1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương KIẾN THỨC, THÁI độ và sự hỗ TRỢ NUÔI CON BẰNG sữa mẹ của NGƯỜI CHỒNG có vợ làm CÔNG NHÂN tại HUYỆN cẩm GIÀNG, TỈNH hải DƯƠNG năm 2015

29 959 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 365,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nuôi con bằng sữa mẹ có thể làm đượctất cả những điều này và còn nhiều hơn thế.” Lancet 1994 Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh tửvong ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN QUANG ĐỨC

TÊN ĐỀ TÀI

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ HỖ TRỢ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA NGƯỜI CHỒNG CÓ VỢ LÀ CÔNG NHÂN TẠI HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH

HẢI DƯƠNG NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số: YTCC: 60.72.03.01 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hữu Bích

Hà nội 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà nội 2015

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

“Nếu có một loại vắc-xin mới có thể giúp phòng tránh tử vong cho hơn một triệu trẻ

em, chi phí thấp, an toàn, có thể uống trực tiếp và không cần bảo quản lạnh, vắc xin đó sẽ

là một nhu cầu cấp thiết cho sức khỏe cộng đồng Nuôi con bằng sữa mẹ có thể làm đượctất cả những điều này và còn nhiều hơn thế.” Lancet 1994

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh tửvong cho trẻ em [36] Bú sữa mẹ là một cách vượt trội về sự cung cấp dinh dưỡng lýtưởng cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh Các khuyến cáo của y tế côngcộng toàn cầu là trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu để đạt được sự tăngtrưởng, phát triển tối ưu và có được sức khỏe tốt [30, 32, 42] Nếu mọi trẻ em được bú

mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh và tiếp tục cho bú mẹ cho đến hai tuổi, thì khoảng

800 000 trẻ sẽ được cứu sống mỗi năm

Trong hai thập kỉ qua, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm đáng kể, nhưng gần 7 triệu trẻ emdưới 5 tuổi chết mỗi năm, chủ yếu là do các nguyên nhân có thể phòng ngừa được Trong

số đó, trường hợp tử vong sơ sinh hiện chiếm gần một nửa số trẻ tử vong dưới 5 tuổi Búsữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh sớm [36] Tính trêntoàn thế giới, thì chỉ có 2 trong 5 trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ trong 1 giờ đầu sau sinh vàcũng tỷ lệ đó với những trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ toàn [41] Mặc dù từ năm

1989 Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra khuyến nghị chotrẻ bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh và bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho đếnkhi trẻ được 24 tháng tuổi Ở khu vực châu Á/ Thái Bình Dương, khoảng một nửa sốquốc gia cung cấp dữ liệu có tỷ lệ BSMHT lớn hơn 40%, dưới mức 20% ở Thái Lan vàViệt Nam [41] Mặc dù sữa mẹ là công thức dinh dưỡng hoàn hảo nhất cho trẻ 6 thángđầu đời của trẻ, hiện ở Việt Nam chỉ có 19.6% trẻ được bú hoàn toàn trong giai đoạnquan trọng này [5] Tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều so với tỉ lệ trung bình của thế giới là35% các bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu [6] Trong khi đó chiến lược quốc

Trang 5

gia về dinh dưỡng 2011 – 2020 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt rằng tỷ lệ bú sữa

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đạt 27% năm 2015 và đạt 35% vào năm 2020 [9] Tuynhiên, dù là thiên phú và góp phần tiết kiệm chi tiêu cho gia đình, việc nuôi con bằng sữa

mẹ ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức [1, 39] Nhiều nghiên cứu chỉrằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc cho con bú sớm và bú hoàn toàn như : thôngtin tiếp thị của các sản phẩm sữa bột dành cho trẻ nhỏ đang bủa vây các bà mẹ và giađình, bà mẹ không tin rằng mình có đủ sữa để nuôi con [4] , bên cạnh đó nhiều nghiêncứu đã chỉ ra rằng việc thiếu sự hỗ có ảnh hưởng đến BSMHT trong 6 tháng đầu [10] Một nghiên cứu can thiệp được thực hiện vào năm 2012 nhằm kiểm định giả thuyết về sựcải thiện kiến thức của người chồng sau chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cộngđồng cho thấy rằng sau can thiệp thì kiến thức của người chồng về BSMHT trong 6 thángđầu của người cha trong địa bàn can thiệp được cải thiện đáng kể so với địa bàn khôngđược can thiệp, đồng thời tỉ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở địa bàn can thiệpcao gấp 2,6 lần so với địa bàn không can thiệp [25] Việc thực hành NCBSM có mối liênquan đến các yếu tố kiến thức cá nhân, trình độ học vấn, thu nhập và vai trò của ngườicha hay kiến thức, thái độ chưa tốt về việc NCBSM [16, 17] Tuy nhiên cuộc điều tra củaAlive & Thrive tại 11 tỉnh thành của Việt Nam chỉ ra rằng chỉ có 11.2% người chồng hỗtrợ vợ NCBSM, còn lại là sự hỗ trợ từ các nguồn khác Qua đó, cho thấy sự hỗ trợ củangười cha tại Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức [4]

Tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu về sự hỗ trợ của người chồng/cha về việc NCBSM,đây sẽ là nghiên định hướng cho các chương trình can thiệp/nghiên cứu tiếp theo về thựchành bú sớm và BSMHT

Từ những luận điểm trên nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ nuôi con bằng

sữa mẹ của người cha tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương năm 2014” sẽ góp phần

đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ của người cha Từ đó nhằmđưa ra khuyến nghị thúc đẩy sự tham gia của người chồng/cha trong việc BSMHT vàchăm sóc dinh dưỡng của trẻ

Trang 6

Mục Tiêu

1 Mô tả thực trạng BSMHT tại các thời điểm 1 – 4 – 6 tháng ở huyện Kim Thành –

Hải Dương năm 2014

2 Mô tả sự hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ của người chồng tại các thời điểm 1 – 4 – 6

tháng ở huyện Kim Thành – Hải Dương năm 2014

3 Xác định mối liên quan giữa giữa một số yếu tố: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học

vấn, thu nhập, giới tính của con, số con hiện tại, tình cảm vợ chồng, kiến thức vàthái độ của người chồng với việc hỗ trợ vợ NCBSM tại huyện Kim Thành – HảiDương năm 2014

4 Xác định mối liên quan giữa thực hành hỗ trợ cho con bú và thực trạng cho con bú

ở các thời điểm tương ứng của người chồng ở huyện Kim Thành – Hải Dươngnăm 2014

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):

Sự khởi đầu tốt nhất cho trẻ bắt đầu bằng bú sữa mẹ, đó là một cách đơn giản nhất, thôngminh nhất và chi phí – hiệu quả thấp nhất cho sự phát triển khỏe mạnh và bền vững củatrẻ [36]

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo nên bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầucho tất cả trẻ đủ tháng khoẻ mạnh, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự tăng trưởng vàphát triển của trẻ [29]

Bú sớm là trẻ từ 0 – 2 tuổi( hoặc 0 - 4 tuổi ) được bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh[40]

Bú sữa mẹ hoàn toàn là trẻ sơ sinh 0-5,9 tháng tuổi được nuôi hoàn toàn vào sữa mẹ "Bú

mẹ hoàn toàn" được định nghĩa là không có thức ăn hoặc đồ uống khác, không phải ngay

cả nước, ngoại trừ sữa mẹ trong 6 tháng đầu, nhưng cho phép các trẻ sơ sinh để nhậnORS, thuốc nhỏ và si-rô (các vitamin, khoáng chất và thuốc) [40]

đó bảo vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn Sữa mẹ còn chứa các a-xít béocần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng [32, 42] và các chất có hoạt tính sinhhọc khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ do

bú sữa mẹ

1.3 Lợi ích của việc bú sữa mẹ:

Trang 8

1.3.1 Lợi ích cho trẻ:

Trẻ không bú sữa mẹ trong 1 tháng đầu có nguy cơ tử vong cao gấp 6 lần so với nhữngtrẻ được bú sữa mẹ và gấp 14 lần trong 6 tháng đầu, do không được bú sữa mẹ làm giatăng tử vong do nhiễm trùng [36]

Sữa mẹ không những có tất cả những dinh dưỡng mà em bé cần đến, mà nó còn làm giảmnguy cơ em bé có thể bị nhiễm trùng hoặc những bệnh như: Nhiễm trùng đường tiết niệuNhiễm trùng hệ tiêu hóa (chẳng hạn như bị tiêu chảy), Những bệnh về đường hô hấp(chẳng hạn như suyễn) Những loại ung thư ở trẻ em Bị béo phì, tiểu đường và bị bệnhtim về sau.[7, 30, 33, 41]

Cho bé bú sữa mẹ cũng làm giảm nguy cơ em bé bị dị ứng và không chịu được thức ăn,chẳng hạn như bệnh về tạng phủ Cho bé bú sữa mẹ thúc đẩy sự phát triển của hàm Tất

cả các lợi ích của sữa mẹ vẫn chưa được khám phá hết, vì vậy nó không thể được môphỏng trong sữa bột Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ ít mắc các bệnh nhiễm khuẩn và ít phảinhập viện hơn trẻ nuôi bằng sữa bột [36]

