Được sự phối hợp của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việtnam và tổ chức UNICEF tại Việt nam, từ năm 2005, chùa Pháp Vân Hà Nội, chùa Diệu Giác quận 2, thànhphố Hồ Chí minh, chùa Kỳ Qu
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIấN CỨU HỢP TÁC NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV TẠI BIấN GIỚI VIỆT - LÀO
I Đặt vấn đề
Để gúp phần cung cấp bằng chứng nhằm triển khai thực hiện cú hiệu quả Quyết định số 38/QĐ - TTg ngày
8/1/2008 của Thủ tướng Chớnh Phủ Việt Nam về “Quy định sự phối hợp trong phũng, chống lõy nhiễm HIV/AIDS qua đường biờn giới”; Viện Chiến lược và Chớnh sỏch Y tế, Bộ Y tế Việt Nam đó phối hợp với Trung
tõm phũng, chống HIV/AIDS/STDs thuộc Cục Y tế Dự phũng và Mụi trường, Bộ Y tế Lào tiến hành nghiờn
cứu hợp tỏc “Nguy cơ lõy nhiễm HIV tại một số địa phương thuộc biờn giới Việt – Lào: Thực trạng và giải phỏp” Kinh phớ triển khai do văn phũng điều phối dự ỏn Phũng chống bệnh truyền nhiễm khu vực tiểu vựng
sụng Mờ Kụng tài trợ
II Mục tiêu nghiên cứu
1 Đỏnh giỏ nguy cơ lõy nhiễm HIV qua biờn giới ở cỏc nhúm nguy cơ cao
2 Đề xuất giải phỏp can thiệp nhằm thay đổi kiến thức, thỏi độ, hành vi và tăng cường khả năng tiếp cận vớicỏc dịch vụ dự phũng và điều trị của cỏc nhúm nguy cơ cao nhằm giảm thiểu sự lõy nhiễm HIV qua biờn giới
3 Nõng cao năng lực của cỏc đơn vị tham gia nghiờn cứu và thiết lập mối quan hệ hợp tỏc dài hạn trongnghiờn cứu và triển khai cỏc can thiệp giữa cỏc bờn liờn quan
III Đối tợng, địa bàn, phơng pháp nghiên cứu
Phương phỏp nghiờn cứu: Nghiờn cứu mụ tả cắt ngang sử dụng phương phỏp thu thập thụng tin định tớnh
(phỏng vấn sõu), thu thập phõn tớch cỏc thụng tin sẵn cú, quan sỏt trực tiếp tại cỏc điểm núng mại dõm và tiờmchớch ma tỳy ở 2 bờn biờn giới
Đối tượng nghiờn cứu gồm cả người Lào và Việt Nam, thuộc 3 nhúm gồm: Nhúm lónh đạo quản lý tại cỏc
khu vực đường biờn: cơ quan phũng, chống HIV/AIDS, Cụng an, Bộ đội biờn phũng, Kiểm dịch, Hải quan, Chớnh quyền địa phương và Y tế, Nhúm nguy cơ cao tại khu vực đường biờn: mại dõm, khỏch mua dõm, người tiờm chớch ma tuý, lỏi xe đường dài, lao động tự do và cỏc nhúm cú liờn quan khỏc: chủ nhà trọ/quỏn giải trớ,
người hành nghề y tế tư nhõn và người dõn tại địa phương Tổng số đó thực hiện 409 cuộc PVS: 90 cuộc vớinhúm quản lý, 237 cuộc với nhúm nguy cơ cao và 82 cuộc với cỏc nhúm liờn quan khỏc
Địa bàn nghiờn cứu: Nghiờn cứu được tiến hành ở 6 tỉnh tại 3 cặp cửa khẩu quốc tế thuộc biờn giới Việt
-Lào: cửa khẩu Bờ Y –Phự Cưa tại Kon Tum (Việt Nam) và Attapư (Lào), Cầu Treo-Nam Phao tại Hà Tĩnh (ViệtNam) và Bolykhamsay (Lào) và Tõy Trang- Panghok tại Điện Biờn (Việt Nam) và Phongsaly (Lào)
IV Kết quả
1 Cỏc điểm núng trờn địa bàn khu vực biờn giới:
Nguy cơ lõy nhiễm HIV qua biờn giới từ cỏc nhúm di biến động tại khu vực đường biờn
543
Trang 21.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội của các nhóm di biến động
1.1.1.Người bán dâm
Hầu hết người bán dâm trong nghiên cứu này đều là nữ, độ tuổi từ 25-30 Gái mại dâm (GMD) người Lào trẻhơn so với người Việt Trình độ học vấn của họ ở mức trung bình khá, hầu hết đều đang sống độc thân, hoặc lythân, ly dị Số đông đều không phải là người địa phương, sinh trưởng trong những gia đình có hoàn cảnh đặcbiệt (nghèo, mồ côi, bố mẹ li dị, thiếu sự chăm sóc đầy đủ, bị chồng hoặc bị người yêu lừa gạt, ruồng rẫy, bịcưỡng bức )
1.1.2.Người tiêm chích ma túy (TCMT)
Phần đông người TCMT đều là nam giới, tuy nhiên số phụ nữ sử dụng ma túy có chiều hướng gia tăng ở mộtvài khu vực Độ tuổi trung bình của nhóm TCMT phía Lào (16 – 37 tuổi) thấp hơn phía Việt Nam (19 – 62).Trình độ học vấn của họ đạt ở mức trung bình khá, nghề nghiệp chủ yếu là nghề nông, buôn bán nhỏ và laođộng tự do Phần lớn họ đều đã có gia đình và hiện đang sống cùng vợ con
1.1.3.Lái xe đường dài (LXĐD).
Hầu hết LXĐD là nam giới tuổi từ 30 – 50, trình độ học vấn phổ biến là phổ thông trung học và tiểu học.Phần đông họ vận chuyển gỗ, hoa quả, hàng điện tử của Thái Lan; thu nhập tùy thuộc theo công việc đảm nhận(5-8 triệu đồng/tháng) Số đông LXĐD đã có gia đình Phần lớn họ đều có chung một số sở thích như: quan hệtình dục, các dịch vụ giải trí thư giãn (karaoke, gội đầu thư giãn…), chơi bài…
1.1.4.Các nhóm di biến động khác
Chủ yếu là nam giới làm công nhân xây dựng, công nhân, chủ thầu, làm thuê trong độ tuổi từ 20 – 50, trình
độ học vấn ở mức thấp Người đã lập gia đình chiếm số đông song do điều kiện công việc họ thường xuyên phảisống xa vợ con và người thân Thu nhập của nhóm này ổn định từ 4 - 5 triệu đồng/tháng Điều kiện làm việc vàsinh hoạt tại nơi heo hút khiến họ rất dễ bị lôi kéo vào các hành vi nguy cơ
1.2 Hành vi nguy cơ cao và khả năng tiếp cận với dịch vụ dự phòng và điều trị HIV/AIDS.
1.2.1.Nhóm mại dâm:
a) Quan hệ tình dục: GMD người Việt có tuổi QHTD lần đầu thấp (từ 16 - 25 tuổi) nhưng GMD người Lào
còn thấp hơn (từ 13 – 25 tuổi) Khách mua dâm thành phần rất đa dạng (người Việt, Lào, Campuchia, Thái Lan,Trung Quốc ) Ngoài khách mua dâm, GMD còn có từ 1-3 bạn tình thường xuyên Thâm niên hành nghề trungbình của GMD từ 1-5 năm Hình thức QHTD chủ yếu của GMD là qua đường âm đạo Bình quân GMD ngườiLào tiếp từ 2 - 4 khách/tuần trong khi người Việt là 2 - 3 lần/ngày và thậm chí 7 - 8 lần/ngày Hành vi an toàntình dục (sử dụng bao cao su- BCS) của GMD còn thấp, nhất là với người yêu, bạn tình hoặc khách quen Tuynhiên với khách mua dâm thì tỷ lệ GMD có sử dụng BCS trong QHTD lại cao (97% với GMD người Lào và80% GMD người Việt) Mặc dù vậy, phần đông số họ chưa biết sử dụng BCS đúng cách, hiểu biết của họ vềđường lây truyền HIV và cách phòng ngừa cũng còn rất hạn chế
b) Hành vi sử dụng ma tuý: Một số GMD và khách hàng đã sử dụng ma túy trước khi QHTD (uống Amphetamine hoặc hít/chích heroin) Thời gian đầu, GMD Lào thường uống ma túy tổng hợp trong khi GMD
Việt thường hít hêrôin, sau đó họ chuyển sang chích Sự cộng hưởng nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm này làrất cao
1.2.2.Nhóm TCMT
a) Hành vi sử dụng ma tuý: nhóm TCMT (cả Lào và Việt Nam) đều bắt đầu sử dụng ma túy từ sau năm
1990, ở độ tuổi từ 16 - 39 tuổi (số đông từ 18-25 tuổi) Hình thức sử dụng ma túy phổ biến là hút sau đó chuyển
sang chích Địa điểm TCMT luôn thay đổi và khó xác định Mỗi tụ điểm tiêm chích ở Lào thường tập trung từ
3- 5 người có cả nam và nữ (nữ chủ yếu là GMD) Mức độ sử dụng thấp nhất là từ 1 - 2 lần/ngày, mỗi lần 50.000 đồng, trung bình từ 3 – 5 lần/ngày và cao nhất có thể lên đến 10 lần/ngày Tất cả người TCMT được
phỏng vấn đều đã từng dùng chung hoặc dùng lại bơm kim tiêm bẩn mà không qua công đoạn làm sạch
b) Hành vi tình dục: Hầu hết số người sử dụng ma túy đều có tuổi QHTD thấp (dưới 20 tuổi) Bạn tình của
họ thường là bạn học, người yêu hoặc GMD Hành vi TDAT thường rất thấp: tất cả đều không dùng BCS khiquan hệ với vợ , rất ít sử dụng BCS khi quan hệ với GMD Hiểu biết của họ về phòng ngừa lây nhiễm HIVtương đối đầy đủ song chỉ số hành vi an toàn trong nhóm họ hiện vẫn còn rất thấp Khả năng tiếp cận với cácdịch vụ chăm sóc điều trị HIV/AIDS còn nhiều hạn chế
1.2.3.Lái xe đường dài
Lái xe đường dài ở khu vực biên giới Việt - Lào không chỉ là nhóm thường xuyên có nhiều bạn tình, đặc biệt
là GMD mà còn là nhóm có một số thành viên sử dụng ma túy Đây là sự cộng hưởng của các hành vi nguy cơ,tiềm ẩn các yếu tố làm gia tăng sự lây truyền HIV
1.2.4.Các nhóm di biến động khác
Đây là nhóm có hành vi QHTD (đặc biệt là QHTD với GMD) tương tự như nhóm lái xe đường dài song tần
suất ít hơn do tính chất công việc và mức độ di chuyển thiếu ổn định
Hành vi TCMT trong nhóm công nhân xây dựng và công nhân làm đường có tỷ lệ cao hơn so với nhóm lái xe
qua biên giới Sự cộng hưởng hành vi nguy cơ và các yếu tố tiềm ẩn làm lây nhiễm HIV trong nhóm này cũng
Trang 3rất đáng lưu ý
1.3 Quỹ đạo hoạt động trong quan hệ tình dục và Tiêm chích ma tuý của các nhóm di biến động (xem bản đồ)
1.4 Mạng lưới quan hệ xã hội và quan hệ tình dục
a) Mạng lưới quan hệ xã hội: Nhóm gái mại dâm quan hệ xã hội bó gọn trong cùng nhóm hoặc với những
nhóm có liên quan trực tiếp (chủ chứa, chủ quán, bảo kê, khách hàng, ) Nhóm TCMT phần đông chỉ quan hệvới những người trong gia đình và bạn chích Đáng lưu ý, quan hệ xã hội của lái xe đường dài và các nhóm dibiến động khác rất đa dạng và phức tạp (bạn cùng sở thích, bạn hàng, chủ nhà hàng, khách sạn, chủ chứa, bảo
kê, GMD )
b) Mạng lưới QHTD: Các nhóm di biến động tại khu vực biên giới Việt – Lào thường có độ mở khá lớn
trong QHTD; GMD và lái xe đường dài cùng một số nhóm di biến động khác có mạng lưới QHTD phức tạp hơn
so với người TCMT
1.5 Mối quan hệ tương hỗ giữa các nhóm có nguy cơ
Có thể thấy nhóm GMD và nhóm lái xe đường dài là hai nhóm có mối quan hệ mật thiết và tiềm ẩn nhiềunguy cơ làm gia tăng sự lây nhiễm HIV
2.Thực trạng kiểm soát lây truyền HIV qua biên giới tại địa bàn nghiên cứu.
Tại khu vực đường biên phía Việt Nam, khả năng cung cấp các dịch vụ tư vấn, xét nghiệm và điều trị
STDs, HIV/AIDS của cả 3 tỉnh còn nhiều hạn chế Hiện vẫn chưa có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng vàchính quyền địa phương ở hai bên đường biên trong triển khai các hoạt động dự phòng cũng như phát hiện,chăm sóc và điều trị HIV/AIDS
Tại khu vực đường biên của Lào, các tỉnh thuộc địa bàn nghiên cứu đều chưa có đủ khả năng cung cấp các
dịch vụ khám điều trị STDs cũng như sàng lọc và xét nghiệm HIV Tại thời điểm nghiên cứu đã có một số hoạtđộng can thiệp giảm tác hại trong nhóm mại dâm ở khu vực biên giới của Lào song mới dừng lại ở các hoạtđộng truyền thông
V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
- Các điểm nóng về tệ nạn xã hội đặc biệt là các cơ sở vui chơi giải trí trá hình đã xuất hiện ngày càng nhiềuxung quanh khu vực hai bên đường biên
- GMD hành nghề tại khu vực biên giới Việt – Lào thường có độ tuổi cao hơn, thâm niên hành nghề lâu hơn
và đã trải qua hành nghề ở nhiều vùng khác Đây là yếu tố tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm STDs và HIV
- Nguy cơ lây truyền HIV qua biên giới cao nhất là ở nhóm GMD (đặc biệt là mại dâm người Việt), lái xeđường dài, công nhân các công trình xây dựng Người bản địa tại hai bên đường biên cũng là nhóm tiềm ẩnnguy cơ và cũng là nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV qua biên giới
- Khả năng tiếp cận với các thông tin về phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS của các nhóm di biến động tạikhu vực biên giới Việt – Lào hiện còn hạn chế Do vậy nhận thức của họ về các đường lây và biện pháp phòngnhiễm HIV còn rất mơ hồ
- Nguy cơ mắc các bệnh STIs và STDs trong nhóm GMD nhất là mại dâm người Việt hành nghề ở Lào vàmại dâm đường phố là rất cao trong khi điều kiện tiếp cận với dịch vụ khám và điều trị ở cả 2 bên đường biên
- Khả năng tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm và điều trị HIV/ARV của các nhóm di biến động tại đường biêncòn nhiều khó khăn cả về chi trả, khoảng cách cũng như thiếu thông tin về dịch vụ và sự kỳ thị của cộng đồng.Hoạt động can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV hiện mới bước đầu được triển khai với quy mô nhỏ lẻ tại từng địabàn, với một vài nhóm đối tượng cụ thể
- Hiện chưa có sự phối hợp giữa hai nước trong kiểm soát, giám sát tình hình dịch cũng như triển khai cáchoạt động dự phòng và chăm sóc điều trị HIV/AIDS
545
Chú thích: Nghiện chích ma túy
Gái mại dâm
Khác
Trang 4* Một số khuyến nghị đối với các nghiên cứu hợp tác giữa hai bên giai đoạn tới:
- Kết quả nghiên cứu cần được công bố rộng rãi đến với cả các địa phương
- Cần nhân rộng nghiên cứu này ra các địa bàn khác thuộc biên giới Việt - Lào Tại các địa bàn thuộc nghiêncứu này nên chăng triển khai lặp lại (2 - 3 năm) để cập nhật những diễn biến mới
* Một số giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát lây truyền HIV qua đường biên giới:
- Đầu tư nguồn lực để tăng cường hoạt động thông tin giáo dục truyền thông và can thiệp giảm tác hại chocác nhóm di biến động dễ bị tổn thương bởi HIV/AIDS ở cả hai bên đường biên Đầu tư nguồn lực để tăngcường các hoạt động truyền thông và giảm tác hại ngay tại các điểm dân cư sát khu vực biên giới
- Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ y tế đảm nhận triển khai các hoạt động dự phòng và điều trịHIV/AIDS tại cả hai bên đường biên đặc biệt là với nhân viên Y tế tuyến huyện ở phía Lào
- Đầu tư trang thiết bị để các địa phương ở vùng biên giới có đủ năng lực khám chuẩn đoán và điều trị STDs
- Đầu tư để tăng cường và mở rộng các điểm tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV nhằm giúp các nhóm đốitượng dễ dàng được tiếp cận khi có nhu cầu đồng thời tăng cường khả năng xét nghiệm HIV cho các tỉnh phíaViệt Nam để có thể hỗ trợ các địa phương lân cận ở Lào khi có nhu cầu
- Tăng cường sự phối hợp giữa 2 nước trong triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm kiểm soát sự lây truyềnHIV qua biên giới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế, Cuc Y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS, 2005: các ước tính và dự báo về HIV/AIDS2005-2010
2 Đặng Nguyên Anh và Lưu Nguyên Hưng, 2009 Di biến động và tổn thương với HIV/AIDS ở ViệtNam: Hệ lụy cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS trong nhóm dân di cư và di biến động CSEARHAP
3 Khuất Thu Hồng, Nguyễn Thị Văn, Lê Thị Phương, Khuất Hải Oanh "Gái mại dâm ở phía Bắc - Đặcđiêm xã hội và hành vi phòng chống HIV/AIDS và STD" - năm 1997
4 Chantavanich, S 2007 Mobility and HIV/AIDS in the Greater Mekong Subregion Asian ResearchCenter for Migration Institute of Asian Studies Chulalongkorn UniversityBangkok, Thailand in consortiumwithWorld Vision Australia and Macfarlane Burnet Centre for Medical Research
5 CHAS 2009 Literature review for Cross Border Lao- Vietnam on HIV/AIDS interventions Vientian
Đến tháng 12/2007, Nhà nước ta đã công nhận 9 tôn giáo được hoạt động hợp pháp tại Việt Nam Đồng thờiđang chuẩn bị công nhận một số tôn giáo khác trong thời gian tới Với 9 tôn giáo được công nhận đã có trên 20triệu tín đồ, chiếm khoảng 25% dân số cả nước Riêng Phật giáo đã có trên 10 triệu tín đồ, với gần 32.000 nhà tuhành và gần 15.000 ngôi chùa đang hoạt động trong phạm vi cả nước(08) Tín đồ Tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu lànhân dân lao động, chiếm khoảng 80% trong các tín đồ tôn giáo, trong đó nông dân chiếm số lượng đông, lànhững người vốn có lòng yêu nước, có niềm tin tôn giáo và có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo
Theo cách nhìn của Phật giáo, xuất phát từ những nội dung giáo lý cơ bản của “Tứ diệu đế” cho thấy: đứcPhật đã giảng giải về sự đau khổ, vậy AIDS là sự đau khổ; người bị nhiễm HIV là khổ; bị xa lánh và phân biệtđối xử là khổ; không có thu nhập vì bị mất việc làm là khổ; trẻ em vô tội không được đến trường là khổ; ốm đau
và chết do AIDS là khổ (05)
Đại học Phật giáo Mahamakut ở Lanna Campus, Chiềng Mai, Thái Lan là nơi đầu tiên ở Đông Nam Á tổ
Trang 5chức các lớp học về cách phòng, chống và chăm sóc bệnh nhân AIDS vào năm 1997 Từ đó đã lan ra các nướckhác ở khu vực Đông Nam Á Đã có hơn 2.000 nhà sư được học cách phòng, chống HIV/AIDS và cách chămsóc bệnh nhân AIDS, giờ đây họ đang hoạt động tại cộng đồng, cùng cộng đồng đối phó với đại dịch AIDS.Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt nam đã chính thức đưa hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vàoChương trình Phật sự hàng năm của Giáo hội Được sự phối hợp của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việtnam và tổ chức UNICEF tại Việt nam, từ năm 2005, chùa Pháp Vân (Hà Nội), chùa Diệu Giác (quận 2, thànhphố Hồ Chí minh), chùa Kỳ Quang (quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh) và một số chùa khác đã triển khaicông tác phòng, chống HIV/AIDS với nhiều hoạt động phong phú, thu hút được nhiều người nhiễm HIV và giađình, bạn bè, người thân của họ cùng tham gia Thông qua hoạt động của các nhà chùa đã góp phần chia sẻ cùngcộng đồng, giảm bớt những gánh nặng xã hội do HIV/AIDS gây nên, trong đó có sự tham gia tích cực của nhàchùa Pháp Vân và chùa Bồ Đề tại thành phố Hà Nội.
