ẢNH HƯỞNG CỦA SBS ĐẾN KHẢ NĂNG KHÁNG HẰN LÚN VỆT BÁNH XE CỦA MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG NHỰA EVALUATING THE INFLUENCE OF SBS TO REDUCE RUTTING OF ASPHALT CONCRETE PAVEMENT TS.. T
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA SBS ĐẾN KHẢ NĂNG KHÁNG HẰN LÚN VỆT BÁNH XE CỦA
MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG NHỰA
EVALUATING THE INFLUENCE OF SBS TO REDUCE RUTTING OF ASPHALT CONCRETE
PAVEMENT
TS Nguyễn Mạnh Tuấn, KS Trần Phong Thái
TÓM TẮT
Trong bài báo này tập trung nghiên cứu và đánh giá mức độ
ảnh hưởng của phụ gia SBS (Styrene-Butadiene-Styrene) đến
khả năng hằn lún vệt bánh xe của mặt đường bê tông nhựa
Ngoài thí nghiệm kiểm tra độ ổn định và độ dẻo Marshall ,
nghiên cứu này sử dụng thêm những thí nghiệm để đánh giá sự
thay đổi các tính chất của hỗn hợp như thí nghiệm ép chẻ mẫu ,
độ mài mòn Cantabro, và mô-đun đàn hồi bê tông nhựa Ngoài
ra, bài báo còn trình bày thí nghiệm kiểm tra hằn lún vệt bánh
xe bằng thiết bị Hamburg Wheel-Tracking Kết quả nghiên cứu
cho thấy rằng chỉ với hàm lượng nhỏ SBS đã làm cải thiện
đáng kể khả năng kháng hằn lún vệt bánh xe của hỗn hợp bê
tông nhựa
ABSTRACT
In this study, we evaluated the influence of SBS
(Styrene-Butadiene-Styrene) to reduce rutting in asphalt concrete We
used Marshall stability and flow test, Cantabro loss test,
Indirect Tensle Strength (ITS) test, elastic modulus test to
evaluate the permanent deformation performance of asphalt
concrete In addition, this study used Hamburg
Wheel-Tracking test to examine the rutting dept of adphalt concrete
samples The results showed that SBS can be used to improve
the performance properties of asphalt mixture and reduce
rutting
TS Nguyễn Mạnh Tuấn
Giảng viên, Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng , Trường Đại Học Bách
Khoa – Đại Học Quốc Gia Tp.HCM
Email: nmanhtuan@hcmut.edu.vn
Điện thoại: 0933.481.368
Ks Trần Phong Thái
Viện Khoa Học Công Nghệ GTVT phía Nam
Email: Tranphongthaicd06b@gmail.com
Điện thoại: 0906.19.15.14
1 Giới thiệu
Hiện tượng lún trồi ở mặt đường bê tông nhựa (BTN) đang
trở nên phổ biến và nhận được sự quan tâm đặc biệt như trong
Hình 1 và Hình 2 Hiện tượng này được ghi nhận tại hầu hết
các tuyến đường có lưu lượng và tải trọng xe lớn (quốc lộ 1, 3,
5…), các vùng có thời tiết nắng nóng (khu vực miền Trung
Việt Nam ) và các vị trí đặc biệt (gần trạm thu phí , đèo dố c,
đường cong , ngã tư tín hiệu , trạm kiểm tra cảnh sát giao
thông)
Ngay từ khi mặt đường BTN đưa vào sử dụng thì dạng hư
hỏng này luôn được xem là vấn đề quan trọng cần phải xem xét
tới trong quá trình thiết kế sơ bộ Vấn đề này đã được nhiều
nhà khoa học thế giới phân tích và đánh giá , dựa vào kết luận
từ những nghiên cứu khoa học đã được công bố thì các nguyên
nhân chính dẫn tới hiện tượng lún trồi đó l à: Công tác lu lèn
không đảm bả o yêu cầu; lớp vật liệu không đảm bảo về cường
độ, độ ổn định; sự liên kết giữa cốt liệu và nhựa trong hỗn hợp
không đảm bảo ; không kiểm soát chất lượng chế tạo hỗn hợp
BTN; sự gia tăng về giao thô ng cả về lưu lượng và tải trọng;
