạm trù triết học cái chung và cái riêng có vai trò là kim chỉ

nam cho mọi hoạt động nhận thức Chính vì lý do đó Nhóm đã chọn nội dung: Cái chung, cái

riêng và vận dụng mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung trong việc phát triển Ngân hàng

bán lẻ tại Việt Nam làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận.

Trang 9

CHƯƠNG 1 PHẦN TRIẾT HỌC 1.1 Khái niệm cái chung, cái riêng, cái đơn nhất :

Cái riêng: Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định và

cái đơn nhất

Cái chung: Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính lặp lại

trong nhiều sự vật, nhiều hiện tượng

Cái đơn nhất: Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm chỉ có

ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác

Giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất có mối liên hệ biện chứng với nhau qua phương trình:

Cái riêng = cái chung + cái đơn nhất.

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất: 1.2.1 Khẳng định triết học Mác – Lênin

Cả cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau

Thứ nhất: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn

tại của mình

Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, thông qua cái chung mà

những cái riêng liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau

Như vậy mọi sự vật hiện tượng nào cũng có hai mặt là cái riêng và cái chung, hai mặt này đều tồn tại khách quan Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, bởi ngoài những cái ra nhập với cái chung, nó còn có những đặc điểm riêng biệt mà chỉ nó mới có (cái đơn nhất) Còn cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng, bởi vì nó phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ bên trong, tất nhiên, ổn định, phổ biến tồn tại trong cái riêng cùng loại Vì vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của sự vật

Trang 10

Đó là những quan hệ giữa cái riêng và cái chung về mặt phương pháp luận theo các quan điểm của các trường phái triết học Và theo quan điểm hiện nay thì quan điểm triết học Mác Lênin là cơ sở là tiền đề phương pháp luận của triết học

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận:

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn muốn biết được cái chung thì phải xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ Rồi từ cái chung, vận dụng cái chung để cải tạo cái riêng Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng

Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, nên bất kỳ cái chung nào khi áp dụng vào trường hợp riêng cũng cần được chú ý đến các đặc điểm cụ thể Ngược lại, nếu xem thường cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng sẽ rơi vào bệnh cục bộ, địa phương chủ nghĩa

Cần phải tạo điều kiện cho cái đơn nhất và cái chung chuyển hóa lẫn nhau theo chiều hướng tiến bộ, có lợi, tạo điều kiện thuận lợi để "cái đơn nhất" có lợi cho con người trở thành "cái chung"

và "cái chung" bất lợi trở thành "cái đơn nhất"

Trang 11

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁI RIÊNG, CÁI CHUNG VÀ CÁI ĐƠN NHẤT

TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

2.1 Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, xu hướng tất yếu của các ngân hàng thương mại (NHTM):

Phân loại Ngân hàng bán lẻ:

Hoạt động của các Ngân hàng thương mại thành hai mô hình cụ thể như sau:

Ngân hàng bán buôn: là thuật ngữ dùng để chỉ các giao dịch giữa ngân hàng và khách

hàng lớn (công ty) hoặc giao dịch với những khoản tiền lớn

Ngân hàng bán lẻ: Hiện nay chưa có định nghĩa chính xác về khái niệm dịch vụ NHBL.

Theo cách hiểu phổ biến nhất, NHBL là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các DNNVV

Trong nền kinh tế mở, thị trường bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó, phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm DVNH, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động

2.2 Đặc trưng của ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam:

2.2.1 Đặc điểm thị trường tài chính tại Việt Nam:

Thị trường tài chính Việt Nam có các đặc điểm chính sau :

 Cạnh tranh về dịch vụ tài chính ngày khốc liệt tại Việt Nam

 Số lượng tổ chức phi tài chính tham gia vào lĩnh vực này gia tăng

 Hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng

Tại Việt Nam, kinh tế tăng trưởng liên tục, môi trường pháp lý hoàn thiện dần, nhu cầu

xã hội ngày càng tăng, thị trường dịch vụ NHBL còn nhiều tiềm năng phát triển Từ năm 2014, NHBL là xu hướng tất yếu của Việt Nam

2.3 Thực trạng của ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam:

2.3.1 Những điểm mạnh của ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam:

Trong những năm gần đây, dưới áp lực cạnh tranh ngày càng tăng do việc áp dụng khung pháp luật TTTC ngày càng phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ Quốc tế đối với tổ