Để đánh giá thực trạng hoạt động của Phật giáo tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS, bước đầu chúngtôi triển khai đề tài cấp cơ sở “Đánh giá thực trạng hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại chùa Pháp Vân vàchùa Bồ Đề, Hà Nội”
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Khảo sát đánh giá thực trạng tình hình triển khai hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại hai chùa Pháp Vân
và chùa Bồ Đề thuộc thành phố Hà Nội
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động cộng đồng Phật giáo tham giaphòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam
III ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
+ Nhóm thứ hai: có 56 người đã tham gia khảo sát định lượng và 27 người tham gia khảo sát định tính, baogồm các cán bộ chính quyền, cán bộ phòng, chống HIV/AIDS, chức sắc tôn giáo, cán bộ quản lý thuộc các cơquan chức năng, các ban ngành, đoàn thể có liên quan đến hoạt động tôn giáo và một số người dân thuộcphường Hoàng Liệt, phường Bồ Đề, quận Hoàn Mai, quận Long Biên và thành phố Hà Nội
IV ĐỊA BÀN VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Địa bàn nghiên cứu
Đề tài được triển khai tại chùa Pháp Vân, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai và chùa Bồ Đề, phường Bồ
Đề, quận Long Biên Hà Nội; khu vực có ảnh hưởng của hai chùa tại phường Hoàng Liệt, phường Bồ Đề và một
số địa phương trong địa bàn thành phố Hà Nội
4.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi các hoạt động của chùa Pháp Vân và chùa Bồ Đề đã triển khai trênlĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS, không nghiên cứu các hoạt động khác của nhà chùa và cũng không nghiêncứu hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại các chùa khác
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp định lượng được tiến hành thông qua các phiếu trưng cầu ý kiến của các nhóm khách thểnghiên cứu với tổng số 130 trường hợp
- Phương pháp định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu 42 trường hợp và toạ đàm nhóm nhỏ ở haichùa với 21 trường hợp Các cuộc phỏng vấn sâu và tọa đàm nhóm nhỏ đều được ghi âm và tổng hợp, xử lý sốliệu theo từng nhóm khách thể nghiên cứu
5.2 Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu
Được sử dụng nghiên cứu các vấn đề lý thuyết Các văn bản, tài liệu thu thập được đã được nghiên cứu vàtổng hợp phù hợp với nội dung, yêu cầu của đề tài
5.3 Phương pháp chuyên gia
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn sâu, xin ý kiến các chuyên gia trên lĩnh vực tôn giáo-dân tộc, quản lý tôn giáo
và lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS đang công tác tại các địa phương, đơn vị trong địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 6của đề tài.
V KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ ĐỐI TƯỢNG
1.1 Những người đang sinh hoạt, hoạt động, hoặc đã có thời gian sinh hoạt, tham gia hoạt động tại chùa Pháp Vân và chùa Bồ Đề
Tổng số có 74 người đang sinh hoạt, hoạt động hoặc đã có thời gian tham gia sinh hoạt, hoạt động (nhữngngười đã sinh hoạt) tại hai chùa Pháp Vân và Bồ Đề Mỗi chùa có 37 người Chùa Pháp Vân có số người đãtham gia nhiều hơn, tuy nhiên để tiện cho việc so sánh, chúng tôi chỉ xin ý kiến của 37 người tương đương với
số người đã xin ý kiến tại chùa Bồ Đề Trong tổng số 74 người đã sinh hoạt, có 32 người là nam giới chiếm43,2% và 42 người là nữ giới, chiếm 56,8%
1.1.1 Về tuổi của những người đã sinh hoạt
Tuổi đời của những người đã sinh hoạt tập trung chủ yếu vào độ tuổi từ 21 đến 35 chiếm 63,5% Cao nhất là
62 tuổi (chùa Pháp Vân) và thấp nhất là 15 tuổi (chùa Bồ Đề)
1.1.2 Về trình độ học vấn của những người đã tham gia sinh hoạt
Những người đã sinh hoạt nhiều nhất (33,8%) có trình độ Trung học phổ thông và ít nhất (5,4%) có trình độTiểu học Đáng chú ý có tới 28,4% (21 người) có trình độ cao đẳng, đại học trở lên Trong đó có một tiến sĩ(chùa Pháp Vân), là nam giới Chúng tôi có tìm hiểu trường hợp không trả lời Đây là một nữ tu sĩ tại chùa Bồ
Đề, 51 tuổi, học chữ tại nhà chùa, biết đọc biết viết nhưng chưa tốt nghiệp trường, lớp nào
1.1.3 Về quê quán của những người đã sinh hoạt
Nhìn chung những người đã tham gia sinh hoạt tại hai chùa Pháp Vân và Bồ Đề có quê quán chủ yếu ở cáctỉnh thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, còn lại rải rác ở nhiều tỉnh thành phố phía Bắc và một số tỉnhmiền Trung, xa nhất là Quảng Ngãi
1.1.4 Về nơi sinh sống trước khi đến sinh hoạt, hoạt dộng tại nhà chùa
63,7% người đã sinh hoạt đã sinh sống tại Hà Nội, trong đó có 3 trường hợp là sinh viên đến từ ký túc xá vànơi ở của sinh viên trường Đại học Công đoàn và trường Đại học Kinh tế Quốc dân Số còn lại chủ yếu sinhsống tại 7 tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc bộ
1.1.5 Về nghề nghiệp của những người đã sinh hoạt
Số người đã sinh hoạt nhiều nhất là học sinh, sinh viên (29,7%), thứ hai là công nhân (18,9%) và thứ ba làlao động tự do (10,8%) Số cán bộ, công chức, viên chức cũng chiếm tỷ lệ 6,8%, tuy không cao nhưng cũng làmột con số đáng quan tâm 17 người (23,0%) làm nghề nghiệp khác bao gồm các tu sĩ làm việc tại nhà chùa (8người), nội trợ (3 người) và là cán bộ hưu trí, nhân viên tư vấn về luật và STD, tình nguyện viên…
1.1.6 Về tình trạng sức khỏe hiện nay
58,1% người đã sinh hoạt tự đánh giá tình trạng sức khỏe hiện nay của mình ở mức độ tốt và 36,5% tự đánhgiá mức độ trung bình Số tự đánh giá ở mức độ yếu và rất yếu chỉ có 5,4%
1.1.7 Tâm tư tình cảm của người đã sinh hoạt
Đối tượng được tâm sự khi có nỗi buồn chủ yếu là những người thân thích như cha mẹ, vợ hoặc chồng,người yêu, bạn thân với tỷ lệ cao là 63,5% Đến đình, chùa, đền thờ ở vị trí thứ hai là 52,7% Số buồn chánnhiều lúc không muốn bộc lộ với ai, ngồi một mình và thích yên tĩnh được sự lựa chọn ít hơn (20,3% và 9,5%)
Có 9,5% tìm đến nơi khác, như đọc sách, đi chơi cùng bạn bè, tìm đến nhóm người có HIV, tìm bạn đồng cảnh
để tâm sự, tâm sự với Thầy ở chùa
1.2 Những người có liên quan đến hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại các nhà chùa (những người cóliên quan) như cán bộ chính quyền, đoàn thể, nhân dân địa phương quanh khu vực nhà chùa
Tổng số có 56 người có liên quan đã trả lời các bảng câu hỏi Bao gồm 29 Nam, chiếm 51,8% và 27 Nữ,chiếm 48,2% Tỷ lệ nam/nữ tham gia khảo sát tương đương tỷ lệ giới tính trong điều tra dân số tại Việt Nam
1.2.1 Về tuổi của những người có liên quan
Tuổi của những người có liên quan chủ yếu trong khoảng từ 30 đến 59 tuổi, cao nhất là trong độ tuổi từ 40đến 49 (39,3%) Các lứa tuổi 30 – 39 và 50 – 59 đều trên 20% (21,4% và 23,2%)
Người cao tuổi nhất là 68 tuổi và ít nhất là 26 tuổi
1.2.2 Về trình độ học vấn
Trình độ học vấn của người có liên quan cao hơn hẳn những người đã sinh hoạt Chủ yếu có trình độ từ caođẳng, đại học trở lên, chiếm 73,2%, gấp 2,57 lần số người có trình độ cao đẳng, đại học của những người đãtham gia, trong đó có 19,6% người có liên quan có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ
Số người có liên quan có trình độ phổ thông, từ Tiểu học đến Trung học phổ thông chỉ chiếm 16,7%
1.2.3 Nghề nghiệp của những người có liên quan
Chủ yếu những người có liên quan là cán bộ, công chức viên chức nhà nước, nếu tính gộp lại chiếm tỷ lệ78,5% Còn lại số người làm các công việc khác chiếm tỷ lệ thấp hơn, như chức sắc tôn giáo (7,1%); nội trợ(5,4%); làm nông nghiệp (3,6%); cán bộ hưu trí (3,6) và tình nguyện viên phòng, chống HIV/AIDS (1,8%)
1.2.3.Về nơi làm việc, công tác
Trang 7Nhìn chung số người có liên quan được khảo sát không tập trung tại một địa điểm trong địa bàn khảo sát.Điều đó cũng phù hợp với mong muốn của những cán bộ điều tra khảo sát, nhằm tìm kiếm thông tin ở nhiều đốitượng khác nhau, nhiều địa bàn khác nhau, kể cả những người dân đang sinh sống tại khu vực quanh các chùa.
2 NHẬN THỨC CỦA ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT VỀ HIV/AIDS
2.1 Những người đang sinh hoạt, hoạt động, hoặc đã có thời gian sinh hoạt, tham gia hoạt động tại chùaPháp Vân và chùa Bồ Đề
2.1.1.Nguồn thông tin về HIV/AIDS
Các thông tin về HIV/AIDS đến với đối tượng khảo sát chủ yếu thông qua kênh các phương tiện thông tinđại chúng và thông qua các hoạt động xã hội Gia đình và nơi làm việc đóng vai trò thấp trong việc cung cấpthông tin về HIV/AIDS cho họ
2.1.2 Nhận thức của người đã sinh hoạt về mức độ nguy hiểm của HIV/AIDS
BẢNG 1: MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA HIV/AIDS THEO Ý KI N C A NG ẾN CỦA NGƯỜI ĐÃ SINH ỦA NGƯỜI ĐÃ SINH ƯỜI ĐÃ SINH ĐÃ SINH I Ã SINH
là HIV/AIDS không nguy hiểm và 2,7% không có ý kiến gì
2.1.3 Một tình huống đưa ra để hỏi người đã sinh hoạt là một người trông khỏe mạnh bình thường có thể bị nhiễm HIV hay không?
Số trả lời không chiếm tỷ lệ 6,8%, đây là một tỷ lệ thấp song vẫn cần quan tâm trong công tác thông tin,tuyên truyền, giáo dục phòng, chống HIV/AIDS Đồng thời cũng chú ý đến 8,1% trả lời không biết
2.1.4 Khi được hỏi làm cách nào để biết được một người có nhiễm HIV hay không đã nhận được sự trả lời
phải xét nghiệm máu với một tỷ lệ 98,3% Số trả lời phải đến bác sĩ khám chiếm tỷ lệ thấp 2,7% Giả sử 2,7%này cho rằng vịệc đến bác sĩ khám có cả việc làm xét nghiệm máu thì kết quả sẽ là 100% người đã sinh hoạtthống nhất muốn biết một người có nhiễm HIV hay không thì phải làm xét nghiệm máu
2.1.5 Về kiến thức, thái độ và hành vi trong phòng tránh lây nhiễm HIV của những người đã sinh hoạt
B NG 2: KI N TH C, THÁI ẢNG 2: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY ẾN CỦA NGƯỜI ĐÃ SINH ỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY ĐÃ SINHỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY NHI M HIV C A NH NG NG ỄM HIV CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ SINH HOẠT ỦA NGƯỜI ĐÃ SINH ỮNG NGƯỜI ĐÃ SINH HOẠT ƯỜI ĐÃ SINH ĐÃ SINH I Ã SINH HO T ẠT
2.2 Những người có liên quan đến hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại các nhà chùa
2.2.1 Một vấn đề được đưa ra để tìm hiểu những người có liên quan đã tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS hay chưa, đã nhận được kết quả có 91,1% người có liên quan cho biết là đã tham gia và 8,9%
chưa tham gia Chủ yếu (91,1%) những người có liên quan đã tham gia trên lĩnh vực thông tin, giáo dục, truyềnthông phòng, chống HIV/AIDS và tư vấn về HIV/AIDS
Những người tham gia trên lĩnh vực giám sát, can thiệp, chăm sóc điều trị và những người làm công tác quản
lý, chỉ đạo của các ngành các cấp, là cán bộ chuyên môn y tế và chuyên trách phòng, chống HIV/AIDS ở cáccấp có tỷ lệ tương đương (29,5%) Có 3,8% trường hợp cho biết là những tình nguyện viên, cộng tác viên
2.2.2 Nguồn cung cấp thông tin về HIV/AIDS
Cũng như người đã sinh hoạt, người có liên quan đánh giá cao vai trò của các phương tiện thông tin đạichúng trong công tác truyền thông phòng, chống HIV/AIDS Tuy nhiên người có liên quan có tỷ lệ lựa chọn caohơn người đã sinh hoạt (vô tuyến truyền hình 96,4% so với 73,0%; báo, tạp chí 92,9% so với 77,0% và phátthanh 87,5% so với 58,1%) Đồng thời cũng có sự khác nhau, người đã sinh hoạt lựa chọn báo, tạp chí là nguồn
549
Trang 8cung cấp thông tin nhiều nhất; còn người có liên quan lựa chọn nhiều nhất là vô tuyến truyền hình.
