Do đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở khu vực các xã ven biển huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” là
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
ĐỖ QUANG TRUNG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO THIÊN TAI TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC XÃ VEN BIỂN
HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
ĐỖ QUANG TRUNG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO THIÊN TAI TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC XÃ VEN BIỂN
HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Minh Đức
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Minh Đức không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Đỗ Quang Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS,TS Đỗ Minh Đức, Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới lãnh đạo Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Nam Định đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi hoàn thành khóa luận này
Em xin trân tro ̣ng cảm ơn các thầy, cô Khoa Sau Đại học- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt nhiều kiến thức chuyên môn cho em trong suốt thời gian học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, giúp đỡ trong suốt qúa trình đào tạo này
Hà Nội, tháng năm 2016
Học viên
Đỗ Quang Trung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Những đóng góp của đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Về giới hạn nội dung nghiên cứu 5
CHƯƠNG I 6
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Các khái niệm về thiên tai và BĐKH 6
1.1.1 Khái niệm về thiên tai 6
1.1.2 Khái niệm về biến đổi khí hậu 8
1.2 Tổng quan về xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam và trên thế giới 9
1.2.1 Xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam 9
1.2.2 Bối cảnh biến đổi khí hậu trên thế giới 13
1.3 Tình hình nghiên cứu về đánh giá rủi ro và đề xuất biện pháp thích ứng với thiên tai trong bối cảnh BĐKH ở Việt Nam và các nước Châu Á 14
1.3.1 Tình hình khu vực Châu Á 14
1.3.2 Tình hình Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 21
CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu 26
2.2.2 Phương pháp thống kê 27
CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC 31
VEN BIỂN HẢI HẬU TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 31
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội các xã ven biển huyện Hải Hậu 31
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
3.1.2 Kinh tế xã hội các xã, thị trấn ven biển 36
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Các dạng thiên tai tại khu vực ven biển Hải Hậu 46
4.1.1 Bão, áp thấp nhiệt đới 46
4.1.2 Ngập lụt 51
4.1.3 Xâm nhập mặn 55
4.1.4 Nước biển dâng, triều cường 57
4.1.5 Xói lở bờ biển 60
4.2 Đặc điểm rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở khu vực ven biển Hải Hậu 62
4.2.1 Rủi ro về biến động, thu hẹp tài nguyên đất 63
4.2.2 Rủi ro về suy giảm diện tích rừng ven biển 73
4.2.3 Rủi ro về chất lượng nước ven bờ 75
4.2.4 Rủi ro về mất ổn định đê, kè biển 76
4.2.5 Rủi ro về sinh kế của người dân 78
4.2.6 Rủi ro liên quan đến khu dân cư, cơ sở hạ tầng du lịch 82
4.2.7 Sức khỏe, phúc lợi xã hội 86
4.3 Đề xuất giải pháp thích ứng 87
4.3.1 Giải pháp tổng thể cho hoạt động thích ứng 87
4.3.2 Giải pháp thích ứng cụ thể 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Ý nghĩa
GNRRTT Giảm nhẹ rủi ro thiên tai
TƢBĐKH Thích ứng biến đổi khí hậu
QLRRTT Quản lý rủi ro thiên tai
GNRRTT Giảm nhẹ rủi ro thiên tai
ƢPBĐKH Ứng phó biến đổi khí hậu
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhận diện các dạng rủi ro thiên tai và cấp độ rủi ro 21 Bảng 2.2 Phân loại xoáy thuận nhiệt đới theo sức gió mạnh nhất và
Bảng 3.5 Mức thay đổi tỷ lệ (%) lƣợng mƣa đến năm 2030 so với
thời kỳ chuẩn 1980 - 1999 của Nam Định ứng với kịch bản phát thải từ thấp đến cao
kịch bản phát thải trung bình (B2) trên địa bàn tỉnh Nam Định
53
Bảng 4.5 Lƣợng mƣa TB của tỉnh Nam Định từ năm 2020-2100 so
với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Trang 9Bảng 4.9 Mực NBD so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát
thải trung bình (B2) khu vực tỉnh Nam Định
58
Bảng 4.10 Diễn biến xói lở bờ biển huyện Hải Hậu 60 Bảng 4.11 Các đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH 63 Bảng 4.12 Biến động diện tích đất 5 xã, T.T Thịnh Long (2010-2014) 65 Bảng 4.13 Diễn biến của hệ thực vật rừng trồng phi lao (2010- 2014) 74 Bảng 4.14 Khối lượng đất, đá trượt, sạt lở, xói mòn, rửa trôi hệ thống
thủy lợi, đê sông, đê biển, vùng bối tỉnh Nam Định qua các năm
78
Bảng 4.15 Diện tích NTTS năm 2014 của các xã, trị trấn ven biển Hải
Hậu
79
Bảng 4.16 Diện tích sản xuất diêm nghiệp năm 2014 của các xã, trị
trấn ven biển Hải Hậu
80
Bảng 4.17 Diện tích canh tác lúa năm 2014 của các xã, 80 Bảng 4.18 Đánh giá thiệt hại kinh tế xã hội do thiên tai (2010-2013) 83
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 4.7 Sơ đồ vận chuyển trầm tích tại vùng ven biển Hải Hậu 64
Hình 4.8 Bản đồ khu vực chịu tác động rủi ro thiên tai (2010-2014) 66 Hình 4.9 Bản đồ khu vực chịu tác động rủi ro thiên tai (tại thị trấn
Hình 4.10 Bản đồ khu vực chịu tác động rủi ro thiên tai (tại xã Hải
Hình 4.11 Bản đồ khu vực chịu tác động rủi ro thiên tai
(tại xã Hải Triều giai đoạn 2010-2014)
69
Hình 4.12 Bản đồ khu vực chịu tác động rủi ro thiên tai
(tại xã Hải Chính giai đoạn 2010-2014)
70
Hình 4.13 Bản đồ khu vực chịu tác động rủi ro thiên tai (tại xã Hải
Lý giai đoạn 2010-2014)
71
Trang 11Hình 4.14 Bản đồ khu vực chịu tác động rủi ro thiên tai
(tại xã Hải Đông giai đoạn 2010-2014)
72
Hình 4.15 Quá trình ảnh hưởng của NBD đến rừng ven biển 73 Hình 4.16 Rừng cây phi lao, sú vẹt giảm dần do biển xâm thực 74 Hình 4.17 Hàm lượng Sulfua trong nước biển ven bờ (2011-2015) 75 Hình 4.18 Hàm lượng Coliform trong nước biển ven bờ (2011-2015) 76 Hình 4.19 Công trình đê và kè mỏ hàn tại khu vực biển Hải Hậu 77 Hình 4.20 Mô hình nuôi trồng thủy hải sản ven biển Hải Hậu 79 Hình 4.21 Phương tiện khai thác thủy sản của người dân 81 Hình 4.22 Hình ảnh khu vực dọc đê biển phía trong đồng 87 Hình 4.23 Sơ đồ giải pháp quản lý rủi ro thiên tai thích ứng BĐKH 88 Hình 4.24 Giải pháp công trình đê biển thích ứng với BĐKH 93
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, điều kiện thời tiết, khí hậu trên thế giới cũng như ở Việt Nam có những dấu hiệu diễn biến phức tạp, đôi khi không theo quy luật bình thường Nhiều nơi trên thế giới đã chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất [1]
Mặt khác, những biến động thất thường của khí hậu, thời tiết đã làm cho công tác dự báo cũng gặp nhiều khó khăn, phức tạp hơn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi bất thường của điều kiện thời tiết, khí hậu mà một trong số
đó có thể là tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và sự nóng lên toàn cầu Ở qui mô hành tinh, tác động này thể hiện rõ ở xu thế tăng của nhiệt độ bề mặt Trái đất, hiện tượng biến mất dần các lớp phủ băng ở hai cực Trái đất, trên các đỉnh núi cao, dẫn đến hiện tượng nước biển dâng và “biển tiến” Ở qui mô khu vực, BĐKH đã tác động mạnh mẽ đến các thiên tai hiện hữu, với tính chất biến động mạnh hơn, cực đoan hơn, dị thường hơn, cả về tần suất và cường độ [9]