1.3.3. Nuôi con bằng sữa mẹ cũng giúp các bà mẹ tránh thai tốt hơn Các bà mẹ cho con

bú hoàn toàn thường không rụng trứng trong ít nhất sáu tháng sau khi sinh, trongkhi đó đối với các bà mẹ không cho con bú thì quá trình này có thể xảy ra ngaysau sáu tuần kể từ khi sinh con [28]

1.3.4 Lợi ích cho gia đình:

Nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm thiểu các chi phí tốn kém của việc cho trẻ bú bình Ướctính trung bình mỗi gia đình tiêu tốn khoảng VNĐ 800,000-1,200,000 đồng mỗi thángnếu cho trẻ ăn các sản phẩm thay thế sữa mẹ Chi phí này chiếm 53-79% thu nhập bìnhquân đầu người (VNĐ 18,227,000) - một phần khá lớn trong tổng thu nhập của một giađình [1]

Nhờ các lợi ích về mặt sức khỏe của nuôi con bằng sữa mẹ, các gia đình tiết kiệm đượcthời gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh [39]

Trang 9

Việc nuôi con bằng sữa mẹ rất thuận tiện; sẽ dễ dàng hơn khi cho con bú lúc đi xa nhà.Không cần mang theo bình sữa, làm sạch bình hay pha sữa công thức

1.3.5 Lợi ích cho xã hội:

Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đưa ra các con số về lợi ích của Nuôi con bằng sữa mẹhoàn toàn đối với hệ thống y tế nói riêng Ví dụ như ở Mỹ, một nghiên cứu năm 2001 chỉ

ra rằng nước này có thể giảm thiểu được một gánh nặng chi phí khoảng 3.6 tỷ đô la Mỹcho hệ thống y tế nếu tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tăng từ 29% lên 50% [39].Một nghiên cứu khác năm 2010 đưa ra một con số ấn tượng hơn, nếu 90% trẻ em Mỹđược bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, mỗi năm nước quốc gia này sẽ tiết kiệm được

13 tỷ đô la Mỹ cho các chi phí y tế và phòng tránh được 911 trường hợp tử vong ở trẻ[13].Việc nuôi con bằng sữa mẹ sẽ tốt hơn cho môi trường Không cần phải sản xuấtđóng hộp, chai bình, núm sữa và xà phòng để vệ sinh chúng [33]

Nếu nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu, các bà mẹ Việt Nam có thể tiếtkiệm một khoản tiền tương đương VNĐ 11,435,670,000,000 từ việc không chi tiêu chocác sản phẩm thay thế sữa mẹ [1]

1.3.6 Lợi ích cho doanh nghiệp:

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn có lợi cho doanh nghiệp về mặt lâu dài vì các bà mẹ ítphải nghỉ làm để chăm con ốm – điều này cũng có nghĩa là tạo ra một lực lượng lao động

ổn định Sữa mẹ cũng là một nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thực phẩm cho trẻ nhỏ

và các gia đình trên toàn thế giới khi có thiên tai hoặc khủng hoảng kinh tế Trong nhữngtrường hợp nguy cấp, nuôi con bằng sữa mẹ giúp bảo vệ trẻ khỏi các bệnh gây ra donguồn nước nhiễm bẩn và có thể ngăn ngừa tình trạng thân nhiệt thấp [1]

1.4 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu:

và cũng tỷ lệ đó với những trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ toàn Các dữ liệu chothấy rằng có 74 % trẻ được tiếp tục bú sữa mẹ đến lúc 1 tuổi Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 10

( WHO) khuyến cáo các bà mẹ nên cho con bú ít nhất tới 2 tuổi và xa hơn nữa, lúc thờiđiểm mà tỉ lệ cho con bú đến lúc 2 tuổi là 49% Ước tính về tỷ lệ nuôi dưỡng thích hợpcho trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi trên toàn thế giới thì bị hạn chế bởi các loại thức ăn rắn, bánrắn hoặc các loại thức ăn mềm lúc trẻ từ 6 – 8 tháng tuổi, có 65% trẻ em được hưởng lợi

từ việc thực hành này ( không tính Trung Quốc) Điều này cho thấy rằng việc truyềnthông hướng dẫn chế độ phù hợp với lứa tuổi của trẻ đã được cải thiện đáng kể [35]

Tỷ lệ thực hành cho con bú theo khuyến cáo của WHO rất khác nhau giữa các khu vục ỞTây và Trung Phi tỷ lệ cho con bú trong 1 giờ đầu sau sinh là 35% và ở Đông và NamPhi là 60% Về tiếp tục cho con bú đến 2 tuổi, mức độ dao động từ 21 % ở khu vực Đông