Tờ rơi, áp phích và cán bộ y tế được người có liên quan lựa chọn với tỷ lệ cao hơn người sinh hoạt (87,5% sovới 31,1% và 82,1% so với 32,4%) Điều này cũng cho thấy sự tiếp cận với cán bộ y tế của người đã sinh hoạtchưa nhiều Nói cách khác cán bộ y tế chưa tiếp cận nhiều với những người sinh hoạt phòng, chống HIV/AIDStại các nhà chùa
Cũng như người đã sinh hoạt, người có liên quan đã cho thấy Internet đang có một vai trò khá quan trọngtrong việc cung cấp các thông tin, trong đó có các thông tin về HIV/AIDS với tỷ lệ lựa chọn 57,1%
2.2.3 Về mức độ nguy hiểm của HIV/AIDS
Khi được hỏi về mức độ nguy hiểm của HIV/AIDS, 64,3% người có liên quan cho biết là rất nguy hiểm và21,4% cho biết là nguy hiểm Nếu tính cả hai mức độ này ta có 85,7% người có liên quan đánh giá HIV/AIDS lànguy hiểm, có 14,3% cho là HIV/AIDS không nguy hiểm
Người có liên quan có ý kiến HUV/AIDS không nguy hiểm cao hơn người đã sinh hoạt (14,3% so với 9,5%)
2.2.4 Một người trông khỏe mạnh bình thường có thể là người nhiễm HIV hay không?
89,3% người có liên quan trả lời là có Tỷ lệ này cũng tương đương với sự trả lời của người đã sinh hoạt(85,1%)
Tuy nhiên cũng cần quan tâm một tỷ lệ 10,7% người có liên quan trả lời không và không biết Điều này chothấy còn có người chưa có nhận thức đầy đủ về HIV/AIDS
2.2.5 Về biện pháp khẳng định người có nhiễm HIV hay không
100% người có liên quan trả lời là phải làm xét nghiệm HIV So với người đã tham gia tỷ lệ này ở người cóliên quan cao hơn Tuy nhiên nếu có việc đến bác sĩ khám sẽ được tư vấn và có làm xét nghiệm HIV thì nhìnchung các đối tượng khảo sát đều đã khẳng định với một tỷ lệ áp đảo, 100% có ý kiến muốn xác định chính xácmột người có nhiễm HIV hay không phải làm xét nghiệm HIV
2.2.6 Về kiến thức, thái độ, hành vi trong phòng, chống HIV/AIDS của người có liên quan
B NG 3: KI N TH C, THÁI ẢNG 2: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY ẾN CỦA NGƯỜI ĐÃ SINH ỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY ĐÃ SINHỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY , HÀNH VI TRONG PHÒNG, CH NG HIV/AIDS ỐNG HIV/AIDS
C A NG ỦA NGƯỜI ĐÃ SINH ƯỜI ĐÃ SINH I CÓ LIÊN QUAN
3 HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS CỦA CHÙA PHÁP VÂN VÀ CHÙA BỒ ĐỀ
3.1 Lý do người nhiễm HIV đến tham gia sinh hoạt tại nhà chùa
Lý do nhiều nhất được những người đã sinh hoạt lựa chọn là do thành tâm mà đến với nhà chùa, chiếm58,1% Tác động của xã hội, của bạn bè và những hoạt động phù hợp với trạng thái tâm lý, tình cảm cũng lànhững yếu tố được lựa chọn cao hơn các lý do khác 43,5% người đã tham gia cho biết người nhiễm HIV đếnsinh hoạt tại nhà chùa là do bản thân thích sinh hoạt tập thể và 36,5% là do bạn bè giới thiệu
“Em chỉ muốn được chia sẻ nên đến chùa, để nói với nhau những điều mà không ai hiểu cho mình thì bọn
em nói với nhau, nói ở nhà thì bị kỳ thị như thế nào, vượt qua bằng cách nào, những kinh nghiệm của mình đã trải qua, có thể sống với nó được không? Như vậy sẽ vơi đi nỗi bức xúc, không bị rơi vào trạng thái khủng hoảng nữa” (chị Nguyễn Thị Tuyết Lan, tình nguyện viên chùa Bồ Đề).
Những khó khăn, nỗi khổ riêng tư khi đã nhiễm HIV cũng là những lý do khiến người nhiễm HIV đến vớinhà chùa đề cầu mong tai qua, nạn khỏi (20,3%); do bản thân gặp điều bất hạnh mà tìm đến nhà chùa (20,3%)
và để quên đi nỗi khổ trần ai (14,9%)
Lý do để tránh xa gia đình, bạn bè, người thân chỉ có 6,8% người được hỏi lựa chọn Điều đó cho thấy nhữngngười nhiễm HIV rất khát khao được sống trong tình cảm, sự đùm bọc, yêu thương của gia đình, người thân,bạn bè, rất mong muốn được cộng đồng trở che, hỗ trợ Không còn cách nào khác (theo suy nghĩ của họ) phảiđến nương nhờ cửa Phật để vơi đi nỗi khổ trần ai, để mong sao cho tai qua nạn khỏi, để rồi lại được về với giađình, bạn bè, người thân
Để rõ hơn lý do dẫn đến người nhiễm HIV tìm đến cửa Phật, chúng tôi có tìm hiểu thêm về mục đích củangười nhiễm HIV đến các nhà chùa để làm gì với cả hai đối tượng những người đã tham gia và những người cóliên quan Để tham gia các hoạt động từ thiện, chăm sóc người khác đều được người đã sinh hoạt và người cóliên quan lựa chọn với tỷ lệ cao (67,6% và 85,7%) Đây cũng là một nhu cầu cần thiết, một mong muốn rất nhân
Trang 9văn của những người nhiễm HIV, thấu hiểu và cảm thông với hoàn cảnh, tâm trạng của những người đồng đẳngnên sẵn sàng và mong muốn được chăm sóc cho những người cùng cảnh ngộ với mình Trong thực tế nhữnghoạt động mà các nhóm Bạn giúp Bạn đã là những minh chứng cụ thể cho mong muốn này của những ngườinhiễm HIV.
Thực tế những người nhiễm HIV tìm đến nhà chùa không phải vì mục tiêu tìm nơi ăn, chốn ở Lựa chọn mụctiêu này của người đã sinh hoạt và người có liên quan đều có tỷ lệ thấp nhất trong các lựa chọn (9,5% và30,4%) Đến chùa để được chữa trị bệnh cũng không phải là mục tiêu với sự lựa chọn chỉ cao hơn mục tiêu nơi
ăn, chốn ở một chút (25,7% và 48,2%) Hoặc đến chùa vì mục tiêu giảm bớt gánh nặng cho gia đình cũng được
ít người đã sinh hoạt lựa chọn (18,9%)
Tuy nhiên mục tiêu để quên đi quá khứ, sống yên ổn hơn được người có liên quan lựa chọn với tỷ lệ cao(80,4%) Trong khi đó chính những người đã sinh hoạt lại không lựa chọn nhiều như thế, với tỷ lệ lựa chọn dưới50% (41,9%)
Ngược lại những người đã sinh hoạt lựa chọn mục tiêu để không còn bị những người xung quanh kỳ thị, xalánh với tỷ lệ cao (73,2%) Trong khi đó theo người có liên quan mục tiêu này được lựa chọn gần thấp nhấttrong các lựa chọn (44,6%) Thực tế trong các khảo sát trước đây đã được công bố về mong muốn hiện tại củangười nhiễm HIV, thì mong muốn lớn nhất, có thể nói là ước mong lớn nhất là làm sao xã hội không còn kỳ thịphân biệt đối xử với người nhiễm HIV và gia đình họ Cũng có khả năng những người có liên quan không phải
là người trong cuộc nên sự lựa chọn mục tiêu này có thấp hơn người đã sinh hoạt, cũng như thấp hơn các lựachọn khác của chính người có liên quan
3.2 Các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đã được triển khai tại chùa Pháp Vân và chùa Bồ Đề trong thời gian qua
B NG 4: CÁC HO T ẢNG 2: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY ẠT ĐÃ SINHỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY NG PHÒNG, CH NG HIV/AIDS Ã ỐNG HIV/AIDS ĐÃ SINH ĐÃ SINHƯỢC TRIỂN C TRI N ỂN KHAI T I CH A THEO Ý KI N C A ẠT ÙA THEO Ý KIẾN CỦA ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT ẾN CỦA NGƯỜI ĐÃ SINH ỦA NGƯỜI ĐÃ SINH ĐÃ SINHỐNG HIV/AIDS I T ƯỢC TRIỂN NG KH O SÁT ẢNG 2: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY
Theo người đã sinh hoạt, các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vừa qua triển khai tại nhà chùa nhiều nhất
là phổ biến, tuyên truyền, tư vấn về HIV/AIDS (90,5%); thứ hai là tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em nhiễmHIV, trẻ mồ côi (78,4%); thứ ba là hướng dẫn cách chăm sóc người nhiễm HIV (77,0%); thứ tư là tổ chức đếnthăm hỏi bệnh nhân AIDS (70,3%) và thứ năm là hướng dẫn ngồi Thiền (59,5%)
“Em thấy chùa Bồ Đề có nuôi dưỡng trẻ mồ côi, nhiều người đến chùa đánh giá rất cao, vì bản thân các sư thì không có tiền, nhưng lại có tấm lòng để nuôi dưỡng nhừng người già yếu ốm đau, bệnh tật, trẻ em ốm đau,
mồ côi thì em thấy mô hình này là rất tốt” (chị Nguyễn Thị Tuyết Lan, tình nguyện viên chùa Bồ Đề)
Có hai hoạt động phổ biến, tuyên truyền, tư vấn về HIV/AIDS và tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhiễmHIV, trẻ mồ côi là hai hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại các nhà chùa được các đối tượng khảo sát lựachọn nhiều nhất Tương tự, các hoạt động được người có liên quan lựa chọn thứ 3 và thứ 4 cũng như sự lựachọn của người đã sinh hoạt, là hướng dẫn cách chăm sóc người nhiễm HIV (73,2%) và tổ chức thăm hỏi bệnhnhân AIDS (67,9%)
Nhìn chung các họat động phòng, chống HIV/AIDS được tổ chức vừa qua tại chùa Pháp Vân và chùa Bồ Đềđều rất thiết thực Thiết nghĩ các chùa trong cả nước đều tiến hành các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS thì sẽ
có một lực lượng rất đông đảo tham gia vào công tác phòng, chống HIV/AIDS
3.3 Các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đối tượng khảo sát đã tham gia tại chùa Pháp Vân và chùa Bồ Đề
Trong số những người đã sinh hoạt có 93,2% đã tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại nhàchùa, chủ yếu là tại chùa Pháp Vân Có 6,8% (5 người) do mới đến sinh hoạt nên chưa có điều kiện tham cáchoạt động phòng, chống HIV/AIDS và đều là những người đang ở chùa Bồ Đề
Người được hỏi chủ yếu tham gia các hoạt động tuyên truyền, tư vấn HIV/AIDS (52,2%) Các trường hợpkhác đã tham gia các hoạt động chăm sóc người nhiễm HIV, trẻ em mồ côi hoặc trẻ nhiễm HIV, tham gia các
551
Trang 10lớp tập huấn tổ chức tại nhà chùa và các hoạt động thăm hỏi, tặng quà Có 4,1% tham gia dưới hình thức đónggóp kinh phí cùng nhà chùa mời chuyên gia đến tư vấn, hoặc mua quà đến thăm hỏi người nhiễm HIV và bệnhnhân AIDS.
3.4 Mức độ thiết thực của các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS được chùa Pháp Vân và chùa Bồ Đề triển khai theo ý kiến của đối tượng khảo sát
100% người đã sinh hoạt và 96,4% người có liên quan có ý kiến hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của cácnhà chùa là thiết thực, bổ ích, cần được tiếp tục
3.5 Sự ảnh hưởng đến sinh hoạt, hoạt động của nhà chùa khi nhà chùa tổ chức các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
83,8% người đã sinh hoạt và 82,1% người có liên quan cho biết việc nhà chùa tổ chức các hoạt động phòng,chống HIV/AIDS không ảnh hưởng gì tới các hoạt động chung của nhà chùa Như vậy sự ủng hộ cho việc triểnkhai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của các nhà chùa là rất cao
Nhìn chung, các đối tượng khảo sát đều có nhận xét là hoạt động phòng, chống HIV/AIDS do nhà chùa triểnkhai không có ảnh hưởng gì đến các hoạt động, sinh hoạt bình thường của nhà chùa
3.6 Sự ủng hộ của cộng đồng đối với việc nhà chùa tổ chức các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
Kết quả cho thấy 100% người có liên quan nhận xét rằng chính quyền địa phương ủng hộ cho các hoạt độngphòng, chống HIV/AIDS do các nhà chùa tổ chức Còn những người đã sinh hoạt thì đánh giá sự ủng hộ củachính quyền ở mức khiêm tốn hơn, với tỷ lệ lựa chọn 75,7% Phải chăng vai trò, sự quan tâm, ủng hộ của chínhquyền đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS do các nhà chùa tổ chức chưa đủ để những người trong cuộcthừa nhận 100% như những người có liên quan
Người đã sinh hoạt và người có liên quan đều thừa nhận và đánh giá cao sự ủng hộ của các chức sắc Phậtgiáo với tỷ lựa chọn là 97,3% và 94,6% Trong đó người đã sinh hoạt có tỷ lệ lựa chọn cao hơn người có liênquan một chút
Phần lớn các tăng ni, phật tử, tín đồ Phật giáo đã ủng hộ việc nhà chùa tổ chức các hoạt động phòng, chốngHIV/AIDS theo ý kiến của đối tượng khảo sát, với sự lựa chọn 83,9% và 89,3% Riêng sự ủng hộ của nhân dânxung quanh chùa được lựa chọn thấp nhất, mặc dù vẫn được hơn 50% lựa chọn (51,4% và 66,1%), xong rõ ràngcòn nhiều người dân chưa có hiểu biết về HIV/AIDS và sự kỳ thị, phân biệt đối xử còn khá nặng nề, đã dẫn đến
3.7.1 Thuận lợi theo ý kiến của những người đã sinh hoạt
Do là câu hỏi mở nên thu được nhiều ý kiến khác nhau, khá tản mạn và đã được tổng hợp tập trung một số ýkiến như sau:
- Nhiều cá nhân, tập thể, các cộng tác viên, các cơ quan đóng trên địa bàn, các tổ chức từ thiện, UNICEF,nhiều tổ chức quốc tế khác và đa số nhân dân đã quan tâm, hỗ trợ, tạo sự lạc quan, phấn khởi cho người nhiễmHIV và làm giảm bớt sự kỳ thị, phân biệt đối xử với HIV/AIDS
- Đảng, Nhà nước, cơ quan y tế, cơ quan phòng, chống HIV/AIDS, chính quyền, tổ chức mặt trận, các đoànthể đều có quan tâm đến thăm hỏi, hướng dẫn, động viên, chia sẻ và ủng hộ
- Tiếng nói của nhà chùa rất có hiệu quả đối với nhân dân, mọi người đều tin tưởng vào nhà chùa Các chứcsắc tôn giáo rất quan tâm ủng hộ, tạo điều kiện và đã tín nhiệm, sử dụng, phân công người nhiễm HIV tham giavào các hoạt động Điều đó đã làm cho người nhiễm HIV và các thành viên tham gia rất phấn khởi, tự tin và tíchcực tham gia các hoạt động do nhà chùa tổ chức
3.7.2 Thuận lợi theo ý kiến của những người có liên quan
- Được chính quyền, các ban ngành, đoàn thể ủng hộ và giúp đỡ
- Các chức sắc Phật giáo, các tăng ni, tín đồ Phật tử và nhân dân ủng hộ
“Theo tôi, nhà chùa là một kênh thông tin tác động đến người nhiễm HIV và tác động đến cộng đồng dân cư trong việc phòng, chống AIDS là rất thuận lợi và rất có hiệu quả” (anh Nguyễn Văn Đăng, phòng Lao động-
Thương binh-Xã hội quận Long Biên)
- Nhà chùa có sẵn một số cơ sở vật chất, có khuôn viên rộng, yên tĩnh, phù hợp việc tĩnh tâm chữa bệnh
- Nhà chùa là nơi cứu độ chúng sinh, rất quan tâm đến những người yếu thế và luôn làm các việc từ thiện
- Phù hợp tâm lý của nhiều người, người nhiễm HIV tin vào nhà chùa Nhà chùa có điều kiện để thu hútngười nhiễm HIV tự giác tham gia
“Tôi thấy tuyên truyền qua nhà chùa là rất thuận lợi, có sức lan toả rất nhanh, có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng Đa phần những người đến chùa là người ông, người bà, người cha, người mẹ, họ truyền đạt lại cho con
Trang 11cháu rất thuận lợi Tôi thấy cần nêu gương, động viên và khen thưởng các nhà chùa và cần phải có sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành đối với hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của nhà chùa” (anh Nguyễn Văn
Thắng, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Bồ Đề)
- Gia đình và người nhiễm HIV yên tâm, tin tưởng vào nhà chùa
- Không có kỳ thị, xa lánh, phân biệt đối xử trong nhà chùa Hoạt động này phù hợp với giáo lý Phật giáo
3.7.3 Khó khăn theo ý kiến của người đã sinh hoạt
- Một số người dân chưa hiểu về HIV/AIDS nên chưa ủng hộ, thậm chí còn phản đối
- Xã hội còn kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
- Quan tâm của chính quyền chưa thường xuyên và hiệu quả thấp
“Theo em, chính quyền phải chia sẻ gánh nặng với nhà chùa và tham gia vào các hoạt động của nhà chùa.
Ví dụ nhà chùa đi thăm hỏi và chăm sóc bệnh nhân AIDS, chính quyền nên có người cùng đi; nhà chùa thuyết pháp về HIV/AIDS, chính quyền cũng nên đến dự và nói cho dân hiểu chính quyền đang làm gì để cho dân biết
và hiểu hơn” (chị Nguyễn Hải Yến, tình nguyện viên chùa Bồ Đề).
“Một số chùa còn e ngại vì chính quyền chưa rõ ràng, chưa ủng hộ thực tình, mới thấy người ta làm thì làm cho có thành tích Nếu chính quyền rõ ràng về trách nhiệm, thực tâm đến với nhà chùa thì các chùa sẽ tin tưởng
và sẽ hoạt động có hiệu quả” (chị Trần Thị Liên, tình nguyện viên chùa Bồ Đề).