Vấn đề quan tâm ở đây là khi điều kiện khí hậu bị biến đổi thì các hiện tượng cực đoan dễ xảy ra hơn, khó dự bảo hơn, khó phòng chống hơn Do đó, thiệt hại đối với tự nhiên, kinh tế- xã hội do các hiểm họa tự nhiên gây ra sẽ nặng nề hơn, đôi khi không thể đánh giá hết được
Có thể nhận thấy qua một số minh chứng gần đây, như sự xuất hiện và hoạt động bất thường của bão, xoáy thuận nhiệt đới (cường độ mạnh hơn, di chuyển phức tạp, khó dự báo), điển hình là cơn bão Katrina (tháng 8/2005) hoặc những cơn bão có quĩ đạo bất thường, ít khi đi vào dải cực nam của Việt Nam như bão Linda (tháng 11/1997), bão Durain (tháng 12/2006), bão Parma (tháng 10/2009) hiện tượng nắng nóng dị thường ở Châu Âu, mưa cực lớn hoặc sự dịch chuyển của các tâm mưa lớn, sự thiếu hụt lượng mưa dẫn đến khô hạn, tần suất xuất hiện các hiện tượng thời tiết nguy hiểm (tố, lốc, vòi rồng,…) tăng lên [9], mức độ xâm nhập mặn gia tăng ở khu vực đồng bằng Sông Hồng, sông Cửu Long của Việt Nam
Trang 13Sự ấm lên của trái đất, băng tan ở Bắc Cực kéo theo các biến đổi nghiêm trọng của hệ sinh thái môi trường tự nhiên Nếu chúng ta không có biện pháp giảm thiểu và thích ứng với sự biến đổi khí hậu, có thể dẫn đến những tác động nghiêm trọng đến an ninh con người, môi trường, kinh tế- xã hội trong tương lai không xa Ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21
Kết quả của các nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan Việc lựa chọn được mô hình số trị khu vực phù hợp để mô phỏng nhiều năm và dự báo mùa các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan của các nghiên cứu trước đây là cơ sở quan trọng khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu
Khu vực đồng bằng cửa sông ven biển là một trong những khu vực dễ tổn thương, chịu tác động trực tiếp, nặng nề nhất trước các hiểm họa tự nhiên Đây
là những khu vực có tính phơi nhiễm cao, tính dễ tổn thương lớn trước các hiểm họa Nam Định là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, có 3 huyện ven biển là huyện Hải Hậu, huyện Giao Thủy và huyện Nghĩa Hưng với 72 km đường bờ biển Trong đó, huyện Hải Hậu là trọng điểm kinh tế biển của tỉnh Nam Định, với sản lượng nghề cá chiếm 54%, sản lượng muối chiếm 53% sản lượng toàn tỉnh Huyện Hải Hậu được quy hoạch phát triển nhiều ngành nghề, dịch vụ như: cảng biển dịch vụ, du lịch, đóng tàu, Mật độ dân số trung bình của huyện là 1.214 người/km2
Huyện Hải Hậu được hình thành do quá trình bồi lắng trầm tích cửa sông ven biển của hệ thống sông Hồng Bờ biển trải dài theo đường thẳng phương Đông Bắc- Tây Nam với chiều dài 27 km Biển Hải Hậu có năng lượng sóng cao (phân loại của Davis và Hayes, 1984), do đó bờ bị xói lở mạnh mẽ nhất ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt vào mùa gió Đông Bắc [35] Hiện tượng này đã được ghi nhận từ đầu thế kỷ XX Ngoài ra, hàng năm Huyện Hải Hậu còn chịu ảnh hưởng bởi các tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn nhất là vào mùa Đông làm ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt của huyện, trong đó tập trung
Trang 14Do vị trí địa lý, điều kiện khí hậu và địa hình nêu trên Hải Hậu được xem
là huyện rất dễ bị tổn thương (DBTT) trước những tác động của thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu khó lường như hiện nay Mặc dù, huyện Hải Hậu đã
có nhiều giải pháp đưa ra để hạn chế thiệt hại khi thiên tai xảy ra như: đầu tư nâng cấp đê biển, áp dụng phương án phòng, chống tại chỗ, tuy nhiên nguy cơ rủi ro từ thiên tai vẫn thường xuyên tiềm ẩn Do đó, việc thực hiện đề tài
“Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở khu vực các xã ven biển huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” là
- Biến đổi khí hậu là một nội dung mới, nhất là đối với thực tiễn của công tác quản lý Đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng người dân, các cấp quản lý của địa phương trong vấn đề ứng dụng khoa học và thực tiễn nhằm ứng phó BĐKH ở địa phương huyện Hải Hậu
- Cung cấp thông tin, đề xuất giải pháp ứng phó BĐKH đối với huyện Hải Hậu trên cơ sở các bài học kinh nghiệm về ứng phó BĐKH của các tỉnh khác
* Đóng góp về mặt khoa học:
- Với việc tham khảo, có kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học đã có,
đề tài củng cố thêm cơ sở lý luận thực tiễn, cho các nghiên cứu khoa học về động lực vùng bờ và ứng phó biến đổi khí hậu của Việt Nam cũng như một số
cơ quan nghiên cứu trên thế giới
Trang 153 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu, tìm hiểu các rủi ro thiên tai ở các xã ven biển của huyện Hải Hậu, trong đó tập trung vào các rủi ro thiên tai liên quan đến bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, nước biển dâng, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn
- Xác định các đối tượng dễ bị tổn thương do thiên tai và đề xuất các giải pháp thích ứng trong bối cảnh BĐKH
4 Đối tượng nghiên cứu
- Tài nguyên đất, nước, rừng khu vực bãi biển huyện Hải Hậu
- Cơ sở hạ tầng các xã ven biển, hệ thống đê biển
- Tình hình phát triển kinh tế, xã hội huyện Hải Hậu, các xã ven biển, thể chế, chính sách, kế hoạch của tỉnh, huyện trong xây dựng, thực hiện giải pháp ứng phó BĐKH
- Cộng đồng dân cư các xã ven biển huyện Hải Hậu
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu với các đối tượng thường xuyên chịu tác động ảnh hưởng trực tiếp khi có thiên tai xảy ra ở các xã ven biển huyện Hải Hậu (hình 1)
Trang 16- Về thời gian: 10 năm trở lại đây
- Về không gian: Xem xét nghiên cứu khu vực vùng bãi triều phía trước hệ thống tuyến đê biển; khu vực phía trong đồng (gồm khu vực phía trong đồng tiếp giáp trực tiếp với đê khoảng 100 m tính từ chân đê và khu vực canh tác sản xuất nông nghiệp, thủy sản, khu vực dân cư sinh sống
6 Về giới hạn nội dung nghiên cứu
Các số liệu về tình trạng khí hậu thường được theo dõi, cập nhật vài năm, hàng chục năm và lâu hơn nữa Các số liệu quan sát thực tế thường rời rạc, việc tìm ra mối tương quan giữa các hiện tượng, sự việc diễn ra nhiều khi khó có thể kết luận một cách chính xác
Những hiện tượng được đề cập trong đề tài như hiện tượng thời tiết bất thường, cực đoan trong quá khứ vẫn xảy ra, nhưng đó có phải là do nguyên nhân biến đổi khí hậu không thì ở phạm vi nghiên cứu của đề tài không thể chỉ ra điều
đó Do vậy, ở đây đề tài chỉ tập trung thu thập thông tin kết hợp kháo sát để đánh giá đối tượng dễ bị tổn thương; nhận định phạm vi, mức độ ảnh hưởng của thiên tai đến yếu tố tự nhiên, xã hội, trong đó chủ yếu là bão, ATNĐ, xói lở, xâm nhập mặn, loại bỏ tác nhân động đất, sóng thần ở khu vực này Đồng thời dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu để giả thuyết tình huống và đề xuất giải pháp thích ứng, giảm thiểu rủi ro thiên tai
Trang 17CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm về thiên tai và BĐKH
1.1.1 Khái niệm về thiên tai
Đến nay, khái niệm về thiên tai có nhiều định nghĩa khác nhau Thiên tai
là hiện tượng thời tiết bất thường của thiên nhiên có thể tạo rác các ảnh hưởng bất lợi Luật phòng, chống thiên tai năm 2013 của Việt Nam nêu rõ, thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài sử dụng khái niệm sau đây: thiên tai là các thay đổi nghiêm trọng trong chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội do các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi [36]
