3.2.4 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng về chiều dài và chiều rộng lá của một số giống ngải cứu 44 3.2.5 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến diện tích lá của các giống
Trang 1MỤC LỤC
1.1.2 Đặc điểm thực vật học của loài Artemisia vulgaris L 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng trong năm của cây ngải cứu 8
1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.4 Một số kết quả nghiên cứu về thời gian tưới nước cho cây trồng 16 1.4.1 Vai trò của nước và ảnh hưởng của hạn đối với cây trồng 16 1.4.2 Các nghiên cứu về đánh giá khả năng chịu hạn của cây trồng 17
2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
Trang 22.1.2 Thời gian nghiên cứu 24
2.2.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng
suất của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội 24 2.2.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian tưới đến sinh
trưởng, phát triển của một số mẫu giống ngải cứu 25
3.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Thanh Trì – Hà Nội vụ xuân 2015 trong
3.1.1 Thời gian thu hái và số lứa hái của các mẫu giống ngải cứu 30 3.1.2 Số lá/cây, đường kính thân khí sinh và tỷ lệ lá/thân của các mẫu
3.1.3 Số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá (LAI) và chỉ số SPAD của các
3.1.4 Khả năng tích lũy chất khô, tỷ lệ tươi/khô và tỷ lệ chất xơ của các
3.1.5 Tình hình sâu bệnh gây hại trên các giống ngải cứu 36
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian tưới đến sinh trưởng, phát triển
3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng chiều cao
3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái phân cành của các
3.2.3 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái ra lá của các giống
ngải cứu được trồng tại Gia Lâm – Hà Nội 42
Trang 33.2.4 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng về chiều
dài và chiều rộng lá của một số giống ngải cứu 44 3.2.5 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến diện tích lá của các giống ngải cứu 47 3.2.6 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng về số rễ
3.2.7 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng về chiều
dài và chiều rộng rễ của các giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm –
3.2.8 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng về đường
kính rễ của các giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội 53 3.2.9 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến khả năng tích lũy chất khô của
3.2.10 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến chỉ số diệp lục lá của các giống
3.2.11 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại
của các giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội 56
Trang 43.4 Khả năng tích lũy chất khô, tỷ lệ tươi/khô và tỷ lệ chất xơ của các
3.5 Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại trên các mẫu giống ngải cứu 36
3.8 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng chiều cao cây
3.9 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng cành của các
3.10 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng số lá của các
3.11 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng chiều dài lá
3.12 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng chiều rộng lá
3.13 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng diện tích lá
3.14 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng số rễ C1 của
3.15 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng chiều dài rễ
3.16 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng chiều rộng rễ
Trang 53.17 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng đường kính rễ
3.18 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến khả năng tích lũy chất khô của các
3.19 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới chỉ số SPAD của các giống ngải cứu 55 3.20 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước đến tình hình sâu bệnh hại của các
giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội 56
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngải cứu là loại cây trồng mọc hoang dại chủ yếu ở châu Á và châu Âu, ở nước ta ngải cứu phân bố ở tất cả các vùng trong cả nước Ngải cứu còn gọi là
cây thuốc cứu, thuốc cao hay ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L thuộc họ Cúc (Asteraceae) Từ bao đời nay, ngải cứu được biết đến trong các bài
thuốc cổ truyền chữa đau đầu, đau dây thần kinh, kinh nguyệt không đều cũng như các món ăn trong dân gian như ngải cứu tráng với trứng gà, nấu canh với cá giếc Trong Đông y thường sử dụng bộ phận lá và thân non cây ngải cứu để chế thành vị thuốc có tính hơi ôn, vị cay, dùng làm thuốc ôn khí huyết, trục hàn thấp, điều kinh, an thai, dùng chữa đau bụng do hàn, đau đầu, động thai không yên, thổ huyết, chảy máu cam… (Đỗ Huy Bích và cs., 2004; Đỗ Tất Lợi, 2006)
Người Việt Nam và một số nước khác ngải cứu còn được sử dụng như một loại rau ăn thường ngày để chữa bệnh, là thực phẩm chức năng có nhiều công dụng, phù hợp với thị hiếu ẩm thực của rất nhiều người dân như: Canh ngải cứu nấu thịt nạc; trứng gà tráng ngải cứu giúp lưu thông máu lên não trị bệnh đau đầu; gà tần ngải cứu giúp bồi bổ sức khỏe, hoạt huyết, xương cốt dẻo dai, cháo ngải cứu chữa động thai hoặc giảm đau thấp khớp, lẩu gà ngải cứu…
Trồng cây ngải cứu, để cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp dược, làm rau ăn, làm bánh đồng thời ngải cứu cũng góp phần vào việc phủ xanh đất trống, chống xói mòn đất, điều hòa môi trường ở những nơi đất dốc Để tồn tại, sinh trưởng và phát triển tốt cây ngải cứu cũng như các loài thực vật khác đều có nhu cầu dinh dưỡng, khoáng và các chất cần thiết Đặc biệt là nhu cầu nước, nước là yếu tố sinh thái tối thiểu cần thiết cho sự sinh trưởng của cây, cây sinh trưởng mạnh khi đáp ứng đủ hàm lượng nước cho đến lúc tế bào bão hòa về nước
Hiện nay việc biến đổi khí hậu dẫn đến nền nhiệt tăng cao đã có những tác động tiêu cực đến nhu cầu nước của mọi sinh vật nói chung và cây ngải cứu nói riêng Thiếu nước là một yếu tố bất thuận đối với sự sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của cây Vì vậy cần có những giải pháp cung cấp nước chủ động cho cây trồng và có những định hướng kỹ thuật cụ thể để nâng cao hiệu quả cho
Trang 8người sản xuất
Xuất phát từ những thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của giống và thời gian tưới nước đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngải cứu tại Hà Nội”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Đánh giá đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của thời gian tưới nước là
cơ sở chọn giống và xác định thời gian tưới thích hợp cho cây ngải cứu, nâng cao năng suất và chất lượng ngải cứu, góp phần xây dựng quy trình trồng ngải cứu năng suất cao tại Thanh Trì – Hà Nội
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của các mẫu giống ngải cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của thời gian tưới đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây ngải cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học nghiên cứu cơ sở khoa học
để tuyển chọn các giống ngải cứu Góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống ngải cứu có năng suất cao phục vụ nhu cầu sử dụng tiêu thụ rau ăn và chữa bệnh của người dân
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Về xã hội: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tiếp tục tiến hành chọn tạo