ảnh hưởng của nhiệt độ cao đối với sự làm việc của hỗn hợp BTN; và cấu tạo kết cấu áo đường chưa hợp lý
Hình 1 Vệt hằn bánh xe trên đường Mai Chí Thọ thuộc đại lộ
Đông Tây (Hình chụp ngày 2/11/2013)
Hình 2 Mặt cắt đường tại vị trí lún trồi trên quốc lộ 1A
(Hình chụp tháng 06/2013)
Từ những đánh giá về các nguyên nhân dẫn tới hiện tượng lún trồi nêu trên chúng tôi nhận thấy rằng việc sử dụng phụ gia polime để cải thiện chất lượng nhựa đường, đồng thời cải thiện các chỉ tiêu kỹ thuật của hỗn hợp BTN đang là một giải pháp được cho là tối ưu ở Việt Nam hiện nay Với đặc tính có thể tái chế nên loại vật liệu này được coi là thân thiện với môi trư ờng và kéo dài tuổi thọ của mặt đường BTN
Tại Việt Nam hiện nay đang sử dụng loại nhựa đường có chứa SBS do nhiều hãng cung cấp như Shell , Colas…cung cấp Loại nhựa này đang trong quá trình thử nghiệm và cũng đã cho thấy những hiệu quả kỹ thuật Tuy nhiên loại BTN sử dụng phụ gia này có giá thành khá cao và đòi hỏi cao về kỹ thuật thi công Chính vì vậy , việc nghiên cứu tính hiệu quả của phụ gia SBS đối với mặt đường BTN trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt tại Việt Nam , cũng như đánh giá khả năng tương thích của nó đối với nguồn nguyên vật liệu địa phương là một vấn đề cần được xem xét một cách kỹ càng
Phụ gia polime nâng cao khả năng ứng biến của nhự a đường dưới điều kiện nhiệt độ cao [1] Cấu trúc phân tử của
Trang 1
Trang 2hỗn hợp nhựa đường sau khi trộn được đánh giá thông qua hình
ảnh chụp TEM (Transmission Electron Microscopy ), kết quả
nghiên cứu cho thấy SBS mạch thẳng có tác dụn g đến nhựa
đường tốt hơn so với các loại SBS còn lại [2] Năm 2005, tác
giả Akiyoshi và đồng nghiệp đã thử nghiệm các hàm lượng 0,
3, 5, 7, 9 và 12% để đánh giá và cho kết quả rằng với hàm
lượng từ 3 đến 5% SBS so với nhự a đường đã cải thiện được
các đặc tính của hỗn hợp BTN [3] Do đó, bài báo này tập
trung xem xét sử dụng SBS có hàm lượng 4% (so với tổng khối
lượng nhựa) trong hỗn hợp bê tông nhựa so sánh với bê tông
nhựa thông thường không sử dụng SBS đến cá c đặc tính kỹ
thuật của hỗn hợp BTN , trong đặc biệt thông qua thí nghiệm
hằn lún vệt bánh xe bằng thiết bị Hamburg Wheel-Tracking
2 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm
Trong nghiên cứu này, hỗn hợp BTN được thiết kế theo
phương pháp Marshall hay theo tiêu chuẩn TCVN 8820-2011
[4] Nhựa đường 60/70 và phụ gia SBS (Hình 3) sử dụng trong
nghiên cứu được Công ty Petrolimex cung cấp Một số chỉ tiêu
cơ lý cơ bản quan trọng của nhựa 60/70 được thể hiện trong
Bảng 1 Điều kiện để SBS hòa tan được vào nhựa thì hỗn hợp
nhựa được trộn ở nhiệt độ 180oC, trong thời gian 60 phút và tốc
độ máy trộn là 4000 vòng/phút
Hình 3 Phụ gia SBS
Hình 2 thể hiện cấp phối bê tông nhựa chặt 12.5mm
(BTNC12.5) sử dụng trong nghiên cứu này phù hợp TCVN
8819-2011 [5] Cốt liệu được lấy từ mỏ đá Tân Cang – Long
Thành – Đồng Nai Các chỉ tiêu kỹ thuật của hỗn hợp cốt li ệu
tương ứng với cấp phối của Hình 2 được thể hiện ở Bảng 2
Hình 2 Cấp phối BTNC 12.5mm
Bê tông nhựa thông thường BTNC12.5 sử dụng nhựa
đường 60/70 được thiết kế theo TCVN 8820-2011 [4] Kết quả