Hiểm họa tự nhiên được đề cập trong định nghĩa của thiên tai có thể là tự nhiên, tự nhiên- xã hội (bắt nguồn từ các hoạt động làm suy giảm hoặc biến đổi môi trường tự nhiên của con người), hoặc có nguồn gốc hoàn toàn do con người tạo nên Hiểm họa là sự xuất hiện tiềm tàng của các hiện tượng tự nhiên hoặc do con người gây ra có thể gây thương tật, chết người hoặc ảnh hưởng sức khỏe, làm hư hại hoặc mất mát tài sản, cơ sở hạ tầng, sinh kế, cung cấp dịch vụ và tài nguyên môi trường [36] Hiểm họa có thể xảy ra đột ngột như lũ quét, sóng thần,
Trang 18Đánh giá hiểm họa là quá trình đánh giá trên những khu vực xác định, các nguy cơ xảy ra hiện tượng có thể gây thiệt hại ở mức độ nào đó, trong một khoảng thời gian nhất định Đánh giá hiểm họa bao gồm việc phân tích các dữ liệu chính thức hoặc không chính thức, và giải thích chuyên môn các bản đồ địa hình, địa chất, thủy văn và sử dụng đất, cũng như việc phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội [2]
Rủi ro thiên tai được định nghĩa là khả năng xảy ra các thay đổi nghiêm trọng trong các chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội ở một giai đoạn thời gian cụ thể, do các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện
dễ bị tổn thương của xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi [36] Theo Luật phòng, chống thiên tai năm 2013, rủi ro thiên tai là thiệt hại mà thiên tai có thể gây ra về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội
Giảm nhẹ rủi ro thiên tai bao gồm việc giảm bớt sự tổn thương của người dân, sinh kế và các tài sản và đảm bảo quản lý bền vững thích hợp của đất, nước,
và các thành phần khác của môi trường [2]
Bão là vùng áp thấp gần tròn, có sức gió cấp 8 (17,2m/s) trở lên Bán kính một cơn bão vào khoảng 200-300 km, các đường đẳng áp gần đồng tâm và dày xít nhau, gây ra gió rất mạnh có thể lên tới 35 m/s Bão có trữ lượng ẩm rất lớn,
có năng lượng nội tại khổng lồ Trong cơn bão hình thành các lớp mây dày cho mưa dữ dội trên diện rộng Riêng vùng tâm bão (mắt bão) gió yếu và thường rất
ít mây [3]
Lũ lụt là một hiện tượng tự nhiên, gần như xảy ra hàng năm Lũ do nước sông dâng cao trong mùa mưa Số lượng nước dâng cao xảy ra trên một con sông ở mức tạo thành lũ có thể xảy ra một lần hoặc nhiều lần trong năm Khi nước sông dâng lên cao (do mưa lớn hoặc nhiều và triều cao), vượt qua khỏi bờ, chảy tràn vào các vùng trũng và gây ra ngập trên một diện rộng trong một
Trang 19khoảng thời gian nào đó gọi là ngập lụt Lũ lụt được gọi là lớn và đặc biệt lớn khi nó gây ra nhiều thiệt hại lớn về người, của cải và kéo dài [4]
Hạn hán là một thiên tai đứng hàng thứ 3 về mức độ gây thiệt hại, chỉ sau bão và lũ Mặc dù ít khi gây tai nạn và thương tích, song hạn hán thường có tác động lớn đối với tình trạng sức khỏe con người do thiếu nước sạch, điều kiện vệ sinh kém và suy dinh dưỡng và ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất nông nghiệp ở địa phương Đến nay chưa có định nghĩa thống nhất chung về hạn hán, nhưng các định nghĩa đều đưa ra điểm chung là tình trạng thiếu hụt lượng mưa trong thời gian dài Theo Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) hạn hán được phân làm 4 loại là: Hạn khí tượng (thiếu hụt lượng mưa trong cán cân lượng mưa - bốc hơi); Hạn thủy văn (dòng chảy sông suối giảm rõ rệt, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất hạ thấp); Hạn nông nghiệp (thiếu hụt nước mưa dẫn tới mất cân bằng giữa lượng nước thực tế và nhu cầu nước của cây trồng); Hạn kinh tế - xã hội (thiếu hụt nguồn nước cấp cho các hoạt động kinh tế - xã hội)
Rủi ro hạn hán ngày càng trở nên nghiêm trọng ở Việt Nam Dự báo trong tương lai, số ngày khô hạn có khả năng kéo dài hơn trên lãnh thổ nước ta Rủi ro hạn hán được dự báo tăng lên với tốc độ tương đối cao trong suốt thế kỷ 21 với thời gian mỗi đợt hạn kéo dài hơn, đặc biệt là trên các vùng hạn hán nhiều như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên [37]
Khái niệm thích ứng được trình bày trên quan điểm hệ thống: trong hệ thống xã hội, thích ứng là quá trình điều chỉnh theo khí hậu thực tế hoặc dự tính
để hạn chế thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có lợi Trong hệ thống tự nhiên, thích ứng là quá trình điều chỉnh theo khí hậu hiện tại và theo những ảnh hưởng của khí hậu Sự can thiệp của con người có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều chỉnh theo khí hậu dự tính [13]
1.1.2 Khái niệm về biến đổi khí hậu
Hệ thống khí hậu Trái đất bao gồm khí quyển, lục địa, đại dương, băng quyển và sinh quyển Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục của những thành phần này Quy mô thời gian của sự hồi tiếp ở mỗi thành phần
Trang 20sinh hóa có vài trò tăng cường sự biến đổi khí hậu hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu đã định nghĩa Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” [35]
BĐKH là sự biến đổi trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời và gần đây có thêm hoạt động của con người [2] BĐKH từ những năm đầu thế kỷ 20 đến nay được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH hoặc còn được gọi
là sự ấm lên toàn cầu (global- warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại
Như vậy, BĐKH tác động lên tất cả các lĩnh vực gồm tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, mức độ tác động của BĐKH khác nhau tuỳ thuộc vào những đặc trưng về điều kiện đia lý, trình độ phát triển và các hành động ứng phó của từng vùng, miền, từng quốc gia cụ thể Và một cách khái quát, BĐKH được thể hiện ở ba đặc trưng chủ yếu như sau:
+ Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng lên
+ Mực nước biển dâng lên do sự tan băng ở các cực và các đỉnh núi cao + Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão,
lũ lụt, hạn hán ) xảy ra với tần suất, độ bất thường và có thể cường độ tăng lên
1.2 Tổng quan về xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam và trên thế giới 1.2.1 Xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam
Ngày nay, hiện tượng El Nino và La Nina đã và đang tác động mạnh mẽ tới Việt Nam BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai đặc biệt là lụt bão, hạn
Trang 21hán kéo dài ngày càng khốc liệt Theo tính toán nhiệt độ trung bình ở Việt Nam
có thể tăng lên 3°C và mực nước biển có thế dâng tới lm vào năm 2100 [5]
Theo cảnh báo của Ủy Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) đến năm
2100, nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng đến 5% đất đai của Việt Nam, 20% dân số, tác động đến 12,3% sản xuất nông nghiệp, giảm 10% GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) (nguồn: Dagupta.et.al.2007) Riêng sản xuất kinh tế biển suy giảm 1/3 (nguồn: UNDP- Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc) Ngân hàng Thế giới dự báo, Việt Nam là một trong 02 nước (cùng với Bangladesh) bị tác động tồi tệ do nước biển dâng, theo đó phần lớn đất màu mỡ nhất của Việt Nam sẽ bị chìm ngập, đất nông nghiệp và GDP đều chịu những tác động xấu
Việt Nam với bờ biển dài, dễ bị tác động bởi BĐKH và nước biển dâng trong những năm tới Kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học (Nicholls và Leatherman, 1994; Rijsberman, 1996; Hiramatsu và nnk, 2008; Yasuhara, 2007, 2008) cho thấy nước biển dâng sẽ dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của một loạt các tai biến liên quan như ngập, lụt, xói lở, xâm nhập mặn, biến đổi quá trình vận chuyển lắng đọng trầm tích Một trong những kết luận rất quan trọng là tác động tiêu cực của dâng cao mực nước biển đến các hệ thống tự nhiên và kinh tế