ra giống ngải cứu phù hợp với mục đích sử dụng, kết hợp với việc thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật là cơ hội để người dân sản xuất ngải cứu theo hướng hàng hóa, góp phần làm tăng năng suất và chất lượng ngải cứu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
- Về môi trường: Đề tài góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển
Trang 9nguồn gen cây ngải cứu trong điều kiện biến đổi khí hậu xảy ra
3.3 Phạm vi giới hạn đề tài
Trong thực tiễn nghiên cứu do thực hiện thí nghiệm trong chậu và trong nhà lưới nên đề tài chỉ xác định đến chỉ tiêu về khả năng tích lũy chất khô của các giống
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Ấn Độ, Pakistan, Srilanca, Bangladesh, Lào, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc…
Ở Việt Nam, ngải cứu được trồng từ lâu đời trong nhân dân từ bắc đến nam Ở độ cao từ khoảng 800 m trở lên, có cây ngải dại mọc tự nhiên rất nhiều ở tỉnh Lào Cai (Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương, Than Uyên); Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ, Tuần Giáo, Tủa Chùa); Yên Bái (Mù Cang Chải); Cao Bằng (Trùng Khánh, Bảo Lạc); Lạng Sơn (vùng Mẫu Sơn); Hòa Bình (Mai Châu) và Hà Giang… chính ngải dại là nguồn dược liệu được khai thác thường xuyên, mỗi năm đến 1000 tấn để sản xuất thuốc Còn ngải cứu trồng chỉ được sử dụng tại chỗ, trong phạm vi nhân dân (Đỗ Huy Bích và cs., 2004)
1.1.1.2 Phân loại
Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) thuộc: Chi Artemisia, Họ Cúc (Asteraceae),
Bộ Cúc (Asterales), Lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), Ngành hạt kín (Magnoliophyta)
(Võ Văn Chi, 2004)
Trên thế giới, chi Artemisia có khoảng 300 loài phân bố ở ôn đới Bắc Mỹ, Tây Nam Mỹ, Nam Phi, châu Á Ở nước ta chi Artemisia có 14 loài, trong đó có
3 loài vừa được sử dụng làm thuốc dùng trong (thuốc uống) vừa được sử dụng
làm thuốc dùng ngoài (bôi, xoa bóp): Artemisia vulgaris L., Artemisia apiacea Hance, Artemisia capilaris Thunb; 2 loài được sử dụng làm thuốc dùng trong: Artemisia annua L., Artemisia maritima L (Võ Văn Chi, 2004)
(1) Artemisia vulgaris L (Ngải cứu, Thuốc cứu)
Cỏ, đa niên, cao 0,5 – 2 m, có mùi thơm đặc sắc Lá có lông trắng nằm mặt dưới, có thùy và khía sâu; cuống có cánh Hoa chùm – tụ tán như gié, dài 2 –
10 cm, đứng ở nách, mang hoa đầu 1 – 3, nhỏ, trắng xanh, to 3 – 4 mm; toàn hoa
Trang 11ống Quả bế không lông mào
(2) Artemisia annua L (Thanh cao, Thảo cao)
Cỏ nhất niên, thơm, cao đến 1 m, thân có rãnh, gần như không lông Lá có phiến xoan, 2 – 3 lần kép thành đoạn hẹp nhọn, không lông Chùm-tụ tán cao ở ngọn, mang chùm dài, hẹp; hoa đầu cao 1,8 – 2 mm; lá hoa ngoài hẹp, có lông xanh, lá hoa giữa trong, xoan rộng; hoa toàn hình ống, hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái Bế quả láng, cao 0,5 mm, không lông mào
(3) Artemisia apiacea Hance (Thanh cao ngò, Hương cao)
Cỏ nhất niên, thân không lông Lá thơm, có phiến bầu dục, dài đến 7 – 9
cm, 2 – 3 lần kép, thành đoạn hẹp nhọn, không lông Phát hoa ở ngọn và nách lá, nhánh dài 5 – 7 cm; hoa đầu cao 3 mm; lá hoa xoan, có bìa trong trong, gần như không lông; hoa nhiều, toàn hình ống, hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái
(4) Artemisia capilaris Thunb (Thanh cao chỉ, ngải lá kim)
Cỏ cao 0,5 – 1 m, nhánh không lông Lá ở thân xẻ 1 lần, dài 10 – 25 cm, đoạn hẹp nhọn, không lông Lá ở nhánh nhỏ hơn, lần lần chỉ còn là một đoạn hẹp Hoa đầu thành chùm ngắn ở nách lá và ngọn nhánh Hoa đầu cao 1,5 – 2
mm, lá hoa không lông, nâu ở gân giữa; hoa toàn hình ống, cao bằng tổng bao; hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái Bế quả trụi
(5) Artemisia maritima L (Thanh cao biển)
Cỏ thơm, nhánh, lá, lá hoa dầy lông nhung trắng Lá có phiến tròn dài, 2 lần xẻ thành đoạn hẹp đều, cuống dài Hoa đầu cao 4 mm, lá hoa nhiều hàng, tròn dài, có bìa mỏng mỏng; toàn hoa ống, hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái Bế quả nhô, không lông mào (Võ Văn Chi, 2004)
1.1.2 Đặc điểm thực vật học của loài Artemisia vulgaris L
Cây thảo sống dai, cao khoảng 1m; thân có rãnh dọc Lá mọc so le, xẻ nhiều kiểu, từ xẻ lông chim đến xẻ thùy theo đường gân, mặt trên xanh đậm, mặt dưới trắng xanh, có lông Hoa đầu màu lục nhạt, xếp thành chùy như bông, dài 2 – 10 cm, đứng ở nách lá Mỗi hoa đầu rộng 3 – 4 mm, gồm hai loại hoa hình ống: hoa cái và hoa lưỡng tính Quả bế không có mào lông (Võ Văn Chi, 2004)
Trang 12Hình 1.1 Cấu tạo hoa ngải cứu (Nguồn: vi.wikipedia.org, 2014)
1 Cành mang hoa; 2 Lá; 3 Cụm hoa đầu; 4 Cụm hoa đầu cắt dọc;
5 Hoa cái; 6 Hoa lưỡng tính; 7 Hoa lưỡng tính cắt dọc; 8 Bao phấn; 9 Hạt
phấn; 10 Quả ngải cứu 11 Quả ngải cứu cắt dọc
Toàn cây có mùi thơm hắc Mùa hoa quả: tháng 10 – 12 (Đỗ Huy Bích và cs., 2004)
Quả màu nâu, dạng ôvan dài, kích thước 1 – 2 mm, có một vài lông ở đỉnh
Lá mầm nhỏ, có hình trứng, không có cuống lá
Lá trưởng thành có màu xanh đậm, dài 1 – 10 cm, rộng 3 – 7,5 cm Mặt trên lá có ít lông, mặt dưới lá có phủ lớp lông màu trắng bạc, những sợi lông có kích thước 1 mm
Loài A.vulgaris được tìm thấy có đặc điểm hình thái thay đổi nhiều Một
số quần thể A.vulgaris ở phía đông Mỹ, đó là những cây cao khoảng 2 m và
không phân cành Trong khi đó một số quần thể khác cây lại phân nhánh nhiều (Võ Văn Chi, 2004)
Trang 13Sự thay đổi về đặc điểm hình thái còn thể hiện ở hệ thống thân ngầm dưới đất Một số quần thể có thân ngầm với đường kính 0,5 – 1 cm, phân nhánh ít Trong khi đó những quần thể khác lại có thân ngầm với đường kính nhỏ hơn 0,5
cm và thân ngầm phân nhánh nhiều
Hình 1.2 Thân ngầm cây ngải cứu
Có những tài liệu nói về sự khác biệt về hình dạng trong loài ở vùng núi phía Bắc Hymalaya (có độ cao 3700 m), một phần của Siberia và Liên Xô cũ Sự thay đổi nhiều về đặc điểm hình thái của loài cần có sự so sánh Những nghiên cứu ở Bắc Mỹ đã đưa ra được các chỉ tiêu để so sánh:
1 Đặc điểm phân cành, nhánh
2 Mức độ phân cành
3 Đặc điểm hình thái của lá
4 Đường kính thân ngầm
Mặc dù đặc điểm hình thái học của loài A.vulgaris là khá lớn, nhưng
chúng vẫn được mô tả là các cây bụi nhỏ (Võ Văn Chi, 2004)
1.1.3 Thành phần hóa học của cây ngải cứu
Trong cây ngải cứu chứa tinh dầu với hàm lượng 0,20 – 0,34% Thành
Trang 14phần chủ yếu của tinh dầu là các monoterpen và sesquiterpen Gồm 1,8 cineol, camphor, terpinem 4.ol, β.pinen, borneol, myrcen và vulgrin (là những thành phần ít thay đổi) còn thuyon thường có mặt với hàm lượng thấp hoặc đôi khi không có Trong ngải cứu Việt Nam, có những chất màu indigo – base, gần 50 hợp chất đã phân tích và xác định có trong lá, chủ yếu là β caryophylen 24% và β cubedene 12
1.1.4 Yêu cầu sinh thái của cây ngải cứu
* Yêu cầu về độ cao
Loài A.vulgaris chịu được biên độ dao động độ cao rất lớn, chúng có thể
sống được ở những vùng lạnh có độ cao trên 3700 m ở Bắc Hymalaya, cho đến những vùng ấm hơn ở Nam Mỹ Chỉ có hai nơi trên thế giới không có sự xuất
hiện của A.vulgaris là Châu Phi và Antaritica Điều đó cho thấy rằng loài A.vulgaris thích nghi rộng (Võ Văn Chi, 2004)
* Yêu cầu đất đai
Loài A.vulgaris có thể sinh trưởng phát triển trên các loại đất thịt pha cát,
đất sét pha cát có pH 5,5 – 6,8; cho đến đất cát, đất thịt, đất sét…
* Yêu cầu khí hậu
Ngải cứu là cây ưa khí hậu ôn hòa, có nắng ấm và mưa nhiều Trong điều kiện ánh sáng yếu (cây sống dưới tán cây rừng hoặc mọc lẫn với các cây bụi khác) hoặc trong điều kiện khô hạn cây vẫn sinh trưởng phát triển được
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng trong năm của cây ngải cứu
A.vulgaris sinh trưởng mạnh trong khoảng thời gian từ mùa xuân đến mùa