hàm lượng nhựa tối ưu của hỗn hợp BTNC12.5 là 5.75% Sau
đó, 4%SBS (so với khối lượng hàm lượng nhựa) được thêm
vào để tạo ra hỗn hợp BTNC12.5 có 4%SBS Hai loại hỗn hợp
bê tông nhựa BTNC12.5 và BTNC12.5 có 4% SBS được tạo
mẫu để so sánh các chỉ tiêu độ ổn định Marshall, cường độ ép chẻ, khả năng mài mòn Cantabro, mô đun đàn hồi và thí nghiệm vệt hằn bánh xe Hamburg Wheel Tracking thể hiện trong mục tiếp theo của bài báo này
Bảng 1 Kết quả thí nghiệm nhựa đường 60/70
Nhiệt độ hóa mềm (oC) 49.5 Độ kéo dài (mm) ở 25oC >110 Nhiệt độ bắt lửa (o
Khối lượng riêng (g/cm3) 1.033
Bảng 2 Kết quả thí nghiệm chỉ tiêu cơ lý của cốt liệu
thí nghiệm
Cốt liệu lớn:
- Khối lượng riêng (g/cm3) 2.716
- Độ hao mòn Loss Angles (%) 14.4
- Hàm lượng thoi dẹt (%) 9.4 Cốt liệu nhỏ:
- Khối lượng riêng (g/cm3
Bột khoáng:
- Khối lượng riêng (g/cm3) 2.928
3 Kết quả thí nghiệm
3.1 Thí nghiệm Marshall
Thí nghiệm kiểm tra độ ổn định và độ dẻo Marshall được tiến hành theo tiêu chuẩn TCVN 8820-2011 [4] Các mẫu được đầm với độ rỗng còn dư 5±1% Trước khi thí nghiệm , tất cả mẫu được ngâm ổn định trong bồn nước ở nhiệt độ 60oC trong thời gian 40 phút, sau đó được nén với tốc độ gia tải của thiết bị là 50mm/giây Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 3, nó cho thấy rằng SBS có độ ổn định Marshall cao hơn
so với hỗn hợp thông thường
3.2 Thí nghiệm kéo gián tiếp (ép chẻ)
Thí nghiệm kéo gián tiếp nhằm đánh giá kh ả năng làm việc ổn định của BTN trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt Các mẫu được chế bị trong phòng theo phương pháp Marshall , áp dụng tiêu chuẩn TCVN 8862-2011 [6] Mẫu được bảo dưỡng ổn định trong điều kiện nhiệt độ 70oC, thời gian 1.5 giờ Nhiệt độ 70oC được lựa chọn dựa vào sự khảo sát thực tế một số con đường trong thành phố Hồ Chí Minh vào giữa trưa Các mẫu được nén bằng thiết bị Marshall với tốc độ gia tải là 50 mm/giây Dựa vào giá trị lớn nhất trước của đồng hồ đo tại thời điểm mẫu phá hoại, giá trị chịu kéo khi ép chẻ của hỗn hợp đơn vị là MPa, được tính theo công thức:
ITS= 2*P/(π*H*D) (1) Trong đó: P là giá trị lực thẳng đứng (N); H là chiều cao của mẫu (mm); D là đường kính mẫu (mm) Kết quả thí nghiệm chịu nén khi ép chẻ ở Bảng 3 cho thấy rằng BTN có SBS có giá
Trang 2
Trang 3trị cao hơn , điều này chứng tỏ hỗn hợp BTN có khả n ăng ổn
định nhiệt hơn so với hỗn hợp BTN thông thường
Bảng 3 Kết quả thí nghiệm so sánh hỗn hợp BTN
Thí nghiệm Hỗn hợp – Giá trị thí nghiệm BTNC12.5 +
0%SBS
BTNC12.5 + 4%SBS Độ ổn định Marshall (kN) 11.3 14.9
Ép chẻ ở 70o
Độ hao mòn theo phương
Thí nghiệm Mô-đun đàn
Hình 3 Mẫu sau quá trình thí nghiệm ép chẻ
3.3 Thí nghi ệm Cantabro
Quá trình thí nghiệm được tiến hành theo tiêu chuẩn EN
NLT-352-00 [7] Mẫu được đầm nén theo phương pháp
Marshall, chiều cao mẫu là 101mm và đường kính là 63.5mm
Mẫu được đầm nén sau đó bảo dưỡng và được thí ngh iệm bằng
thiết bị thử độ hao mòn Los -Angeles Sau khi đạt được 300
vòng với tôc độ 30 ± 33 vòng/phút thì dừng lại và lấy mẫu ra
để kiểm tra mức độ bong bật của vật liệu , trong quá trình thí
