TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA NÔNG – LÂM LÒ VĂN THƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NỒNG ĐỘ VÀ THỜI GIAN NHÚNG THUỐC IBA ĐẾN KHẢ NĂNG RA RỄ CỦA HOM CÂY NGHIẾN Burre
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA NÔNG – LÂM
LÒ VĂN THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NỒNG ĐỘ VÀ THỜI GIAN NHÚNG THUỐC IBA ĐẾN KHẢ NĂNG RA RỄ CỦA
HOM CÂY NGHIẾN (Burretiodendron hsienmu) TẠI VƯỜN ƯƠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Giảng viên hướng dẫn: ThS, Nguyễn Thị Bích Ngọc
Sơn La - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHOA NÔNG – LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NỒNG ĐỘ VÀ THỜI GIAN NHÚNG THUỐC IBA ĐẾN KHẢ NĂNG RA RỄ CỦA HOM
CÂY NGHIẾN (Burretiodendron hsienmu) TẠI VƯỜN ƯƠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Bích Ngọc
Họ và tên sinh viên thực hiện: Lò Văn Thương
Lớp: K53 Đại học Lâm Sinh
Sơn La - 2016
Trang 3Để hoàn thành đề tài này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô trong Khoa Nông Lâm Bộ môn Lâm sinh, các thầy cô giáo phụ trách vườn ươm đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập cho khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cám ơn cô giáo, ThS Nguyễn Thị Bích Ngọc đã nhiệt tình hướng dẫn em cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em hoàn thành tốt khóa thực tập
Trong quá trình thực hiện đề tài này, do hạn chế về mặt kiến thức, năng lực chủ quan và còn nhiều bỡ ngỡ Đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
ĐẶT VẤN ĐỀ 7
PHẦN I 3
TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 3
1.1 Những thông tin cơ bản về loài Nghiến 3
1.2 Trên thế giới 4
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới về loài Nghiến 4
1.2.2 Những nghiên cứu trên thế giới về giâm hom cây lâm nghiệp nói chung 5
1.3.Ở Việt Nam 7
1.3.1 Nghiên cứu ở Việt Nam về cây Nghiến 7
1.3.2 Nghiên cứu về giâm hom cây lâm nghiệp 9
PHẦN II 12
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.1.1 Mục tiêu chung 12
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 12
2.2 Đối tượng nghiên cứu 12
2.3 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu 12
2.3.1 Phạm vi nghiên cứu 12
2.3.2 Giới hạn nghiên cứu 12
2.4 Nội dung nghiên cứu 13
2.4.1 Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm thuốc đến tỉ lệ sống chết của hom giâm 13
2.4.2 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm thuốc đến khả năng ra chồi của hom 13
2.4.3 Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm thuốc đến khả năng ra rễ của hom giâm 13
Trang 52.5 Phương pháp nghiên cứu 13
2.5.1 Phương pháp kế thừa số liệu 13
2.5.2 Chuẩn bị dụng cụ và vật liệu nghiên cứu: 13
2.5.2.2 Phương pháp lựa chọn và xử lý hom giâm 13
2.5.3 Phương pháp tiến hành 14
2.5.3.1 Bố trí thí nghiệm: Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ RCB (Randomize Complety Block) 15
2.5.3.2 Phương pháp chăm sóc hom 16
2.5.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.5.4 Phương pháp nội nghiệp 18
2.5.4.1 Tính các đặc trưng 18
2.5.4.2 Kiểm tra thống kê ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm tới kết quả giâm hom 19
PHẦN III 23
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23
3.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.1.Vị trí địa lý 23
3.1.2 Địa hình 23
3.1.3 Khí hậu 24
3.1.4 Thủy văn 24
3.1.5 Đất đai 24
3.2 Đặc điểm dân sinh - kinh tế - xã hội 25
3.2.1 Dân số và dân tộc 25
3.2.2.Văn hoá - xã hội 25
3.2.3 Kinh tế 26
PHẦN IV 29
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm thuốc đến tỉ lệ sống chết của hom giâm 29
Trang 64.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm thuốc đến
khả năng ra chồi của hom 32
4.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ và loại thuốc kích thích sinh trưởng, thời gian ngâm thuốc đến tỉ lệ ra chồi của hom giâm 32
4.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ và loại thuốc kích thích sinh trưởng, thời gian ngâm thuốc đến chiều dài trung bình chồi của hom giâm 34