xã hội chủ yếu được thông qua các tai biến này
Theo số liệu quan trắc, phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi khí hậu và mực nước biển ở Việt Nam có một số đặc điểm đáng chú ý như sau:
- Nhiệt độ: Các thập kỷ gần đây nhiệt độ trung bình năm thường cao hơn các thập kỷ trước đó từ 0,4 - 1,3°C Theo kịch bản BĐKH Việt Nam thì nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam [6], [6a]
- Lượng mưa: Tính trung bình chung cả nước thì lượng mưa cả năm trong khoảng 50 năm qua (1958 - 2007) đã giảm khoảng 2% Nhìn chung lượng mưa năm giảm ở các tỉnh phía Bắc và tăng ở các tỉnh phía Nam [6], [6a]
- Bão: Theo thông báo đầu tiên của Việt Nam cho Công ước khung của
Trang 22Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, đường đi của các cơn bão dị thường khó đoán hơn
- Mưa phùn: Theo Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu (2004), số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981 - 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/ năm) trong 10 năm gần đây
- Không khí lạnh: Theo kịch bản BĐKH Việt Nam số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ qua Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại xuất hiện mà gần đây nhất là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1, tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ [6]
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc theo ven biển Việt Nam, tốc độ dâng lên của mực nước biến trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3 mm/năm (giai đoạn 1993 - 2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên 20 cm [16]
Nhận định về xu thế BĐKH ở Việt Nam:
Biến đổi khí hậu được phản ánh qua sự thay đổi các yếu tố thời tiết như nhiệt độ, lượng mưa,…do các phương tiện quan trắc, giám sát của các nhà khoa học ghi nhận được Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu còn được phản ánh qua tình hình thiên tai xảy ra hàng năm Theo số liệu của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương, các hiểm họa tự nhiên xảy ra hàng năm tại Việt Nam gồm bão, ATNĐ, lốc xoáy ; lũ, ngập úng, xói lở, bồi lấp, hạn hán có tần suất xảy ra cao nhất
Theo tổng kết đánh giá về công tác PCLB và giảm nhẹ thiên tai năm 2012 của Tổng cục thủy sản nhận xét: các cơn bão ngày càng có hướng đi phức tạp, không theo quy luật, gây khó khăn cho công tác dự báo Ví dụ điển hình là từ đầu mùa bão năm 2012, cơn bão số 1 đã xuất hiện ở phía Nam, không theo quy luật trong vòng 40 năm Trên biển, ngoài khơi thường xảy ra các đợt lốc, gió mùa Cơn bão số 7 (tên quốc tế là Gaemi) xuất hiện ở giữa khu vực biển Đông với sức gió mạnh nhất ở tâm bão cấp 9, giật cấp 10-11, di chuyển theo hướng Đông Đông Nam, chuyển hướng Đông Nam và lệch dần về phía Tây sau đó bão
Trang 23quay trở lại nơi xuất phát và đổ bộ vào các tỉnh Miền Nam (Bình Định, Phú Yên) gây mưa to đến rất to Cơn bão số 8 (bão Sơn Tinh) mới hình thành nhưng tốc độ di chuyển nhanh từ 25- 30 km, di chuyển theo không quy luật, khó dự báo Như vậy, có thể nói thiên tai và biến đổi khí hậu có liên quan chặt chẽ với nhau Biến đổi khí hậu làm cho nguy cơ thiên tai xảy ra cao hơn, khó dự đoán,
dự báo hơn, làm giảm hiệu quả của các giải pháp thích ứng với thiên tai và do đó mức độ thiệt hại sẽ nặng nề hơn, thời gian khắc phục lâu hơn
Theo nhận định của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH
do Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam công bố, vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt
độ ở nước ta có thể tăng 2,3°C so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 Mức tăng nhiệt độ dao động từ 1,6 oC đến 2,8oC ở các vùng khí hậu khác nhau Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc và Bắc Trung Bộ tăng nhanh hơn so với nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Nam Tại mỗi vùng, nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè
Tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta đều tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm, đặc biệt là ở các vùng khí hậu phía Nam Tính chung cho cả nước, lượng mưa năm vào cuối thế kỷ XXI tăng khoảng 5 % so với thời kỳ 1980 - 1999 Ớ các vùng khí hậu phía Bắc mức tăng lượng mưa nhiều hơn so với các vùng khí hậu phía Nam
Vào giữa thế kỷ XXI mực nước biến có thể dâng thêm khoảng 30 cm và đến cuối thế kỷ XXI mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 75 cm so với thời
kỳ 1980- 1999 và có thể tăng lên 1 m vào năm 2100
Đánh giá gần đây nhất của IPCC về xu thế biến đổi của XTNĐ ảnh hưởng đến khu vực và Việt Nam cũng nhận định số lượng ATNĐ có xu hướng tăng, bão trung bình có xu hướng giảm, bão mạnh tăng nhẹ, bão rất mạnh có xu hướng tăng Trong số các cơn XTNĐ đổ bộ vào Việt Nam, các ATNĐ có xu hướng tăng, bão trung bình có xu hướng giảm, tổng số các cơn bão mạnh đổ bộ vào Việt Nam có xu hướng giảm, nhưng số lượng các cơn bão rất mạnh lại có xu
Trang 24Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH của Bộ TN&MT nhận định Việt Nam đang đối mặt với nhiều tác động của BĐKH bao gồm các tác động đến cuộc sống, sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng
kỹ thuật và nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH và mực nước biển dâng Để ứng phó với BĐKH cần phải có những đầu tư thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội [16]
1.2.2 Bối cảnh biến đổi khí hậu trên thế giới
Theo báo cáo thống kê năm 2007 của IPCC, nhiệt độ trung bình của trái đất đã tăng 0,74oC, trong đó nhiệt độ tại 2 cực tăng gấp 2 lần so với trung bình toàn cầu Theo dự báo, nhiệt độ của trái đất có thể tăng lên 1,1- 6,4°C tới năm
2100, đây là một mức chưa từng có trong lịch sử 10.000 năm qua Sự tăng nhiệt
độ cũng không đồng đều giữa các vùng trên trái đất Sự nóng lên toàn cầu làm các lớp băng tuyết sẽ bị tan nhanh hơn trong những thập kỷ tới Trong thế kỷ
XX trung bình mực nước biển dâng tại Châu Á là 2,4 mm/ năm và chỉ riêng thập
kỷ vừa qua là 3,1 mm/ năm và dự báo tiếp tục tăng cao hơn trong thế kỷ XXI ít nhất từ 2,8 - 4,3 mm/ năm [38]
Trong thế kỷ XX, lượng mưa ở các vùng vĩ độ trung bình và cao, cứ một thập kỷ tăng từ 0,5 đến 1% Lượng mưa tăng không đều, nhiều vùng mưa quá nhiều nhưng nhiều vùng trở nên khô hạn hơn Mưa nhiều hơn ở các vùng cực
Từ ảnh vệ tinh cho thấy, từ năm 1960 đến nay diện tích có tuyết bao phủ trên thế giới giảm khoảng 10% Diện tích vùng băng giá Bắc bán cầu giảm khoảng từ 10- 15 % kể từ những năm 1950 Trong thế kỷ 21, bão nhiệt đới sẽ tăng cả về sổ lượng và cường độ (từ 10- 20%), hiện tượng El Nino và La Nina sẽ hoạt động mạnh hơn cả về tần suất và cường độ Mưa lớn sẽ xảy ra nhiều hơn và kéo theo hậu quả là lũ lụt xảy ra triền miên tại nhiều nơi trên thế giới Mùa đông sẽ ngắn lại và số ngày lạnh sẽ ít hơn so với trước đây Ở nhiều nơi trên thế giới những đợt nắng nóng sẽ khốc liệt hơn dẫn đến hạn hán và đói nghèo, nhất là khu vực châu Phi và châu Á [11], [39]
Theo dự báo của UNDP (năm 2007) (United Nations Development Program), nếu nhiệt độ tăng lên 3oC thì 20- 30% các loài sinh vật trên đất liền có