- Thiếu kinh phí, cơ sở vật chất, tài liệu và phương tiện truyền thông để triển khai các hoạt động của câu lạcbộ
“Thực ra Thầy cũng là con người, Thầy phải bỏ rất nhiều công sức để xây dựng chùa, nuôi các sư sãi, giờ đây lại nuôi người nhiễm HIV tại chùa thì em thấy là cũng nặng” (chị Nguyễn Thị Tuyết Lan, tình nguyện viên
chùa Bồ Đề)
“Chi phí của bọn tôi thì không đủ Hàng ngày tôi đi từ đê La Thành đến đây, xăng xe các thứ đều phải tự túc, không có cái gì hỗ trợ cho việc đi lại, xăng xe, sinh hoạt” (chị Đỗ Hà Phương Minh, Phó chủ nhiệm câu lạc
bộ Hương Sen)
- Có sư thầy chưa hiểu biết nhiều về HIV/AIDS
- Những vấn đề nhạy cảm như an toàn tình dục, bao cao su, bơm kim tiêm dễ bị né tránh
“Các Thầy trong chùa không lấy vợ, lấy chồng để đi tu, tụng kinh, nó khác ngoài đời không có chuyện trai gái Trong khi đó phòng, chống AIDS thì lại phải tuyên truyền về quan hệ tình dục, nó cũng khó Khi nhắc đến tình dục thì Thầy cũng đỏ mặt, nhưng vì công việc thiện nên Thầy vẫn làm phòng, chống AIDS” (chị Trần Thị
Liên, tình nguyện viên chùa Bồ Đề)
Một số người dân chưa hiểu về HIV/AIDS cũng đã có những lời nói, thái độ tác động đến tâm lý, tình cảm
của nhà chùa trong việc tham gia chăm sóc người nhiễm HIV “Một số người không hiểu thì người ta đặt cho Thầy là “Thầy Huân Si Đa”, nghe nó đau, theo cách gọi tích cực thì Thầy là người đi tiên phong trong phòng, chống AIDS Nhưng theo nghĩa đen thì người ta nghe rụng rời, người ta nghĩ Thầy cũng bị” (chị Đỗ Hà Phương
Minh, Phó chủ nhiệm câu lạc bộ Hương Sen)
3.7.4 Khó khăn theo ý kiến của người có liên quan
- Các nhà chùa thiếu điều kiện và kỹ năng chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV
- Kỳ thị, phân biệt đối xử còn nhiều, dễ làm cho nhân dân ngại đến chùa, lo sợ lây nhiễm HIV Chính quyềnmột số nơi và một số tăng ni, phật tử chưa ủng hộ, thiếu quan tâm đến công tác phòng, chống HIV/AIDS củanhà chùa
“Tôi thấy chính quyền chưa được tiếp xúc nhiều với HIV/AIDS nên làm công việc này theo kiểu phòng trào, lúc có lúc không, lúc lên lúc xuống, không sâu sắc và kém hiệu quả Tôi thấy cần làm sao cho chính quyền các cấp có thêm hiểu biết về HIV/AIDS, có việc cho họ làm trực tiếp, cho họ tham gia thường xuyên, chứ không phải là phong trào” (anh Ong Văn Tùng, nhóm Vì ngày mai tươi sáng).
- Kinh phí của nhà chùa có nhiều hạn chế
- Nhà chùa chưa có nhiều kinh nghiệm, kiến thức về HIV/AIDS, nhân lực thiếu, không có người được đàotạo chuyên sâu về phòng, chống HIV/AIDS, không có chuyên môn để chăm lo cho hoạt động này
- Khó tạo việc làm cho người nhiễm HIV tại nhà chùa
- Có thể nhà chùa sẽ bị lợi dụng, làm ảnh hưởng không tốt đến uy tín của nhà chùa do người nhiễm HIV chủyếu là những người nghiện chích ma tuý
Nhìn chung, theo ý kiến của những người được hỏi, việc nhà chùa tổ chức các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS có nhiều thuận lợi Thuận lợi lớn nhất là được sự quan tâm, ủng hộ, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước,chính quyền các cấp, các chức sắc tôn giáo, các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện và đa
số nhân dân, các tăng ni, phật tử Đồng thời hoạt động này cũng phù hợp với giáo lý đạo Phật Đó là những yếu
tố cần thiết và cũng là thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của nhà chùa.Bên cạnh đó, việc nhà chùa, các chức sắc Phật giáo tin tưởng, phân công, bố trí cho người nhiễm HIV thamgia vào các hoạt động chung, cũng là một yếu tố thuận lợi, giúp cho việc tiến hành các hoạt động phòng, chốngHIV/AIDS có hiệu quả thiết thực hơn Đây cũng là một biện pháp tập hợp, tạo điều kiện cho người nhiễm HIV
553
Trang 12mạnh dạn bộc lộ mình, chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội.
Những khó khăn được người trả lời đưa ra chủ yếu là những khó khăn khách quan, như sự hiểu biết củangười dân về HIV/AIDS còn thấp, kỳ thị, phân biệt đối xử với HIV/AIDS trong xã hội còn nhiều và chínhquyền quan tâm chưa thường xuyên, hiệu quả thấp
Một số khó khăn cũng cần quan tâm là nhận thức của một số sư thầy về HIV/AIDS còn thấp; những vấn đềnhạy cảm liên quan đến quan hệ tình dục, sức khoẻ sinh sản, tiêm chích ma tuý khó trao đổi cụ thể, rõ ràng Mộtvấn đề khác được người trả lời đưa ra rất đáng quan tâm đó là việc có thể nhà chùa bị lợi dụng, làm ảnh hưởngđến uy tín của nhà chùa
3.8 Các hoạt động nhà chùa cần tiến hành trong thời gian tới trên lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS
BẢNG 5: CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS NHÀ CHÙA CẦN TIẾP TỤC TIẾN HÀNHTRONG THỜI GIAN TỚI THEO Ý KIẾN CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
- Nhìn chung, người đã sinh hoạt và người có liên quan đều có ý kiến với tỷ lệ lựa chọn gần tương đươngnhau ở các hoạt động
- Đa số (87,8% và 82,1%) người được hỏi cho biết nhà chùa cần triển khai hoạt động phổ biến, tuyên truyền
về HIV/AIDS Điều này cũng phù hợp với chủ trương của Giáo hội Phật giáo cần nhanh chóng khắc phục sự
“vô minh” về HIV/AIDS trong các chức sắc Phật giáo, cũng như các tăng ni, phật tử, tín đồ Phật giáo
“Trong các hoạt động của chùa thì hoạt động tuyên truyền, thuyết pháp về phòng, chống HIV/AIDS là có hiệu quả nhất Trong các buổi thuyết pháp có rất nhiều người đến nghe Tôi thấy đây là hoạt động cần nhân rộng” (bà Nguyễn Thị Hạnh, 60 tuổi, phật tử chùa Bồ Đề).
- Hoạt động ưu tiên thứ hai là tổ chức hướng dẫn cách chăm sóc người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS, đã
có sự lựa chọn của cả hai nhóm gần tương đương nhau (51,4% và 51,8%) Thực tế những người nhiễm HIV đếnsinh hoạt tại các nhà chùa ngày một đồng, việc tổ chức hướng dẫn cách tự chăm sóc nhau khi ốm đau và tựchăm sóc bản thân là rất cần thiết
“Tôi thấy nhà chùa phải làm tốt tuyên truyền, đồng thời phải làm tốt chăm sóc người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS Mình chỉ chú tâm tuyên truyền, khi người ta ốm mình không đến chăm sóc thì lời nói không đi với việc làm” (Thầy Thích Phương Trí, Tu sĩ chùa Bồ Đề).
“Tôi thấy bổ ích nhất là “Tuệ Tĩnh Đường”, hoặc khi thuyết pháp mọi người lắng nghe hiệu qủa lắm Chùa cũng nên tổ chức cho người nhiễm HIV đi chăm sóc bệnh nhân AIDS, vì người bệnh không muốn người bình thường chăm sóc họ đâu” (chị Trần Thị Liên, tình nguyện viên chùa Bồ Đề).
- Hoạt động được ít người lựa chọn nhất là hoạt động tổ chức điều trị bằng thuốc Nam cho người nhiễm HIV(9,5% và 19,6%) Thực tế hiện nay Nhà nước cũng đang triển khai rộng công tác điều trị HIV/AIDS, việc điềutrị của người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS hiện nay là khá thuận lợi Vì vậy các tổ chức xã hội, tổ chức tôngiáo, tổ chức trong cộng đồng không đặt vấn đề ưu tiên cho công tác điều trị HIV/AIDS là phù hợp
- Bên cạnh đó có một số ý kiến cần tăng cường công tác tập huấn về HIV/AIDS cho các sư trong các nhàchùa và tổ chức giao lưu với nhưng người nhiễm HIV
“Theo tôi, nhà chùa cần tổ chức gặp mặt, giao lưu giữa người nhiễm HIV với các ban, ngành, đoàn thể và chính quyền địa phương, tạo sân chơi rộng cho họ và tạo điều kiện cho người nhiễm HIV hoà nhập với cuộc sống đời thường, tránh kỳ thị, phân biệt đối xử, tạo điều kiện cho các cháu nhỏ được đến trường học và được khám chữa bệnh miễn phí; tạo cho người nhiễm HIV thoải mái về tinh thần và thể xác Tôi nghĩ cái gì cũng phải nhà nước và nhân dân cùng làm” (Thầy Thích Phương Trí, Tu sĩ chùa Bồ Đề).
3.9 Một số đề xuất, mong muốn của đối tượng khảo sát nhằm tăng cường hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của các nhà chùa
Trang 13- Thầy Thích Đàm Lan, Trụ trì chùa Bồ Đề có ý kiến:
“Tôi thấy cần phải có sự kết hợp tốt giữa chính quyền và nhà chùa thì mới duy trì được lâu dài công việc phòng, chống HIV/AIDS trong nhà chùa Chùa Bồ Đề đang dự kiến làm một văn phòng tư vấn về HIV/AIDS tại nhà chùa, để mọi người đến đây tư vấn, giao lưu, trao đổi những công việc chăm sóc người nhiễm HIV Chúng tôi sẽ có phân người trực hàng ngày, ai gọi điện đến thì tư vấn, hoặc nếu đến trực tiếp thì chúng tôi sẽ giúp đỡ Chúng tôi rất muốn các ngành, các cấp quan tâm và tạo cho chúng tôi một kỳ vọng”.
- Bà Nguyễn Thị Hạnh, 60 tuổi, tín đồ chùa Bồ Đề có ý kiến:
“Nhà nước, nhất là Mặt trận Tổ quốc nên có chỉ đạo từ trên xuống dưới đối với tất cả các nhà chùa, để họ tham gia vào cái này”.
- Thầy Thích Quảng Hoá, Tu sĩ chùa Pháp Vân có ý kiến:
(1)“Chúng tôi rất muốn có hiểu biết sâu rộng về vấn đề này, nên rất mong được đi tập huấn nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc người nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS Bây giờ thì các chùa là tự nguyện, chúng tôi muốn Nhà nước có một cái văn bản nào đó để Tu sĩ tham gia một cách đúng luật pháp”
(2)“Chúng tôi xin đề nghị cấp cho chúng tôi một cái thẻ gì đó, như là nhà báo thì có thẻ nhà báo, để chúng tôi đi chăm sóc bệnh nhân AIDS, hoặc những người nhiễm HIV họ ở xa xôi, hẻo lánh, nhất là các tỉnh xa thì gặp khó khăn, không có đến được chùa Có nơi người ta lầm tưởng mình lợi dụng cái gì đến đây, có nơi công
an còn hỏi han các vấn đề như mình là người đi lừa đảo”.
- Bà Hoàng Thị Thiệp, 66 tuổi, cán bộ hưu trí, Phật tử chùa Pháp Vân có ý kiến:
“Theo tôi Đảng và Nhà nước nên có văn bản hướng dân, có phân công cụ thể, chứ không thể chỉ dừng ở mức độ khuyến khích, huy động chung chung Tôn giáo gì thì cũng là ở Việt nam, đều phải gánh vác công việc của đất nước Muốn Tu sĩ làm việc cho tốt thì phải mở các lớp đào tạo nâng cao kiến thức về HIV/AIDS cho các Thầy”.
- Ông Trịnh Đức Hồng, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội có ý kiến:
“Theo tôi, chúng ta có thể ban hành những quy định riêng về việc chăm sóc bệnh nhân AIDS trong các nhà chùa Nếu chúng ta chỉ coi đó là nơi tích cực, hoan nghênh không thôi mà không tìm ra cái khó khăn, cái tiêu cực của nó thì sẽ không có biện pháp đề phòng những tình huống, những hậu quả bất trắc xảy ra”.
- Bà Phạm Thị Tuyết Mai, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội có ý kiến:
“Theo tôi, để tăng cường vai trò của Phật giáo tham gia phòng, chống HIV/AIDS, trước hết ta phải có chế
độ, chính sách, chủ trương phù hợp để tạo hành lang pháp lý thì mới làm được, mới hỗ trợ được, mới quản lý được Mặc dù nó là hoạt động từ thiện, nhân đạo vẫn phải có hành lang pháp lý Thứ hai là phải tuyên truyền huy động cộng đồng xã hội tham gia vào công tác này, lôi kéo các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước vào
để tạo thêm nguồn lực Thứ ba là phải thường xuyên tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cho các nhà chùa”.
- Ông Nguyễn Văn Ngà, Phó ban Tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội có ý kiến:
“Theo tôi, tới đây chính quyền và Mặt trận Tổ quốc cần chỉ đạo, hướng dẫn và tạo điều kiện cho mỗi quận, huyện ở Hà Nội nên tổ chức làm điểm ở 1 – 2 tôn giáo tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS, có nơi làm ở chùa, có nơi làm ở xứ đạo để rút kinh nghiệm và nhân rộng ra ở các địa bàn khác và các tôn giáo khác Như vậy sẽ huy động được nhiều tôn giáo tham gia vào công ciệc này”.
- Ông Nguyễn Văn Thắng, Phó chủ tịch phường Bồ Đề có ý kiến:
“Tôi thấy các cấp uỷ Đảng và chính quyền phải có nhận thức đúng về vấn đề này, phải huy động cả hệ thống chính trị cùng tham gia vào Tôi thấy như chùa Bồ Đề và nhóm Vì ngày mai tươi sáng trong địa bàn chúng tôi họ đã là những tuyên truyền viên rất tốt Đó là những bằng chứng sống hết sức thuyết phục, đóng góp nhiều cho công tác phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn”.
- Chị Đỗ Hà Phương Minh, Phó chủ nhiệm câu lạc bộ Hương Sen có ý kiến:
“Tôi thấy có hội của những người mắc bệnh Thận, Tiểu đường để người ta đấu tranh cho quyền lợi của họ Tại sao mình không lập ra cái hội để người ta có tiếng nói riêng và để người ta dám lộ diện ra trước mọi người, cho người ta một cái niềm tin, một cái hy vọng”.
- Những người thảo luận nhóm tại chùa Pháp Vân cũng có một số ý kiến: “Em nghĩ tại sao mình không làm một sân chơi thật đặc biệt cho người nhiễm HIV trên vô tuyến truyền hình, như là chương trình “Chúng tôi là chiến sỹ”, để cho người ta bộc lộ trước mọi người, để người ta giữ được cái trong sạch trong cuộc sống, không hận đời, không trả thù, không làm liều Muốn vậy họ phải được xã hội chấp nhận cho họ có một sân chơi công khai” “Theo tôi chúng ta nên tổ chức hội nghị toàn quốc của những người nhiễm HIV Trong đó có sự tham gia của các câu lạc bộ người nhiễm HIV toàn quốc, có cả các cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia nữa, có truyền hình trực tiếp cho mọi nhà, mọi người cùng xem người ta nói về người ta, vừa tạo niềm tin cho người nhiễm HIV, vừa chống được kỳ thị, phân biệt đối xử”.
VI KẾT LUẬN
555
Trang 141.1 Hai chùa Pháp Vân và Bồ Đề trong thời gian từ 2004 đến nay đã có nhiều cố gắng triển khai được nhiềuhoạt động có hiệu quả trên lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS Có 3 hoạt động được các chức sắc Phật giáo, tăng
ni, tín đồ Phật tử, những người nhiễm HIV và những người thường xuyên sinh hoạt, hoạt động tại chùa, chínhquyền và nhân dân địa phương đánh giá cao, bao gồm:
- Một là, hoạt động phổ biến, tuyên truyền, thuyết pháp và tư vấn về HIV/AIDS trong các thành viên của nhà
chùa, các tình nguyện viên, cộng tác viên và trong các tín đồ Phật tử cũng như những người dân thường xuyênđến cúng lễ tại chùa và nhân dân vùng xung quanh nơi chùa trú đóng
- Hai là, hoạt động thăm hỏi, chăm sóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS tại gia đình và tại
bệnh viện
- Ba là, việc tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em nhiễm HIV, trẻ em mồ côi do AIDS không nơi nương tựa.