4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm thuốc đến khả năng ra rễ, số rễ trên hom và chiều dài trung bình rễ của hom giâm 36
4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm thuốc đến khả năng ra rễ của hom giâm 36
4.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm thuốc đến số rễ trên hom và chiều dài trung bình rễ của hom giâm 38
PHẦN V 43
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Tồn tại 44
5.3 Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7
DANH LỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH
Biểu 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 15
Biểu 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm theo 3 lần lặp 16
Biểu 2.3: Tỉ lệ sống, chết của hom giâm 17
Biểu 2.4: Tỉ lệ ra chồi giâm hom cây Nghiến 17
Biểu 2.5: Khả năng hình thành mô sẹo và số hom bắt đầu ra rễ 18
Biểu 2.6: Số rễ trên hom và chiều dài rễ trung bình của hom Nghiến 18
Bảng 4.1: Tỉ lệ sống của hom giâm theo thời gian nghiên cứu 29
Bảng 4.2: Kết quả theo dõi tỉ lệ ra chồi của hom giâm cây Nghiến tuần 13 và tuần 40 32
Bảng 4.3: Kết quả theo dõi chiều dài trung bình chồi của hom giâm cây Nghiến qua 2 đợt thu số liệu 34
Bảng 4.5: Kết quả số hom ra rễ trong các công thức thí nghiệm tại tuần 40 36
Bảng 4.6: Số rễ trên hom và chiều dài rễ trung bình của hom Nghiến tuần 40 38
Bảng 4.7: Phân tích phương sai 2 nhân tố về chiều dài rễ của hom giâm tuần 40 .41
Hình 1.1: Hình thái lá nghiến 3
Hình 1.2 Hình ảnh thân, vỏ của Nghiến 4
Hình 2.1.Thuốc diệt nấm (RedomilGold) 14
Hình 4.1: Biểu đồ tỉ lệ sống, chết của hom giâm cây Nghiến tại tuần 13 và tuần 40 30
Hình 4.2: Tỉ lệ hom ra chồi của hom giâm tại tuần 13 và tuần 40 33
Hình 4.3: Biểu đồ chiều dài trung bình chồi của hom giâm tại tuần 13 và tuần 40 35
Hìn 4.4 Hom ra chồi và chiều dài trung bình chồi công thức 4 và công thức 1 của hom giâm 35
Hình 4.5: Biểu đồ tỉ lệ ra rễ và không ra rễ của hom giâm cây Nghiến tuần 40 37
Hình 4.6: Biểu đồ chiều dài rễ trung bình của hom giâm cây Nghiến tuần 40 40
Hình 4.7: Hom ra rễ và chiều dài của rễ của hom giâm 41
Trang 81
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiến có tên khoa học là (Burretiodendron hsienmu), thuộc họ Đay (Tiliaceae)
là một loài cây quý hiếm trong thảm thực vật của rừng nước ta Gỗ Nghiến chắc, bền,
xe, gối trục, làm đồ thủ công mỹ nghệ và đồ gia dụng v.v… mang lại giá trị kinh tế cao
Nghiến là cây gỗ lớn thường xanh, cao đến 40m, đường kính lớn hơn 1m, là loài cây ưa sáng mọc trên núi đá vôi ở độ cao từ 1000m trở xuống Ở Việt Nam, Nghiến phân bố tự nhiên tại các tỉnh phía Bắc như: Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên và trên thế giới chỉ phân bố tại các tỉnh phía bắc Trung Quốc, Nghiến là loài cây quý hiếm của nước ta thuộc nhóm sẽ nguy cấp (V) trong sách đỏ Việt Nam (2007)
Tại nước ta, trong những năm gần đây Nghiến đã bị khai thác bừa bãi với cường
độ mạnh đã làm cho số lượng cây Nghiến trong tự nhiên còn lại rất ít Số lượng cây
mẹ có khả năng gieo giống lại càng ít, đồng thời với đặc điểm chỉ phân bố trên địa hình hiểm trở núi đá vôi, mùa hoa quả thường không ổn định, cây trưởng thành có khi
3 năm mới có một năm sai quả, nên việc thu hái hạt giống để phục vụ công tác nhân giống bảo tồn loài gặp nhiều khó khăn Do vậy, việc nghiên cứu nhân giống Nghiến bằng các phương pháp khác như: Giâm hom, nuôi cấy mô V.v… là rất cần thiết Tuy nhiên, những nghiên cứu về Nghiến chủ yếu mới tập trung về mặt cấu trúc và tái sinh Tại khu vực Sơn La, cũng có một vài nghiên cứu về thử nghiệm nhân giống Nghiến bằng hom tuy nhiên các tác giả vẫn chưa đưa ra được những kết quả rõ ràng như: Bùi Thị Tiền (2012) và Lò Thị Trang (2014 [21], [25] Vì thế, các nghiên cứu kỹ hơn về phương pháp nhân giống bằng giâm hom cho loài cây này là rất cần thiết nhằm giúp bảo tồn và phát triển loài Nghiến cho địa phương
