1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN sáng kiến kinh ngiệm phát huy năng lực tính toán hóa học thông qua giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8

22 469 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 322 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tùy theo nội dung bài tập, việc giải nó sẽ giúp học sinh củng cố, mởrộng các kiến thức đã học vào trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp vàđời sống hàng ngày.Theo chương trình

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHA TRANG

TRƯỜNG THCS LÝ THÁI TỔ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

PHÁT HUY NĂNG LỰC TÍNH TOÁN HÓA HỌC THÔNG QUA GIẢI

TOÁN TÍNH THEO PHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC LỚP 8,

TẠI TRƯỜNG THCS LÝ THÁI TỔ, NHA TRANG.

Tên tác giả: Võ Minh Trí

GV môn: Hóa

Kèm theo (nếu có): đĩa CD

NĂM HỌC 2014 – 2015

Trang 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Lí do chọn đề tài:

Với sự phát triển của khoa học công nghệ trong tất cả các lĩnh vực, thì việchiểu biết về kiến thức cuộc sống là một phần tất yếu của loài người Đặc biệt làgiáo dục con người trong thời đại ngày nay Nói cách khác, đối với giáo dục và đàotạo có tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học Chính vìvậy giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển, thôngqua việc cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cho xã hội

Trước xu thế của thời đại, Đảng và nhà nước ta luôn có chủ trương khuyếnkhích việc vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, nhất là các bộmôn khoa học thực nghiệm Từ đó đẩy mạnh vai trò tính thực tiễn trong việc giáodục học sinh ngày nay

Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có tầm quan trọng trong trườngphổ thông Đây là môn học được nhiều học sinh yêu thích và càm thấy hứng thú,say mê trong tiết học Tuy nhiên đó lại là môn học khô khan, nhàm chán thậm chí

là sợ của một nhóm học sinh Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tậpcủa học sinh Như vậy, nguyên nhân của những bất cập trên là do đâu?

Giải các bài tập hóa học có mục đích củng cố, hoàn thiện kiến thức học trongchương trình, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đó vào sản xuất, đời sống, đồngthời từ nội dung bài tập có thể mở rộng, đi sâu và rút ra những kiến thức mới Mộtcách khái quát, có thể nói rằng, giải các bài tập hóa học là phương tiện quan trọngtrong việc phát triển tư duy của học sinh Thật vậy, để giải bài tập ( bài tập địnhtính cũng như định lượng) học sinh phải hiểu kĩ các dữ kiện, xác định các bước giải

và thực hiện các thao tác cân thiết Muốn thế, học sinh cần phân tích các dữ kiệncủa bài tập hiểu rõ cái đã biết, cái cần tìm, xác lập trình tự giải, vận dụng nhữngkiến thức đã học có liên quan cần thiết để giải Bởi vậy, khi giải bài tập, những kiếnthức học sinh đã lĩnh hội trong quá trình dạy và học được củng cố, đào sâu và vậndụng

Người thầy giáo hóa học, thông qua việc giải bài tập của học sinh: giải đúnghoặc không đúng giúp thầy giáo phân tích, giải thích và kết luận

Khi giải bài tập đúng, người thầy giáo biết rằng học sinh nắm được kiếnthức, biết vận dụng vào trường hợp cụ thể và như vậy là các kiến thức đã học đượccủng cố

Khi học sinh không giải được bài tập hoặc bài tập giải không chính xác,người thầy giáo hiểu rằng cần phải sửa chữa, giải thích, bổ sung những thiếu xótcủa học sinh Bằng lời giải thích rõ ràng, phân tích chi tiết, cẩn thận những sai sótcủa học sinh về kiến thức, về phương pháp và các thao tác

Giải bài tập của học sinh, các thiếu sót sẽ được sửa chữa, kiến thức được mởrộng và đào sâu Thực tế giảng dạy hóa học ở trung học cơ sở cũng chứng tỏ rằng,ngay cả khi học sinh thuộc, hiểu các kiến thức nhưng vận dụng được để giải bài tậpcũng còn có khoảng cách Trong trường hợp này, việc giải bài tập hóa học còn có

Trang 3

tác dụng rèn luyện học sinh kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào những trườnghợp cụ thể Tùy theo nội dung bài tập, việc giải nó sẽ giúp học sinh củng cố, mởrộng các kiến thức đã học vào trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp vàđời sống hàng ngày.