hè Vào cuối hè, đầu thu cây bắt đầu ra hoa và hình thành hạt và phát tán hạt Mùa đông, phần thân trên mặt đất thường lụi đi, trong khi đó phần thân ngầm trong đất
Trang 15vẫn tồn tại Đến đầu vụ xuân năm sau, các thân ngầm trong đất sẽ mọc trồi lên khỏi mặt đất và hình thành nên cây con mới Đồng thời hạt cũng bắt đầu nảy mầm (Lê Kim Biên, 2007)
1.2 Giá trị sử dụng của cây ngải cứu
* Làm điếu ngải
Lá ngải khô vò nát, loại bỏ cành cuống, phần còn lại gọi là ngải nhung Đem ngải nhung cuốn thành điếu như điếu thuốc lá Điếu ngải được đốt mang tính ấm nóng cao (thuần dương) nên khi dùng để làm nóng (cứu) các huyệt đạo sẽ làm khí huyết lưu thông, gây ấm nóng cơ thể, giảm đau, sưng, mỏi, làm tan máu tụ
Có nhiều phương pháp cứu nóng: Cách cứu bổ, cách cứu tả, cách xoay tròn,
cách rà trên vùng da Cứu nóng dùng để trị các chứng bệnh hàn, bệnh lâu ngày gây
hư suy Nên cẩn thận không để bị bỏng khi cứu, không để rơi tàn nóng làm bỏng da
hay tàn tro bay vào mắt Thời gian cứu tối đa mỗi huyệt 3 – 5 phút, không nên lạm dụng đốt cứu quá nhiều ở một huyệt Cẩn thận với những phụ nữ đang mang thai hay hành kinh, người có làn da mẫn cảm (dị ứng), bệnh nhân tiểu đường, huyết áp cao, người già và trẻ em Cứu nóng sau bữa ăn là thích hợp nhất (Văn Nam, 2013)
* Sử dụng trong châm cứu
Hiểu biết của phương tây về “thuật châm cứu” thực chất liên quan tới
“Zhen Jiu” của người Trung Quốc (“Zhen Jiu” có nghĩa đen là phép cứu bằng ngải và thuật châm cứu) Trải qua hàng ngàn năm thực hành, ngải cứu được cho
là vật liệu cứu ngải tốt nhất So sánh với các vật liệu khác cho thấy ngải cứu dễ cháy và thơm hơn, lửa phát sinh vừa phải và dịu, phù hợp cho trị liệu Khi đốt ngải cứu, nhiệt tỏa ra có thể thâm nhập sâu vào trong cơ bắp và mang lại cảm
giác thoải mái (Zhao et al., 2011) Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng cứu ngải có thể gia tăng chức năng miễn dịch của cơ thể (Zhao et al., 2010)
* Chữa đau lưng do gai cột sống
Ngải cứu tươi 250g, dấm gạo 150ml, miếng vải mỏng, mềm Ngải cứu rửa sạch, giã nát Dấm đun cho nóng Dùng mảnh vải gói ngải cứu giã nát trộn với dấm đã đun nóng đem xoa dọc theo xương sống chừng 15 phút, trong quá trình xoa, nên hâm nóng thuốc thường xuyên Nên thực hiện vào buổi tối trước khi đi
Trang 16ngủ Mỗi liệu trình điều trị trong 15 ngày Và thực hiện liên tục từ 3 – 5 tháng
Ngoài ra ngải cứu còn sử dụng trong điều trị các bệnh đau đầu, thuốc điều hòa kinh nguyệt và giúp lưu thông khí huyết cho phụ nữ sau khi sinh (Đỗ Tất Lợi, 2006)
Trong thân lá của loài A.vulgaris có chứa estrogenic flavonoid và ankaloid Tinh dầu của A.vulgaris còn được sử dụng làm thuốc trừ sâu, trừ vi khuẩn và các sinh vật kí sinh Ngoài ra, tinh dầu của A.vulgaris còn có tác dụng đặc biệt như xông hơi và xua đuổi côn trùng (loài Musca domestica) (Viện Dược Liệu, 2006)
Chiết xuất từ lá của loài A.vulgaris còn được sử dụng để xua đuổi muỗi
(Võ Văn Chi, 2004)
Tác động của dịch chiết xuất từ thân rễ ngải cứu lên sự nở trứng, tỷ lệ tử
vong, sự lây nhiễm cây chủ của tuyến trùng Meloidogyne megadora đã được nghiên cứu (Costa et al., 2003)
Polyacetylenes được chiết xuất từ A vulgaris có tác dụng gây chết 100% con trưởng thành ở loài Caenorhabditis elegans ở nồng độ 0,5 mg/ml, nhưng
hoạt động của nó phụ thuộc vào sự hoạt hóa polyacetylen bởi sự phát xạ UV
(Wat et al., 1981)
1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm thực vật học, thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây ngải cứu
Thống kê toàn bộ lượng vật chất của cây ngải cứu ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng cho thấy hàm lượng protein trung bình chiếm 31,5% (giai đoạn trước
ra hoa protein chiếm 31%, giai đoạn trưởng thành chiếm 32%) Hàm lượng protein có trong cây ngải cứu thu hoạch vào tháng 11 là 12% Hàm lượng photpho trong suốt quá trình sinh trưởng của cây ngải cứu trung bình là 0,54% (Schuman and Howard, 1978)
Nghiên cứu của Judžentienė và Buzelytė (2006) trên cây ngải cứu trồng tại Bắc Lithuania đã xác định trong cây có chứa tinh dầu với hàm lượng 0,33% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong tinh dầu ngải cứu có rất nhiều yếu tố
Trang 17hợp thành với lượng đáng lưu ý là sabinene, β-pinene, 1,8-cineole, artemisia ketone, cis and trans-thujone, chrysanthenyl acetate, germacrene D và caryophyllene
Một nghiên cứu khác tại Iran (Tajadod et al., 2012) đã xác định được thành phần tinh dầu có trong các bộ phận trên mặt đất của Artemisia vulgaris L
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng tinh dầu tổng số đạt 0,56%, trong đó có
14 phức hợp tiêu biểu Các phức hợp chính bao gồm Isobornyl isobutyrate (38,06%), β-pinene (30,13 %), dl-Limonene (6,23%), δ-3-Carene (4,80%), α- pinene (4%), δ-Terpinene (2,76%) and trans-Rose oxide (2,00%)
Flavonoid có mặt trong tất cả các bộ phận của các loài thực vật bậc cao, đặc biệt là ở hoa, tạo màu sắc cho sắc rực rỡ để quyến rũ các loại côn trùng giúp cho sự thụ phấn của cây Trong cây, flavonoid giữ vai trò là chất bảo vệ, chống oxy hoá, bảo tồn acid ascorbic trong tế bào, ngăn cản một số tác nhân gây hại cho cây (vi khuẩn, virus, côn trùng…), một số còn có tác dụng điều hoà sự sinh trưởng của cây cối (Hóa học ngày nay, 2010) Trong cơ thể sinh vật, các gốc tự
do sinh ra nhiều là nguyên nhân làm cho tế bào hoạt động khác thường, gây ra biến dị, huỷ hoại tế bào, ung thư, tăng nhanh sự lão hoá… flavonoid có tác dụng ngăn chặn quá trình oxy hóa do các gốc tự do này Flavonoid còn thể hiện tác dụng chống co thắt những tổ chức cơ nhẵn (túi mật, ống dẫn mật, phế quản…) Trên hệ tim mạch, nhiều flavonoid như quercetin, rutin, myricetin… có tác dụng làm tăng biên độ co bóp tim, tăng thể tích phút của tim Những nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tác động của thực phẩm giàu flavonoid với những nguy cơ
về tim mạch như huyết áp cao Flavonoid làm bền thành mạch, được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, giãn hay suy yếu tĩnh mạch, trĩ, rối loạn tuần hoàn võng mạc… Ngoài ra, flavonoid còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan (Dược liệu, 2012) Nghiên cứu về các hợp chất hóa học đã xác định có hơn 20 loại flavonoid có trong dịch chiết cây ngải cứu Một vài flavonoid được tìm thấy trong dịch chiết ngải cứu như acetylenes, counmarins, sesquiterpene lactones (Lee, 1998)
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, ngải cứu được sử dụng như một nhân tố
Trang 18giúp giảm đau, kết hợp với phép chữa bệnh bằng thuật châm cứu (Yoshikawa et
al , 1996), chữa trị bệnh viêm bao tử (Repetto and Llesuy, 2002), bệnh viêm gan (Tan et al., 1999), chống lại chứng tăng huyết áp (Tigno et al., 2001), chống lại quá trình oxy hóa (Luo et al., 2007) Nghiên cứu của Zhao et al (2011) tiến hành
trên 24 tình nguyện viên tại Đại học Y Bắc Kinh Trung Quốc đã kết luận khói của điếu ngải có thể làm gia tăng hoạt động của hệ thần kinh tự trị Sử dụng điếu ngải
có thể tạo ra hiệu quả giảm đau đối với cơ thể người Cũng theo y học cổ truyền, các phần trên mặt đất của ngải cứu được sử dụng để kháng khuẩn, chống lại các cơn co
thắt và là một chất bổ cho các bộ phận trong cơ thể (Duke et al., 2002)
Lá ngải cứu được dùng như một thảo dược Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thành phần chính của naphtha ngải cứu là eudesmol, thujone, camphor, borneo camphor, 4-terpene alcohol, caryophyllene, axit oleanolic, juniper camphor…
Những thành phần này có thể tồn tại trong khói của bông để cứu ngải (Jin et al.,