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom là một phương pháp nhân giống khá đơn giản mà lại có hiệu suất nhân giống cao, không chỉ giúp bảo tồn loài,
mà còn giúp duy trì những đặc tính ưu việt của cây mẹ phục vụ cho công tác trồng rừng cao sản với quy mô lớn Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giâm hom đối với các loài cây lâm nghiệp mà đóng vai trò rất quan trọng là thuốc kích thích ra rễ
Trang 92
Trong đó, thuốc IBA là loại thuốc hay được sử dụng trong lâm nghiệp trong việc kích
thích ra rễ của hom cho nhiều loài cây và cho kết quả tốt như: Cây Trôm (Sterculia),
Pơ Mu (Fokienia hodgisii), Bách Xanh (Calocedrus macrolepis), Hồng Tùng (Dacrydium elatum), Keo (Acacia sp,), Bạch Đàn (Eucalyptus sp).v.v…
Dựa trên những kinh nghiệm đã thành công cho các loài cây lâm nghiệp khác, tính cấp thiết và đặc điểm sinh vật học của loài, tôi tiến hành thực hiện đề
tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của các nồng độ và thời gian nhúng thuốc IBA đến khả năng ra rễ của hom cây Nghiến (Burretiodendron hsienmu) tại vườn ươm Trường Đại học Tây Bắc” nhằm góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống cho loài
Nghiến bằng phương pháp giâm hom tại địa phương
Trang 103
PHẦN I TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Những thông tin cơ bản về loài Nghiến
Tên khoa học: Burretiodendron hsienmu
Họ Đay: Tiliaceae
a Đặc điểm nhận dạng
Cây gỗ lớn, cao 30 - 35 m, đường kính tới 80 - 90 cm, Cành non không có lông,
Lá hình trứng rộng, mép nguyên; gân bên 5 - 7 đôi, trong đó có 3 gân gốc; cuống lá dài
3 - 5 cm Hoa đơn tính, Hoa đực có đường kính 1,5 cm Đài hình chuông, ở đầu xẻ 5 thuỳ sâu, dài 1,5 cm Cánh hoa 5, dài 1,3 cm Nhị khoảng 25, xếp thành 5 bó; chỉ nhị dài 1 – 1,3 cm; bao phấn hình bầu dục, dài 3 mm Quả khô hình 5 cạnh (giống quả Khế), tự mở, đường kính 1,8 cm
b Sinh học và sinh thái:
Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 8 – 10 Cây ưa sáng, mọc rải rác trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm ở vùng núi đá vôi, ở độ cao dưới 800 m, tái sinh bằng hạt, cây mạ và cây con gặp khá phổ biến dưới tán rừng
Hình 1.1 Hình thái lá Nghiến
Trang 114
Hình 1.2 Hình ảnh thân, vỏ của Nghiến 1.2 Trên thế giới
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới về loài Nghiến
Nghiến là một loài cây gỗ quý đã được nhiều nhà khoa học trên thế nghiên cứu
về loài cây này có một số công trình nghiên cứu sau:
Nghiến (Burretiodendron hsienmu Chun et How) thuộc họ Đay (Tiliaceae), theo tiếng Trung Quốc gọi là Xianmu [4] Ngoài ra, Nghiến còn được sử dụng với nhiều tên khoa học đồng nghĩa khác như: Burretiodendron tonkinense (A, Chev,) Kosterm,; Burretiodendron tonkinensis Kosterm,; Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chang et Mian; Pentace tonkinensis A,Chev, [5], [6]
Nghiến được nghiên cứu và phát hiện đầu tiên vào năm 1956 tại Trung Quốc bởi
2 giáo sư nổi tiếng là Chun Woon-young và How Foon-chew, được lấy tên là Burretiodendron hsienmu Chun et How và sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay [9] Đến năm 1978, Nghiến tiếp tục được 2 giáo sư là Chiang Hong Ta và Mian Ru Huai mô tả, đưa ra những điểm mà họ cho là có sự khác biệt so với những mô tả của Chun et How (1956) và yêu cầu thành lập một chi riêng, gọi tắt là (Chiang et Mian, 1978) Do đó,
Trang 125
một tên khoa học đồng nghĩa đã được đưa ra là Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chang et Mian, tuy nhiên cho đến nay tên này vẫn không được sử dụng rộng rãi [3]