Theo chương trình qui định, bộ môn hóa học chỉ được học ở 2 năm cuối củachương trình phổ thông cấp II Vì học sinh có thể chỉ tiếp thu được môn học nàytrên cơ sở đã có những tích lũy kiến thức nhất định về toán học đặc biệt là vật líhọc những kiến thức hóa học mở đầu khá trừu tượng học sinh không thể quan sátđược, do đó rất khó nhớ, khó hình dung Việc sử dụng hệ thống bài tập, nhất lànhững bài tập định lượng giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc hiểu, nắm vữngnhững khái niệm này Trong khi giải bài tập, giúp học sinh sẽ có điều kiện vậndụng những kiến thức liên quan đến vật lí và toán học, biết sử dụng các thao táctoán học để giải bài tập tính toán về hóa học để hiểu rõ hơn mặt định lượng của hóahọc Như vậy, trong quá trình dạy giải bài tập hóa học, đã thực hiện việc dạy liênmôn, đó là nguyên tắc mang tính chất hiện đại trong phương pháp dạy – học đangthực hiện rộng rãi hiện nay trong các trường phổ thông Điều này cũng chỉ ra tínhthống nhất của tự nhiên, góp phần hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh

Trong quá trình giải bài tập xuất hiện các hoạt động tư duy phức tạp của họcsinh: suy nghĩ ( nhớ, vận dụng kiến thức) và hành động ( các thao tác) Tác độngtương hỗ giữa kiến thức và hành động là cơ sở hình thành tư duy của học sinh:phân tích, tổng hợp, lập luận Kiến thức học sinh sử dụng để giải bài tập được chiathành 2 loại: kiến thức thu được khi học sinh phân tích các dữ kiện của bài toán hóahọc và kiến thức mà học sinh lĩnh hội được khi học tập bộ môn Đó là các kiến thức

về các cơ sở lí thuyết hóa học, các định luật hóa học, các khái niệm hóa học, cáccông thức và phương trình hóa học, các tính chất lí, hóa học của các chất Với nộidung thích hợp, bài tập giúp nêu lên tình trạng có vấn đề, nó thu hút sự chú ý, lôicuốn học sinh vào mọi quá trình tiếp thu bài giảng, kiểm tra, củng cố các kiến thức

đã học…

Môn Hóa học là môn học thực nghiệm nhưng để học sinh học tốt môn Hóahọc thì điều đầu tiên học sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản đặc biệt làkiến thức của lớp 8 Và bắt đầu từ năm học 2014 – 2015 thực hiện việc dạy học,kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh Bài tập hoá họccũng là một trong những nguồn hình thành kiến thức, kỹ năng, phát triển năng lựccho học sinh, giúp học sinh tự lực và chủ động hơn nữa trong việc đi tìm kiến thứcmới Vậy muốn giải được một bài tập Hóa học thì học sinh phải nắm vững kiếnthức, mà giải bài tập theo phương trình hóa học là kiến thức xuyên suốt trong họctập môn Hóa học của học sinh Đối với học sinh lớp 8 mới tiếp xúc với bộ mônHóa học nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải một bài tập Hóa học dạng tínhtheo phương trình hóa học và đặc biệt là năng lực tính toán Hóa học của học sinh

còn rất hạn chế Nên chính vì vậy tôi chọn đề tài: “Phát huy năng lực tính toán

Hóa học thông qua giải toán tính theo phương trình Hóa học lớp 8, tại Trường

Trang 4

mình với các đồng nghiệp nhằm thúc đẩy học sinh tiến bộ trong việc giải các bàitập dạng tính theo phương trình Hóa học lớp 8.