2010) Axit artemisic và artemisinin B chiết xuất từ ngải cứu có khả năng chống lại
khối u (Sun et al., 1992) Hoạt động kháng côn trùng cũng đã được tìm thấy ở tinh dầu ngải cứu (Wang et al., 2006)
Cho dù ảnh hưởng có lợi đã được mô tả bởi những người dùng, tuy nhiên việc sử dụng ngải cứu và các chế phẩm của nó mà không có sự hướng dẫn của dược sĩ có thể gây nguy hiểm Một vài trường hợp ảnh hưởng đã được báo cáo, tương tác thuốc và ảnh hưởng biên của những sản phẩm này vẫn chưa được hiểu biết một cách đầy đủ
Trong những năm trở lại đây, nhiều thành phần kháng oxy hóa tổng hợp đã thể hiện độc tính hoặc gây ra đột biến gen Chính điều này đã hướng sự chú ý của các nhà khoa học về phía các chất chống oxy hóa có trong tự nhiên Xu hướng chung của thế giới hiện nay là sử dụng những dưỡng chất từ thực vật có lợi cho sức khỏe có trong các loại quả mọng, các loại trà, thảo dược, các loại hạt có dầu,
đậu nành và các loại rau (Deiana et al., 1999)
Nghiên cứu của Temraz và El-Tantawy (2008), Đại học Al-Azhar, Cairo,
Ai Cập cho thấy dịch chiết xuất ngải cứu có chứa chất chống lại quá trình oxy hóa, có tác dụng trong việc bảo vệ hoặc làm chậm quá trình oxy hóa – nguyên
Trang 19nhân gây ra nhiều loại bệnh ở người Cụ thể, giá trị IC50 (nồng độ của mẫu mà tại
đó có thể ức chế 50% gốc tự do) đối với DPPH là 11,4 µg/ml, IC50 đối với Nitric
oxide là 125 mg/ml Xử lý dịch chiết của Artemisia vulgaris trên chuột đã cho kết
quả là sự gia tăng có ý nghĩa lượng glutathione máu, phản ứng phân tách peroxit và lượng axit ascorbic huyết thanh Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra rằng dịch chiết
Artemisia vulgaris là một nguồn tiềm năng về các chất chống oxy hóa tự nhiên
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và ánh sáng tới sự nảy mầm của hạt ngải cứu đã được thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ (Önen, 2006) Thí nghiệm tiến hành trên hạt của 5 mẫu giống ngải cứu thu thập từ 5 vùng khác nhau trên Thổ Nhĩ Kỳ: Rize, Giresun, Tokat, Antalya và Denizli Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tiến hành trên 9 mức nhiệt độ: 5, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40 và 450C, với nhiệt độ ổn định, trong điều kiện tối hoàn toàn Tác giả đã kết luận: Tỷ lệ nảy mầm và tốc độ nảy mầm của hạt ngải cứu chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Tỷ lệ nảy mầm cao nhất trong dãy nhiệt độ 15 – 300C, mức nhiệt độ cao nhất và thấp nhất trong thí nghiệm làm giảm tỷ lệ nảy mầm của hạt Tỷ lệ nảy mầm cao nhất ở 250
ở cả 5 mẫu hạt giống Nhiệt độ 450C đã làm chết tất cả các hạt giống Ở 50C, sự nảy mầm chỉ diễn ra ở 2 loại hạt được thu thập từ vùng ven biển Đen Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng được tiến hành với 2 mẫu hạt ngải cứu thu thập từ vùng Antalya và Tokat Hạt được đặt trong các khoang sinh trưởng trong 3 điều kiện chiếu sáng (tối hoàn toàn, 12 giờ tối/ngày và 24 giờ sáng/ngày) ở 3 mức nhiệt khác nhau (20, 25, và 300C) Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ nảy mầm của 2 mẫu giống ở tất cả các công thức khác nhau không có ý nghĩa Tác giả đã kết luận tốc độ nảy mầm của hạt không chịu ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng
Ảnh hưởng của thời điểm thu hái và mật độ trồng đối với năng suất lá,
tinh dầu và artemisinin của một loài cây cùng họ với cây ngải cứu là Artemisia annua L đã được tiến hành nghiên cứu bởi Damtew et al (2011) Thí nghiệm
được tiến hành trên 5 mức mật độ (6.944, 10.000, 15.625, 27.777 và 49.383 cây/ha) và 4 thời điểm thu hái (4, 5, 6 và 7 tháng sau trồng) Kết quả cho thấy năng suất lá khô cao nhất (3,15 tấn/ha), năng suất tinh dầu cao nhất (19,2 kg/ha) và năng
Trang 20suất artemisinin cao nhất (10,9 kg/ha) thu được ở công thức mật độ 27.777 cây/ha
và thu hoạch vào thời điểm 5 tháng sau trồng
1.3.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam hiện có 4.000 loài cây thuốc, hơn 50 loài tảo biển, 75 loài khoáng vật và gần 410 loài động vật làm thuốc, trong đó có nhiều loại dược liệu quý được thế giới công nhận như cây hồi, quế, atisô, sâm Ngọc Linh Tổng sản lượng dược liệu trồng ở Việt Nam ước tính đạt khoảng 100.000 tấn/năm Với sự
đa dạng về khí hậu và thổ nhưỡng - đất đai, ngay từ cuối những năm của thập kỷ 60-80 ở Việt Nam đã hình thành những vùng trồng, sản xuất cây dược liệu có tính chuyên canh Điều này đã cho thấy nguồn dược liệu ở nước ta rất phong phú Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn dược liệu nước ta vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà chưa phát huy được hết những tiềm năng thảo dược tự nhiên (Sức khỏe đời sống, 2014)
Để tăng năng suất phải cải tiến cả môi trường sinh trưởng cho cây lẫn cải
tiến đặc điểm di truyền Năng suất tối đa không thể đạt được chỉ bằng biện pháp canh tác tốt hay chỉ bằng giống được cải tiến Không có biện pháp canh tác tốt phù hợp thì tiềm năng năng suất của giống sẽ bị lãng phí; không có giống tốt thì lợi ích và hiệu quả của các biện pháp canh tác không đạt tối đa (Vũ Đình Hòa và cs., 2005)
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật liên quan tới cây dược liệu nói chung và cây ngải cứu nói riêng
Theo Đỗ Huy Bích và cs (2004) ngải cứu là cây ưa ẩm, có thể hơi chịu bóng thường được trồng phân tán trong các vườn gia đình, hay các vườn thuốc của các cơ sở y học dân tộc Cây mọc thành từng khóm, nếu không bị thu hái, tỉa thưa sẽ nhanh chóng bò lan tạo thành đám lớn khó phân biệt giữa các cá thể Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân – hè; về mùa đông, phần thân, cành trên mặt đất có hiện tượng tàn lụi một phần Ngải cứu ra hoa quả nhiều hàng năm, song hạt không được sử dụng để gieo trồng
Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Thanh Hà (2010) về khả năng
Trang 21sinh trưởng, phát triển của cây ngải cứu trồng tại Thuận Châu - Sơn La cho thấy: Chiều cao thu hái khác nhau có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây ngải cứu Thu hái cách mặt đất 5 cm đã để lại phần gốc thân mang các mầm ngủ với số lượng vừa phải, số mầm tái sinh/m2 hợp lý, tạo điều kiện cho cây mầm sinh trưởng phát triển tốt nên năng suất tươi thu được đạt cao nhất Kéo dài thời gian giữa các lần thu hái từ 21 đến 35 ngày làm tăng khả năng tăng trưởng về chiều cao cây, đường kính thân, cũng như số lá, số mầm tái sinh và năng suất tươi của mỗi lứa càng cao, nhưng làm giảm số lứa hái/vụ
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (2011) đã xác định thành phần và cấu tạo một số hợp chất hóa học trong tinh dầu từ cây ngải cứu ở Quảng Nam Kết quả nghiên cứu đã xác định được độ ẩm (lá ngải cứu non là 84,33%, lá ngải cứu già là 80,89%), hàm lượng tro vô cơ (lá ngải cứu non là 13,92%, lá ngải cứu già
là 15,24%), hàm lượng tinh dầu (lá ngải cứu non là 1,27%, lá ngải cứu già là 1,57%), hàm lượng kim loại nặng trong lá ngải cứu nằm trong giới hạn cho phép
sử dụng của Bộ Y tế Nghiên cứu đã kết luận dung môi tối ưu để chiết tách các cấu tử trong lá ngải cứu là metanol Đồng thời nghiên cứu đã định danh được các chất có trong tinh dầu ngải cứu, trong đó các cấu tử chủ yếu thuộc các nhóm monoterpen, secquiterpen, diterpen bao gồm dẫn xuất của phenol, ancol, xeton
Về ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của ngải cứu, Nguyễn Tiến Cường (2012) đã kết luận: Mật độ trồng khác nhau có ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng phát triển cây ngải cứu Mật độ trồng tăng dần từ
15 cây/m2 đến 40 cây/m2 làm tăng khả năng tăng trưởng về chiều cao cây, số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá cũng như tỷ lệ thân/lá Mặt khác lại làm giảm số lá/cây, đường kính thân, tỷ lệ tươi/khô