nghiệm không sử dụng bi sắt Tỷ lệ phần trăm theo khối lượng
vật liệu bị thất thoát (Cantabro loss) được tính theo công thức:
ML= (m1 – m2)/ m1 (2) Trong đó: m1là khối lượng mẫu trước thí nghiệm , m2là khối
lượng mẫu sau thí nghiệm Kết quả thí nghiệm đư ợc thể hiện
trong Bảng 3 Từ kết quả này ta có thể kết luận được rằng SBS
đã làm tăng khả năng kháng bong bật của vật liệu dưới tác
dụng va đập của tải trọng
Hình 4 Mẫu trước và sau thí nghiệm
3.4 Thí nghiệm kiểm tra mô-đun đàn hồi của hỗn hợp
Thí nghiệm áp dụng tiêu chuẩn 22TCN 211-06 [8], mẫu
có chiều cao và đường kính là 101 mm Mẫu được chế bị bằng
máy ép thủy lực , điều chỉnh cần sao cho áp lực tác dụng lên
mẫu là 30 MPa trong khoảng thời gian là 03 phút như trong
Hình 5 Trước khi thí nghiệm, mẫu được bảo dưỡng trong nhiệt
độ 30o
C trong vòng 2.5 giờ Quá trình thí nghiệm như trong
Hình 5 Theo 22TCN 211-06 thì áp lực bánh xe có giá trị p=0.5
MPa Giá trị mô-đun (E) của hỗn hợp BTN được quy đổi như sau:
E= pH/L (MPa) (3) Trong đó: p= 4P/πD2
, D là đường kính mẫu và H là chiều cao mẫu, P là lực tác dụng lên bàn ép (kN) Khi thí nghiệm thường lấy p= 0.5 MPa (tương đương với áp lực của kết cấu áo đường)
Kết quả thí nghiệm thể hiện trong Bảng 3 Kết quả trên cho thấy SBS làm tăng đáng kể (gần 1.4) trị số mô-đun đàn hồi của vật liệu Điều này chứng tỏ hỗn hợp ít biến dạng hơn khi chịu tác dụng của tải trọng thẳng đứng
Hình 5 Thí nghiệm kiểm tra mô-đun đàn hồi của hỗn hợp BTN a) Quá trình chế bị mẫu; b) Quá trình thí nghiệm
3.5 Thí nghiệm Hamburg Wheel-Tracking
Thiết bị thí nghiệm Hamburg Wheel-Tracking (HWT) kết hợp và hoàn thiện phương pháp thử nghiệm đánh giá các chỉ tiêu về độ lún và hư hỏng do nguồn ẩm bằng cách lăn một bánh xe thép trên bề mặt của hỗn hợp BTN đặt chìm trong nước đã được gia nhiệt trước (nhiệt độ khoảng 40÷50oC) Chỉ tiêu về sự ổn định nhiệt và độ ẩm dựa trên chỉ tiêu đạt hay không đạt Yetkin Yildirim và đồng nghiệp đã nhận thấy rằng khi số lượng vòng bánh xe tác dụng lên mẫu đạt 10.000 lượt thì có thể nhận thấy rõ ràng sự mất mát của mẫu do tác dụng của nguồn ẩm cũng như tải trọng bánh xe [9].Thiết bị này cần kiểm tra sự làm việc đồng thời giữa các khuôn cố định mẫu và các bánh xe trong quá trình chuyển động qua lại
Do giá thành thí nghiệm này rất cao nên chỉ 02 mẫu được tiến hành thí nghiệm: mẫu BTN thông thường và mẫu BTN có sử dụng 4%SBS Toàn bộ quá trình đúc mẫu và điều kiện thí nghiệm áp dụng theo tiêu chuẩn AASHTO T324-04 [10] Khuôn mẫu có chiều dài 12.6 inches (320mm) và chiều rộng 10.24 inches (260mm), bề rộng của chúng có thể là 1.5, 3, hoặc 4.7 inches (38, 76, hoặc 119 mm) Các bánh xe có đường kính 8 inches (203mm) và bề rộng 0.9 inches (22.87mm) Độ rỗng của mẫu thử khoảng 7 ± 1%, được đầm nén bằng máy nén đẳng hướng Thí nghiệm sử dụng bồn nước để gia nhiệt, nhiệt độ bồn nước có thể thay đổi từ 25 ÷ 70oC, nhiệt độ áp dụng trong thí nghiệm là 50oC Vận tốc của thiết bị thí nghiệm là 53 lượt/phút, khi đủ 15.000 lượt thì dừng thiết bị và kiểm tra kết quả (Hình 6)