Á và Thái Bình Dương, đến 75% ở Nam Á

Biều đồ: Tỷ lệ được bú sữa mẹ 1 giờ đầu sau sinh, bú sữa mẹ hoàn toàn, nhận các loạithức ăn ngoài sữa mẹ và tiếp tục cho con bú đến lúc 2 tuổi trên toàn thế giới 2009 – 2013

Phân tích số liệu xu hướng trên 62 quốc gia (không bao gồm Brazil và Trung Quốc) thìtrong 1 thập kỉ qua, tình trạng BSMHT đã được cải thiện trên toàn thế giới và trong hầuhết các khu vực Các nước kém phát triển nhất đã đạt những thành tựu đáng kể, trong giaiđoạn từ năm 2000 đến 2012 tỷ lệ BSMHT trong 6 tháng đầu tăng từ 38% lên 50% Nhưng các nước khu vực châu Á thì lại cho thấy không có thay đổi nào đáng kể [35] Biểu đồ: Tỷ lệ trẻ sơ sinh bú sữa mẹ hoàn toàn ( 0 – 5 tháng tuổi) theo từng khu vực, từnăm 2000 đến 2012

Trang 11

Ở các nước Tây và Trung Phi trong những năm 90, tỷ lệ cho con bú hoàn toàn tăng từ 7%lên 18% Tuy nhiên, trong 1 thập kỉ gần đây thì sự tiến bộ trong việc cải thiện tình trạngcho bú rất ít Cần có những nỗ lực để lấy lại đã tăng trưởng ở những khu vực này và dựatrên những thành công hiện tại của các nước kém phát triển Ở các nước khác nhau, tỷ lệthực hành BSMHT phát triển không đồng đều giữa các năm đã được ghi nhận Điều nàycho thấy rằng sự cần thiết phải duy trì những thành tựu đã đạt được Khi so sánh tỉ lệ búsớm 1 giờ sau sinh ở 3 khu vực: Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe, Đông Á và Thái BìnhDương, Trung Đông và Bắc Phi, thì những người nghèo cho con bú 1 giờ sau sinh caohơn 20% so với những người dân giàu có ở trong cũng một khu vực Nhìn chung, so vớithế giới những trẻ ở khu vực nghèo khó của Nam Á gặp nhiều điều kiện bất lợi nhất choviệc bú sớm sau sinh, nhưng trẻ em nghèo ở nhóm các nước khu vực Châu Mỹ Latinh vàvùng Caribe có tỷ lệ bú sữa mẹ sau sinh một giờ cao nhất [35]

1.4.2 Châu Á:

Trang 12

Ở khu vực châu Á/ Thái Bình Dương, khoảng một nửa số quốc gia cung cấp dữ liệu có tỷ

lệ bú sữa mẹ hoàn toàn lớn hơn 40%, cụ thể 3/4 số trẻ ở CHDCND Triều Tiên, Sri Lanka,Campuchia và quần đảo Solomon được BSMHT, ở Ấn Độ là khoảng 1/2, khoảng 1/ 3 ởPhilippines, Indonesia và Malaysia Tỷ lệ BSMHT thấp, dưới mức 20% ở Thái Lan vàViệt Nam Ở một số nước trong khu vực như Lào, Mông Cổ, Việt Nam BSMHT đượcphổ biến hơn ở những phụ nữ nghèo và chỉ có 1/4 hay ít hơn số phụ nữ giàu có ở Lào,Việt Nam, Thái Lan cho con BSMHT trong 6 tháng đầu Campuchia đã có những nỗ lựcđáng kể trong việc cải thiện cho con bú Tháng 6/2004, chính phủ Campuchia đã tuyên bốrằng bú sữa mẹ sớm và hoàn toàn trong 6 tháng đầu là can thiệp ưu tiên hàng đầu để hỗtrợ trong việc giảm tỷ lệ tử vong trẻ em Trong vòng 18 tháng, ở quốc gia này dã diễn racác hoạt động truyền thông nâng cao tỷ lệ cho con bú Tỷ lệ BSMHT cho trẻ dưới 6 thángtăng từ 7% năm 2000 lên 60% vào năm 2005, tương ứng với số trẻ vừa không hoàn toàngiảm từ 67% xuống 28% [27]

1.4.3 Việt Nam:

Theo Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến 2030

do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chỉ tiêu đầu tiên của mục tiêu 5 là tăng tỷ lệ BSMHTtrong 6 tháng đầu đạt 27% vào năm 2015, và 35% vào năm 2020 [9] Mặc dù sữa mẹ làcông thức dinh dưỡng hoàn hảo nhất cho trẻ 6 tháng đầu đời của trẻ, hiện Theo kết quả