Trang 25nguy cơ bị tuyệt chúng BĐKH trên thế giới còn làm gia tăng các dịch bệnh nguy hiểm, các căn bệnh hiểm nghèo và các đại dịch với sự lây lan nhanh trên toàn thế giới như: bệnh ung thư, cúm gia súc, cúm gia cầm, sốt xuất huyết, sốt rét, dịch tả, các bệnh khác về gia súc, gia cầm và bệnh cây trồng nhất là đối với các nước nghèo, các nước đang phát triến do tỷ lệ nghèo cao và năng lực đối phó của hệ thống y tế công cộng còn hạn chế [40]
BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên toàn thế giới Đến năm 2080, sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2- 4 %, giá sẽ tăng 13- 45%, số người bị ảnh hưởng của nạn đói 36- 50% Mực nước biển dâng cao sẽ gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp và tác động tiêu cực đối với hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai [40]
BĐKH xảy ra không đồng đều trên thế giới với mức độ ảnh hưởng khác nhau giữa các vùng có vĩ độ cao và các vùng khác Các vùng nhiệt đới và duyên hải, các nước đang phát triển sẽ chịu những hậu quả nặng nề nhất do BĐKH gây
ra [41]
Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biến dâng được ngân hàng thế giới (WB) xếp theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippin [42]
1.3 Tình hình nghiên cứu về đánh giá rủi ro và đề xuất biện pháp thích ứng
với thiên tai trong bối cảnh BĐKH ở Việt Nam và các nước Châu Á
1.3.1 Tình hình khu vực Châu Á
Năm 1998, tác giả MacLeod trong dự án “Chuẩn bị và giảm lũ lụt dựa vào
cộng đồng ở Campuchia (CBFMP)”, thực hiện trên 3 tỉnh thường xuyên ngập lũ
ở lưu vực sông Mekong và Tonle Sap của đất nước Campuchia Tác giả đã đưa các giải pháp thích ứng bao gồm: (1) Trao quyền cho cộng đồng để phát triển các giải pháp để giảm nhẹ lũ lụt; (2) Cung cấp cho cộng đồng với một mức độ
an toàn từ các thảm họa thiên nhiên; (3) Đào tạo tình nguyện viên trong làng địa phương bằng các khái niệm và kỹ thuật chuẩn bị sẵn sàng ứng phó thiên tai; (4) Thành lập Ủy ban thiên tai trong làng để tham gia quá trình thực hiện các giải
Trang 26pháp để giảm tác động của thiên tai cho cộng đồng; (5) Huy động các quỹ xây dựng, tu sửa cơ sở hạ tầng chuấn bị ứng phó với thiên tai [43]
Dự án đã hoàn thành mục tiêu của chương trình là thiết lập bền vững, nhân rộng cơ chế phi chính phủ cho giảm nhẹ thiên tai và sẵn sàng ứng phó với
lũ lụt Đến năm 2004, Ủy ban thư ký sông Mekong (MRCS) xuất bản tác phẩm
“Tiếp cận nâng cao nhận thức cộng đồng để giảm thiểu lũ lụt ở Campuchia” Các tác giả đã đưa ra 2 chiến lược khác nhau nhằm nâng cao nhận thức về nguy
cơ lũ lụt: Một là, chiến dịch nâng cao nhận thức đối với đại chúng Hai là, chiến dịch cụ thể hơn nhằm mục tiêu phân đoạn các đối tượng DBTT của cộng đồng dân cư bao gồm trẻ em và phụ nữ Các chiến lược này được sử dụng trong việc thực hiện các cuộc vận động ở các vùng có nguy cơ ngập lụt cao, liên quan đến các cách tiếp cận, việc sử dụng các tài liệu hiện có thích nghi với bối cảnh địa phương, xây dựng năng lực địa phương để nhân rộng trong tương lai và chia sẻ kiến thức Một bộ Kit thông tin về lũ lụt được xây dựng bao gồm: (1) Một tập sách bàn về lũ lụt, giảm nguy cơ lũ; (2) Một tập sách về cảnh báo sớm cộng đồng lũ lụt; (3) Một tập sách liên quan "sống chung với lụt" thông tin thiết lập (CD và video); (4) Một tập sách "vấn đề sức khỏe trong thời gian lụt" [44]
Bangladesh là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thiếu vốn đầu tư
và cơ sở hạ tầng cần thiết, thiếu năng lực thể chế, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên Những đặc điểm này khiến cho Bangladesh rất dễ tổn thương trước các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Dân cư ở dải ven biển tổn thương nhiều hơn so với dân cư ở các khu vực khác nếu xảy ra các tác động Năm 2001, Peter và Rober trong báo cáo “Dự báo khí hậu và ứng dụng ờ Bangladesh (CFAB): Hội thảo tham vấn quốc gia” Các tác giả đã ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cảnh báo thiên tai sớm từ 48- 72 giờ, để nâng mức cảnh sớm lên 2 tháng đối với lịch thời vụ do đó người nông dân có thể gieo trồng và thu hoạch trước khi mùa mưa bão xuất hiện [45]
Năm 2007, Ramamasy và Đaas (2007), đã cho xuất bản cuốn sách “Sự dao động và biến đổi khí hậu: thích ứng với hạn hán ở Bangladesh” Thông tin
về BĐKH trong cuốn sách cho phép những người tham gia chuẩn bị và tiến
Trang 27hành ở các địa điểm đặc biệt, các khu vực nhạy cảm nhằm nâng cao năng lực ứng phó và khả năng thích ứng của sinh kế nông thôn với sự BĐKH trong nông nghiệp và các ngành liên quan Đây là tài liệu quan trọng cho cán bộ khuyến nông, các nhóm quản lý thiên tai, đại diện cho cộng đồng và các chuyên gia phát triển để ứng phó và thích ứng với sự BĐKH, đặc biệt là sự gia tăng thường xuyên của hạn hán ở Bangladesh [46]
Qua các tài liệu tổng quan nhận thấy, các giải pháp thích ứng được đề xuất cho Bangladesh nhằm giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa trên các cơ chế hiện nay, các thực tiễn và các chiến lược tương lai bao gồm
2 nhóm: nhóm „can thiệp‟ và nhóm „hỗ trợ‟
* Nhóm các giải pháp can thiệp:
1 Thúc đẩy áp dụng nền canh tác vùng ven biển trong điều kiện độ mặn tăng
2 Thúc đẩy ngư nghiệp vùng ven biển thông qua ương, nuôi, đa dạng hóa các thực tiễn nuôi các loài cá có khả năng chịu mặn ở các vùng ven biển của Bangladesh
3 Xây dựng các khu nhà tránh lũ, thành lập trung tâm thông tin và hỗ trợ cho tình hình ngập lụt ngày càng tăng
4 Giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu thông qua tái trồng rừng với sự tham gia của cộng đồng địa phương
5 Cung cấp nước sạch cho các cộng đồng vùng ven biển nhằm giải quyết tình trạng nhiễm mặn gia tăng do nước biển dâng
6 Tăng tính „đàn hồi‟ của cơ sở hạ tầng độ thị và các ngành công nghiệp trước các tác động của biến đổi khí hậu, như ngập lụt và bão
* Nhóm các giải pháp hỗ trợ:
1 Xây dựng năng lực về lồng ghép biến đổi khí hậu vào quá trình quy hoạch, thiết kế xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý xung đột
2 Tìm kiếm các giải pháp về bảo hiểm trước các thảm hoạ về biến đổi khí hậu
3 Lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu vào các chính sách và các chương trình trong các ngành/lĩnh vực khác nhau
Trang 284 Đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy ở cấp trung học trở lên
5 Phổ biến thông tin về biến đổi khí hậu và các giải pháp thích ứng cho các cộng đồng dễ bị tổn thương, các giải pháp ứng phó khẩn cấp và nâng cao nhận thức về các thảm hoạ liên quan đến khí hậu
6 Thúc đẩy nghiên cứu các giống cây trồng có khả năng chống mặn, ngập lụt nhằm hỗ trợ cho việc thích ứng trong tương lai
7 Tìm kiếm và phổ biến các tri thức/kinh nghiệm về thích ứng (bao gồm cả các tri thức bản địa) với khả năng biến đổi của khí hậu
Tại Myanmar, tổ chức cứu trợ và tái định cư (RRE) và Trung tâm chuẩn
bị thiên tai châu Á (ADPC) đã công bố công trình nghiên cứu “Cơ cấu tố chức quản lý thiên tai ớ Myanmar”(2009) Mục đích cùa tài liệu này là cung cấp một cái nhìn tống quan, toàn diện về cơ chế tổ chức hiện tại cho quản lý thiên tai tại Myanmar ở các cấp, cung cấp thông tin cho tất cả các bên liên quan tham gia vào quản lý rủi ro thiên tai ở Myanmar [47]
Bildan (2003), đã viết tác phấm “Quản lý thiên tai ở Đông Nam Á: một cánh nhìn tổng quan” Đây là tài liệu nghiên cứu các hiểm họa, cơ chế quản lý thiên tai của một số nước dễ bị tổn thương là Campuchia, Lào, Philippin, Indonesia và Việt Nam