Theo nghiên cứu của Li và cộng sự, (1956); Hu và cộng sự, (1980) Nghiến phát triển tốt trên núi đá vôi tinh khiết, thường trên các sườn dốc, trên đá trần hoặc trong đất nông Ngược lại, nó không thể tồn tại trong các khu vực đồi núi, nơi bề mặt có nguồn gốc từ các loại đá có tính axit như sa thạch hoặc đá phiến sét, ngay cả khi độ dốc nhẹ và tầng đất sâu Ở phía Bắc khu vực nhiệt đới, những cây đại thụ của loài này thường chiếm lĩnh các lớp trên của rừng nhiệt đới trên núi đá vôi Ở độ cao dưới 700 mét, Nghiến thường mọc hỗn giao với các loài cây nhiệt đới như Garcinia paucinervis, Drypetes perreticutata, Drypetes confertiflora, Vluricoccum sinense and Walsura robusta Ở miền cận nhiệt đới, nơi có độ cao từ 700-900 mét hoặc cao hơn, Nghiến vẫn tăng trưởng khá tốt, và thường mọc hỗn giao với các loài cây cận nhiệt đới như Cinnamomum calcarea, Cryptocarya maclurei, Castanopsis hainanensis và Cyclobalanopsis glauca Xa hơn về phía Bắc, Nghiến không phân bố liên tục thành những khu vực rừng lớn mà nằm rải rác kéo dài đến 24°16' vĩ độ Bắc [7], [8]
Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của Nghiến, Wang Xianpu và cộng sự (1986) trong báo cáo “Burretiodendron hsienmu Chun & How: Đặc điểm sinh thái học và bảo vệ loài” đã khẳng định: Nghiến là một loài cây gỗ lớn.Trong tự nhiên, những cây Nghiến khổng lồ thường có bạnh vè, làm cho đường kính ngang ngực có thể phát triển từ 1 – 3 m trên vùng núi đá vôi, với hệ rễ dầy nổi lên bề mặt đá và vươn rộng ra khỏi phạm vi tán lá Các chồi và lá non của Nghiến có nhựa dính, lá cây trưởng thành dầy, cứng, đầu nhọn dần, phát triển cấu trúc xeromorphic giúp cho cây có khả năng thích nghi với môi trường sống khô, biên độ nhiệt biến động lớn trong năm Tán
lá dầy, cành nhánh phát triển mở rộng thường xuyên, tạo thành một bức khảm giúp tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời [4]
1.2.2 Những nghiên cứu trên thế giới về giâm hom cây lâm nghiệp nói chung
Trên thế giới có nền lâm nghiệp khá phát triển, một số loài cây gỗ quý hiếm đang
bị khai thác dần cạn kiệt để đáp ứng được nhu cầu trồng rừng và bảo vệ nguồn gen quý hiếm đó nhiều nhà khoa học trên thế giới đã ứng dụng chất kích thích sinh trưởng để
Trang 13Schubert 1967, nhuộm màu để xác định sức sống của hạt, các hóa chất thường dùng là Iodua kali, Indigocacmin, trong những năm gần đây: 2, 3, 5 triphenyl tretrazoolium clorit (TTC) đã được nhiều người chú ý [10]
Theo Frison (1967) và Nesterov (1967) cho thấy mùa xuân và mùa mưa là 2 mùa giâm hom có tỉ lệ cao nhất [12]
Năm 1974, Martin và Quillet đã thí nghiệm giâm hom đối với cây Lim ba (Terminali superba) và thấy rằng để nguyên 2-4 lá trên thân thì tỷ lệ ra rễ là 63% - 75%, cắt một phần phiến lá có thể cho tỉ lệ ra rễ 88% - 100%, cắt bỏ hoàn toàn lá thì hom giâm không ra rễ [2]
Ciwang và R.J.Haines đã nghiên cứu nhân giống hom trên các cây Keo tai tượng
ở vườn ươm cho thấy ở công thức xử lý thuốc IBA và Tihemone đạt tỷ lệ ra rễ từ 71% đến 79% Khi dùng lá Keo tai tượng và Keo lá chàm làm vật liệu giâm hom tác giả cho thấy lấy lá cây ở phần gốc chỉ cho tỉ lệ ra rễ là 34% trong đó lá thứ 3 đến lá thứ 5 cho
tỉ lệ ra rễ là từ 79% đến 86% Tác giả đưa ra kết luận khả năng ra rễ của hom phụ thuộc vào đối tượng dòng cây mẹ lấy hom [21]
Chaperon (1984) cho rằng chiến lược cải thiê ̣n giống cây rừng phải tính tới viê ̣c sử du ̣ng thành tha ̣o nhân giống hom mà ảnh hưởng của nó sẽ thay đổi theo mức đô ̣ cải tiến kỹ thuâ ̣t giâm hom Sơ đồ cải thiê ̣n giống cây rừng theo hướng có sử du ̣ng nhân
Trang 141.3.1 Nghiên cứu ở Việt Nam về cây Nghiến
Nhân giống cây rừng bằng hom là phương pháp phổ biến, thích hợp nhất với điều kiện kinh tế và trình độ sản xuất lâm nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Các nhà giâm hom cây lâm nghiệp quy mô công nghiệp thường có kết cấu phức tạp, chi phí lớn, người dân khó sử dụng để phục vụ cho các nhu cầu đó ở Việt Nam có một
số công trình nghiên cứu sau:
Nghiến còn được gọi là Kiên quang, Nghiến đỏ, Nghiến trứng, Kiêng mật, Kiêng đỏ với tên khoa học là (Burretiodendron hsienmu Chun et How) thuộc họ Đay (Tiliaceae) Ngoài ra, Nghiến còn được sử dụng với nhiều tên khoa học đồng nghĩa khác như: Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chiang et Miau; Pentace tonkinensis A,Chev, [1], [2], [16], [17], [18] Còn theo tiếng của người dân tộc H’Mông (Sơn La), Nghiến được gọi là Pá tông [3]