2.Mục đích của đề tài:

Giúp học sinh hình thành được năng lực tính toán Hóa học, giải thành thạodạng toán tính theo phương trình Hóa học 8 thường gặp trong thi cử, thi tuyển sinh

Từ đó tạo cho học sinh tự tin, hứng thú và say mê khi học môn hóa học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu :

- Khách thể nghiên cứu: Phát huy năng lực tính toán Hóa học thông qua giảitoán tính theo phương trình Hóa học lớp 8

- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 8/3 và 8/5 Trường THCS Lý Thái Tổ,Nha Trang

4 Giả thuyết khoa học

- Học sinh biết tìm hiểu đề bài và đưa ra được hướng giải các bài tập tính theophương trình Hóa học Hình thành được ở học sinh kỹ năng tính theo phương trìnhHóa học

- Học sinh nắm lại được những kiến thức cơ bản của bộ môn Củng cố và khắc sâunhững kiến thức đã học một cách có hệ thống

- Phát huy được năng lực tính toán Hóa học của học sinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề : Hóa học là khoa học vừa mang tính lýthuyết vừa mang tính thực nghiệm, có nhiều khả năng giúp học sinh phát triển tưduy, năng lực nhận thức nếu việc dạy và học môn học này được tổ chức đúng đắn,khoa học Do vậy, việc dạy của giáo viên là làm cho học sinh nắm vững kiến thức,

kĩ năng, kĩ xảo một cách tích cực, tự giác và chủ động Trên cơ sở đó phát triểnnăng lực nhận thức như: tri giác, trí nhớ, tư duy, hứng thú học tập, kĩ năng sáng tạođồng thời phát triển năng lực hành động như: tư duy logíc, trí thông minh, óc sángtạo, kĩ năng tự học và hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Do đó, giáoviên phải chuẩn bị về mặt tâm lí giáo dục, động cơ để giúp học sinh sẵn sàng họctập, kích thích và duy trì hứng thú của học sinh đối với việc học Hóa học Việctruyền thụ những kiến thức hóa học gắn với thực tiễn sản xuất, sử dụng nhữngphương pháp giảng dạy khác nhau, hướng dẫn học sinh tự học tập ở nhà và cáchtiếp thu bài trên lớp, tổ chức cho học sinh rèn kĩ năng, kĩ xão qua các thí nghiệmthực hành hóa học, kĩ năng áp dụng kiến thức đã học vào giải thích các hiện tượngxảy ra trong thiên nhiên, cuộc sống và đặc biệt là kĩ năng giải bài tập ở mức độ cấpTHCS

- Khảo sát đánh giá thực trạng của vấn đề: Trong quá trình giải bài tập xuấthiện các hoạt động tư duy phức tạp của học sinh: suy nghĩ ( nhớ, vận dụng kiếnthức) và hành động ( các thao tác) Tác động tương hỗ giữa kiến thức và hành động

Trang 5

là cơ sở hình thành tư duy của học sinh: phân tích, tổng hợp, lập luận Kiến thứchọc sinh sử dụng để giải bài tập được chia thành 2 loại: kiến thức thu được khi họcsinh phân tích các dữ kiện của bài toán hóa học và kiến thức mà học sinh lĩnh hộiđược khi học tập bộ môn Đó là các kiến thức về các cơ sở lí thuyết hóa học, cácđịnh luật hóa học, các khái niệm hóa học, các công thức và phương trình hóa học,các tính chất lí, hóa học của các chất Với nội dung thích hợp, bài tập giúp nêu lêntình trạng có vấn đề, nó thu hút sự chú ý, lôi cuốn học sinh vào mọi quá trình tiếpthu bài giảng, kiểm tra, củng cố các kiến thức đã học…

- Đề xuất những biện pháp (giải pháp) ứng dụng cải tạo hiện thực liên quan:+ Giáo viên trang bị cho Học sinh vốn kiến thức cơ bản về Hóa học, nếu cầngiáo viên ghi tóm tắt và hướng dẫn Học sinh cách ghi nhớ

+ Giáo viên chú ý chọn các bài tập nâng cao từ dễ đến khó tạo sự tích cực,tính độc lập và sáng tạo cho Học sinh

+ Quan trọng hơn là giáo viên giúp Học sinh phân tích, tìm hiểu kỹ đề bàiqua đó định hướng được phương pháp giải

+ Sau đó giáo viên cho thêm bài tập tương tự, mức độ nâng dần lên để hìnhthành ở học sinh kỹ năng giải bài tập Hóa học

6 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Phát huy năng lực tính toán Hóa học thông qua giảitoán tính theo phương trình Hóa học lớp 8

- Thời gian nghiên cứu:

+ Thời gian bắt đầu: 20/10/2014+ Thời gian kết thúc: 20/01/2015

- Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 8/3 và 8/5 – Trường THCS Lý Thái Tổ, Nha