1.2 Việc hai nhà chùa tổ chức các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS là phù hợp với giáo lý của Phật giáo
và không ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày của nhà chùa
1.3 Cũng qua việc khảo sát thực trạng hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại chùa Pháp Vân và chùa Bồ Đềchúng tôi nhận thấy:
- Người nhiễm HIV đến tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS ở các nhà chùa với mục tiêu chủyếu là để không còn bị kỳ thị, xa lánh, phân biệt đối xử; để có thêm hiểu biết về HIV/AIDS và để được tham giachăm sóc bạn bè, chăm sóc những người cùng hoàn cảnh Lý do người nhiễm HIV đến với nhà chùa trước tiên
và chủ yếu là do thành tâm Người nhiễm HIV rất khát khao được sống trong sự đùm bọc, thương yêu của giađình, bạn bè và cộng đồng xã hội, biểu hiện cụ thể số người đến chùa vì lý do để xa lánh gia đình, người thân,chiếm một tỷ lệ rất thấp (6,8%)
- Sự tôn trọng, không kỳ thị, phân biệt đối xử, phân công công việc cụ thể của nhà chùa đã tạo một động lựctinh thần lớn, giúp cho người nhiễm HIV vượt qua được mặc cảm ban đầu, phấn khởi, hăng hái, chủ động, tíchcực tham gia các hoạt động xã hội, tiếp tục tham gia các hoạt động lao động và học tập
- Cản trở lớn nhất khi nhà chùa tổ chức các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS chính là sự kỳ thị, phân biệtđối xử với HIV/AIDS Đồng thời trong quá trình tổ chức các hoạt động, nhà chùa cũng có nhiều khó khăn vềkinh phí, thiêú tài liệu, trang thiết bị truyền thông, thiếu các phương tiện phục vụ cho hoạt động của các câu lạcbộ
- Vai trò của chính quyền cấp cơ sở (xã, phường) nơi có các nhà chùa trú đóng rất quan trọng Vừa tạo thuậnlợi cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của nhà chùa, vừa góp phần giảm bớt sự kỳ thị, xa lánh đối vớiHIV/AIDS
TÀI LI U THAM KH O ỆU THAM KHẢO ẢNG 2: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TRONG PHÒNG TRÁNH LÂY
01 “Các Mác - Ăng Ghen toàn tập”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995
02 “Chăm sóc cho bệnh nhân HIV/AIDS, một triển vọng của chùa chiền”, Dự án Sangha Metta,Chiang Rai, Thái lan, 2003
03 “Chăm sóc cho bệnh nhân HIV/AIDS, tư tưởng của Phật giáo”, Dự án Sangha Metta, Chiang Rai,Thái lan, 2003
04 “Giáo lý Phật giáo trong thời đại có AIDS”, Abbot Smmai Punya Khamo, Watkhiew Phrao,Maechan, Chiang Rai, Thái lan, 2003
05 “HIV/AIDS theo cách nhìn của Phật giáo”, Đại đức Thích Minh Tiến, Văn phòng 1, Trung ươngGiáo hội Phật giáo Việt Nam, Hà Nội, 2003
06 “Lý luận tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”, Đặng Nghiêm Vạn, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001
07 “Lý luận về tín ngưỡng và tôn giáo”, Cao Văn Thanh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
08 “Mặt trận Tổ quốc với việc triển khai thực hiện “Sáng kiến lãnh đạo Phật giáo” tham gia phòng,chống HIV/AIDS”, Ban Tôn giáo – Dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hà Nội, 2004
09 “Phật giáo trong thời đại của nạn dịch AIDS”, UNICEF tại Việt nam, Hà Nội, 2003
10 “Tứ vô lượng tâm và bệnh nhân AIDS”, Wacharapong Thongea-aad, Dự án Sangha Metta, ChiangRai, Thái lan, 2003
11 “Vai trò của các nhà sư và các nhà lãnh đạo trong cộng đồng trong việc phòng, chống và chăm sóccác bệnh nhân HIV/AIDS”, Dự án Sangha Metta, Chiang Rai, Thái lan, 2003
B¸o c¸o tãm t¾t nghiªn cøu “ kh¶ n¨ng tiÕp cËn vµ c¶i thiÖn chÊt lîng c¸c dÞch vô vµ x· héi cho phô n÷ sèng chung víi
Trang 15hiv/aids” t¹i h¶i phßng vµ thµnh phè Hå chÝ minh
Lisa Messersmith¹ , Lora Sabin, Sarah Hurlburt và Katherine Semrau Trần Lan Anh, Đào Thị Mai Hoa², Nguyễn Nguyên Như Trang ³
Trung tâm Y tế và Phát triển Quốc tế - Trường Đại học Boston ¹ Trung tâm Nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển (TT COHED)² Trung tâm Nâng cao chất lượng cuộc sống (Trung tâm LIFE)³
I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Ở Việt Nam, lượng người sống chung với HIV tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2006, với sốlượng gần 300.000 Số liệu gần đây cho thấy sự gia tăng về các vấn đề liên quan đến tình dục và sự lây lan củaHIV tại một số địa phương như Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh Phụ nữ sống chung với HIV (PNCH) tại Việtnam hiện đang phải đối mặt với tình trạng kỳ thị, bởi họ phải chịu đối mặt với những chuẩn mực văn hoá liênquan đến hành vi về bạo lực giới và cũng là đối tượng chính bị kỳ thị do quan niệm AIDS thường liên quan đếnnghiện hút và các hành vi tình dục ngoài hôn nhân bao gồm mại dâm Do đó phụ nữ phải đối mặt với sự phảnđối tiếp cận với những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ xã hội mà họ cần
Năm 2007, TT nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng và phát triển – COHED đã có đánh giá nhanh 140 phụ nữ có
H tại Hải Phòng và HCM, đã đưa ra một số kết quả: hầu hết PNCH đều rất trẻ (trên 85% dưới 37 tuổi) và không
có việc làm (60%), hầu hết nhận được sự tư vấn nhưng trong 5 người chỉ được 1 người nhận tư vấn, gần 25% cómột lần được kiểm tra sức khoẻ tổng thể và 11% chưa bao giờ được kiểm tra, 67% chưa bao giờ được nhận cácdịch vụ xã hội Những PNCH thường đối mặt với những mặc cảm hạn chế họ tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ vì
sợ hải khi phải để lộ tình trạng bệnh, sợ hãi bị từ chối cung cấp dịch vụ từ những người cung cấp nếu họ biếttình trạng bệnh của họ, sự quá tải trong dịch vụ nên phải chờ nhận dịch vụ trong một thời gian dài Để hiểu rõhơn những nhu cầu của PNCH tại Hải Phòng và HCM, và cũng để cung cấp thông tin bổ ích nhằm nâng caochất lượng dịch vụ cho họ, TT sức khoẻ và phát triển quốc tế- ĐH Boston (CIHD), TT COHED, và TT Lifethực hiện một nghiên cứu trong thời gian 1 năm để tiến hành một đánh giá can thiệp nhằm cải thiện khả năngcung cấp các dịch vụ y tế và xã hội đáp ứng nhu cầu của phụ nữ có H tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh.Nghiên cứu này nhằm cung cấp những thông tin có ích cho các nhà hoạch định chính sách tại Hải Phòng và
TP HCM để giúp họ hiểu hơn về những nhu cầu của phụ nữ sống chung với HIV/AIDS (PNCH) và cải thiệnchất lượng dịch vụ trong khuôn khổ lồng ghép giới trong chăm sóc và hỗ trợ đáp ứng nhu cầu của PNCH
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1, Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Thiết kế nghiên cứu trước và sau can thiệp nhằm so
sánh dữ liệu thu thập được khi tiến hành khảo sát ban đầu và đánh giá vòng 2 (sau đó 12 tháng) Một số canthiệp đã được tiến hành: (1), Nâng cao nhận thức và năng lực cho phụ nữ nhiễm HIV, gia đình họ và các nhânviên tiếp cận cộng đồng về HIV, giới và bạo lực giới; (2), Nâng cao năng lực cho các nhà cung cấp dịch vụ vềHIV, SKSS và dịch vụ xã hội hỗ trợ đáp ứng vấn đề giới cho PNCH; 3,Nâng cao năng lực cho 2 phòng khámngoại trú trọng điểm tại 2 thành phố nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ đáp ứng vấn đề giới, chú trọng sànglọc phát hiện những PNCH có khả năng gặp vấn đề bạo lực giới; 4,Đảm bảo chăm sóc và hỗ trợ liên tục choPNCH trong các dịch vụ có liên quan và không liên quan đến HIV/AIDS thông qua hệ thống chuyển gửi đượcthiết lập và các hoạt động dạy nghề, vay vốn tạo thu nhập ổn định
Công cụ đánh giá: bảng hỏi cấu trúc, thảo luận nhóm, quan sát và sử dụng bảng kiểm, vẽ bản đồ các điểmcung cấp dịch vụ sử dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS)
• PNCH được đào tạo tham gia nghiên cứu
Cỡ mẫu: Số lượng và đối tượng PV
Trang 16Tổng số 270 208 270 236
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP
1 Nhu cầu của PNCH liên quan đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và xã hội:
Nhu cầu việc làm tại Hải Phòng và HCM khảo sát lần đầu và sau can thiệp
2 Khả năng tiếp cận của các dịch vụ chăm sóc y tế và xã hội dành cho PNCH
Tiếp cận dịch vụ y tế
100 151
60 68
40 83
0 20 40 60 80 100 120 140 160
Cả hai địa bàn Hải Phòng TP HCM
trước sau
Biểu:
1 Bạn có phải trả tiền cho dịch vụ, xét nghiệm và các chi phí khác liên quan đến HIV (có)
2 Theo bạn, các nhân viên tại các cơ sở điều trị HIV có hiểu rõ những vấn đề liên quan đến phụ nữ có H không? (có)
3 Kiến thức về tư vấn sức khỏe tình dục (có)
4 Kiến thức về phòng tránh thai/KHHGĐ (có)
5 Kiến thức về các dịch vụ nạo phá thai? (có)
6 Đã từng tiếp cận dịch vụ SKTDSS trong 6 tháng qua (có)
7 Đã từng tiếp cận dịch vụ nạo phá thai trong 6 tháng qua (có)
Tiếp cận các dịch vụ HIV và SKTDSS cả 2 địa bàn Hải Phòng & TP.HCM
Trang 17Tiếp cận dịch vụ và kiến thức sinh sản, làm mẹ an toàn, chăm sóc sức khỏe trẻ em
31 49 0
50 100 150
KT hỗ trợ sinh sản KT làm mẹ an toàn KT sức khỏe Trẻ em Sử dụng dịch vụ
1 Kiến thức liên quan đến BLGD (có)
2 Đã từng sử dụng dịch vụ liên quan đến bạo lực giới trong 6 tháng qua (có)
3 Được giới thiệu tới dịch vụ liên quan đến bạo lực giới (có)
4 Kiến thức về vấn đề cưỡng ép/bạo lực tình dục (có)
5 Được giới thiệu tới dịch vụ liên quan đến bạo lực tình dục (có)
Tiếp cận dịch vụ và kiến thức liên quan đến Bạo lực giới Hải Phòng & TPHCM
559
Trang 18Bàn luận: Không có thay đổi đáng kể ở các nguồn thông tin về dịch vụ như bạn bè, người than Chưa cótrường hợp có nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý tại thời điểm can thiệp của dự án
Tiếp cận dịch vụ và kiến thức về tín dụng và tạo thu nhập
Bàn luận: nhu cầu vay tín dụng để tạo thu nhập ổn định đã một phần được đáp ứng sau khi được chuyển gửiđến cơ sở cho vay vốn như các chương trình dự án tại địa bàn 2 thành phố
Cả hai địa bàn
22 4 1 18 5 3
66 8
13
65 13
14
KT về dv tín dụng
Sử dụng dv tín dụng Được giới thiệu
KT về dịch vụ tạo thu nhập
sử dụng dv tạo thu nhập
Được giới thiệu đến dv tạo thu nhập
Trước Sau
3 Chất lượng của những dịch vụ y tế và xã hội
Những cải thiện đáng kể qua phỏng vấn PNCH sau sử dụng dịch vụ
Thông tin về tư vấn dịch vụ xã
2,Trả lời “đủ”: Thương thuyết sử dụng bao cao su với bạn tình 3,Trả lời “đủ”:Lạm dụng tình dục, ngược đãi hay bị tổn thương trong các mối quan hệ
Thông tin về tư vấn dịch vụ pháp lý
Trang 194 Những cải thiện đáng kể về chất lượng dịch vụ tại các cơ sở cung cấp dịch vụ
Đào tạo cán bộ cả 2 địa bàn Hải Phòng và Tp.Hồ Chí Minh
Bàn luận: Các cơ sở cung cấp dịch vụ đều có kế hoạch tập huấn trong 6 tháng tới để nâng cao chất lượngdịch vụ với các chủ đề cụ thể như lồng ghép giới trong cung cấp dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ, kinh nghiệm sànglọc bạo lực giới và kỹ năng tư vấn về bạo lực giới, bạo lực gia đình, tư vấn đồng đẳng, hỗ trợ pháp lý, nhà tạmlánh
4 Hiệu quả của hệ thống chuyển gửi trong việc kết nối PNCH với những dịch vụ y tế và XH
Hệ thống chuyển gửi còn yếu
Dịch vụ hỗ trợ dạy nghề và vay vốn theo nhóm chưa thành công vì các thành viên nhóm thiếu kiến thức
và kinh nghiệm làm việc nhóm, thiếu kỹ năng phần mềm để quản lý nhóm và xây dựng kế hoạch kinh doanhnhóm
Một số điểm mạnh
Dịch vụ sẵn có: chăm sóc HIV tại nhà, cung cấp thuốc ARV, hỗ trợ tuân thủ điều trị ART , dự phònglây truyền mẹ con, tư vấn SKSS, làm mẹ an toàn, tư vấn dinh dưỡng, tư vấn đồng đẳng, chuẩn đoán và điều trịnhiễm trùng cơ hội, v.v
Các nguồn vốn vay của các chương trình và dự án hiện đang có tại 2 thành phố, đặc biệt chương trìnhtín dụng cho PNCH thông qua Hội phụ nữ của GIPA
V KHUYẾN NGHỊ
Đầu tư hơn nữa vào các dịch vụ SKTDSS cho PNCH, trong đó có lồng ghép SKTDSS vào các dịch vụHIV
Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và xã hội đáp ứng vấn đề bạo lực giới
Thiết lập các dịch vụ và mạng lưới chuyển tuyến có sự điều phối và tham gia của các cơ quan như TT
PC AIDS cấp tỉnh/TP hay Hội PC AIDS các cấp
Tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng nhỏ, tạo thu nhập thông qua hỗ trợ vốn vay, giảiquyết vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử
Thực hiện và đánh giá các mô hình vay vốn tín dụng khác nhau,