Trong các nguyên nhân gây ra hiện tượng lún trồi mặt đường BTN đã nêu ra ở phần 1 nguyên nhân chính đó là mặt đường BTN chịu tác dụng của tải trọng lặp trong điều kiện làm việc chịu tác động của nguồn ẩm và nhiệt độ cao Việc sử dụng thí nghiệm HWT mô phỏng tương đối sự làm việc của mặt đường BTN trong trường hợp bất lợi nhất, từ đó đánh giá được khả năng kháng lún của loại mặt đường này Mẫu sau quá trình thí nghiệm như trong Hình 7, mối quan hệ giữa độ lún và số lượt tải trọng tác dụng thể hiện trong Hình 8
Vị trí vết nứt
Trang 3
Trang 4Hình 6 Mẫu trong quá trình thí nghiệm
Hình 7 Mẫu sau khi kết thúc thí nghiệm
Hình 8 Kết quả thí nghiệm kiểm tra hằn lún vệt bánh xe
Từ kết quả thí nghiệm như trên Hình 8 ta có thể kết luận
SBS đã nâng cao khả năng chống lún trồi mặt đường BTN
ngay ở trong điều kiện nhiệt độ cao và chịu tác dụng của nguồn
ẩm
4 Kết luận
Nghiên cứu này đã tập trung đánh giá mức độ ảnh hưởng
của phụ gia SBS đến các chỉ tiêu cơ lý của hỗn hợp BTN Sử
dụng cấp phối BTN C12.5 để so sánh Hàm lượng SBS trong
nghiên cứu là 4% Từ kết quả thí nghiệm , có thể đưa ra được
các kết luận sau:
• Hỗn hợp BTN sử dụng SBS làm tăng giá trị chịu kéo
gián tiếp và độ ổn định Marshall
• Thí nghiệm Cantabro cho thấy SBS làm tăng khả năng
chống bong bật của vật liệ u trong hỗn hợp hơn so với
hỗn hợp thông thường
• Giá trị mô -đun đàn hồi của hỗn hợp BTN sử dụng SBS tại nhiệt độ 30oC cao hơn so với hỗn hợp BTN thông thường
• SBS cải thiện đáng kể khả năng kháng hằn lún vệt bánh
xe
Cám ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi trường Đại học Bách Khoa trong khuôn khổ đề tài mã số T-KTXD-2015-56 Nhóm tác giả xin chân thành cám ơn sự tài trợ của trường Đại Học Bách
Khoa
Tài liệu tham khảo
1 Larry (2006), Performance Grace (PG) Polymer Modified
Asphalt in California, Technology Transfer Program,
Institute of Transportation Studies, UC Berkeley
2 Rameshwar Adhikari (2011), Influence of Uncoupled
Diblock Molecules on Mechanical Properties of Styrene-Butadiene-Styrene Triblock Copolymer, Nepal Journal of
Science and Technology, No.12, pp.149-156
3 AkiyoshiHanyu, Sadaharu Ueno, Atsushi Kasahara, and
Kazuo Saito (2005), Effect of the Morphology of SBS
Modified Asphalt on Mechanical Properties of Binder and
Transportation Studies, Vol.6, pp.1153-1167
4 TCVN 8820-2011 (2011), Hỗn hợp bê tông nhựa nóng - Thiết kế theo phương pháp Marshall, Bộ Khoa Học và
Công Nghệ
5 TCVN 8819-2011 (2011), Mặt đường bê tông nhựa nóng – Yêu cầu thi công và nghiệm thu, Bộ Khoa Học và Công
Nghệ
6 TCVN 8862-2011 (2011), Quy trình thí nghiệm xác định cường độ kéo khi ép chẻ của vật liệu hạt liên kết bằng các chất kết dính, Bộ Khoa Học và Công Nghệ
7 EN NLT-352-00 (2000), Characterization procedure of asphalt binders with the Cantabro test UCL method
8 22 TCN 211- 06 (2006), Áo đường mềm - Các yêu cầu và chỉ dẫn thiết kế, Bộ GTVT
9 Yetkin Yildirim, Priyantha W.Jayawichrama, M.Shabbir Hossain, Abdulrahman Alhabshi, Cenk Yildirim, Andre de
Fortier Smit and Dallas Little (2007), Hamburg Wheel -
Tracking Database Analysis, FHWA report
10 AASHTO T324-04, Standard Method of Test for Hamburg
Wheel-Track Testing of Compacted Hot-Mix Asphalt (HMA)
Trang 4