1.3.2 Tình hình Việt Nam
Đối với nước ta, các tác động của biến đổi khí hậu ban đầu có thể nhận thấy được thông qua những thay đổi về khí hậu theo mùa ở các vùng miền khác nhau; lượng mưa và mùa mưa cũng sẽ thay đổi Tuy nhiên, thách thức lớn nhất lại là khi mực nước biển dâng cao Dải ven biển thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng- Thái Bình, hai vùng kinh tế trọng điểm của
cả nước, mật độ dân cư cao và tập trung, địa hình bằng phẳng và thấp (80% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và 30% diện tích Đồng bằng sông Hồng có độ cao dưới 2,5m so với mặt nước biển)
Những ảnh hưởng đầu tiên là gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn, tình trạng ngập lụt trong mùa mưa bão, xói lở bờ biển, phá vỡ các hệ thống đê biển, hồ
Trang 29chứa nước và nhấn chìm những cánh đồng lúa ở vùng đồng bằng ven biển, gây tổn hại nhiều hơn đối với các khu vực đất ngập nước, các hệ sinh thái và những ảnh hưởng quan trọng khác đến đời sống của người dân Năm 2003, trong báo cáo "Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc
về Biến đổi khí hậu", Bộ Tài nguyên & Môi trường đã ước tính, mực nước biển
ở Việt Nam có thể dâng thêm 33,3 cm vào năm 2050 và dâng 45 cm vào năm
2070 (theo kịch bản cao) Với nguy cơ này, Việt Nam sẽ chịu tổn thất mỗi năm chừng 17 tỉ USD (chiếm 80% GDP) [48]
Năm 2002, Trung tâm nghiên cứu và hợp tác quốc tế Canada (CECI) đã công bố công trình nghiên cứu về việc xây dựng năng lực thích ứng với BĐKH
ở miền Trung Việt Nam (2002- 2005) Công trình nghiên cứu này nhằm củng cố năng lực để thiết lập, xây dựng các chiến lược thích ứng cho cộng đồng thông qua việc ứng phó với thiên tai, lồng ghép việc phòng và giảm thiểu rủi ro, thiệt hại vào kế hoạch phát triển của địa phương [7]
Năm 2003, dưới sự tài trợ của GEF/UNDP, Viện Khí tượng Thủy văn (nay là Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường), Bộ TN&MT đã đưa
ra “Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH” Công ước khung này đã thông báo về tình hình phát thải khí nhà kính cùa Việt Nam trong năm 1994, nêu lên được những tác động tiềm tàng của BĐKH và những biện pháp thích ứng cho các ngành kinh tế- xã hội của Việt Nam như : tài nguyên nước, nông nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải và sức khỏe con người [5]
Roger và cs (2006) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa thích ứng với BĐKH, quản lý rủi ro thiên tai và giảm nghèo ở Việt Nam trong báo cáo “Liên kết biến đổi khí hậu và quản lý rủi ro thiên tai cho sự giảm nghèo bền vững quốc gia Việt Nam” Báo cáo đã xét đến nguy cơ của BĐKH, thiên tai và các tác động tiềm năng của BĐKH, đề cập đến cách tiếp cận trong quản lý rủi ro thiên tai, cách tiếp cận trong thích ứng với BĐKH, Nghiên cứu điển hình ở Nam Định [49]
Trang 30Peter và Greet (2007) đã tập hợp các kết quả nghiên cứu về BĐKH trong thông báo quốc gia (TBQCT) của Việt Nam để tổng quan về BĐKH trong báo cáo (điển hình về "BĐKH và phát triển con người ở Việt Nam” Báo cáo đã tổng quan các vấn đề [45]:
- Nghèo, thiên tai & biến đổi khí hậu
- Các xu thế & dự báo về tính DBTT về vật lý trước BĐKH : Đất đai và khí hậu Những biến đổi về nhiệt độ và lượng mưa Những biến đổi về lũ lụt và hạn hán Sự thay đổi các hình thái bão Mực nước biển dâng cao Các tác động đến nông nghiệp, nghề cá và nuôi trồng thuỷ sản BĐKH và sức khỏe con người
- Tính DBTT của BĐKH trong bối cảnh kinh tế- xã hội đang thay đổi
- Các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu
Năm 2007 Dasgupta và cộng sự đã công bố một nghiên cứu chính sách do Ngân hàng Thế giới (WB) xuất bản, đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng cao nhất do BĐKH Trong đó, hai đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nặng nhất Khi nước biển dâng cao 1
m, ước chừng 5,3 % diện tích tự nhiên, 10,8 % dân số, 10,2 % GDP, 10,9 %
vùng đô thị, 7,2 % diện tích nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp sẽ bị ảnh hưởng [42] Cũng thời gian này trong nước, tác giả Nguyễn Hữu Ninh đã tổng quan về BĐKH ở Đồng bằng sông Cửu Long qua báo cáo “Lũ lụt ở đồng bằng
sông Cửu Long” Báo cáo đã trình bày các vấn đề về BĐKH và lũ lụt,hiện trạng
quản lý thiên tai và thích ứng với BĐKH [39]
Trần Thục và cộng sự (2008), tổng quan được các tác động của BĐKH đến nông nghiệp công nghiệp, nghề cá, dịch vụ và đưa ra chi phí phục hồi do BĐKH mang lại Các tác giả cũng đã đánh giá và đưa ra rất nhiều các giải pháp thích ứng về tự nhiên các ngành nghề, các chính sách, chương trình, kế hoạch kinh tế-xã hội và gắn sự thích ứng đó vào các mục tiêu quốc gia, các chương trình trọng điểm để phát triển bền vừng của đất nước [8]
Trước nguy cơ ảnh hưởng và cảnh báo về biến đổi khí hậu và nước biển dâng, Việt Nam cần hành động để ứng phó với hiểm họa này Các hành động trước mắt và lâu dài cần được xem xét và cân nhắc kỹ nhằm
Trang 31thích ứng và giảm nhẹ những tác động bất lợi cho nền kinh tế và đời sống con người Tại Hội thảo về Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam diễn ra tháng 2/2008, các nhà khoa học và các nhà quản lý
đã đề xuất 8 giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của Việt Nam [6a]:
6 Thay đổi/chuyển địa điểm: thay đổi/chuyển địa điểm của các hoạt động kinh tế, có thể tính toán chi phí lợi ích
7 Nghiên cứu phát triển công nghệ, phương pháp mới về thích ứng
8 Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: Phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục, dẫn đến việc thay đổi hành vi
Trang 32CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đồng thời dựa trên trên cơ sở tài liệu thống kê, xác định các dạng thiên tai
có nguy cơ xảy ra cao và khuyến cáo các cấp độ rủi ro các thiên tai có thể xảy ra
ở khu vực ven biển huyện Hải Hậu (chi tiết nêu tại bảng 2.1)
Bảng 2.1 Nhận diện các dạng rủi ro thiên tai và cấp độ rủi ro
rủi ro
Áp thấp nhiệt đới, bão cấp 8, cấp 9 hoạt động trên Biển Đông Cấp độ 3 Bão mạnh cấp 10, cấp 11 hoạt động trên Biển Đông, vùng biển
ven bờ, trên đất liền khu vực Bắc Bộ Cấp độ 3 Bão rất mạnh từ cấp 12 đến cấp 15 hoạt động trên Biển Đông Cấp độ 3 Bão rất mạnh từ cấp 12 đến cấp 15 hoạt động trên vùng biển ven
Siêu bão từ cấp 16 trở lên hoạt động trên Biển Đông Cấp độ 4 Siêu bão từ cấp 16 trở lên hoạt động trên vùng biển ven bờ, đất
Áp thấp nhiệt đới, bão hoạt động trên Biển Đông, vùng biển ven
bờ kết hợp với hoạt động của gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây
một cấp, đến cấp cao nhất là cấp 5
Áp thấp nhiệt đới, bão hoạt động trên đất liền nơi đang xảy ra
mưa lớn, lũ, ngập lụt lớn hoặc trùng hợp với thời kỳ triều cường,
nước biển dâng cao ở vùng ven bờ
Lốc, sét, mưa đá mức độ trung bình, trên phạm vi nhỏ Cấp độ 1 Lốc, sét, mưa đá mức độ mạnh, trên phạm vi rộng Cấp độ2
Trang 333 Mưa lớn
Lượng mưa trong 24 giờ từ trên 200 mm đến 500 mm, kéo dài từ
1 ngày đến 2 ngày ở khu vực đồng bằng Cấp độ 1 Lượng mưa trong 24 giờ trên 500 mm, kéo dài từ 1 ngày đến 2
Lượng mưa trong 24 giờ từ trên 200 mm đến 500 mm, kéo dài từ
trên 2 ngày đến 4 ngày ở khu vực đồng bằng Cấp độ 3
Đợt nắng nóng với nhiệt độ cao nhất trong ngày lên đến 39°C,
40°C, kéo dài từ trên 5 ngày đến 10 ngày Cấp độ 1 Đợt nắng nóng với nhiệt độ cao nhất trong ngày vượt qua 40°C,
Đợt nắng nóng với nhiệt độ cao nhất trong ngày lên đến 39°C,