Theo Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000) [1], Nghiến là cây gỗ lớn, cao trên 30m, đường kính có thể tới 100cm, bạn lớn Thân tròn thẳng, vỏ màu xám, sau xám nâu, bong mảng Lá đơn mọc cách, hình trứng tròn, đầu nhọn dần, có mũi lồi dài, đuôi hình tim hoặc gần tròn dài 8 – 12cm, phiến lá dầy, cứng, nhẵn, bóng, mép nguyên, có
3 gân gốc Nách gân lá có tuyến và có túm long Cuống lá thô, dài 3,5 – 5 cm, hơi đỏ
Lá non hơi dính
Trang 158
Hoàng Kim Ngũ và cộng sự (2000) [19] khi nghiên cứu đánh giá tái sinh loài Nghiến trên các vùng núi đá vôi tại Cao Bằng, Bắc Kạn đã có những mô tả về đặc điểm hình thái Nghiến tái sinh (dưới 3 tuổi) khá chi tiết như: Cây mầm (cây dưới 6 tháng tuổi), lá có dạng hình tai, thân mềm, dài 3,89cm – 4,5cm, rộng 2,4cm, rễ dài trung bình 4,6cm Ở tầng thảm mục, rễ mầm dài tới 10cm, đây là những đặc điểm cơ bản để xác định cây mầm; Cây con (là những cây trên 6 tháng tuổi), thân thẳng, tròn, chưa phân cành, đường kính bình quân 0,45cm, chiều cao vút ngọn đạt tới 45cm, vỏ ngoài mầu xanh xám, phần non màu xanh Cây một tuổi có dạng lá đơn mọc cách vòng, thường có 6 – 8 lá tập trung ở đỉnh sinh trưởng, có 2 lá kèm hình tam giác, lá kèm rụng sớm, phiến lá gần tròn, đuôi lá nhọn, gốc lá hình tim, lá mầu xanh thẫm, lá non màu đỏ, gân nổi rõ, hệ gân chân chim (3 gân gốc), các gân thứ cấp hợp mép, mép
lá nguyên cuống, lá dài từ 6 – 8cm, mầu xanh, khi rụng để lại vết sẹo hình đế ngược Khi cây 1 tuổi, rễ cấp I có thể dài 35cm và bao gồm 3 cấp rễ Rễ cấp I phát triển tương đối mạnh, đâm sâu xuống giúp cho cây đứng vững ngay từ nhỏ Rễ cấp III phát triển với số lượng nhiều, ở tầng đất mặt chiều dài bình quân đạt 18cm Tán rễ lớn hơn tán
lá, mục đích phân bố rộng nhằm giúp cây đứng vững trên núi đá và hút chất dinh dưỡng ở tầng mùn nhằm thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng ở giai đoạn đầu
Khi nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của Nghiến tại khu vực Thuận Châu, Sơn La, Phàng Thị Thơm (2009) [13] cho biết, hiện nay những cây Nghiến cổ thụ đã bị khai thác kiệt, chỉ còn lại chủ yếu là cây có đường kính rất nhỏ, dao động từ 19 cm – 24,7cm; chiều cao dao động từ 15,4cm – 18,5cm; thân thường phân cành sớm, chiều cao dưới cành thấp Tác giả cũng đã nghiên cứu về một số đặc điểm hình thái lá, rễ, kết quả cho thấy: Đối với cây trưởng thành, chiều dài cuống lá dao động từ 5,1cm – 6,5cm; chiều dài lá từ 8,8cm – 11,9cm; chiều rộng lá từ 7,2cm – 7,7cm Đối với cây tái sinh: Vỏ cây ở gần gốc có màu xám, giáp với ngọn có màu xanh; lá non hơi dính; Nghiến có hệ rễ cọc phát triển mạnh, ăn sâu xuống dưới đất giúp cây đứng vững
Bùi Thị Tiền (2012) đã thử nghiệm nhân giống bằng hom Nghiến, nhưng tác giả vẫn chưa đưa ra được phương pháp thích hợp cho việc nhân giống bằng hom loài cây này [20]
Trang 169
Lò Thị Trang (2014), nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ và loại thuốc kích thích sinh trưởng: IBA, IAA, NAA đến khả năng nhân giống bằng hom cành loài Nghiến, thời gian tiến hành nghiên cứu là mùa đông Kết quả sau 3 tháng, một số hom
đã có hiện tượng hình thành mô sẹo nhưng chưa có hom nào ra rễ Vì thế, nghiên cứu vẫn chưa khẳng định được loại thuốc cũng như nồng độ thuốc thích hợp nhất đến khả năng ra rễ, số lượng, chất lượng và chiều dài rễ của hom một cách chính xác [22]
1.3.2 Nghiên cứu về giâm hom cây lâm nghiệp
Năm 1990, Lê Đình Khả và các cộng sự đã nghiên cứu giâm hom cho Keo tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai Các thí nghiệm tập trung nghiên cứu về thời vụ giâm, loại nhà giâm, môi trường cắm hom và phương pháp xử lý chồi, kết quả cho thấy việc
xử lý chất điều hòa sinh trưởng có ảnh hưởng đến giâm hom [14]
Hoàng Kim Ngũ (1990-1998), đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật…Trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn Tác giả đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ thuật gây trồng các loài cây này ở các địa phương trên Từ năm 1999 tác giả tiến hành gây trồng thử nghiệm các loài cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn [23]