Theo kết quả nghiên cứu của Ninh Thị Phíp và cs (2015) cho rằng đặc điểm sinh trưởng của các giống ngải cứu khá đa dạng Khi nghiên cứu 10 mẫu giống, kết quả phân tích hàm lượng tinh dầu và flavonid khác nhau Giống G13, G14 là những giống cho hàm lượng tinh dầu và flavonoid cao đây là những giống thích hợp để chiết xuất tinh dầu Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra, giống khác nhau, khả
năng sinh trưởng ảnh hưởng lớn đến thời gian thu hái và số lứa/hái/năm
Trang 221.4 Một số kết quả nghiên cứu về thời gian tưới nước cho cây trồng
1.4.1 Vai trò của nước và ảnh hưởng của hạn đối với cây trồng
Nước là một trong những nhân tố quan trọng nhất đới với tất cả các cơ thể sống Nước chiếm trên 90% khối lượng chất nguyên sinh và nó quyết định tính
ổn định của cấu trúc keo nguyên sinh Với thực vật, khi hàm lượng nước trong tế bào giảm, một loạt chức năng sinh lý quan trọng như quang hợp, hô hấp sẽ bị kìm hãm và do đó ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Nước không chỉ đóng vai trò như một dung môi, một chất phản ứng mà còn tham gia vào cấu trúc tế bào Ngoài những vai trò quan trọng trên, nước còn là yếu tố nối liền cây với môi trường bên ngoài và điều hòa nhiệt độ của cây Nhu cầu tưới nước cho cây trồng thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng phát triển khác nhau và theo điều kiện khí hậu của từng vùng, từng vụ, từng năm Việc xác định lượng nước cần tưới trong nghiên cứu cân bằng nước trên đồng ruộng là cơ sở khoa học để xác định chế độ nước cho cây trồng đạt hiệu quả cao (Hoàng Minh Tấn và cs., 2006)
Hạn là tác động của môi trường gây nên sự mất nước của thực vật Có 3 hình thức hạn ảnh hưởng đến cây trồng là hạn đất, hạn không khí và hạn tổ hợp Hạn đất xảy ra khi lượng nước trong đất thiếu nhiều không đủ cho rễ hút để cung cấp cho cây Vì thế, cây có thể bị héo và chết Tuy nhiên, cũng có những trường hợp đủ nước mà cây vẫn héo, nguyên nhân là do hạn sinh lý gây nên Hạn không khí thường xảy ra khi không khí môi trường có nhiệt độ cao và độ ẩm thấp, ví dụ như gió nóng Israel, gió Lào ở miền Trung nước ta làm cho cây thoát hơi nước quá mạnh, vượt xa mức bình thường và dẫn tới hiện tượng mất nước, do rễ hút vào không bù đủ lượng nước mất đi, làm các bộ phận non của cây thiếu nước Hạn tổ hợp là sự phối hợp thiếu nước trong đất và trong không khí
Thiếu nước sẽ gây nên các hậu quả rất lớn đối với hoạt động sống của cây Trước tiên ảnh hưởng đến sự cân bằng nước của cây, từ đó ảnh hưởng đến các chức năng sinh lý khác như quang hợp, hô hấp, dinh dưỡng khoáng và cuối cùng
là ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của thực vật dẫn đến giảm năng suất Khi gặp hạn trạng thái của chất nguyên sinh của tế bào thay đổi mạnh, ảnh hưởng đến tính chất hoá lý của chất nguyên sinh như tính thấm, mức độ thuỷ hoá của
Trang 23keo, thay đổi pH, độ nhớt, dẫn đến sự thay đổi vị trí các thành phần cấu tạo nên chất nguyên sinh, cuối cùng ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất bình thường của cơ thể Trong thời gian cây bị hạn, hàm lượng nước tự do trong lá giảm xuống nhưng hàm lượng nước liên kết lại tăng lên Chất nguyên sinh của tế bào
có tính đàn hồi lớn thì cây có khả năng chịu hạn cao Hạn còn ảnh hưởng đến hô hấp Trong thời gian khô hạn, ở những cây trung sinh thường tăng cường hô hấp Nhờ gia tăng hô hấp mà cây giữ được độ ngậm nước của keo nguyên sinh chất
Sự tăng cường quá trình thuỷ phân khi gặp điều kiện khô hạn là nguyên nhân tăng cường hô hấp trong cây Khi mất nước ban đầu hô hấp tăng, nhưng sau đó giảm đột ngột, nếu tình trạng thiếu nước kéo dài
Thiếu nước ảnh hưởng đến quang hợp Hạn hán đã ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành diệp lục, phá hoại lạp thể nên hiệu suất quang hợp giảm xuống nhanh chóng Cây trúc đào khi bị hạn thì cường độ quang hợp giảm 40% Hạn ảnh hưởng đến hoạt động hút khoáng của hệ rễ, dẫn đến tình trạng thiếu những nguyên tố dinh dưỡng quan trọng trong quá trình trao đổi và tổng hợp các chất hữu cơ khác nhau trong cơ thể thực vật Hạn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng các tế bào, đặc biệt là trong pha giãn của tế bào, từ đó mà ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của toàn cây (dẫn theo Hoàng Minh Tấn và cs., 2006)
1.4.2 Các nghiên cứu về đánh giá khả năng chịu hạn của cây trồng
Ảnh hưởng của chế độ nước đến sinh trưởng của cây trồng đã được đề cập đến ở mức độ tế bào trong những nghiên cứu của Kramer (1983),… Về mặt hình thái, Boyer (1968) cho rằng sự lớn lên của lá rất nhạy cảm với chế độ nước, khi thiếu nước lá cây thường nhỏ Tổng khối lượng khô của cây bạch đàn
Eucalyptus globules bị giảm nhiều trong điều kiện thiếu nước, nguyên nhân do
sự phát triển của lá mới bị hạn chế dẫn đến tổng diện tích lá giảm (Metcalfe et
al. , 1989) Đối với loài thông đỏ sự nảy chồi và tỷ lệ sống bị giảm rất nhiều trong điều kiện độ ẩm không khí thấp Rễ của loài này có xu hướng ngừng phát triển khi bị thiếu nước (Wilcox and Farmer, 1968)
Ảnh hưởng đầu tiên và quan trọng nhất của hạn hán là nảy mầm (Harris et
al , 2002) Sinh trưởng tế bào được coi là một trong những quá trình sinh lý rất
Trang 24nhạy cảm với hạn do giảm áp lực trương Sinh trưởng là kết quả của việc sản xuất
tế bào con bằng cách phân chia tế bào mô phân sinh và nhân ra các tế bào trẻ các thực vật bậc cao bị thiếu nước nghiêm trọng, làm tế bào giãn dài ra có thể bị ức chế bởi sự gián đoạn dòng chảy từ các xylem đến các tế bào xung quanh phần kéo dài Hạn hán làm cho sự phân bào bị suy giảm, kéo dài và mở rộng tế bào dẫn đến
giảm sự tăng trưởng và các đặc điểm năng suất (Hussain et al., 2008)
Thiếu nước làm giảm số lượng lá trên cây và kích thước của từng lá, tuổi thọ của lá bằng cách làm giảm khả năng cung cấp nước của đất, tăng diện tích lá phụ thuộc vào áp suất, nhiệt độ, và cung cấp chất đồng hóa cho sự tăng trưởng Hạn hán làm giảm diện tích lá được coi như là sự ức chế việc mở rộng diện tích lá thông qua việc giảm quá trình quang Một ảnh hưởng bất lợi phổ biến của stress nước trên các loại cây trồng là việc giảm năng suất sinh khối
tươi và khô (Zhao et al., 2006) Theo Khan et al (2001) chiều cao cây, đường
kính gốc, diện tích lá giảm rõ rệt với stress về nước ngày càng tăng Việc giảm chiều cao cây có thể là do suy giảm trong việc mở rộng tế bào và lá già yếu
của cây dưới sự stress nước (Manivannan et al., 2007) Hạn hán dẫn đến suy
giảm đáng kể các đặc điểm liên quan đến sự tăng trưởng của cây ngô về chiều cao cây, diện tích lá, số lá/cây, chiều dài bắp ngô, khối lượng thân tươi và
khô/cây Hơn nữa, Kamara et al (2003) cho thấy rằng thiếu nước ở các giai đoạn
phát triển khác nhau của cây ngô đã làm giảm tích lũy 34% tổng sinh khối ở giai đoạn hạt lấp đầy và 21% lúc trưởng thành
Cây trồng thích nghi với môi trường tự nhiên để giảm thiểu thiệt hại của môi trường khắc nghiệt Trong điều kiện hạn hán nhẹ thực vật có sự mất và hấp thu nước, cho phép duy trì lượng nước tương đối trong lá Ngoài ra việc hạn chế khả năng quang hợp, cho thấy ít thay đổi hoặc không bị ảnh hưởng Nhưng hạn hán trầm trọng gây ra cho cây trồng những thay đổi không thuận lợi dẫn đến ức chế quang hợp và sinh trưởng Hạn hán nghiêm trọng nhất là làm khô héo Tùy thuộc vào sự khác biệt của bộ máy quang hợp (PSA) trong thời kỳ khô hạn mà chia thành 2 nhóm cây chịu khô hạn là Homochlorophyllous chịu khô hạn (HDT)
và Poikilochlorophyllous chịu khô hạn (PDT) (Bewley, 1979) Sự khác biệt