Trang

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tham khảo tài liệu: nghiên cứu một số tài liệu về phươngpháp giải các bài toán có liên quan đến phạm vi nghiên cứu, các định luật hóa học

- Phương pháp trao đổi kinh nghiệm: tiến hành trao đổi kinh nghiệm, học hỏi

từ đồng nghiệp, các kiến thức có liên quan đến việc nghiên cứu và tích lũy qua cáctiết dự giờ từ đồng nghiệp

Trang 6

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.Cở sở lí luận:

Luật giáo dục năm 2005 ( điều 5) quy định “phương pháp giáo dục phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập

và ý chí vươn lên”

Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cánhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hộichủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếptục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ –BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp vớiđặc trưng môn học, đặc điểm, đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồidưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú vàtrách nhiệm học tập cho học sinh

2.Thực trạng:

Trong các năm học qua, bản thân tôi được tham gia dự giờ, thao giảng, hộigiảng, dự chuyên đề và tham dự tập huấn: “ Dạy học, kiểm tra, đánh giá theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh

- Bên cạnh đó, tại đơn vị trường THCS Lý Thái Tổ vẫn còn những khó khănnhất định ảnh hưởng đến việc dạy và học:

+ Nhiều Học sinh ở xa Trường nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn, trình độdân trí chưa cao, kinh tế còn khó khăn, nhiều phụ huynh chưa thực sự quan tâm tớiviệc học của con em mình và một vấn đề nữa đó là các em chưa có nhận thức đúngđắn về tầm quan trọng của việc học tập

+ Trình độ nhận thức của học sinh có sự khác biệt lớn do khác nhau về mứcsống, động cơ học tập của nhiều học sinh chưa có

- Kiến thức môn Hóa học là một môn học hoàn toàn mới lạ đới với học sinhnên các em rất khó tiếp thu kiến thức nên vận dụng vào giải bài tập còn khó hơn.Đặc biệt đối với học thường học thuộc theo sách giáo khoa cũng như vận dụng giảibài tập một cách máy móc theo bài tập mà giáo viên đã giải

Với thực trạng của tất cả học sinh nói chung và học sinh trường THCS LýThái Tổ nói riêng việc học môn Hóa học sẽ rất khó khăn cho các em trong việc vậndụng kiến thức giải bài tập Vì vậy, giáo viên phải luôn phát hiện, tìm tòi các giảipháp hình thành cho các em có năng lực tính toán Hóa học thông qua giải bài tậptính theo phương trình hóa học

Qua kết quả điều tra ngay sau khi học sinh đã học 2 tiết của chương trình hóahọc lớp 8 bài “Tính theo phương trình hóa học” tôi nhận thấy học sinh vận dụng đểgiải bài tập hóa học còn yếu, đặc biệt đối với bài tập “Tính theo phương trình hóa

Trang 7

học” Do vậy, tôi quyết định tăng cường phát huy năng lực tính toán Hóa học thôngqua giải bài tập dạng tính theo phương trình hóa học cho học sinh nhằm góp phầnnâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn nói riêng và của toàn trường nói chung.

Thống kê bài kiểm tra 1 tiết đầu năm của năm học 2013 – 2014 đối với khốilớp 8 mà tôi giảng dạy có kết quả như sau:

Sốlượng

Để giúp các em hiểu rõ hơn về phương pháp giải bài tập hóa học, đặc biệt lànhững dạng bài tập và phương pháp rất gần gũi với các em Tôi đã chọn vấn đề:

“Phát huy năng lực tính toán Hóa học thông qua giải toán tính theo phương trình Hóa học lớp 8, tại Trường THCS Lý Thái Tổ, Nha Trang ” để nghiên

cứu và tìm biện pháp phù hợp cho các em

3.Các biện pháp tiến hành:

Để giải tốt các dạng bài tập, đòi hỏi học sinh phải nắm vững các điểm líthuyết quan trọng về hóa học ở cấp bậc THCS, đồng thời phải ứng dụng linh hoạtnhững lí thuyết đó vào từng dạng bài toán cụ thể

Như vậy, để rèn cho học sinh có một kĩ năng giải bài tập tính theo phươngtrình hóa học cần phải tiến hành các bước sau:

- Viết phương trình hóa học

- Chuyển đổi khối lượng chất hoặc thể tích chất khí thành số mol chất

- Dựa vào phương trình hóa học để tìm số mol chất tham gia hoặc chất tạothành

- Chuyển đổi số mol chất thành khối lượng hoặc thể tích chất khí ở điều kiệntiêu chuẩn (dựa vào các công thức tính toán có liên quan)

Các em muốn giải được một bài toán hóa học thì phải ghi nhớ tối thiểu cáccông thức để tính toán cơ bản ở cấp THCS:

- Mối quan hệ giữa khối lượng và lượng chất

Trang 8

m = n.M

m : Khối l ợng

n : Số mol

M : Khối l ợng mol

- Mối quan hệ giữa thể tớch và lượng chất ở trạng thỏi khớ lớ tưởng (00C và

1atm) ( điều kiện tiờu chuẩn)

Ta cú cụng thức sau:

V = n.22,4

V: thể tích của chất khí xác định ở đktcn: số mol của chất khí

22,4: thể tích mol ở đktc

- Ở điều kiện phũng (đkP) (200C và 1atm) ta cú cụng thức sau:

V = n.24

V: thể tích của chất khí xác định ở đkPn: số mol của chất khí

24: thể tích mol ở đkP

* Cỏc biện phỏp cụ thể:

a.Đối với giỏo viờn:

-Phải hệ thống húa kiến thức trọng tõm cho học sinh một cỏch khoa học

-Nắm vững cỏc phương phỏp giải bài tập và xõy dựng hệ thống bài tập phải thật sự

đa dạng, nhưng vẫn đảm bảo trọng tõm của chương trỡnh phự hợp với đối tượnghọc sinh

-Tận dụng mọi thời gian để cú thể hướng dẫn giải được lượng bài tập phự hợp nhất,

cú hiệu quả nhất cho việc học và học sinh dễ hiểu nhất

-Luụn quan tõm và cú biện phỏp giỳp đỡ cỏc em học sinh cú học lực trung bỡnh,yếu Khụng ngừng tạo tỡnh huống cú vấn đề đối với cỏc em học sinh khỏ giỏi…

b.Đối với học sinh:

+)Về kiến thức:

-Là phương tiện để ụn tập củng cố, hệ thống húa kiến thức một cỏch tốt nhất

-Rốn khả năng vận dụng kiến thức đó học, kiến thức tiếp thu được qua bài giảngthành kiến thức của mỡnh, kiến thức được nhớ lõu khi được vận dụng thườngxuyờn

-Đào sõu, mở rộng kiến thức đó học một cỏch sinh động, phong phỳ, hấp dẫn

-Rốn kĩ năng húa học cho học sinh khả năng tớnh toỏn một cỏch khoa học

-Phỏt triển năng lực nhận thức rốn trớ thụng minh cho học sinh

+)Về thỏi độ:

Trang 9

-Làm cho các em yêu thích, đam mê học môn hóa học khi đã hiểu rõ vấn đề.

-Phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phântích khoa học

+)Về năng lực:

-Phát triển năng lực tính toán của Học sinh

3.1 Các dạng bài tập tính theo phương trình hoá học trong phạm vi THCS:

Dựa vào những bài tập trong sách giáo khoa, tôi đã tổng hợp và đưa ra cácdạng bài tập ở cấp THCS nói chung và đặc biệt đối với học sinh lớp 8 nói riêng,gồm các dạng sau:

+ Dạng bài toán chỉ cho 1 dữ kiện và yêu cầu tìm số mol của các chất theoyêu cầu của đề bài đã cho

+ Dạng bài toán cho số mol của 2 chất tham gia và yêu cầu lập tỉ lệ hệ sốphản ứng của các chất, sau đó rút ra tỉ lệ số mol giữa các chất, rồi tìm số mol cácchất theo tỉ lệ giữa các chất vừa thu được ở phương trình hoá học

+ Dạng bài toán cho số mol của 1 chất tham gia và số mol của một chất sảnphẩm, yêu cầu tìm số mol của các chất theo số mol của các chất sản phẩm

3.2 Định hướng các bước giải bài tập:

Bước 1: Đổi dữ kiện của đề bài đã cho ra số mol

Bước 2: Viết phương trình phản ứng hoá học xảy ra

Bước 3: Tìm tỉ lệ số mol của các chất tham gia, các chất tạo thành sau phảnứng

Bước 4: Từ tỉ lệ số mol theo phương trình hóa học tìm số mol của các chất cóliên quan, rồi tính toán theo yêu cầu của đề bài và kết luận