Đợt nắng nóng với nhiệt độ cao nhất trong ngày vượt qua 40°C,
kéo dài từ trên 5 ngày đến 10 ngày Cấp độ 2 đợt nắng nóng với nhiệt độ cao nhất trong ngày vượt qua 40°C,
Tình trạng thiếu hụt lượng mưa tháng trên 50%, kéo dài từ 2
tháng đến 3 tháng và nguồn nước trong khu vực hạn hán thiếu
hụt từ trên 50% đến 70% so với trung bình nhiều năm Cấp độ 1 Tình trạng thiếu hụt lượng mưa tháng trên 50%, kéo dài từ trên 3
tháng đến 6 tháng và nguồn nước trong khu vực hạn hán thiếu
hụt từ 20% đến 50% so với trung bình nhiều năm Cấp độ 1 Tình trạng thiếu hụt lượng mưa tháng tới trên 50%, kéo dài từ 2
tháng đến 3 tháng và nguồn nước trong khu vực hạn hán thiếu
hụt tới trên 70% so với trung bình nhiều năm
Cấp độ 2
Tình trạng thiếu hụt lượng mưa tháng tới trên 50%, kéo dài từ
trên 3 tháng đến 6 tháng và nguồn nước trong khu vực hạn hán
thiếu hụt từ trên 50% đến 70% so với trung bình nhiều năm
Cấp độ 2
Tình trạng thiếu hụt lượng mưa tháng tới trên 50%, kéo dài trên
6 tháng và nguồn nước trong khu vực hạn hán thiếu hụt từ 20%
đến 50% so với trung bình nhiều năm
Cấp độ 2
Tình trạng thiếu hụt lượng mưa tháng tới trên 50%, kéo dài từ
trên 3 tháng đến 6 tháng và nguồn nước trong khu vực hạn hán
thiếu hụt tới trên 70% so với trung bình nhiều năm
Cấp độ 3
Tình trạng thiếu hụt lượng mưa tháng tới trên 50%, kéo dài trên
6 tháng và nguồn nước trong khu vực hạn hán thiếu hụt từ trên
50% đến 70% so với trung bình nhiều năm
Cấp độ 3
Tình trạng thiếu hụt lượng mưa tháng tới trên 50%, kéo dài trên
6 tháng và nguồn nước trong khu vực hạn hán thiếu hụt tới trên
70% so với trung bình nhiều năm Cấp độ 4
Đợt rét hại với nhiệt độ không khí trung bình ngày từ trên 8°C
đến 13°C, kéo dài từ trên 5 ngày đến 10 ngày ở vùng đồng bằng; Cấp độ 1 Đợt rét hại với nhiệt độ không khí trung bình ngày từ trên 4°C
Trang 34Đợt rét hại với nhiệt độ không khí trung bình ngày từ trên 8°C
đến 13°C, kéo dài trên 10 ngày ở vùng đồng bằng Cấp độ 2 Đợt rét hại với nhiệt độ không khí trung bình ngày từ trên 4°C
đến 8°C, kéo dài từ trên 5 ngày đến 10 ngày ở đồng bằng Cấp độ 2 Đợt rét hại với nhiệt độ không khí trung bình ngày từ 0°C đến
4°C, kéo dài từ 3 ngày đến 5 ngày ở vùng đồng bằng Cấp độ 2 Đợt rét hại với nhiệt độ không khí trung bình ngày từ trên 4°C
đến 8°C, kéo dài trên 10 ngày ở vùng đồng bằng Cấp độ 3 Đợt rét hại với nhiệt độ không khí trung bình ngày từ 0°C đến
4°C, kéo dài từ trên 5 ngày đến 10 ngày ở vùng đồng bằng Cấp độ 3
Sương mù dầy, tầm nhìn xa trên 50 m, gây nguy hiểm cho các
phương tiện giao thông trên biển Cấp độ 1 Sương mù dầy đặc, tầm nhìn xa giảm xuống dưới 50 m, gây
nguy hiểm cho các phương tiện giao thông trên đất liền Cấp độ 1 Sương mù dày đặc, tầm nhìn xa giảm xuống dưới 50 m, gây
nguy hiểm cho các phương tiện giao thông trên biển Cấp độ 2
Mực nước lũ cao từ báo động 2 lên đến báo động 3 ở hạ lưu
nhiều sông vừa;các nhánh lớn sông Hồng - Thái Bình Cấp độ 1 Mực nước lũ cao từ báo động 3 lên đến trên báo động 3 khoảng
01 m, ở nhiều sông nhỏ; thượng lưu nhiều sông vừa Cấp độ 1 Mực nước lũ cao từ báo động 2 lên đến báo động 3 ở hạ lưu
Mực nước lũ cao từ báo động 3 lên đến trên báo động 3 khoảng
01m, ở hạ lưu nhiều sông vừa; các nhánh lớn sông Hồng - Thái
Mực nước lũ cao từ trên báo động 3 khoảng 01 m đến mức lũ
lịch sử ở nhiều sông nhỏ; thượng lưu nhiều sông vừa Cấp độ 2 Mực nước lũ cao từ báo động 3 lên đến trên báo động 3 khoảng
01 m, ở hạ lưu sông Hồng - Thái Bình; Cấp độ 3 Mực nước lũ cao từ trên báo động 3 khoảng 01 m đến mức lũ
lịch sử ở hạ lưu nhiều sông vừa; các nhánh lớn sông Hồng - Thái
Bình
Cấp độ 3
Mực nước lũ cao trên mức lũ lịch sử ở nhiều sông nhỏ; thượng
Mực nước lũ cao từ trên báo động 3 khoảng 01 m đến mức lũ
lịch sử ở hạ lưu sông Hồng - Thái Bình; Cấp độ 4 Mực nước lũ cao trên mức lũ lịch sử ở hạ lưu nhiều sông vừa;
các nhánh lớn sông Hồng - Thái Bình Cấp độ 4
Lũ với mực nước cao trên mức lũ lịch sử ở hạ lưu sông Hồng -
Khi có tổ hợp tác động của áp thấp nhiệt đới, bão có cấp độ rủi
ro thiên tai thấp hơn cấp độ rủi ro của lũ, ngập lụt Tăng lên một cấp, đến cấp cao
nhất là cấp 5 Khi có tổ hợp tác động của áp thấp nhiệt đới, bão và sự cố vỡ
đập hồ chứa nước ở thượng nguồn;
Tăng lên hai cấp, đến cấp cao nhất
là cấp 5
Trang 35Khi có tổ hợp tác động của áp thấp nhiệt đới, bão có cấp độ rủi
ro thiên tai bằng hoặc lớn hơn cấp độ rủi ro của lũ, ngập lụt
Xác định theo cấp độ rủi ro thiên tai của bão,
áp thấp nhiệt đới
Nhiều cửa sông vùng ven biển bị nhiễm mặn với ranh giới độ
mặn 4‰ xâm nhập vào sâu từ 25 km đến 50 km tính từ cửa
sông, trong thời kỳ dài và nguồn nước ngọt trong sông bị thiếu
hụt không quá 40‰ so với trung bình nhiều năm
Cấp độ 1
Nhiều cửa sông vùng ven biển bị nhiễm mặn với ranh giới độ
mặn 4‰ xâm nhập vào sâu tới hơn 50 km tính từ cửa sông,
trong thời kỳ dài và nắng nóng, khô hạn thiếu nước kéo dài
nhiều tháng, nguồn nước ngọt trong sông bị thiếu hụt trên 40%
so với trung bình nhiều năm
Cấp độ 2
Độ cao nước dâng từ trên 2 m đến 4 m ở dải ven biển Cấp độ 1
Độ cao nước dâng từ trên 4 m đến 6 m ở dải ven biển Cấp độ 2
Độ cao nước dâng từ trên 6 m đến 8 m ở dải ven biển Cấp độ 4
Gió mạnh từ cấp 6 đến cấp 9, xảy ra trên vùng biển ngoài khơi
Gió mạnh từ cấp 6 đến cấp 9, xảy ra trên vùng biển ven bờ Cấp độ 2 Gió mạnh từ cấp 9 trở lên, xảy ra trên vùng biển ngoài khơi (bao
Gió mạnh từ cấp 9 trở lên, xảy ra trên vùng biển ven bờ Cấp độ 3 Gió mạnh trên biển xảy ra đồng thời với hoạt động của áp thấp
nhiệt đới, bão trên Biển Đông hoặc vùng biển ven bờ
Tăng thêm một cấp, đến cấp cao nhất là cấp 4
Gió mạnh trên biển xảy ra đồng thời với hoạt động của áp thấp
nhiệt đới, bão trên Biển Đông hoặc vùng biển ven bờ
Gió mạnh trên biển xảy ra vào đầu mùa hoặc cuối mùa bão và
duy trì trong nhiều ngày liên tục
(Nguồn: Theo [34])
Đề tài cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu, so sánh các giải pháp phòng chống thiên tai đã và đang được triển khai (Các điểm mạnh, điểm yếu hoặc còn thiếu) đặt trong kịch bản biến đổi khí hậu (B2) áp dụng đối với tỉnh Nam Định
từ đó đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp nhằm chủ động thích ứng với thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Rủi ro thiên tai tại các xã ven biển huyện Hải Hậu chủ yếu là các hiểm họa
tự nhiên Để có thể đánh giá được rủi ro thiên tai, đề tài đã sử dụng phương pháp tiếp cận rủi ro thiên tai dựa trên biểu đồ ven, được trình bày tại hình 2.1:
Trang 36Hình 2.1 Cách tiếp cận rủi ro (risk assessment)
Biểu đồ ven tại hình vẽ 2.1 miêu tả mối quan hệ giữa 2 đại lượng là hiểm
họa thiên tai (Hazard) và tính dễ bị tổn thương (Vunerrability) Theo cách tiếp
cận nêu trên thì hiểm họa thiên tai là yếu tố đề cập đến trước, khi mà hiểm họa
thiên tai và tính dễ tổn thương đủ lớn, không thể che dấu hoặc ngăn chặn được
nguy cơ rủi ro tiềm ẩn thì tác động của hiểm họa thiên tai trở thành sự thật (rủi
ro xảy ra) Phần giá trị của H và V càng nhỏ (tương ứng với phần giao thoa giữa
vòng tròn H và V càng nhỏ) thì nguy cơ xảy ra hiểm họa càng ít có cơ hội xảy ra
và ngược lại
Để đánh giá rủi ro do thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu đến các xã
ven biển huyện Hải Hậu, đề tài đã áp dụng cách đánh giá theo phương trình
tuyến tính sau đây :
Trong đó :
- Hiểm họa (H) : Là sự xuất hiện tiềm tàng của các hiện tượng tự nhiên