Trang 25quang trọng nhất giữa HDT và PDT là PSA của HDT vẫn có khả năng phục hồi lại, còn ở PDT thì chlorophyll và hệ thống màng thylakoid bị suy thoái và cần phải phục hồi và tái tạo lại Kết quả của thiếu nước là khí khổng đóng, tốc độ thoát hơi nước giảm, giảm lượng nước trong mô, quang hợp giảm và ức chế sinh trưởng, tích lũy ABA, proline, manntiol, sorbiol, hình thành gốc tự do trong các hợp chất như (Ascorbate, Glutathione, α-tocopherol…) protein tổng hợp và mRJAs Bên cạnh những phản ứng sinh lý thực vật cũng trải qua các thay đổi về hình thái Một trong những thay đổi lớn nhất là sự thích nghi của lục lạp với ánh sáng mạnh và ánh sáng yếu
Ở thực vật, khi đề cập cơ chế chịu hạn người ta thường chú ý đến vai trò của bộ rễ và khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu của tế bào
Ở cây đậu tương sự thích nghi với các điều kiện hạn hán chủ yếu thông qua việc phát triển rễ trụ để có thể tìm kiếm các nguồn nước từ các lớp đất sâu
(Taylor et al., 1978) Bên cạnh đó hệ thống rễ sợi phát triển cũng giúp cho cây có
thể vươn tới các lớp đất có độ ẩm cao và tìm kiếm các chất dinh dưỡng Một trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến độ sâu của rễ đậu tương là tỉ số kéo dài
rễ trụ Do rễ trụ được hình thành đầu tiên ở đậu tương, chính vì thế việc xác định các giống đậu tương có đặc tính kéo dài rễ trụ nhanh sẽ cho phép xác định khả năng đâm sâu của rễ Sự khác nhau về tính trạng kéo dài bộ rễ ở các giống đậu
tương đã được nghiên cứu khá chi tiết ở trong điều kiện nhà lưới Kaspar et al
(1984) đã đánh giá 105 giống đậu tương khác nhau cho thấy tỉ số kéo dài rễ trụ khác nhau giữa các giống vào khoảng 1,3 cm/ngày Những nghiên cứu tiếp theo trên các giống có tỉ số kéo dài rễ trụ cao cho thấy những giống này có thể lấy nước ở chiều sâu trên 120 cm so với các giống còn lại Một vài nghiên cứu cũng
đã được thực hiện đối với hệ thống rễ nhánh của cây đậu tương cho thấy trong điều kiện hạn số lượng rễ nhánh trên đơn vị chiều dài rễ trụ tăng đáng kể, nhưng chiều dài và đường kính rễ trụ không thay đổi Hạn chế về nước ở cây đậu tương thường làm tăng sinh khối của rễ, từ đó làm tăng tỉ lễ rễ/thân Nghiên cứu cho thấy ở cây đậu tương không được tưới nước thì bộ rễ có chiều dài hơn hẳn ở cây đậu tương được tưới nước (Huck, 1983), ngoài ra các nhà khoa học cũng nhận
Trang 26thấy mối tương quan rất chặt chẽ đối với nhiều tính trạng rễ như khối lượng khô, chiều dài tổng số, cấu trúc và số lượng rễ nhánh ở các giống chịu hạn Những tính trạng này thường được dùng như các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và nhận dạng các giống đậu tương có tính chịu hạn Ở cây đậu tương, khi hạn hán xảy ra
ở các giai đoạn sớm hay muộn của giai đoạn sinh trưởng sinh sản làm tăng mạnh
sự phát triển bộ rễ, đặc biệt là hệ thống rễ ở các lớp đất sâu Trong một nghiên cứu khác cho thấy cây đậu tương khi bị xử lý hạn ở giai đoạn trước khi ra hoa sẽ cho năng suất cao hơn những cây đậu tương bị xử lý hạn ở giai đoạn sau khi nở hoa, điều này được giải thích là do chúng đã phát triển bộ rễ đầy đủ để thích ứng
với điều kiện hạn trước khi nở hoa (Hirasawa et al., 1994)
Khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu có mối liên quan trực tiếp đến khả năng cạnh tranh nước của tế bào rễ cây đối với đất Trong điều kiện khô hạn, áp suất thẩm thấu tăng lên giúp cho tế bào rễ thu nhận được những phân tử nước ít ỏi còn trong đất Bằng cơ chế như vậy thực vật có thể vượt qua được tình trạng hạn cục bộ (Lê Trần Bình và Lê Thị Muội, 1998)
Khi phân tích thành phần hóa sinh của các cây chịu hạn, các nghiên cứu đều cho rằng khi cây gặp hạn có hiện tượng tăng lên về hàm lượng ABA, hàm lượng proline, nồng độ ion K+, các loại đường, axit hữu cơ, giảm CO2, protein
và các axit nucleic trên cây lúa Các chất trên có chức năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu nhờ khả năng giữ và lấy nước vào tế bào hoặc ngăn chặn sự xâm nhập của ion Na+, ngoài ra còn có thể thay thế vị trí của nước nơi xảy ra các phản ứng sinh hóa, tương tác với protein và lipit màng, ngăn chặn sự phá hủy màng
(Adkind et al., 1995)
Ngoài ra, thực vật còn có khả năng chống chịu hạn bằng biến đổi về hình thái như lá cuộn lại thành ống, lá có nhiều lông, cutin dày để giảm thoát hơi nước (Trần Kim Đồng và cs., 1991)
Theo Nguyễn Văn Dung và Nguyễn Tất Cảnh (2006) cho biết, với chế độ tưới nước giữ ẩm và ngập ẩm luân phiên trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, mật độ 25 - 35 khóm/m2 với 2 dảnh lúa/khóm là thích hợp tuỳ theo từng chân đất
và trình độ thâm canh
Trang 27Cũng theo tác giả trên: tưới theo phương pháp rút nước trong thời kỳ sinh trưởng của lúa (phương pháp tới tiết kiệm nước) đã tiết kiệm được 25% lượng nước tưới và nâng cao hiệu quả sử dụng nước so với biện pháp tưới truyền thống
là 24% Bón phân viên nén và chất hữu cơ khi tưới tiết kiệm đã làm tăng năng suất so với bón phân vãi và tưới theo phương pháp truyền thống 35,4%, tiết kiệm được 33% lượng đạm bón
Theo Nguyễn Văn Dung và Nguyễn Tất Cảnh (2006) tổng nhu cầu nước của cây lúa trong suốt quá trình sinh trưởng bao gồm lượng nước làm bão hoà tầng đất và một lớp nước trên mặt ruộng trước khi cấy, lượng nước bốc hơi tự do trong thời kỳ làm đất, lượng nước bốc hơi mặt lá và khoảng trống, lượng nước thấm sâu
và rò rỉ qua bờ và lượng nước tiêu hao khác do yêu cầu kỹ thuật thâm canh lúa, lượng nước cần tưới cho cả vụ là hiệu số của tổng nhu cầu nước của cây và lượng nước mưa lợi dụng được Nhu cầu tưới cho cây trồng thay đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau và theo điều kiện khí hậu của từng vùng, từng vụ, từng năm Việc xác định lượng nước cần tưới trong nghiên cứu cân bằng nước trên đồng ruộng là cơ sở khoa học để xác định chế độ nước hợp lý cho cây trồng đạt hiệu quả cao
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, yếu tố thời tiết khí hậu có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và chất lượng nông sản phẩm Do đó, để khắc phục điều kiện thời tiết bất thuận (đặc biệt là nước) cho cây trồng thì việc tưới nước là rất cần thiết
Theo Goldberg (1967), Reddy (1980) (dẫn theo Vũ Công Hậu và cs., 1995), đất cát pha giữ nước kém nếu tưới nhiều lần, lượng nước tưới bằng lượng nước bốc và thoát hơi có thể đạt được năng suất lạc cao hơn
Tuy lạc là một trong những loại cây trồng có khả năng chịu hạn được trong thời gian ngắn, nhưng để đạt được năng suất cao thì việc tưới nước là rất quan trọng và việc tưới nước càng quan trọng hơn khi lạc được trồng trên đất cát
Cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng, các giai đoạn khác nhau thì sẽ mẫn cảm với sự thiếu hụt nước khác nhau, nhưng không có giai đoạn nào cây
Trang 28phát triển bình thường dưới một lượng nước tối thiểu Vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm là sự thiếu nước ở giai đoạn nào sẽ đóng vai trò chính trong năng suất cuối cùng của cây
Theo Sankara (1982) lạc chịu hạn tốt nhất là thời kỳ trước ra hoa vì vậy nếu có một thời gian khô hạn hợp lý kéo dài 15 - 30 ngày sau khi mọc sẽ kích thích cho lạc ra hoa nhiều
Giai đoạn ra hoa và hình thành quả rất cần nước do đó tưới nước cả hai giai đoạn này sẽ tăng năng suất, n ế u thiếu nước trong thời kỳ ra hoa sẽ làm giảm số quả, ở thời kỳ phình to của quả sẽ làm giảm kích thước và trọng lượng hạt, dẫn đến giảm năng suất Những thời kỳ sinh trưởng mạnh, ra hoa, hình thành quả cây lạc cần nước nhất Ở giai đoạn 50 - 80 ngày sau khi gieo nếu thiếu nước năng suất lạc sẽ giảm 46%; ở giai đoạn 80 - 120 ngày, giảm 27%;