* Nghiên cứu đề bài: Từ khối lượng của Al ban đầu, ta phải đổi ra số mol,

sau đó dựa vào phương trình hoá học, lập tỉ lệ giữa các chất phản ứng, thông qua đótìm được số mol của các chất liên quan Sau khi đã tìm được số mol của các chất cóliên quan thì tính toán theo yêu cầu của đề bài và kết luận

* Định hướng các bước giải:

Bước 1: Đổi dữ kiện đề bài cho ra số mol:

Số mol của 5,4 gam Al là:

Trang 10

nAl = 0 , 2

27

4 , 5 M

m Al

Bước 2: Viết phương trình hoá học xảy ra:

Bước 3: Dựa vào phương trình hoá học và tỉ lệ số mol giữa các chất, tìm ra

số mol của các chất có liên quan theo yêu cầu của đề bài

Từ các dữ kiện đã cho tìm được số mol các chất có liên quan:

+ Số mol AlCl3 sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là:

x = = 0,2 (mol)+ Số mol khí H2 sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là:

y = = 0,3 (mol)Bước 4: Sau khi tìm được số mol của các chất có liên quan đến yêu cầu đềbài, chúng ta sẽ chuyển từ số mol tính được về các đại lượng mà đề bài yêu cầu

Khối lượng của AlCl3 thu được sau khi phản ứng kết thúc là:

a Lập phương trình hoá học của phản ứng trên

b Tính khối lượng FeSO4 sinh ra và khối lượng của H2SO4 tham gia phảnứng Biết rằng sau khi phản ứng kết thúc thấy có 4,48 (l) khí H2 thoát ra ở đktc

* Nghiên cứu đề bài: Từ thể tích H2 thoát ra sau phản ứng ta phải đổi ra sốmol, sau đó dựa vào PTHH đã cân bằng để lập tỉ lệ phản ứng để tìm ra số mol cácchất có liên quan theo yêu cầu của đề bài Sau khi tìm được số mol của các chất cóliên quan, ta tính toán và chuyển đổi về đại lượng mà đề bài đã yêu cầu

* Định hướng các bước giải:

Bước 1: Đổi dữ kiện đề bài cho ra số mol

Số mol của khí H2 thoát ra sau khi phản ứng kết thúc là:

2 2

4, 48

0, 2( )

22, 4 22, 4

H H

V

n    mol

Bước 2: Viết phương trình hoá học

Bước 3: Dựa vào phương trình hoá học và tỉ lệ số mol giữa các chất, tìm ra

số mol của các chất có liên quan theo yêu cầu của đề bài

Trang 11

SPƯ x mol y mol 0,2 mol

Từ các dữ kiện đã cho tìm được số mol các chất có liên quan

+ Số mol của FeSO4 sinh ra sau khi phản ứng kết thúc là:

y = = 0,2 (mol)+ Số mol của H2SO4 tham gia phản ứng là:

x = = 0,2 (mol)Bước 4: Sau khi tìm được số mol của các chất có liên quan đến yêu cầu đềbài, chúng ta sẽ chuyển từ số mol tính được về các đại lượng mà đề bài yêu cầu

+ Khối lượng của FeSO4 sinh ra sau khi phản ứng kết thúc là:

) g ( 4 , 30 152 2 , 0 M

n m

4 4

4 FeSO FeSO

+ Khối lượng của H2SO4 tham gia phản ứng là:

) g ( 6 , 19 98 2 , 0 M

n m

4 2 4 2 4

* Định hướng các bước giải: Ta coi phần ý b của bài tập là một bài tập khác

để tiện cho tính toán

a Tính khối lượng của KCl và thể tích khí O 2 (ở đktc) thu được khi nhiệt phân 73,5 g KClO 3

Bước 1: Đổi dữ kiện đề bài cho ra số mol

Số mol KClO3 ban đầu là:

3 3

3

73,5

0, 6( ) 122,5

KClO KClO

Bước 3: Dựa vào phương trình hoá học và tỉ lệ số mol giữa các chất, tìm ra

số mol của các chất có liên quan theo yêu cầu của đề bài

o

t

Từ các dữ kiện đã cho tìm được số mol các chất có liên quan

Ngày đăng: 23/10/2016, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w