Trang 12

chức tài chính nước ngoài Các ngân hàng bắt đầu quan tâm và tập trung khai thác thị trường bán lẻ như phát triển các loại hình dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấp nhận như máy giao dịch tự động (ATM), internet banking, Thực tế đó đã đánh dấu bước phát triển mới của thị trường dịch vụ NHBL tại Việt Nam

 Hình thành tâm lý thanh toán không dùng tiền mặt của người dân => góp phần tiết giảm chi phí xã hội và đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ

 Tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác phát triển => thuận lợi hơn cho việc thanh toán của các ngành dịch vụ có liên quan: viễn thông, du lịch,…

Các NHTM Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới kênh phân phối, hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng, góp phần phát triển dịch vụ NHBL, đem lại cho khách hàng ngày càng nhiều tiện ích mới và văn minh trong thanh toán

Các dịch vụ tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh cả về danh mục và doanh số, tất cả NHTM của Việt Nam đều có sản phẩm cho vay tiêu dùng, đứng đầu là ACB và Techcombank

Các sản phẩm liên kết, bán chéo sản phẩm tài chính, được triển khai ngày càng nhiều, đem lại khoản thu cho ngân hàng

Dịch vụ bán lẻ của NHTM phát triển dựa nhiều vào ứng dụng hệ thống công nghệ Công nghệ thông tin trở thành kênh phân phối quan trọng và không thể thiếu của các DVNH điện tử nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung

2.3.2 Những yếu tố hạn chế phát triển dịch vụ NHBL tại Việt Nam

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, dịch vụ NHBL của các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập:

 Tính cạnh tranh chưa cao về giá cả và lãi suất, về chất lượng dịch vụ và công nghệ chưa phổ biến, thị trường dịch vụ NHBL thiếu ổn định, chưa có sự liên kết giữa các ngân hàng

 Sản phẩm dịch vụ mang tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao,…;

 Chưa có chiến lược tiếp thị cụ thể trong hoạt động NHBL

 Các dịch vụ NHBL phát triển dưới mức tiềm năng

Trang 13

Trong khi đó, phát triển dịch vụ NHBL đòi hỏi phải áp dụng công nghệ mới và quy trình nghiệp vụ hiện đại, nhanh chóng Với tốc độ phát triển dịch vụ như hiện nay, nhiều quy định pháp lý đã tỏ ra bất cập và không bao hàm hết các mặt nghiệp vụ, gây khó khăn cho các NHTM khi muốn triển khai dịch vụ mới

2.4 Vận dụng cái chung cái riêng vào việc phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM Việt Nam

Mỗi sự vật, mỗi hiện tượng đều có những cái chung, những cái riêng Cái chung và cái riêng trong mỗi sự vật, hiện tượng có quan hệ biện chứng với nhau, không thể tách rời trong đó cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất, chi phối mọi cái riêng Thì trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải phân biệt, phát hiện cái chung vận dụng cái chung để cải tạo cái riêng Do đó đối với mỗi NHTM Việt Nam hiện nay muốn phát triển hoạt động dịch vụ NHBL thì đều phải xác định được một mô hình phát triển, bao gồm những vấn đề chung cần thực hiện, đề từ đó vận dụng vào cho chính Ngân hàng mình Từng hệ thống NHTM xác định chiến lược thực hiện DVNH bán lẻ dựa vào:

- Phát triển mạng lưới CNTT của mình

- Phát triển các kênh phân phối

- Phát triển các dịch vụ mới dựa trên công nghệ

- Tạo sự khác biệt trong DVNH bán lẻ: chiến lược rõ ràng về phát triển

2.5 Giải pháp phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM Việt Nam

Bên cạnh những lợi thế cũng như đặc điểm riêng của từng ngân hàng như tài chính, nhân lực, có thể thấy đối với các NHTM tại Việt nam hiện nay muốn phát triển hoạt động DVNHBL cần chú trọng phát triển những vấn đề chung như sau:

2.5.1 Công nghệ: Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT góp phần nâng cao hiệu quả

của việc quản trị ngân hàng, tạo điều kiện thực hiện mô hình xử lý tập trung các giao dịch có tính chất phân tán như chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm chi phí giao dịch;

CNTT có tác dụng tăng cường khả năng hệ thống quản trị cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác

Ngày đăng: 07/03/2017, 00:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w