từ 10 - 30 ngày sau gieo, giảm 21,6%; từ 30 - 50 ngày giảm 18% Trong 35 ngày xảy ra ở khoảng 71 - 105 ngày sau khi gieo đã gây thiệt hại lớn hơn ở thời kỳ 36 - 70 hoặc 106 - 140 ngày sau khi gieo Hạn kéo dài 70 ngày bắt đầu từ ngày thứ 36 sau khi gieo làm giảm tỷ lệ hạt 35% và ở giai đoạn 71 ngày tuổi giảm 69% (dẫn theo Vũ Công Hậu và cs, 1995)
Theo tác giả Hà Học Ngô (1977) giai đoạn từ gieo đến mọc độ ẩm đất
70 - 80% độ ẩm tối đa là giới hạn thích hợp nhất, giai đoạn lạc từ nảy mầm đến phân cành yêu cầu độ ẩm đất 50 - 60% độ ẩm tối đa, giai đoạn từ ra hoa đến hình thành quả và đến quả chín yêu cầu độ ẩm đất từ 70 - 80% độ ẩm tối đa
Theo tác giả Vũ Công Hậu và cs (1995) cho rằng cây lạc mẫn cảm nhất với
sự thiếu hụt nước vào khoảng 8 - 10 tuần sau khi gieo (thời kỳ ra hoa mạnh), giai đoạn tia đâm xuống đất và quả già ít mẫn cảm hơn giai đoạn ra hoa rộ
Ở nước ta, mối quan hệ giữa nước và thực vật cũng đã được nghiên cứu (Hoàng Xuân Tý, 1998) khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đối với sinh
trưởng của cây hồi (Illicium verum Hook) Tuy nhiên những nghiên cứu này chưa
nhiều, đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian tưới nước cho Cây Đinh lăng
Trang 29(Polyscias fructicosa) thuộc họ Ngũ gia bì, Nguyễn Văn Tiền (2015) cho rằng
cây đinh lăng là cây có khả năng chịu hạn Tuy nhiên nếu hạn một thời gian dài (3 tuần) độ ẩm <50% ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây đinh lăng
Có thể thấy, tại Việt Nam và trên thế giới đã có những nghiên cứu về cây ngải cứu và những ảnh hưởng của tưới nước đến sinh trưởng phát triển của một số loại cây trồng Tuy nhiên các nghiên cứu mới chủ yếu tập trung vào thành phần hóa học, tác dụng dược lý…Chưa có những nghiên cứu về giống, các biện pháp kỹ thuật tác động đối với cây ngải cứu (phân bón, thời vụ, kỹ thuật thu hái…) Do vậy đề tài thực hiện nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chất lượng dược liệu của các mẫu giống ngải cứu và ảnh hưởng của chiều cao thu hái đối với các mẫu giống ngải cứu là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng nhu cầu thực tế sản xuất hiện nay
Trang 30Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu
Các mẫu giống ngải cứu thu thập tại các tỉnh, thành phố khác nhau
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm 1 được thực hiện tại Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam – Thanh Trì – Hà Nội
Thí nghiệm 2 được thực hiện tại tại khu nhà lưới số 9 của Bộ môn Cây công nghiệp – Khoa Nông học trường Học Viện Nông nghiệp Việt Nam – Gia Lâm- Hà Nội
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 02/2015 đến tháng 07/2015
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống ngải cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của thời gian tưới đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây ngải cứu
2.2.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội
- Thí nghiệm tiến hành trên 7 mẫu giống ngải cứu: G1, G2, G5, G6, G7, G9, G10
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu Khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3
Trang 31lần nhắc lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10 m2
- Nhân tố 1: gồm 3 mẫu giống Ngải cứu là G1, G6, G7
- Nhân tố 2: mức tưới ứng với 3 thời điểm là:
Trang 32cm Trồng trong bầu đất có kích thước 23x18cm, mỗi lần tưới duy trì đến độ ẩm 70-80%, lượng nước tưới cho mỗi bầu là 300ml/bầu/lần, 15 bầu/công thức
2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
* Rễ cây: theo dõi mỗi tháng 1 lần: theo dõi 3 cây trên một công thức
- Rễ cấp 1 (rễ/cây): đếm các rễ cấp 1 được hình thành từ cổ rễ
- Chiều dài rễ (cm): đo từ cổ rễ đến chóp rễ
- Chiều rộng bộ rễ (cm): đo ở phần rộng nhất của bộ rễ
- Đường kính rễ (mm): dùng thước panme đo đường kính rễ (đo 2 rễ to nhất trên cây)
* Thân cây: Theo dõi mỗi tháng 1 lần, mỗi công thức theo dõi 3 cây/ lần nhắc
- Chiều cao cây (cm): đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng ngọn
- Số cành cây: đếm số cành trên thân chính
* Lá cây Theo dõi mỗi tháng 1 lần, mỗi công thức theo dõi 3 cây/ lần nhắc
- Chiều dài lá (cm): đo từ nơi tiếp giáp với cuống lá tới đỉnh lá
- Chiều rộng lá (cm): đo ở phần rộng nhất của lá
- Số lá/thân chính: đếm số lá trên thân chính
* Chỉ số diệp lục: Đo 3 lá hoàn chỉnh từ trên xuống ở mỗi cây Mỗi công thức đo 2 cây ở mỗi lần nhắc lại Đo bằng máy đo SPAD-502
* Khả năng tích lũy chất khô (g/cây): khối lượng khô của thân, lá, rễ trên 1cây Cân khối lượng thân lá tươi, rồi hong gió đến khối lượng không đổi và đem sấy ở nhiệt độ là 800c trong 24 giờ Sau cùng là cân khối lượng thân lá khô Trước mỗi lứa cắt, trên mỗi ô thí nghiệm chọn ngẫu nhiên 5 cây, tiến hành
đo đếm các chỉ tiêu:
- Chiều cao cây (cm): Đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng
- Đường kính thân (cm): Đo cách mặt đất 2 cm
- Diện tích lá (LAI dm2 lá/cây): bằng phương pháp cân trực tiếp Trên 1 cây, cân khối lượng 1 dm2 lá tươi (M1), cân khối lượng của toàn bộ lá tươi (M2), sau đó tính chỉ số diện tích lá (LAI)
LAI = M2/M1 x 25/100 (m2 lá/m2 đất)
- Số mầm tái sinh (mầm/m2): Sau mỗi lứa cắt, từ các mầm ngủ sẽ phát
Trang 33triển thành cây con Số mầm tái sinh chính là số nhánh/cây
Số mầm tái sinh (mầm/m2) = Số nhánh/cây x mật độ (cây/m2)
- Tỷ lệ tươi/khô
- Tỷ lệ lá/thân
• Chỉ tiêu tỷ lệ ngọn non
Tỷ lệ ngọn non (%) = Khối lượng ngọn non/Khối lượng toàn cây x 100
• Chỉ tiêu năng suất
- Năng suất cá thể (g/cây): Cân toàn bộ khối lượng thân, lá tươi của 5 cây ngẫu nhiên, sau đó tính trung bình
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = Năng suất cá thể x Mật độ
- Năng suất thực thu (tạ/ha) = Năng suất ô x 103
• Chỉ tiêu tỷ lệ chất xơ
Tỷ lệ chất xơ (%) = khối lượng toàn bộ thân lá x 100 khối lượng chất xơ
Các mẫu giống ngải cứu trong thí nghiệm 2 được thu hái khi cây ở giai đoạn chuẩn bị ra nụ, đạt tầng lá và kích thước lá đạt tối đa, đồng thời tích lũy được các hoạt chất nhiều nhất trong lá Tiến hành thu hái 4 lứa và lấy mẫu xác định các chỉ tiêu ngay trước khi thu hái, sau đó tính giá trị trung bình lứa
Các mẫu giống ngải cứu được thu hái cách mặt đất 5 cm
• Mùi vị
Thành lập hội đồng 5 người, đánh giá theo tiêu chí sau:
STT Chỉ tiêu đánh giá Tiêu chí đánh giá
1 Mùi thơm tinh dầu
Không thơm
Ít thơm Thơm Rất thơm
Đắng Không đắng Rất đắng
Trang 34Xác định mùi, vị trên lá ngải cứu tươi, sử dụng những lá ở giữa thân Mùi: Lá ngải cứu tươi được vò nát để xác định mùi
Vị: Nhai lá ngải cứu tươi để xác định vị
• Mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Theo dõi theo quy chuẩn QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010)
+ Mức độ bị hại bởi các loại sâu hại chính (sâu xanh, sâu khoang):
Số cây bị sâu hại
Tỷ lệ hại (%) = x 100
Tổng số cây/ô + Tỷ lệ bệnh và mức độ nhiễm bệnh (sùi cành, lá):
Số cây bị bệnh
Tỷ lệ bệnh (%) = x 100
Tổng số cây/ô Đánh giá mức độ nhiễm sâu, bệnh theo 5 cấp từ cấp 1 đến cấp 5:
Cấp 1: Không có triệu chứng
Cấp 2: Nhẹ - dưới 20% số cây bị sâu/bệnh gây hại
Cấp 3: Trung bình – từ 21% đến 50% số cây bị sâu/bệnh gây hại
Cấp 4: Nặng – từ 51% đến 75% số cây bị sâu/bệnh gây hại
Cấp 5: Rất nặng – trên 75% số cây bị sâu/bệnh gây hại
Trang 35N:P:K = 90:90:60 (kg/ha), quy ra lượng thương phẩm:
Ure (46% N) = 195,65 kg/ha
Supe lân (16,5% P2O5) = 545,45 kg/ha
KCl (59% K2O) = 101,69 kg/ha
+ Cách bón:
Bón lót toàn bộ phân vi sinh vào lần cày bừa đất cuối cùng
Bón 1/3 lượng NPK vào lúc rạch hàng trước khi trồng
- Chăm sóc: Giai đoạn đầu khi mới trồng tiến hành tưới ẩm thường