Tháng 9 năm 2001, Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến ở Viê ̣n Khoa ho ̣c Lâm nghiê ̣p Viê ̣t Nam đã tiến hành thí nghiê ̣m giâm hom cây Hồng Tùng Kết quả thu được như sau: ở công thức đối chứng hom của cây Hồng Tùng cho tỷ lê ̣ ra rễ là 25%, còn các công thức được xử lý chất kích thích sinh trưởng tỷ lê ̣ hom ra rễ cao gấp 2 đến 3,5 lần so với công thức đối chứng, trong đó chất IBA 1,5% cho tỷ lê ̣ cao nhất còn AIA và ANA đều cho tỷ lê ̣ hom ra rễ trên 60%
Nguyễn Hoàng Nghĩa và Nguyễn Văn Tho ̣ (Viê ̣n Khoa ho ̣c Lâm nghiê ̣p Viê ̣t Nam, năm 2006) đã nghiên cứu giâm hom cây Bách vàng, kết quả của nghiên cứu thu được như sau: Hom giâm cây Bách vàng cho tỷ lê ̣ ra rễ cao 80% khi chưa có thuốc kích thích sinh trưởng Khi dùng thuốc kích thích sinh trưởng như (RA, AIB, AIA, ABT1) thì tỉ lê ̣ hom ra rễ đạt 90% trở lên, trong đó có hai loa ̣i thuốc cho tỷ lê ̣ ra rễ cao
Trang 17Năm 2010, trên cơ sở các số liệu điều tra khảo sát thực trạng sản xuất cây trồng lâm nghiệp 5 tỉnh Tây Nguyên và các kết quả khảo nghiệm một số thiết bị tưới, các thí nghiệm về phương pháp và chế độ tưới cho vườn ươm, đã thiết kế và xây dựng mô hình vườn giâm hom quy mô thôn bản (100,000 cây/năm) tại K’bang, Gia Lai với kết cấu đơn giản, chi phí đầu tư thấp, phù hợp với điều kiện thôn bản ở Tây Nguyên Thí nghiệm giâm hom cây Keo Lai BV32 và Bạch Đàn UP100 trong vườn giâm hom cho
tỉ lệ ra rễ của hom Keo lai đạt 97%, hom Bạch Đàn đạt 91% [24]
Nghiên cứu tác động của Auxin và Gibberelline đến khả năng ra rễ của hom giâm Sao Đen tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế cho thấy, NAA có tác dụng kích thích ra rễ, còn GA3 lại ức chế ra rễ Nồng độ NAA thích hợp cho khả năng ra rễ của hom giâm Sao Đen là 1000ppm với thời gian nhúng hom giâm 5 giây Nồng độ càng cao và thời gian nhúng hom giâm càng lớn thì khả năng ức chế của NAA và GA3 càng mạnh Hom giâm 1 tuổi có khả năng ra rễ tốt hơn hom giâm 2 và 3 tuổi [24]
Trần Bình Đà (2009), đã nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc NAA đến khả năng
ra rễ trong giâm hom Hà thủ ô trắng theo cách lấy hom và các nồng độ thuốc khác nhau: 250ppm, 500ppm, 750ppm, 1000ppm và đối chứng kết quả cho thấy thuốc NAA với nồng độ 500ppm là thích hợp nhất, cho tỉ lệ ra rễ cao nhất 60%
Cũng nghiên cứu về giâm hom cây rừng, Phạm Thế Dũng (2014) đã tiến hành thử nghiệm nhân giống cây Cóc hành, Trôm phục vụ trồng rừng trên đất cát vùng khô hạn Tác giả đã thử nghiệm trên các loại giá thể: Cát và cát tro; Thuốc kích thích ra rễ IBA 500ppm dạng nước, thuốc thương phẩm NZD và NZM dạng bột với 3 lần lặp Kết
Trang 1811
quả cho đối với cây Cóc hành giá thể giâm hom tốt nhất là cát-tro với tỉ lệ ra rễ trên 31,8% và tỷ lệ có mô sẹo trên 33,2% và thuốc IBA cho khả năng ra rễ tốt nhất Đối với cây Trôm thì giâm hom trên cát với với thuốc kích thích ra rễ NZM thương phẩm cho
tỉ lệ ra rễ cao nhất 48,89%
Kết luận chung: Từ các kết quả và nghiên cứu trên có thể thấy các nghiên cứu về
nhân giống cây Nghiến còn khá ít và tỷ lệ thành công thấp Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng sâu hơn của từng loại thuốc đến khả năng ra rễ của loài cây Nghiến là rất cần thiết Kết quả sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện quy trình nhân giống Nghiến từ hom nhằm phục vụ cho công tác gây trồng và bảo tồn loài này tại địa phương
Trang 1912
PHẦN II MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về phương pháp nhân giống Nghiến bằng
hom góp phần bảo tồn và phát triển loài Nghiến
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Tìm được nồng độ thuốc, thời gian ngâm thuốc IBA có ảnh hưởng tốt nhất đến khả năng ra rễ của hom giâm Nghiến làm cơ sở đề xuất hướng dẫn kỹ thuật nhân giống Nghiến bằng hom
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Hom cây nghiến (Burretiodendron hsienmu) được lấy từ rừng tự nhiên tại khu
vực Sơn La
- Chất xử lý kích thích ra rễ: IBA (indol - 3 - butyric acid)