Trang 13

công bố của Viện Dinh dưỡng Quốc gia thì tỷ lệ NCBSHT trong 6 tháng đầu trên toànquốc chỉ chiếm 19.6% [5] Tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều so với tỉ lệ trung bình của thế giới

- 35% các bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Nghiên cứu cắt ngang tại 11 tỉnh của dự án Alive & Thrive ( A&T) trong vòng 5 năm( 2010 – 2014) Bảng số liệu cho thấy về tỷ lệ bà mẹ thực hiện NCBSM theo khuyến cáocủa Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Gần như tất cả trẻ em đã từng được bú sữa mẹ Chỉ có0,5% trẻ không được bú mẹ Một nửa trong số 10,834 bà mẹ có trẻ dưới 24 tháng tuổi(50,5%) nói rằng họ bắt đầu cho bú trong vòng 1 giờ sau khi sinh Các bà mẹ có con từ 6đến 23,9 tháng tuổi có nhiều khả năng họ cho con bú trong 1 giờ đầu sau sinh cao hơn sovới các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi (51,7% so với 49,5%) Chỉ 1/5 (20%) trẻ sơ sinhdưới 6 tháng tuổi được cho bú mẹ hoàn toàn, và 54,6% trẻ ở độ tuổi này được bú mẹ làchủ yếu Tỷ lệ tiếp tục cho bú tới khi trẻ 1 tuổi khá cao (79,5%) nhưng tỷ lệ cho trẻ bú mẹtới 2 tuổi chỉ là 18,2% [4]

Bảng thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong tổng số đối tượng tham gia của dự án Alive

& Thrive ( n = 10,834)

Trang 14

Biểu đồ Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn và bú mẹ là chủ yếu theo tuổi (n=6,068)

Biểu đồ thể hiện sự giảm đều theo độ tuổi của việc bú mẹ hoàn toàn và bú mẹ là chủ yếu

ở trẻ dưới 6 tháng tuổi Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn giảm từ 41,4% ở trẻ sơ sinh dưới 1 thángtuổi tới chỉ 6,2% ở trẻ 5 tháng tuổi, và tỷ lệ bú mẹ là chủ yếu đã giảm từ 81,9% xuống21,7% trong cùng khoảng thời gian [4]

Không cho con bú sớm, không cho con bú hoàn toàn và không tiếp tục cho con bú lâudài cũng như thiếu chế độ ăn bổ sung phù hợp đã dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng vềsức khỏe của trẻ Điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2010 về tỉ lệ suy dinhdưỡng cho thấy trẻ em nước ta là 17,5% (chỉ tiêu cân nặng/tuổi), 20/63 tỉnh, thành cómức SDD trẻ em trên 20% (xếp ở mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới) Tỷ

lệ trẻ em SDD theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi (SDD thể thấp còi) năm 2010 toàn quốc là29,3%, trong đó xét theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới có đến 31 tỉnh tỷ lệ trên30% (mức cao), 2 tỉnh trên 40% (mức rất cao) Ước tính đến năm 2010, nước ta còn gần1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng nhẹ cân, khoảng 2,1 triệu trẻ em SDD thấpcòi và khoảng 520.000 trẻ em SDD gầy còm [5]

Có nhiều yếu tố góp phần đến suy dinh dưỡng Một trong những quan trọng nhất là tỷ lệthấp của BSMHT từ lúc sinh ra đến sáu tháng đầu Các nghiên cứu đã chỉ ra rằngBSMHT là một trong những biện pháp can thiệp hiệu quả nhất để chống lại tỷ lệ tử vongtrẻ em [38] Bằng việc cải thiện những thực hành dinh dưỡng của bà mẹ dành cho trẻtrong 24 tháng đầu đời, chúng ta có thể giảm tỷ lệ thấp còi và qua đó tăng cường sức

Ngày đăng: 13/11/2016, 20:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

( 2010 – 2014) Bảng số liệu cho thấy về tỷ lệ bà mẹ thực hiện NCBSM theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) - Đề cương KIẾN THỨC, THÁI độ và sự hỗ TRỢ NUÔI CON BẰNG sữa mẹ của NGƯỜI CHỒNG có vợ làm CÔNG NHÂN tại HUYỆN cẩm GIÀNG, TỈNH hải DƯƠNG năm 2015
2010 – 2014) Bảng số liệu cho thấy về tỷ lệ bà mẹ thực hiện NCBSM theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w