hoặc do con người gây ra có thể gây thương tật, chết người hoặc ảnh hưởng sức
khỏe, làm hư hại hoặc mất mát tài sản, cơ sở hạ tầng, sinh kế, cung cấp dịch vụ
R = H x V x E
Trang 37và tài nguyên môi trường (Đơn vị tính theo thời gian ngày, tháng hoặc năm,…)
- Mức độ phơi bày (E) : Chỉ sự hiện diện (theo vị trí) của con người, sinh kế, các dịch vụ môi trường và các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng, hoặc các tài sản kinh tế, xã hội hoặc văn hóa ở những nơi có thể chịu những ảnh hưởng bất lợi bởi các hiện tượng tự nhiên và vì thế có thể là đối tượng của những tổn hại, mất mát, hư hỏng tiềm tàng trong tương lai Đơn vị tính theo số lượng cá thể sống chịu phơi nhiễm, bao gồm cả con người, tính bằng tiền, số lượng cây,…
- Tình trạng dễ bị tổn thương V (Vulnerability) : Là xu hướng hay khuynh hướng bị ảnh hưởng xấu Khuynh hướng này cấu thành một đặc tính nội bộ của các yếu tố ảnh hưởng Trong lĩnh vực rủi ro thiên tai, điều này bao gồm các đặc tính của một người hoặc một nhóm và tình hình của họ có ảnh hưởng đến khả năng để dự đoán, đối phó, chống lại, và phục hồi từ các tác động có hại của các hiện tượng vật lý (Wisner và nnk, 2004) Tính dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường và các quy trình
Phương trình nêu trên bày cách đánh giá xác định rủi ro thiên tai tại các xã ven biển huyện Hải Hậu Theo đó, rủi ro thiên tai (Risk) được tính bằng tích của
3 thành phần, bao gồm: nhân tố hiểm họa thiên tai H (Hazard), tình trạng dễ bị tổn thương V (Vulnerability), mức độ phơi bày trước hiểm họa E (Exposures)
Việc giảm hiểm họa là rất khó nhất là các hiểm họa từ tự nhiên, nên chỉ có thể phát triển theo hướng dự đoán, dự báo để phòng tránh thiệt hại đến con người, tài sản và khắc phục hậu quả sau khi hiểm họa xảy ra Đồng thời, để giảm nhẹ rủi ro thiên tai cần tập trung nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu tác động của hiểm họa, giảm mức độ phơi bày trước hiểm họa, giảm mức độ bị tổn thương và nâng cao khả năng chống chịu (resilience) của các đối tượng chịu tác động
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu
Trang 38cứu, cơ sở khoa học của biến đổi khí hậu, rủi ro thiên tai,… được thu thập từ Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia, các giáo trình của Khoa sau đại học, của các Giảng viên khi giảng dạy chương trình thạc sỹ về biến đổi khí hậu; thông tin
tư liệu do Thầy giáo hướng dẫn cung cấp
Các thông tin thứ cấp được thu thập trực tiếp từ UBND huyện Hải Hậu, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp huyện, UBND xã, Sở TN&MT tỉnh Nam Định, Sở KHCN tỉnh Nam Định, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão, chủ yếu tập trung vào các nội dung:
- Các điều kiện tự nhiên: địa hình, khí hậu, thủy văn, tài nguyên, môi trường
- Các điều kiện kinh tế- xã hội qua niêm giám thống kê, các báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm
- Các công trình phòng chống lũ lụt, bão, hạn hán, nhiễm mặn, xói mòn; các kế hoạch phòng chống lụt bão- tìm kiếm cứu nạn; văn bản liên quan đến triển khai, thực hiện và đánh giá tình hình ứng phó với thiên tai tại địa phương
2.2.2 Phương pháp thống kê
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Đề tài thu thập thông tin dữ liệu theo dõi bão, ATNĐ qua các năm từ 1961-2012 Trên cơ sở đặc điểm các biến động của bão và ATNĐ trên biển đông và khu vực ven bờ, tập trung thống kê, kết hợp đánh giá đặc điểm biến động của các cơn bão có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến bờ biển Việt Nam trong đó có khu vực các xã ven biển của huyện Hải Hậu Từ những kết quả phân tích cho phép đưa ra được những đặc trưng thống kê và phân bố số lượng, cường độ bão ảnh hưởng đến bờ biển huyện Hải Hậu
Thống kê cấp bão kèm theo khu vực đổ bộ vào vùng ven bờ Việt Nam được xác định theo thang Beaufort Dựa vào tốc độ gió mạnh nhất ở vùng gần trung tâm xoáy thuận nhiệt đới, Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) quy định phân loại xoáy thuận nhiệt đới như trình bày ở bảng 2.2:
Trang 39Bảng 2.2 Phân loại xoáy thuận nhiệt đới theo sức gió mạnh nhất
và mức độ ảnh hưởng
Cấp Gió cực đại
(km/h)
Cấp gió (beaufort)
Mức độ ảnh hưởng (do sức gió)
Bão
(Tropical Storm) 62 - 88 8 – 9
Bẻ gẫy cành cây lớn, tốc mái nhà, không thể đi ngược gió Biển động rất mạnh
Tốc đô ̣ gió ma ̣nh nhất ở vùng gần trung tâm (tốc đô ̣ gió cực đa ̣i) được quy định khác nhau ở mỗi nước Tổ chức Khí tượng thế giới quy đi ̣nh lấy tốc đô ̣ gió mạnh nhất duy trì liên tục trong thời gian 10 phút (sử dụng trong các bản tin của Nhâ ̣t và Hồng Kông), Cơ quan dự báo bão của Hải quân Mỹ lấy tốc đô ̣ gió mạnh nhất duy trì liên tục trong thời gian 01 phút Ở Việt Nam, tốc đô ̣ gió ma ̣nh nhất được lấy trong 02 phút Cơ quan Khí tượng Úc lấy tốc độ gió giật mạnh nhất chứ không lấy gió cực đại duy trì liên tục Chính sự khác nhau này đã dẫn đến
sự khác nhau khi đánh giá cường đô ̣ của bão Qua nhiều hội nghi ̣, các chuyên gia WMO đã đề xuất xác định các hệ số chuyển đổi vào năm 2004 Các tác giả
Mỹ cho rằng, do sự khác nhau về thời gian lấy trung bình mà cường độ bão trong các bản tin dự báo của các nước thấp hơn của Mỹ khoảng 12% Quy chế báo bão, ATNĐ, lũ của Việt Nam dùng thuật ngữ "gió mạnh nhất" (tức gió cực đại) và "có thể có gió giật", mà không dùng thuật ngữ "duy trì liên tục", nên phải
Trang 402.2.3 Phương pháp thực hiện kiểm kê đất đai
- Phương pháp thu thập thông tin hiện trạng sử dụng đất phục vụ tổng hợp
số liệu kiểm kê đất đai cấp xã: Thông tin hiện trạng sử dụng đất để tổng hợp số liệu kiểm kê đất đai cấp xã được thu thập bằng phương pháp điều tra, khoanh vẽ
từ hồ sơ địa chính và các hồ sơ thủ tục hành chính về đất đai, hồ sơ thanh tra, kiểm tra sử dụng đất đã thực hiện ở các cấp trong kỳ, kết hợp điều tra thực địa
để rà soát chỉnh lý khu vực biến động và khoanh vẽ bổ sung các trường hợp sử dụng đất chưa thể hiện trên tài liệu bản đồ sử dụng để điều tra kiểm kê
- Sử dụng bản đồ điều tra kiểm kê:
+ Photo bản đồ tỷ lệ 1/1000 kèm theo là sổ mục kê đất biểu thống kê đất đai năm 2010
+ Thu thập hồ sơ liên quan đến công tác giao đất, thu hồi đất trên địa bàn,
hồ sơ cấp GCN QSD đất tại địa phương và các tài liệu, mẫu biểu liên quan
+ Xã chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu quản lý tại địa phương và cùng tiến hành kiểm tra tại thực địa Rà soát, kiểm tra phân loại tài liệu, bản đồ, kiểm tra đối chiếu với thực địa, chỉnh lý trên bản đồ phục vụ kiểm kê tỷ lệ 1:1000 các thửa đất biến động trong kỳ kiểm kê Các thửa đất có cùng chung mục đích sử dụng, cùng đối tượng quản lý đã được khoanh bao trên bản đồ và được số hóa lập bản
đồ khoanh đất (được tính toán diện tích, quy đối tượng quản lý, đánh số thứ tự khoanh đất v v.) là dữ liệu cho lập các biểu thống kê đất đai bằng phần mềm TK2015
+ Tính toán diện tích biến động trên bản đồ được thực hiện kết hợp giữa phương pháp thống kê diện tích trên hồ sơ, với tính toán trên bản đồ số bằng phần mềm Micro Station Công tác tổng hợp, xây dựng hệ thống biểu mẫu kiểm
kê đất đai được thực hiện bằng phần mềm TK2015
- Kết quả tính toán bằng phần mềm TK2015 của từng xã trên cơ sở số liệu kiểm kê 2010 và biến động hiện trạng sử dụng đất trên cơ sở các nguồn số liệu thu thập giúp so sánh và xác định khu vực, diện tích đất bị mất, xác định diện tích rừng bị biến động
2.2.4 Phương pháp xác định độ nhiễm mặn