xuyên cho ngải cứu nhanh bén rễ hồi xanh Thường xuyên làm sạch cỏ trên
ruộng thí nghiệm
2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý thống kê theo phần mềm phân tích phương sai (ANOVA) theo chương trình IRRISTAT 5.0 và phần mềm EXCEL
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Thanh Trì – Hà Nội vụ xuân 2015 trong điều kiện
có thu hái
Tiến hành nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của 7 mẫu giống ngải cứu, nhằm tìm ra những mẫu giống ngải cứu có khả năng sinh trưởng, phát triển mạnh, năng suất cao đáp ứng yêu cầu thực tế sản xuất
3.1.1 Thời gian thu hái và số lứa hái của các mẫu giống ngải cứu
Khả năng tăng trưởng về chiều cao cây sẽ ảnh hưởng tới tốc độ ra lá, kích thước lá, khối lượng tươi của cây Chiều cao cây tạo nên cấu trúc quần thể, tạo điều kiện cho cây có khả năng sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời hiệu quả nhất Đây là chỉ tiêu liên quan mật thiết đến năng suất của cây trồng Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây nhanh hay chậm tùy thuộc vào từng loại cây trồng và giống cây trồng cụ thể Để đạt đến một chiều cao cây nhất định, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây càng nhanh, thời gian thu hái càng ngắn và ngược lại
Tùy vào loại cây trồng và giống cây trồng cụ thể mà thời gian thu hái giữa các lứa là khác nhau Thời gian thu hái càng ngắn, số lứa thu hái/năm càng nhiều
và ngược lại Các mẫu giống ngải cứu thí nghiệm được thu hái khi chiều cao cây đạt 30 – 35 cm
Kết quả nghiên cứu thời gian thu hái và số lứa hái của các mẫu giống ngải cứu tại Thanh Trì - Hà Nội được thể hiện ở bảng 3.1
Kết quả thu được từ bảng 3.1 cho thấy: Các mẫu giống ngải cứu ảnh hưởng đến thời gian thu hái và số lứa hái/năm Mẫu giống G1 có thời gian thu hái nhanh nhất (33 ngày), mẫu giống G7 có thời gian thu hái dài nhất (48 ngày)
Sự sai khác về thời gian thu hái giữa hai mẫu giống này là có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% với LSD0,05 = 1,02 Các mẫu giống còn lại có thời gian thu hái dao động trong khoảng 35 – 41 ngày
Trang 37Bảng 3.1 Thời gian thu hái và số lứa hái của các mẫu giống ngải cứu Mẫu giống Thời gian thu hái trung bình lứa
(ngày/lứa)
Số lứa hái (lứa/năm)
3.1.2 Số lá/cây, đường kính thân khí sinh và tỷ lệ lá/thân của các mẫu giống ngải cứu
Quá trình quang hợp xảy ra chủ yếu ở lá cây nên việc hình thành và phát triển của bộ lá có vai trò vô cùng quan trọng Nếu số lá/cây càng nhiều khả năng quang hợp của cây diễn ra càng thuận lợi, cây sinh trưởng phát triển tốt và ngược lại
Tăng trưởng của cây trồng được quyết định bởi hoạt động của các tế bào trong cây Khi tế bào hoạt động và giãn mạnh về chiều dài thì cây sẽ phát triển mạnh về chiều cao Ngược lại khi tế bào hoạt động và giãn mạnh về chiều ngang thì đường kính thân cây sẽ được gia tăng Quá trình tăng số lượng và kéo giãn tế bào diễn ra thuận lợi thì sự gia tăng về chiều cao cây cũng như đường kính thân đạt tối đa, cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng chống đổ cũng như chống chịu các điều kiện bất lợi tốt và ngược lại
Trang 38Tỷ lệ lá/thân thể hiện khả năng hình thành lá nhiều hay ít của cây trồng Tỷ lệ lá/thân càng cao khả năng hình thành càng nhiều lá và ngược lại Điều này rất có ý nghĩa đối với các loại cây trồng được sử dụng vào mục đích làm rau ăn lá hoặc đối với các loại dược liệu sử dụng lá là nguyên liệu làm thuốc Kết quả nghiên cứu số lá/cây, đường kính thân khí sinh và tỷ lệ lá/thân của các mẫu giống ngải cứu thu được chúng tôi thể hiện trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Số lá/cây, đường kính thân khí sinh và tỷ lệ lá/thân
của các mẫu giống ngải cứu Mẫu giống Số lá/cây trung
bình lứa (lá/cây)
Đường kính thân khí sinh trung bình lứa (cm/thân)
Tỷ lệ lá/thân trung bình lứa
ý nghĩa ở độ tin cậy 95% với LSD0,05 = 1,51
* Đường kính thân khí sinh
Giống khác nhau, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng đường kính thân khí sinh của các mẫu giống ngải cứu Mẫu giống G7 có đường kính thân khí sinh thấp nhất (0,28 cm), mẫu giống G6 có đường kính thân khí sinh cao nhất (0,44 cm) Sự sai khác là có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% với LSD0,05 = 0,03 Các mẫu giống còn lại có đường kính thân dao động trong khoảng 0,35 – 0,43 (cm)
Trang 39* Tỷ lệ lá/thân
Các mẫu giống ngải cứu có tỷ lệ lá/thân khác nhau Mẫu giống G9 có tỷ lệ lá/thân thấp nhất (2,35), mẫu giống G7 có tỷ lệ lá/thân cao nhất (3,23) Các mẫu giống còn lại có tỷ lệ lá/thân dao động trong khoảng 2,90 – 3,16 Sự sai khác về
tỷ lệ lá/thân có độ tin cậy 95% với LSD0,05 = 0,14
3.1.3 Số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá (LAI) và chỉ số SPAD của các mẫu giống ngải cứu
Lá là bộ phận quang hợp chính để tổng hợp nên các chất hữu cơ cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngải cứu, tạo ra năng suất sau này Trong số các chỉ tiêu về lá, chỉ số diện tích lá (LAI) là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng quang hợp của quần thể ruộng ngải cứu Trong phạm vi nhất định sẽ có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa LAI với năng suất (Hoàng Minh Tấn và cs., 2006) Diệp lục là chất hữu cơ quan trọng không thể thiếu trong phản ứng quang hợp của cây trồng Chỉ số SPAD là đại lượng đặc trưng cho hàm lượng diệp lục trong cây trồng
Kết quả nghiên cứu số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá (LAI) và chỉ số SPAD của các mẫu giống ngải cứu thu được trong bảng 3.3
Bảng 3.3 Số mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá (LAI) và chỉ số SPAD
của các mẫu giống ngải cứu Mẫu
giống
Số mầm tái sinh trung bình lứa (mầm/m2)
LAI trung bình lứa (m2 lá/m2 đất)
Chỉ số SPAD trung bình lứa
Trang 40* Số mầm tái sinh
Kết quả nghiên cứu trình bày tại bảng 3.3 cho thấy: Các mẫu giống ngải cứu ảnh hưởng đến số mầm tái sinh/đơn vị diện tích Mẫu giống G7 có số mầm tái sinh cao nhất (173,62 mầm/m2), tiếp đến là mẫu giống G6 (166,48 mầm/m2), mẫu giống G9 có số mầm tái sinh thấp nhất (116,26 mầm/m2) Sự sai khác thể hiện ở độ tin cậy 95% với LSD0,05 = 3,13
* Chỉ số diện tích lá (LAI)
So với các mẫu giống còn lại, mẫu giống G7 có LAI cao nhất (2,61 m2lá/m2 đất), tiếp đến là mẫu giống G6 (2,48 m2 lá/m2 đất), mẫu giống G9 có LAI thấp nhất (1,78 m2 lá/m2 đất), Mẫu giống G7 có số lá/cây nhiều nhất, số mầm tái sinh qua các lứa hái nhiều nhất, vì vậy LAI của G7 cũng đạt cao nhất qua các lứa hái ở độ tin cậy 95% với LSD0,05 = 0,11
* Chỉ số SPAD
Kết quả thu được tại bảng 3.3 cũng cho thấy: Chỉ số SPAD của các mẫu giống ngải cứu khác nhau có sự khác nhau Mẫu giống G7 có chỉ số SPAD cao nhất (39,76) ở mức sai khác ó ý nghĩa Mẫu giống G9 có chỉ số SPAD thấp nhất (29,30) Các mẫu giống còn lại có chỉ số SPAD dao động trong khoảng 32,18 – 37,69
3.1.4 Khả năng tích lũy chất khô, tỷ lệ tươi/khô và tỷ lệ chất xơ của các mẫu giống ngải cứu
Nghiên cứu khả năng tích lũy chất khô, tỷ lệ tươi/khô và tỷ lệ chất xơ của các mẫu giống ngải cứu, kết quả trình bày tại bảng 3.4
* Khả năng tích lũy chất khô
Khả năng tích lũy chất khô là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây trồng trong suốt chu kỳ sống Khả năng tích lũy chất khô của cây trồng không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của giống, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh, dinh dưỡng đất, quá trình chăm sóc, tình hình sâu bệnh hại
Các mẫu giống ngải cứu có khả năng sinh trưởng chiều cao, số là và LAI khác nhau dẫn đến khả năng tích lũy chất khô khác nhau Mẫu giống G6 có khả