Hỗ trợ xây dựng phương án kinh doanh cho các hộ vay vốn tạo thu nhập cho h và tập huấn quản lý tàichính
561
Trang 20TĂNG CƯờNG Sự TIếP CậN CủA NGƯờI SốNG CHUNG VớI HIV/AIDS Và NGƯờI Có NGUY CƠ NHIễM HIV TớI CáC DịCH Vụ TàI CHíNH VI MÔ Để TạO
VIệC LàM, TĂNG THU NHậP, ổN ĐịNH CUộC SốNG
Nguyễn Thị Ngọc Anh 1 , Nguyễn Thu Anh 1 , Ngụ Minh Trang 2 , Saul Helfenbein 1
1 Dự ỏn HIV nơi làm việc do USAID tài trợ,
2 Cơ quan phỏt triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)
I Đặt vấn đề
Dự ỏn Hỗ trợ việc làm và dự phũng HIV nơi làm việc cho Người cú nguy cơ cao tại Việt Nam của Cơ quanHợp tỏc Phỏt triển Hoa Kỳ (Dự ỏn HIV nơi làm việc) cú thời hạn là 5 năm từ 2009-2013 Dự ỏn do ChemonicsInternational, Inc thực hiện trong khuụn khổ Chương trỡnh cứu trợ khẩn cấp về phũng chống AIDS (PEPFAR)của Tổng thống Hoa Kỳ Mục tiờu của dự ỏn là dự phũng lõy nhiễm HIV trong nhúm người cú nguy cơ cao vàcung cấp cỏc cơ hội việc làm cũng như cỏc hỗ trợ tăng cường kinh tế cho những người sống chung và cú nguy
`cơ nhiễm HIV, nhằm gúp phần giảm tỡnh trạng phõn biệt đối xử và tăng tỏc động dự phũng Để thực hiện mụctiờu này, Dự ỏn tiến hành hoạt động trờn ba hợp phần lớn là chớnh sỏch tại nơi làm việc, dịch vụ tư vấn hướngnghiệp và việc làm, và tài chớnh vi mụ (TCVM) Dự ỏn phối hợp với cỏc tổ chức chớnh phủ, phi chớnh phủ, cỏcdoanh nghiệp và cộng đồng để thỳc đẩy lồng ghộp cỏc hoạt động hỗ trợ việc làm và dự phũng HIV cho nhúmđối tượng của dự ỏn
Năm 2010 dự ỏn bắt đầu thực hiện cỏc hoạt động tài chớnh vi mụ nhằm giỳp nhúm đối tượng tự tạo việc làm,
ổn định của cuộc sống và hũa nhập vào cộng đồng Qua phõn tớch và đỏnh giỏ tỡnh hỡnh chung về việc tiếp cậndịch vụ TCVM cho người sống chung, bị ảnh hưởng và cú nguy cơ nhiễm HIV, Dự ỏn đó đề xuất và đượcUSAID ủng hộ thực hiện thớ điểm chiến lược lồng ghộp HIV vào cỏc nhà cung ứng dịch vụ TCVM chớnh thức
và chuyờn nghiệp ở Việt Nam Chiến lược này bao gồm:
* Hỗ trợ Ngõn hàng CSXH Việt Nam thớ điểm cơ chế cho vay nhúm đối tượng này thụng qua xõy dựng mụhỡnh hợp tỏc, đối tỏc giữa Ngõn hàng và tổ chức hoạt động về HIV/AIDS
* Hỗ trợ thớ điểm lồng ghộp HIV vào cơ chế cho vay hiện hành của Tổ chức tài chớnh qui mụ nhỏ trỏchnhiệm hữu hạn Tỡnh Thương (Quỹ TYM) của TƯ Hội LHPN VN và kết nối Tổ chức này với tổ chức hoạt động
về HIV/AIDS
* Thực hiện cỏc hoạt động nõng cao năng lực về tài chớnh vi mụ và phỏt triển kinh doanh cho cỏc dự ỏn tớndụng nhỏ của cỏc tổ chức hoạt động về HIV/AIDS và khỏch hàng của cỏc tổ chức này
II Sự cần thiết của mô hình đối tác trong cung cấp dịch vụ tài chính vi mô
Trong những năm gần đõy, với những cải thiện về điều trị và chăm súc y tế và xó hội, nhu cầu về việc làmcho người sống chung với HIV và người sau cai ngày càng trở nờn cấp thiết Việc cung cấp cỏc dịch vụ tài chớnh
vi mụ phự hợp với nhúm đối tượng này được xỏc định là một trong những chiến lược và cụng cụ hữu hiệu giỳpcho nhúm đối tượng tự tạo việc làm, độc lập hơn về kinh tế, hũa nhập vào cộng đồng và giảm khả năng lõynhiễm
Hiện tại, tiếp cận TCVM của người sống chung với HIV, bị ảnh hưởng bởi HIV và cú nguy cơ nhiễm HIVcũn rất hạn chế do nhiều lý do, trong đú cú cả sự phõn biệt và kỳ thị Theo đỏnh giỏ nhanh cỏc hoạt động tăngthu nhập cho người sống chung với HIV và người sau cai của Dự ỏn HIV nơi làm việc (6/2009), cú một số tổchức hoạt động trong lĩnh vực phũng chống HIV/AIDS cú lồng ghộp hoạt động cho vay vốn nhỏ cho nhúm đốitượng này Tuy nhiờn, cỏc hoạt động/dự ỏn này cũn rất lẻ tẻ, hạn chế về qui mụ và khả năng quản lý cũng nhưkhả năng tự vững và mở rộng
Cỏc tổ chức/chương trỡnh tài chớnh qui mụ cho người nghốo và người cú thu nhập thấp cú qui mụ lớn và bềnvững thường tập trung nhiều ở cỏc vựng nụng thụn và chưa mở rộng nhiều ra cỏc vựng đụ thị và nơi cú số lượnglớn người sống chung HIV và người sau cai Ngoài ra, những người sống chung với HIV/AIDS và cú nguy cơnhiễm HIV thường được coi là nhúm cú rủi ro tin dụng cao, do vậy khú tiếp cận được cỏc dịch vụ của cỏc tổchức/chương trỡnh này mặc dự họ cú thể thuộc đối tượng đớch (người nghốo và người thu nhập thấp) của cỏc tổchức/chương trỡnh này NHCSXH là tổ chức duy nhất được ủy thỏc giải ngõn vốn vay cho cỏc doanh nghiệp vi
mụ cú sử dụng lao động là người sau cai nghiện ma tỳy (theo NQ 212/2007/QD-TTg), tuy nhiờn, nguồn vốn nàyphụ thuộc vào sự quan tõm và khả năng ngõn sỏch của từng địa phương Hiện tại NHCSXH chưa cú chươngtrỡnh cho vay chuyờn biệt cho đối tượng này và cũng chưa cú số liệu thống kờ tỷ lệ người sống chung với HIVđược vay vốn
Việc tăng cường hơn nữa hoạt động của cỏc chương trỡnh sinh kế và TCVM cho người sống chung và ảnh
Trang 21hưởng bởi HIV cũng như cỏc đối tượng cú nguy cơ cao là được đỏnh giỏ là một nhu cầu cần đỏp ứng trong thờigian tới Ngoài ra, do hạn hẹp về nguồn vốn và yờu cầu chuyờn nghiệp húa cỏc hoạt động TCVM, cũng như sựthiết yếu của cỏc hỗ trợ về y tế và xó hội đối với cỏc đối tượng này trong quỏ trỡnh sử dụng cỏc dịch vụ tài chớnh
vi mụ, cỏc mụ hỡnh hợp tỏc, đối tỏc giữa cỏc bờn hoạt động về HIV/AIDS và cỏc chương trỡnh/tổ chức TCVMbền vững và chuyờn nghiệp nờn được nghiờn cứu và thực hiện thớ điểm
Chiến lược chiến lược lồng ghộp HIV vào cỏc nhà cung ứng dịch vụ TCVM chớnh thức và chuyờn nghiệp ởViệt Nam được đề xuất nhằm giải quyết những khú khăn hiện tại làm cản trở sự tiếp cận của người sống chungvới HIV và người sau cai tới cỏc dịch vụ TCVM được quản lý chuyờn nghiệp và bền vững, tận dụng và phỏt huyđược thế mạnh của cỏc đối tỏc tham gia, đồng thời tăng cường thực hiện sứ mệnh xó hội và kinh tế của cỏc tổchức TCVM và tổ chức HIV tham gia
III Giới thiệu vắt tắt về các can thiệp đề xuất về tài chính vi mô của Dự án
1 Hỗ trợ Ngõn hàng CSXH Việt Nam thớ điểm cơ chế cho vay nhúm đối tượng này thụng qua xõy dựng mụ hỡnh hợp tỏc, đối tỏc giữa Ngõn hàng và tổ chức hoạt động về HIV/AIDS
Can thiệp này nhằm thớ điểm lồng ghộp cho vay nhúm đối tượng là những người sống chung với HIV/AIDS
và người sau cai vào cỏc hoạt động cho vay hiện hành của cụng cụ cho vay chớnh sỏch của Chớnh phủ - Ngõnhàng CSXH Việt Nam Mụ hỡnh thớ điểm này sẽ được thực hiện thụng qua sự phối hợp/đối tỏc giữa NHCSXH
và một tổ chức hoạt động về HIV/AIDS (tổ chức HIV/AIDs) trong đú Ngõn hàng sẽ tập trung vào cỏc dịch vụtớn dụng, tiết kiệm và đào tạo cú liờn quan và tổ chức HIV/AIDS sẽ chịu trỏch nhiệm về xỏc định người vay và
cú những hỗ trợ y tế, xó hội cần thiết cho người vay Tổ chức HIV/AIDS cũng sẽ tham gia tớch cực trong quỏtrỡnh giỏm sỏt và hoàn trả vốn vay cũng như phối hợp với Dự ỏn HIV nơi làm việc để cú cỏc hỗ trợ phỏt triểnkinh doanh cần thiết cho người vay Ngõn hàng CSXH đó thể hiện sự quan tõm tới hỗ trợ đối tượng này và sẵnsàng hợp tỏc với Dự ỏn để thực hiện thớ điểm mụ hỡnh đối tỏc Hiện tại, Dự ỏn đang tớch cực làm việc với Ngõnhàng và tổ chức HIV/AIDS (dự kiến là FHI) để thiết kế chi tiết cỏc bước đi và qui trỡnh thực hiện mụ hỡnh Hỡnhdưới đõy minh hoa cho mụ hỡnh hợp tỏc dự kiến:
Cỏc hoạt động dự kiến của can thiệp này bao gồm:
*Đỏnh giỏ, khảo sỏt tỡnh hỡnh để chọn địa bàn thớ điểm và cỏc đối tỏc cú liờn quan
*Kết nối và xõy dựng quan hệ hợp tỏc giữa cỏc bờn liờn quan
*Đào tạo cỏn bộ của Ngõn hàng về những kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và cỏch thức phục vụ nhúm đốitượng này
*Đào tạo cỏn bộ của tổ chức HIV/AIDS và cỏc bờn liờn quan về mụ hỡnh hợp tỏc, qui trỡnh cho vay của ngõnhàng và cỏch thức lựa chọn đối tượng
*Hỗ trợ Ngõn hàng xem xột và điều chỉnh hệ thống quản lý vốn vay cũng như mẫu biểu cần thiết của ngõnhàng khi cho vay nhúm đối tượng này
*Đào tạo cho người vay tiềm năng về thủ tục vay vốn, giỏo dục tài chớnh và phỏt triển kinh doanh…
*Hỗ trợ kỹ thuật và theo dừi trong qua trỡnh thực hiện mụ hỡnh
*Đỏnh giỏ, tổng kết về mụ hỡnh để làm cơ sở mở rộng ra cỏc địa bàn khỏc của Ngõn hàng
2 Hỗ trợ thớ điểm lồng ghộp HIV vào cơ chế cho vay hiện hành của Tổ chức tài chớnh qui mụ nhỏ trỏch nhiệm hữu hạn Tỡnh Thương (Quỹ TYM) của TƯ Hội LHPN VN và kết nối Tổ chức này với tổ chức hoạt động về HIV/AIDS
Tương tự như can thiệp với NHCSXH, mục đớch của can thiệp này là thớ điểm lồng ghộp HIV vào võn hànhtài chớnh vi mụ hiện hành của Quỹ TYM Quỹ TYM là đơn vị trực thuộc Hội Liờn hiệp phụ nữ Việt Nam, đượcthành lập năm 1992 với hoạt động chớnh là cung cấp cỏc dịch vụ tài chớnh vi mụ cho phụ nữ nghốo Quỹ TYM
đó được Ngõn hàng Nhà nước Việt Nam cấp phộp chớnh thức hoạt động như một tổ chức tài chớnh qui mụ nhỏ ởViệt Nam theo Nghị định 28/165 của Chớnh phủ Quỹ TYM đang hoạt động trờn 10 tỉnh/thành trong cả nước,thu hỳt sự tham gia của gần 50.000 chị em phụ nữ nghốo, với tổng dư nợ vốn là 248 tỷ đồng và dư nợ tiết kiệmđạt 57 tỷ đồng Quỹ TYM cũng đó thể hiện sự quan tõm và sẵn sàng hợp tỏc với Dự ỏn để hỗ trợ nhúm đốitượng là những phụ nữ đang sống chung, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDs tiếp cận cỏc dịch vụ hiện hành của Quỹcũng như hợp tỏc với cỏc tổ chức làm việc về HIV/AIDS để đảm bảo hỗ trợ hiệu quả cho nhúm đối tượng này.Hiện tại, Dự ỏn HIV nơi làm việc đang làm việc với Ban Quản lý Quỹ TYM để cụ thể húa và xõy dựng chi tiết
mụ hỡnh Hỡnh dưới đõy minh họa qui trỡnh cho vay cho nhúm đối tượng này của Quỹ TYM:
gười
vay, giỏm
sỏt t
rong
quỏ
trỡnsử
dụng
vốn
và cỏ
c hỗ trợ y
tế, x
ó hộ
i khỏc
Đào tạo cỏn bộ, đối tỏc
Dự ỏn HIV Nơi làm việc
Người vay được chọn, thẩm định tham gia vào nhúm TD-TK hiện hành của Ngõn
hàng CSXH
Hỗ trợ tài chớnh và kỹ thuật
Hỗ trợ kết nối và kỹ thuật
Trang 22Các hoạt động dự kiến của can thiệp này bao gồm:
* Đánh giá, lựa chọn tổ chức đối tác, kết nối và xây dựng quan hệ hợp tác giữa các bên liên quan
* Đào tạo cán bộ của Quỹ TYM về những kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và cách thức phục vụ nhóm đốitượng này
* Đào tạo cán bộ cơ sở của tổ chức HIV/AIDS và các bên liên quan về mô hình hợp tác, qui trình cho vaycủa ngân hàng và cách thức lựa chọn đối tượng
* Hỗ trợ TYM xem xét và điều chỉnh hệ thống quản lý vốn vay hiện hành của TYM để có thể theo dõi vàquản lý việc cho vay nhóm đối tượng này
* Đào tạo cho người vay tiềm năng về thủ tục vay vốn, giáo dục tài chính và phát triển kinh doanh…
* Đào tạo cho thành viên của nhóm TD-TK của TYM về HIV và chống kỳ thị
* Hỗ trợ kỹ thuật và theo dõi trong qua trình thực hiện mô hình
* Đánh giá, tổng kết về mô hình để làm cơ sở mở rộng ra các địa bàn khác của TYM nơi có tỷ lệ HIV/AIDS cao
3 Thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực về tài chính vi mô và phát triển kinh doanh cho các dự án tín dụng nhỏ của các tổ chức hoạt động về HIV/AIDS và khách hàng của các tổ chức này.
Các hoạt động ở can thiệp 3 trong chiến lược tài chính vi mô của Dự án là các hoạt động tiếp theo các khóađào tạo về quản lý tài chính vi mô cho cán bộ của các tổ chức đối tác của USAID có các dự án cho vay nhỏ chonhững người sống chung, bị ảnh hưởng và có nguy cơ nhiễm HIV/AIDS
Trong thời gian tới, Dự án sẽ tập trung vào đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật theo yêu cầu cụ thể của dự án/hoạtđộng cho vay nhỏ có mong muốn mở rộng và hoạt động bền vững trong lĩnh vực này Ngoài ra, Dự án cũng sẽtiếp tục các hoạt động đào tạo và tư vấn về các kỹ năng, kiến thức cần thiết trong khởi sự và phát triển kinhdoanh cho các đối tượng vay vốn của các dự án này Dự án dự kiến thực hiện các hoạt động đào tạo có liên quanđến khởi sự và phát triển kinh doanh thông qua sự hợp tác và phối hợp với một tổ chức chuyên về lĩnh vực này
và dự kiến sẽ sử dụng mạng lưới giảng viên “SIYB” và “Get Ahead” đã được đào tạo bởi chương trình của VCCI
ILO-KH¶O S¸T NHU CÇU VIÖC LµM Vµ N¡NG LùC CñA NG¦êI SèNG CHUNG VíI
HIV Vµ NG¦êI SAU CAI T¹I Hµ NéI
Cán bộ của tổ chức HIV/AIDS
Xác định và giới thiệu khách hàng cho TYM
Hỗ trợ xã hội và y
tế cần thiết cho đối tượng
Cán bộ tín dụng của TYM
Thẩm định và tuyển dụng, đào tạo đối tượng vào nhóm.
Thẩm định vốn và thực hiện qui trình xét duyệt vốn
Các nhóm TD-TK của TYM
Hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sử dụng và hoàn trả vốns
Chi nhánh của TYM
Phê duyệt vốn, phát vốn và quản lý hệ thống theo dõi vốn vay
Trang 23Đàm Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thu Anh, Ngô Minh Trang,
Dương Trường Thủy, Saul Helfenbein
Dự án HIV nơi làm việc do USAID tài trợ,
Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)
GIỚI THIỆU
Từ năm 2008 đến 2013, dự án HIV nơi làm việc (HIV Workplace Project) do USAID tài trợ được thực hiện
bởi tổ chức Chemonics tập trung vào việc phát triển các chính sách HIV nơi làm việc, cung cấp các dịch vụ hỗtrợ về sức khỏe, phúc lợi xã hội cũng như tạo cơ hội làm việc và vay vốn tín dụng phát triển kinh tế cho ngườisống chung với HIV và người có nguy cơ cao lây nhiễm HIV tại 7 tỉnh/thành phố nhận viện trợ của Kế HoạchCứu Trợ Khẩn Cấp Của Tổng Thống Hoa Kỳ Về Phòng, Chống HIV/AIDS (PEPFAR): Hà Nội, Hải Phòng,Quảng Ninh, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và An Giang
Để có cơ sở cho việc hỗ trợ tạo cơ hội việc làm, dự án đã tiến hành khảo sát với các mục tiêu:
- Tìm hiểu nhu cầu việc làm, năng lực làm việc và những khó khăn gặp phải trong quá trình tìm kiếm việclàm của nhóm người sống chung với HIV và người có nguy cơ cao
- Cung cấp những dịch vụ hỗ trợ tạo cơ hội việc làm phù hợp cho nhóm đối tượng trên
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Người sống chung với HIV và người sau cai nghiện ma túy có nhu cầu việc làm tại Hà Nội
2 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng
- Địa bàn nghiên cứu: Hà Nội
- Thời gian: Tháng 4 và tháng 5 năm 2009
- Các bước tiến hành nghiên cứu:
Bước 1:
- Thiết kế bộ công cụ khảo sát gồm 53 câu hỏi dành cho người sống chung với HIV và người sau cai nghiện
ma túy có nhu cầu việc làm Bộ công cụ được thử nghiệm với 10 mẫu được chọn ngẫu nhiên từ nhóm tự lực.Bước 2:
- Đại diện của 23 trên 29 nhóm tự lực tại Hà Nội, đại diện cho 1.287 thành viên tham dự cuộc họp với nhómnghiên cứu Trong số các nhóm tham gia khảo sát, có 20 nhóm tự lực của người sống chung với HIV và 3 nhóm
tự lực của người sau cai nghiện ma túy Tuy nhiên, các nhóm tự lực HIV cũng bao gồm cả người sau cai và cácnhóm sau cai cũng bao gồm cả người sống chung với HIV
- Bảng câu hỏi khảo sát được gửi đến thành viên các nhóm tự lực thông qua đại diện của nhóm để thu thậpthông tin thứ cấp Việc trả lời câu hỏi khảo sát là hoàn toàn tự nguyện
- Trong số 1.287 thành viên các nhóm tự lực, 418 người trả lời các câu hỏi trong bảng khảo sát với tỉ lệ 33%.Trong số này, 330 người cho biết có nhu cầu việc làm và hoàn thành ít nhất 25 trên 53 câu hỏi khảo sát
Quy trình chọn mẫu khảo sát
Bước 3:
- Mã hóa số liệu và phân tích SPSS 12.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
K t qu kh o sát cho th y trong 330 ng ấy trong 330 người sống chung với HIV và người sau cai ười sống chung với HIV và người sau cai ống chung với HIV và người sau cai i s ng chung v i HIV v ng ới HIV và người sau cai à người sau cai ười sống chung với HIV và người sau cai i sau cai nghi n ma túy tham gia kh o sát v có nhu c u vi c l m, 52% l nam gi i v 48% l à người sau cai ầu việc làm, 52% là nam giới và 48% là à người sau cai à người sau cai ới HIV và người sau cai à người sau cai à người sau cai
n gi i S ng ới HIV và người sau cai ống chung với HIV và người sau cai ười sống chung với HIV và người sau cai ống chung với HIV và người sau cai i s ng chung v i HIV không có ti n s s d ng ma túy l 54%, s ới HIV và người sau cai ền sử sử dụng ma túy là 54%, số ử sử dụng ma túy là 54%, số ử sử dụng ma túy là 54%, số ụng ma túy là 54%, số à người sau cai ống chung với HIV và người sau cai
ng ười sống chung với HIV và người sau cai ử sử dụng ma túy là 54%, số ụng ma túy là 54%, số i s d ng ma túy nh ng không có HIV l 12% v 34% v a s ng chung v i HIV ư à người sau cai à người sau cai ừa sống chung với HIV ống chung với HIV và người sau cai ới HIV và người sau cai
565
957 người không có nhu cầu việc làm
330 người có nhu cầu
việc làm
6 nhóm không tham gia khảo sát
29 nhóm tự lực tại Hà
Nội
23 nhóm tham gia khảo sát 1.287 thành viên
Trang 24v a có ti n s s d ng ma túy Trên 60% nhóm s ng chung v i HIV không s d ng ừa sống chung với HIV ền sử sử dụng ma túy là 54%, số ử sử dụng ma túy là 54%, số ử sử dụng ma túy là 54%, số ụng ma túy là 54%, số ống chung với HIV và người sau cai ới HIV và người sau cai ử sử dụng ma túy là 54%, số ụng ma túy là 54%, số
ma túy l ph n v 75% nhóm s ng chung v i HIV có s d ng ma túy l nam gi i à người sau cai ụng ma túy là 54%, số à người sau cai ống chung với HIV và người sau cai ới HIV và người sau cai ử sử dụng ma túy là 54%, số ụng ma túy là 54%, số à người sau cai ới HIV và người sau cai
Giới tính HIV không sử dụng ma túy Sử dụng ma túy không có HIV HIV và sử dụng ma túy Các nhóm
Ngh nghi p hi n t i ền sử sử dụng ma túy là 54%, số ại
Về kỹ năng và kinh nghiệm làm việc, 22% đã và đang làm công việc bán hàng, buôn bán nhỏ, gần 15% cónghề may và số tương tự có nghề nấu ăn Gần 10% có nghề lái xe, 12% có nghề cơ khí, điện, điện tử Gần mộtphần tư (22%) số người được khảo sát cho biết không có nghề nghiệp gì
Tìm việc làm qua người thân quen, bạn bè và các mối quan hệ nhân là kênh tìm kiếm việc làm chủ yếu củanhững người sống chung với HIV và sau cai được khảo sát, với tỉ lệ gần 78% Chỉ có một tỉ lệ nhỏ tìm việc quacác kênh chính thức, cụ thể gần 15% qua trung tâm xúc tiến việc làm và 3% qua internet và báo chí
Kinh nghiệm làm việc %
Trang 25internet café, và có thể có được thu nhập hàng ngày, họ cũng mong muốn làm việc như một Đồng đẳng viênhoặc tuyên truyền viên Một phần tư số khác thấy không chắc chắn về mong đợi và định hướng nghề nghiệp của
họ Nhiều người mong sẽ có công việc mà thời gian làm việc bán thời gian và không gò bó Những người thamgia được hỏi về mong muốn thu nhập hàng tháng sẽ là bao nhiêu 52% mong từ 1,200,000 đến 2,499,000VND/tháng; 43% muốn ít nhất 2,500,000 VND/tháng
Các trở ngại khi tìm kiếm việc làm đối với nhóm được khảo sát bao gồm: điều kiện sức khỏe yếu, bị nhàtuyển dụng và đồng nghiệp kỳ thị và phân biệt đối xử, không có phương tiện đi lại, lịch làm việc mâu thuẫn vớilịch điều trị, không có kinh nghiệm làm việc cũng như không có kinh nghiệm tìm việc và xin việc, thiếu thôngtin về các cơ hội việc làm, trình độ học vấn thấp, thiếu các kỹ năng nghề nghiệp
KẾT LUẬN
Tìm kiếm công việc trong các cơ sở kinh doanh chính thức thực sự là một thách thức đối với hầu hết nhữngngười sống chung với HIV và những người sau cai do nhiều trở ngại cá nhân và thiếu chuẩn bị tr ước khi bướcvào thị trường việc làm Khảo sát cũng cho thấy sự không tương xứng trong mong đợi về công việc, thu nhậpvới trình độ học vấn không đáp ứng cộng với việc thiếu các kinh nghiệm làm việc trong các doanh nghiệp Gần43% nhóm khảo sát mong muốn có lương hàng tháng như những công nhân lành nghề trong khi phần lớn số họkhông có kỹ năng nghề nghiệp và có trình độ học vấn Rất nhiều người mong có việc làm với thời gian làm việcthoải mái trong khi các doanh nghiệp đòi hỏi công nhân làm việc đầy đủ giờ như quy định từ 40 đến 48 tiếngmột tuần Thêm nữa những người sống chung với HIV và những người sử dụng ma túy thường phải đối mặt vớicác trở ngại như sự phân biệt đối xử hoặc các quan niệm tiêu cực từ phía nhà tuyển dụng Điểm này thực sự đẩy
họ vào thế bất lợi trong so sánh với những người tìm việc khác
Người sống chung với HIV và người sau cai có nhu cầu được vay vốn và thể hiện mong muốn mở các cửahàng nhỏ để tự kinh doanh như cửa hàng tạp hoá, bán thức ăn trên phố, cắt tóc, quán café …
KHUYẾN NGHỊ
Dịch vụ hỗ trợ tạo việc làm cần tập trung vào việc chuẩn bị cho người sống chung với HIV và người sau caitrước khi tham giao vào thị trường lao động bao gồm các bước:
1 Tư vấn nghề nghiệp và hỗ trợ tâm lý xã hội
2 Đào tạo kỹ năng sống, kỹ năng xin việc và kỹ năng làm việc
§¸NH GI¸ THùC TR¹NG Vµ §Ò XUÊT MéT Sè GI¶I PH¸P NH»M N¢NG CAO N¡NG LùC TRUNG T¢M PHßNG, CHèNG HIV/AIDS TØNH, THµNH PHè
567
Trang 26Nguyễn Thanh Long, Phan Thị Thu Hương, Phạm Đức Mạnh, Hoàng Đình Cảnh và cộng sự (VAAC) TÓM TẮT
Điều tra mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng về thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại 63 tỉnh, thành phố, được tiến hành từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008 Kết quả cho thấy: Về trụ sở làm việc, hiện chỉ có 11 đơn vị có trụ sở riêng chiếm 17,5%, số còn lại đang mượn tạm hoặc thuê địa điểm làm trụ sở Các trụ sở đều trong tình trạng tạm bợ và chật hẹp, loại nhà cấp 4 chiếm 12,4%, nhà mái bằng chiếm 60%, chỉ có 1,6% trụ sở làm việc đã được xây dựng mới.
Về nhân lực, hiện có 1281 cán bộ, còn thiếu 1589 cán bộ so với định biên cho phép của Nhà nước Về trình độ,
có 8,2% có trình độ sau đại học, 31,3% đại học, số trung cấp và sơ cấp chiếm khá đông 39,2% Số cán bộ có nhu cầu đào tạo về HIV/AIDS chiếm 77% Về trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của các khoa, phòng còn nhiều thiếu thốn, chưa đáp ứng với yêu cầu hoạt động chuyên môn, đặc biệt là trang thiết bị xét nghiệm Kết quả nghiên cứu đã mô tả một bức tranh khá toàn diện về thực trạng mạng lưới phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh, giúp cho các nhà quản lý xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể trước mắt và lâu dài để nâng cao năng lực trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh, nhằm đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao
EVALUATION OF THE REAL SITUATION AND PROPOSING SOME SOLUTIONS FOR STRENGTHENING CAPACITY OF PROVINCIAL HIV/AIDS CENTERS
ABSTRACT
A cross-sectional survey combined with qualitative and quantitative research on real situation of material facilities, equipment and human resources in HIV/AIDS prevention and control at 63 provinces/cities was carried out from June, 2007 to September, 2008 The findings show that In term of working office, only 11 PACs have separated working office accounting for 17.5%, the remaining PACs have to rent or borrow the offices Almost all of these offices are unsettled and cramped in that 4 th level offices make up 12.4%, 60% is flat roof offices and only 1.6% of PACs have their new working offices In term of human resources, there are now
1281 staff, so it lacks 1589 staff in comparison with fixed number of staff regulated by the Government In term
of qualifications, number of staff having post-graduate qualifications is 8.2%, university degree 31.3% and junior college and vocational education make up a large propotion 39.2% Number of staff in need of HIV/AIDS training is 77% Equipment for faculty and department activities is not enough and meets the demands of technical requirements, especially laboratory facilities The research findings presents a panorama
of the real situation of provincial HIV/AIDS network so it should help health managers in planning and developing short-term and long-term solutions in order to strengthen capacity for PACs in responding to their assigned function and responsibilities
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 1987 đến nay, hệ thống phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam đã qua nhiều giai đoạn thay đổi về cơcấu, tổ chức nhằm đối phó với tình hình dịch cũng như cần có sự đáp ứng liên ngành Tuy nhiên, cho đến nay hệthống phòng, chống HIV/AIDS vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn ở tất cả các tuyến từ Trung ương đến địaphương[1,6] Tại tuyến tỉnh, phần lớn các Trung tâm phòng chống (TTPC) HIV/AIDS mới được thành lập, chưa
có trụ sở làm việc, các trang thiết bị còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDStại tuyến tỉnh còn thiếu và chưa được đào tạo cơ bản về công tác phòng, chống HIV/AIDS trong khi đó yêu cầuhoạt động chuyên môn về phòng, chống HIV/AIDS tại tuyến tỉnh rất cao từ công tác truyền thông thay đổi hành
vi, chăm sóc, tư vấn điều trị HIV/AIDS cũng như các biện pháp can thiệp dự phòng và giám sát ca bệnh Trướcdiễn biến phức tạp của đại dịch HIV/AIDS và những khó khăn, tồn tại của hệ thống phòng, chống HIV/AIDSViệt Nam, để đánh giá tổng thể hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh làm cơ sở cho Chính phủ có đủbằng chứng để xây dựng đề án nâng cao năng lực và tăng cường hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh,
Bộ Y tế tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm các mục tiêu: (1) Đánh giá thực trạng hệ thống phòng, chốngHIV/AIDS tuyến tỉnh, thành phố của ngành y tế hiện nay; (2) Xác định nhu cầu đầu tư nguồn nhân lực, cơ sởvật chất, trang thiết bị của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh, thành phố; (3) Đề xuất các giải phápnhằm nâng cao năng lực của các TTPC HIV/AIDS tuyến tỉnh, thành phố
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
- Các cán bộ đang công tác tại đơn vị phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh, thành phố
- Cán bộ của các ban ngành liên quan:
- Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của các trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008
Trang 27- Địa điểm nghiên cứu: 63 đơn vị phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh trên toàn quốc.
3 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng
4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
a) Mẫu nghiên cứu định lượng
- Điều tra thông tin cơ bản về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của 63 đơn vị phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnhthông qua bảng trống được thiết kế sẵn
- Phỏng vấn các cán bộ tại các đơn vị phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh: Chọn 7 khu vực địa lý và chọnngẫu nhiên mỗi khu vực 2 đơn vị Kết quả lựa chọn 14 đơn vị đưa vào nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn toàn bộ
134 cán bộ
b) Mẫu nghiên cứu định tính: tiến hành tại 14 tỉnh được chọn có chủ định, tại mỗi tỉnh tiến hành phỏng vấncác đối tượng sau: phó chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Sở Y tế; Nội vụ, Tài chính, Kế hoạch đầu tư
III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1 Hệ thống tổ chức Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh: Tính đến hết quý II/2008 đã có 57 tỉnh đãthành lập Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh có 03 đơn vị ghép chung với chương trình khác có 46 trungtâm đã thành lập đủ 2 phòng, 4 khoa theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế [4,5], còn lại 11 Trung tâm do chưa bốtrí đủ nhân lực nên vẫn còn ghép khoa, phòng
2 Thực trạng nguồn nhân lực và đào tạo [2,3]
Kết quả điều tra cho thấy, số cán bộ đang công tác tại các Trung tâm PC HIV/AIDS tỉnh là 1281 người, theođịnh biên của Nhà nước số này mới chỉ đạt một nửa, chỉ tiêu biên chế tới năm 2010 cần thêm 1589 người
Biểu đồ 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới tính
Trong số 1281 cán bộ công tác tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS các tỉnh thì tỷ lệ cán bộ là nữ chiếm54,7% và nam chiếm 45,3% tuổi thấp nhất là 20 tuổi, nhiều nhất là 59 tuổi, tuổi trung bình là 34,8 Thời giancông tác trung bình trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS của các cán bộ là 2,28 năm
Bảng 1.Thu nh p trung bình c a các cán b phòng, ch ng HIV/AIDS ập trung bình của các cán bộ phòng, chống HIV/AIDS ủa các cán bộ phòng, chống HIV/AIDS ộ phòng, chống HIV/AIDS ống chung với HIV và người sau cai
Trang 28Đã được cấp cơ sở riêng 11 17.46
3.2 Tình trạng trụ sở làm việc hiện tại
Bảng 3.Tình tr ng tr s l m vi c ại ụng ma túy là 54%, số ở làm việc à người sau cai
Có 60,32% TTPC HIV/AIDS hiện đang làm việc tại các cơ sở là nhà mái bằng còn sử dụng được, 15,87% cơ
sở là nhà mái bằng đã xuống cấp Vẫn còn 12,7% số cơ sở là nhà cấp 4 có 1,59% trung tâm đang được xây mới
Bảng 4 Diện tích mặt bằng cơ sở làm việc
3.3 Trang thiết bị theo khoa phòng [2,3,7]
- Phòng Tổ chức hành chính Kết quả thống kê cho thấy các trang thiết bị tối thiểu dành cho công việc của
phòng Tổ chức Hành chính của Trung tâm rất thiếu thốn, tính bình quân số máy tính hiện có chỉ đạt1máy/6người (42 máy/248 người), số lượng máy in chỉ đạt 1 máy/11 người (23 máy/248 người), bàn làm việcthường là 2-3 người/1 bàn, 1máy điện thoại/7 người…
- Phòng Kế hoạch Tài chính số trang thiết bị thiết yếu như máy tính, máy in, tủ đựng tài liệu, bàn làm việc
chỉ đạt 10 - 15% nhu cầu thực tế nếu tính theo số cán bộ hiện nay, đặc biệt chỉ có duy nhất một tỉnh có máyphôtô, trong khi đó nhu cầu sao lưu tài liệu, chứng từ liên quan đến tài chính là rất cần thiết
- Khoa Truyền thông, can thiệp và huy động cộng đồng Số trang thiết bị dùng cho công tác truyền thông lưu
động như ti vi, loa, đài, tăng âm, máy chiếu, máy tính xách tay chưa đủ 10% so với nhu cầu thực tế, đặc biệt tủđựng tài liệu trưng bày chỉ đạt 2,3% so với nhu cầu
- Về trang thiết bị các phòng xét nghiệm Đã có 43 đơn vị có phòng xét nghiệm được trang bị dàn Elisa để
phục vụ cho công tác xét nghiệm khẳng định các trường hợp HIV(+) theo yêu cầu tối thiểu của Bộ Y tế về tiêuchuẩn trang thiết bị của phòng xét nghiệm HIV được phép khẳng định các trường hợp HIV (+)
IV KẾT LUẬN
1.Các tỉnh, thành đã thành lập TTPC HIV/AIDS , tạo thuận lợi cho việc quản lý, triển khai các chương trình
phòng chống HIV/AIDS theo chiều sâu và tránh được sự chồng chéo
2.Thực trạng nguồn nhân lực và đào tạo:
- Tuổi nghề trung bình liên quan đến công tác phòng, chống HIV/AIDS không cao (2,28 năm), không cónhiều cán bộ có kinh nghiệm về HIV/AIDS trong hàng ngũ này
- Số lượng cán bộ biên chế tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS tuyến tỉnh/thành phố thiếu rất nhiều
so với nhu cầu (mới đạt 50%) Phân bố cán bộ theo các khoa phòng tại trung TTPC HIV/AIDS là không đều,thiếu nhiều cán bộ cho các khoa chuyên môn như xét nghiệm, giám sát, chăm sóc và điều trị
- Thiếu các chuyên gia được đào tạo chuyên sâu như tiến sĩ, thạc sỹ, bác sĩ tốt nghiệp chuyên ngành về y tếcông cộng và y học dự phòng (chỉ đạt 8.2%) Số cán bộ có trình độ trung cấp trở xuống chiếm tỷ lệ rất cao tới39.26%
3.Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị
- Phần lớn các TTPC HIV/AIDS còn phải mượn tạm nhà của đơn vị khác làm trụ sở (chiếm 66,6%) Vẫn còn
Trang 2912,7% số cơ sở là nhà cấp 4 Chỉ có 1,59% trung tâm đang được xây mới, còn nhiều TTPC HIV/AIDS nhà đãxuống cấp cần sửa chữa (15,87%).
- Trang thiết bị theo khoa phòng đều chưa đủ số lượng để đáp ứng nhu cầu công việc theo từng lĩnh vựcchuyên môn
V KHUYẾN NGHỊ
1 Các tỉnh, thành phố cẦn khẩn trương hoàn thiện hệ thống tổ chức TTPC HIV/AIDS để tạo thuận lợi chocông tác chỉ đạo thống nhất từ trung ương đến địa phương theo từng chương trình hành động đảm bảo đạt hiệuquả
2 Các tỉnh khẩn trương tuyển đủ cán bộ biên chế tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS theo định biên Nhànước qui định để đáp ứng yêu cầu công việc lâu dài
3 Xây dựng kế hoạch, triển khai các khóa đào tạo chuyên môn ngắn hạn, có trọng tâm, phù hợp với các cán
bộ vừa học vừa làm, bám sát theo các chương trình hành động của chiến lược quốc gia
4 Khẩn trương đầu tư xây dựng trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố theo chuẩn quốc gia đểđáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao
5 Cung cấp các trang thiết bị hỗ trợ cho các hoạt động theo từng phòng chuyên môn của trung tâm phòngchống HIV/AIDS tỉnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ban Bí thư Trung ương Đảng (2005) “Chỉ thị số 54/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX)
về Tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới”, Hà Nội
2 Bộ Nội Vụ và Bộ Y tế (2005) “Thông tư liên tịch số 11/TTLT – BNV-BYT, ngày 12/4/2005 của Liên BộNội vụ và Y tế về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môngiúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước về y tế ở địa phương”, Hà Nội
3 Bộ Y tế (2005), Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2000 – 2005, công ty in cổphần 15, Hà Nội
4 Bộ Y tế (2005), “Quyết định số 25/2005/QĐ-BYT, ngày 05 tháng 9 năm 2005 về việc Quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương”, Hà Nội
5 Bộ Y tế (2005), “Quyết định số 21/2005/QĐ-BYT về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam”, Hà Nội
6 Bộ Y tế và Bộ Nội vụ (2007) Thông tư Liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, ngày 05/6/2007 về hướngdẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước
KH¶O S¸T KIÕN THøC, TH¸I §é, THùC HµNH CH¡M SãC T¹I NHµ CñA TH
¢N NH¢N NG¦êI NHIÔM HIV/AIDS TR£N §ÞA BµN TØNH Cµ MAU N¡M 2007
Dương Trung Thu ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình hình nhiễm HIV/AIDS đã và đang gia tăng hằng ngày, hằng giờ là mối đe doạ mang tính toàn cầukhông ở phạm vi một châu lục hay quốc gia Đòi hỏi cả nhân loại phải nỗ lực phòng chống tích cực bằng mọibiện pháp nhằm giảm đi tỷ lệ mắc/chết do AIDS
Từ khi có trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ở nước ta vào năm 1990 đến nay, số người nhiễm HIV/AIDS đã gia tăng nhanh chóng Đây là một gánh nặng cho gia đình và xã hội Nếu gia đình nào có một người bịnhiễm HIV/AIDS, thân nhân phải chịu áp lực rất lớn về tinh thần lẫn thể chất
Vấn đề đặt ra là cần thiết phải có các nghiên cứu khảo sát về KAP của thân nhân người bệnh về chăm sóc tại nhà(CSTN), để đề ra các chương trình huấn luyện, các biện pháp hỗ trợ phù hợp nhằm giúp đỡ thân nhân người bệnhchấp nhận và thực hiện tốt việc chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại nhà
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định tỷ lệ thân nhân người nhiễm HIV/AIDS có “Kiến thức, thái độ, thực hành” đúng về chăm sócngười nhiễm HIV/AIDS tại nhà, các nguồn thông tin phòng, chống HIV/AIDS tiếp cận được, các mối liên quangiữa đặc điểm nhóm nghiên cứu với kiến thức thái độ hành vi đúng trong việc chăm sóc người nhiễmHIV/AIDS tại nhà từ đó đưa ra những khuyến cáo phù hợp giúp cho chương trình phòng chống HIV/AIDS củatỉnh hoàn thiện hơn
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
571
Trang 30Đối tượng nghiên cứu:
Thân nhân trực tiếp chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại nhà có độ tuổi từ 18-65 và đồng ý tham gia nghiêncứu trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích
Các mẫu nghiên cứu:
Được tính theo công thức sau:
Z2 1- α/2 P (1 - P)
Kỹ thuật chọn mẫu:
Số lượng thân nhân đưa bệnh nhân HIV/AIDS đến khám tại các phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện,cácphòng khám ngoại trú tại cộng đồng tỉnh Cà Mau quản lý được
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi soạn sẵn 42 câu gồm có: 9 câu thông tin về thân nhân người nhiễm HIV/AIDS, 14 câu về kiến thức, 04 câu về thái độ, 12 câu về thực hành chăm sóc, 03 câu về nguồn thông tin và nhucầu của thân nhân Đa số là câu hỏi đóng, một số ít những câu hỏi mở để thu thập những ý kiến
Kiểm soát sai lệch thông tin:
Bộ câu hỏi sau khi thiết lập được tiến hành điều tra thử có sự giám sát nghiêm túc để tìm ra những điểm cầnthay đổi, bổ sung Các điều tra viên là các y bác sỹ được tập huấn tốt về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng phỏngvấn
Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu:
Kiểm tra dữ liệu; Ghi mã cho những câu trả lời phỏng vấn; Tạo tập tin dữ liệu
Dữ liệu được mô tả, phân tích bằng phần mềm EPI – INFO 6.04, trình tự xử lý mô tả và phân tích
44.955,1Nhóm tuổi
18 -1920-30
>30 - 65
445104
2,528,569,0Học vấn
Cấp 1Cấp 2Cấp 3, đại học và trên đại học
573566
36,122,241,8
Nhân dân lao động
13145
8,291,8
Anh, chi ,em, bà con
55103
34,865,2
Bảng 2: Kiến thức về chăm sóc tại nhà người nhiễm HIV/AIDS
Trang 31+ Người nhiễm HIV không cần luôn luôn nằm viện
+ Khi được CSTN sẽ làm cho người nhiễm HIV/AIDS
- Không yên tâm vì thiếu y tế
- Cảm thấy thỏai mái
+ Khi phải CSTN, thân nhân là người thay thế hoàn toàn nhân viên y tế
+ Chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS cần phải động viên chăm sóc giúp đỡ về mặt
tinh thần cho người bệnh
- Đúng
- Sai
+ Dinh dưỡng tốt là vấn đề quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe người
nhiễm HIV/AIDS tại nhà
- Đúng
- Sai
10157
4936111147
514364
129227
1553
1571
63,936,1
2,558,938,67,093,0
32,327,240,5
81,61,317,1
98,11,9
99,40,6
Bảng 3: Thái độ phòng, chống HIV/AIDS ền sử sử dụng ma túy là 54%, số v ch m sóc t i nh c a ng ăm sóc tại nhà của người thân nhiễm HIV/AIDS ại à người sau cai ủa các cán bộ phòng, chống HIV/AIDS ười sống chung với HIV và người sau cai i thân nhi m HIV/AIDS ễm HIV/AIDS
- Không biết đường lây truyền, sợ lây, sợ tiếp xúc
- Không biết chăm sóc
+ Lý do buộc chấp nhận
- Không biết nhiễm HIV/AIDS
- Không biết đường lây
- Không rõ
9717737125523025
61,410,84,423,470,629,471,428,681,15,413,5
Bảng 4: Thực hành về chăm sóc tại nhà người thân nhiễm HIV/AIDS
5518
38,048,113,9
75,324,7
573
Trang 32+ Giặt quần áo người bệnh như thế nào
- Giặt chung với đồ gia đình
- Giặt riêng sau khi ngâm thuốc sát trùng
- Chỉ giặt riêng khi có dính máu, dịch
- Giặc riêng không ngâm
+ Xử lý các lọai rác có dính máu, chất dịch
- Đốt
- Không thực hiện hoặc như rác thông thường
+ Có dọn cơm riêng cho người bệnh không
- Có
- Không
5274158757545113
32,94,425,936,747,547,528,571,5
BÀN LUẬN
Đặc tính nghiên cứu:
Nghiên cứu số thân nhân người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh quản lý và tiếp cận được, trong đó tỷ lệ
nữ nhiều hơn nam Chủ yếu là nhóm > 30 tuổi; trình độ học vấn từ cấp III trở lên; đa số nhân dân lao động vàquan hệ với bệnh nhân đa số là anh chị em, bà con; thể lâm sàng đa số là nhiễm HIV
Kiến thức về chăm sóc tại nhà người nhiễm HIV/AIDS
Ta thấy kiến thức của người thân về chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại nhà số người thân biết là ngườinhiễm không cần phải lúc nào cũng nằm viện, nhưng kiến thức sai vẫn còn cao Thực chất người nhiễmHIV/AIDS cơ thể đã suy giảm chức năng miễn dịch, tinh thần luôn lo lắng Vì vậy không những cần quan tâm
về chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt lành mạnh mà còn cần được sự quan tâm, động viên, không phân biệt đối xửcủa người thân
Về kiến thức chăm sóc tại nhà, thân nhân là người thay thế hoàn toàn nhân viên y tế chỉ có 32,3% hiểu đúng.Tuy nhiên người thân chưa thấy hết vai trò nhiệm vụ của mình còn trông chờ vào sự giúp đỡ của nhân viên y tế.Thân nhân có thể học cách xử lý tại nhà một số bệnh thông thường xảy ra trên người nhiễm HIV/AIDS có tới81,6% trả lời đúng Tuy nhiên việc họ có chấp nhận không lại là chuyện khác
Về sự động viên, chăm sóc giúp đỡ mặt tinh thần họ rất cần người thân quan tâm có tới 98,1% số người hiểuđúng Đây là kiến thức rất quan trọng được đa số người thân biết đúng
Thái độ về chăm sóc tại nhà của người thân nhiễm HIV/AIDS
Về thái độ chấp nhận hoàn toàn chăm sóc tại nhà khi không cần nằm viện có 61,4% chấp nhận Thái độngười thân chấp nhận chăm sóc tỷ lệ chưa cao điều này cho thấy vẫn còn kỳ thị đối với người nhiễm HIV/AIDS.Trong số người không chấp nhận, đa số không biết đường lây truyền Điều này cũng cho ta thấy việc tuyêntruyền, tập huấn, tư vấn cho người thân về HIV/AIDS và cách chăm sóc người bệnh vẫn còn hạn chế nhất định
Thực hành về chăm sóc tại nhà người thân nhiễm HIV/AIDS
Trong việc thực hành chăm sóc người nhiễm HIV tại nhà còn nhiều hạn chế dẫn đến nguy cơ lây nhiễm cao,chủ yếu là do sự chủ quan và thiếu hiểu biết về đường lây truyền của thân nhân người nhiễm
Đánh giá nguồn thông tin được tiếp cận
Người thân tiếp cận qua nguồn hướng dẫn chủ yếu là sách báo và nhân viên y tế, còn lại tự làm không đượchướng dẫn Điều này cho thấy công tác huấn luyện cho người thân nhiễm HIV/AIDS chưa được quan tâm đốivới tỉnh Cà Mau
Các mối liên quan giữa đặc điểm nhóm nghiên cứu và thái độ, thực hành chăm sóc người nhiễm HIV/ AIDS tại nhà:
Kết quả cho thấy trình độ học vấn của thân nhân người nhiễm đóng vai trò quan trọng đối với kiến thức, thái
độ, thực hành chăm sóc tại nhà, trình độ học vấn càng cao thì kiến thức chăm sóc tại nhà càng tốt, điều này chothấy sự cần thiết đưa các kiến thức chăm sóc tại nhà vào hệ thống giáo dục các cấp hoặc cũng đã có chươngtrình phối hợp với ngành giáo dục, các trường học
Ngoài ra những đặc điểm khác của nhóm nghiên cứu như giới tính, quan hệ và nhóm tuổi cũng ảnh hưởngđến kiến thức, thái độ và thực hành của thân nhân người nhiễm trong chăm sóc tại nhà nhưng không cao
Điểm mới ứng dụng đề tài:
Đây là đề tài mới hoàn toàn, nội dung đề tài sẽ cung cấp những thông tin cơ bản cho việc soạn thảo nội dung
kế hoạch phù hợp để người nhiễm HIV/AIDS được thân nhân, cộng đồng không còn kỳ thị mà quan tâm, chămsóc họ nhiều hơn, đúng hơn về mặt y tế tránh gánh nặng cho bệnh viện, tránh lây lan trong cộng đồng, đối với
họ sẽ kéo dài cuộc sống có sức khoẻ giúp ích cho gia đình xã hội
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận
Nghiên cứu 158 thân nhân người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh quản lý và tiếp cận được, trong đó tỷ lệ
Trang 33nữ nhiều hơn 55%, nam 44,9% Nhóm tuổi chủ yếu là nhóm > 30 tuổi ( 30-65) là cao nhất (69%); Trình độ củathân nhân từ cấp III trở lên cao nhất (41,8%); Nghề nghiệp đa số nhân dân lao động 91,8% và quan hệ với bệnhnhân đa số là anh chị em, bà con (65,2%); Thể lâm sàng đa số nhiễm HIV chiếm 94,4% chỉ có 0,6% chuyển thànhAIDS.
Kiến thức, thái độ, thực hành của người thân về chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại nhà là khá tốt, chúngtôi thấy rằng nhiều thân nhân còn e ngại, nhưng đa số vẫn có thái độ chấp nhận việc chăm sóc tại nhà chiếm61,4%; họ có thể xử lý một số bệnh thông thường xảy ra trên người nhiễm (81,6% trả lời đúng) Tuy nhiên họvẫn còn do dự, phân vân do chưa hiểu đúng về đường lây truyền và còn trông chờ vào cán bộ y tế Tỷ lệ kỳ thịđối với người nhiễm còn cao vì kiến thức của họ chủ yếu qua nhân viên y tế (19%); qua tài liệu, báo, đài(12,7%) Đó là do họ chưa hiểu rõ về HIV/AIDS và đường lây truyền (71,4%) Điều này cũng cho ta thấy việctuyên truyền, tập huấn, tư vấn cho người thân về kiến thức về HIV/AIDS và cách chăm sóc người bệnh vẫn cònhạn chế nhất định
Về thực hành chăm sóc tại nhà người nhiễm HIV/AIDS của người thân còn thấp do họ thiếu kiến thức vềHIV/AIDS và do chủ quan nên tỷ lệ tiếp xúc với mầm bệnh gần 50% Trong việc chăm sóc chế độ dinh dưỡngcho bệnh nhân chưa được sự quan tâm mà còn trông chờ vào thầy thuốc và thuốc hỗ trợ Vì vậy nhân thân ngườinhiễm HIV/AIDS cần được cung cấp kiến thức đầy đủ
Khuyến nghị
- Tổ chức tập huấn: Cần thiết tổ chức các lớp tập huấn về chăm sóc tại nhà cho thân nhân ngay tại các cơ quan y tế chuyên khám và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS ở tuyến tỉnh, huyện Là cầu nối để sau khi tập
huấn xong thân nhân và bệnh nhân được giới thiệu về y tế địa phương
- Nội dung tập huấn chăm sóc tại nhà người nhiễm HIV/AIDS
Cần chú trọng thêm việc hướng dẫn thân nhân các biện pháp phòng tránh các mầm bệnh khác ngoài HIV (lây quatiếp xúc, qua không khí…) khi chăm sóc bệnh nhân
- Thông tin về chăm sóc tại nhà người nhiễm HIV/AIDS cho thân nhân:
Các cơ quan truyền thông của ngành y tế cần chủ động cung cấp thông tin bằng nhiều hình thức, nhiềuphương tiện vì không phải ai cũng có điều kiện để tham gia các lớp tập huấn Cần đặc biệt chú trọng đến nhữngthân nhân lớn tuổi, học vấn thấp nên các thông tin cần phải cụ thể, rõ ràng và phải được minh hoạ bằng hìnhảnh
Định hướng nghiên cứu trong tương lai:
Đây là nghiên cứu tạo tiền đề cho những nghiên cứu kế tiếp với quy mô lớn hơn để từ đó cung cấp số liệu,kết quả tốt nhất và khoa học nhất
Nghiên cứu này chỉ mới khảo sát KAP về thân nhân trong việc chăm sóc tại nhà người nhiễm HIV/AIDS khiđưa bệnh nhân đi khám ở một Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS và Bệnh viện đa khoa Để tránh sự đánh giáphiến diện cần có các nghiên cứu khác với nội dung tương tự ở các cơ sở y tế khác, ở các địa phương khác nhau,
và mở rộng thêm diện thân nhân khảo sát Ngoài ra, cũng cần có những nghiên cứu đánh giá về KAP của cácnhân viên y tế cơ sở, của bệnh nhân về chăm sóc tại nhà bởi vì cùng với thân nhân, đây là hai đối tượng có tácđộng quan trọng lên sự thành công của chương trình chăm sóc tại nhà người nhiễm HIV/AIDS
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 GS-TSKH Phạm Mạnh Hùng - Xét nghiệm HIV/AIDS nhà xuất bản y học 2002
2 GSTS Hoàng Thủy Loan; Ths Nguyễn Thanh Long; TS Nguyễn Trần Hiển; Ths Nguyễn Văn Kính Giám sát dịch tể học HIV/AIDS 2002
-3 TS Nguyễn Thanh Long; TS Nguyễn Viết Tiến - Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con – nhà xuất bản yhọc 2006
4 BS CNL Trịnh Thị Lê Trâm; CNL Nguyễn Huy Quang; CNL Đỗ Trọng Hưng - Các văn bản qui phạmphát luật về phòng, chống nhiễm HIV/AIDS 2000
5 GS-TS Lê Ngọc Trọng; TS Nguyễn Thị Xuyên - Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS- Nhà xuấtbản Y học 2005
6 GS – BS Nguyễn Văn Truyền; BS Lê Hoàng Ninh – Dịch tể học căn bản – Nhà xuất bản Y học chi nhánh
TP HCM 1995
7 Trần Sivan – Luận văn chuyên khoa I - Kiến thức – Thái độ – Thực hành về phòng chống nhiễmHIV/AIDS của công nhân công ty chế biến thuỷ sản Út Xi, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng 2005
8 GS Phạm Song - Tổng hợp, cập nhật và hiện đại HIV/AIDS - Nhà xuất bản Y học Hà Nội 2006
9 Luật phòng, chống nhiễm virut gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) Bộ Y
tế (Vụ pháp chế) 2006
THùC TR¹NG CH¦¥NG TR×NH Dù PHßNG HIV T¹I C¸C DOANH NGHIÖP TËP
TRUNG NHIÒU LAO §éNG Cã HµNH VI NGUY C¥ L¢Y NHIÔM HIV
575