2.3 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
2.3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Các thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm Trường Đại học Tây Bắc
- Hom Nghiến được lấy trong rừng tự nhiên trên núi đá vôi tại xã Mường Giàng huyện Quỳnh Nhai, Sơn La
2.3.2 Giới hạn nghiên cứu
Trang 2013
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm
thuốc đến tỉ lệ sống chết của hom giâm
2.4.2 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm
thuốc đến khả năng ra chồi của hom
2.4.3 Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA và thời gian ngâm
thuốc đến khả năng ra rễ của hom giâm
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp kế thừa số liệu
- Kế thừa số liệu về đặc điểm khu vực nghiên cứu
- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu
2.5.2 Chuẩn bị dụng cụ và vật liệu nghiên cứu:
2.5.2.1 Chuẩn bị
- Dụng cụ: Dao, chậu, kéo, cuốc, thuổng, chén đựng thuốc, hộp xốp, giàn che
- Hoá chất: thuốc kích thích IBA nồng độ 5,000ppm, 10,000ppm, 15,000ppm
- Giá thể: 100% Cát sạch
2.5.2.2 Phương pháp lựa chọn và xử lý hom giâm
- Chọn cành: Chọn những cành bánh tẻ (độ hóa gỗ 50%), khỏe mạnh, vươn thẳng
và được chiếu sáng đầy đủ Không chọn những cành già cỗi, bị sâu bệnh
- Kỹ thuật cắt cành: Cành được cắt vào những buổi sáng sớm hoặc buổi chiều râm mát Cành sau khi cắt được ngâm vào nước, ngập khoảng 3cm, rồi buộc kín bằng túi bóng và mang về để tránh làm mất hơi nước, héo cành Cành thu hái hôm nào sẽ được xử lý ngay trong ngày hôm đó
- Kỹ thuật cắt hom: Hom được cắt ngay trong ngày lấy cành, vào buổi chiều mát Trước khi cắt phải chuẩn bị chậu nước sạch, dùng dao hoặc kéo sắc để cắt, tránh làm hom bị dập nát, tổn thương, loại bỏ chồi đã ra lá trên hom Mặt cắt phía gốc của hom cắt vát so với trục hom khoảng 40 – 450 tạo tiết diện lớn để hom lấy nước và dinh dưỡng, phía trên ngọn cắt bằng, 2 vát cắt phải ngược chiều nhau và cách nách mầm
Trang 2114
khoảng 0,5 cm để bảo vệ mầm; hom cắt dài 15 - 20 cm, mỗi hom khoảng 3 - 5 chồi ngủ hoặc lá, nếu có lá thì cắt bỏ hoàn toàn phiến lá của lá đầu tiên ở gốc hom, các lá còn lại cắt khoảng từ 1/2 - 2/3 diện tích lá
- Xử lý hom: Hom sau cắt được thả vào chậu nước Sau khi cắt đủ số lượng hom tiến hành ngâm vào thuốc Redomil Gold (1 lít nước pha 3,75g Redomil Gold) trong vòng 5 phút để diệt nấm bệnh, giữ cho hom được tươi và tránh mất nước Sau đó vớt hom ra rửa sạch bằng nước lã 2 - 3 lần Tiếp đến, cắm vào thuốc kích thích theo từng công thức, rồi cắm trực tiếp vào giá thể Nên cắm thẳng, sâu 3 - 4 cm tùy vào chiều dài của hom Trước khi cắm hom cần tưới giá thể đảm bảo độ ẩm (75 - 80%) và phun thuốc diệt nấm cho giá thể trước 3 ngày, phun thuốc diệt kiến, mối là thuốc Sherpa cho giá thể trước 4 ngày
Hình 2.1.Thuốc diệt nấm (RedomilGold)
Trang 2215
2.5.3.1 Bố trí thí nghiệm: Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ RCB (Randomize Complety Block)
+ Nồng độ: Đề tài sử dụng 3 cấp nồng độ: 5,000ppm, 10,000ppm,15,000ppm và đối chứng không dùng thuốc
+ Thời gian ngâm thuốc: Đề tài sử dụng 3 cấp: 10s, 20s, và 30s
+ Mỗi công thức được lặp lại 3 lần (30 hom/lần), Tổng số hom tại mỗi công thức
là 90 hom
+ Thứ tự bố trí các công thức thí nghiệm ngoài thực địa được tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên, không hoàn lại
Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày trong biểu như sau:
Biểu 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Thời gian Nồng độ
Đối chứng (không dùng thuốc) CT10 CT10 CT10
Các lần lặp được bốc thăm ngẫu nhiên, các công thức được kí hiệu theo các lần lặp để tiện thống kê số liệu, ví dụ: CT8,1: Công thức thí nghiệm 8, lần lặp 1 Cụ thể thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ sau:
Trang 232.5.3.2 Phương pháp chăm sóc hom
Sau khi giâm hom phải tiến hành các biện pháp chăm sóc như:
- Che bóng: Làm mái che bằng li nông đen, cường độ chiếu sáng 50% Trên từng lần lặp thiết kế màng phủ li nông để che tại luống tránh mất nước cho hom đồng thời tránh mưa, côn trùng sâu bệnh làm ảnh hưởng đến hom giâm Hàng ngày, màng che li-nông sẽ được mở ra 1 ngày 2 lần để lưu thông không khí
- Tưới nước: Nước tưới là nước sạch (nước máy) được tưới bằng bình phun sương, 2 lần/ngày, lượng tưới điều chỉnh theo thời tiết từng ngày đảm bảo đủ ẩm cho hom sinh trưởng từ 75-80%
- Phòng sâu bệnh hại: Định kỳ phun thuốc nấm 10 ngày 1 lần với liệu lượng 1 lít nước 3,75g, phun bằng bình phun sương sao cho ướt nền giá thể là ít nhất 3cm, phun thuốc kiến, mối 20 ngày 1 lần giống phun ướt nền giá thể như phun thuốc diệt nấm, bắt sâu, ốc sên, châu chấu tránh hại đến chồi hom sau những lần đi tưới nước hang ngày
2.5.3.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Thời gian thu thập:
+ Các chỉ tiêu về tỉ lệ hom sống, khả năng ra chồi (số lượng hom ra chồi, số chồi, chiều dài chồi, số lá trên chồi) được theo dõi định kỳ 7 ngày một lần
Trang 2417
+ Chỉ tiêu về khả năng hình thành mô sẹo, ra rễ (số lượng hom ra mô sẹo, ra rễ,
số rễ, chiều dài rễ) được thu thập vào ngày cuối cùng của đợt thí nghiệm
- Xác định các chỉ tiêu:
+ Hom chết: Khi đầu hom đen thâm và quắt lại, lá trên hom bị rụng là hom chết
+ Hom sống: các hom còn lại có hình thái bình thường, đã ra chồi vẫn đang xanh tươi đến ngày cuối thu thập số liệu là hom sống Hom sống bao gồm tất cả các hom đã
ra rễ hoặc mới chỉ hình thành mô sẹo
Các kết quả điều tra được ghi vào biểu sau:
Biểu 2.3: Tỉ lệ sống, chết của hom giâm
Ngày kiểm tra:………,
…
* Thu thập thông tin về chồi:
+ Khi hom có chồi nhú ra khỏi cành giâm thì tiến hành đếm số hom ra chồi (hom) và số chồi trên hom (cái), đo chiều dài chồi (cm) bằng thước đo (cm) chia vạch đến mm và đếm số lá trên hom (lá) Kết quả thu được ghi vào biểu sau:
Biểu 2.4: Tỉ lệ ra chồi giâm hom cây Nghiến
Ngày kiểm tra:……… Số lượng hom ra chồi:…………
Chiều dài trung bình chồi (cm)
Số lá trên
1 hom (lá)
Ghi chú
…
* Thu thập thông tin về hom ra mô sẹo và rễ
Trang 2518
+ Hom hình thành mô sẹo: Là những hom có hiện tượng nổi u sẹo trên gốc hom (phần tiếp xúc giá thể)
+ Hom ra rễ: Là những hom đã bong vẩy mô sẹo nứt đầu rễ trắng (chuyển màu
mô sẹo từ nâu đen sang trắng), bắt đầu nhú rễ từ mô sẹo và có từ 1 rễ trở nên thì quy định là hom ra rễ
Đối với những hom đã hình thành rễ tiến hành đo đếm số rễ trên hom (cái), chiều dài các rễ trên từng hom (cm), đo bằng thước kẻ có vạch chia (mm)
Biểu 2.5: Khả năng hình thành mô sẹo và số hom bắt đầu ra rễ
Ngày kiểm tra: ………
ra rễ
Hom mới hình thành mô sẹo
Tổng số hom sống
Ghi chú
…
Biểu 2.6: Số rễ trên hom và chiều dài rễ trung bình của hom Nghiến
Ngày kiểm tra: ………
STT
hom
Công thức
Hom ra rễ (cái)
Số rễ trên hom (cái)
Chiều dài rễ trung bình (cm)
Ghi chú
…
2.5.4 Phương pháp nội nghiệp
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp dưới các dạng bảng biểu để tổng hợp, phân tích các thông tin thu thập được
2.5.4.1 Tính các đặc trưng
- Tỉ lệ hom sống (ra chồi, rễ) =
số hom sống
x 100 (%) (2.1) Tổng số hom thí nghiệm
Trang 2619
- dtb chồi của mỗi CT =
Tổng số chiều dài chồi
x100 (cm) (2.2) Tổng số hom ra chồi
- dtb rễ của mỗi CT = Tổng số chiều dài rễ x 100 (cm) (2.3)
Tổng số hom ra rễ Với dtb là chiều dài trung bình
- Số rễ/hom =
Tổng số rễ
x 100 (rễ) (2.4) Tổng số hom ra rễ
- Tỉ lệ hom ra rễ =
Số hom ra rễ
x 100 (%) (2.5) Tổng số hom sống
2.5.4.2 Kiểm tra thống kê ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm tới kết quả giâm hom
a Kiểm tra thống kê ảnh hưởng của nồng độ thuốc kích thích, thời gian xử lí thuốc đến tỉ lệ hom sống, tỉ lệ hom ra chồi, rễ, mô sẹo của hom giâm bằng tiêu chuẩn
2
Bằng việc chia thành 2 cấp chất lượng: Hom sống, hom chết; Hom ra rễ, không
ra rễ; Hom ra chồi, không ra chồi; hom ra mô sẹo, không ra mô sẹo Số liệu được xử lý bằng phần mềm excel
Giả sử cần so sách a mẫu về chất, mỗi mẫu về chất chia ra b cấp chất lượng:
+ Giả thuyết Ho đặt ra là: Các mẫu thuần nhất với nhau về chất
+ Để kiểm kê giả thuyết Ho, dùng tiêu chuẩn phù hợp χn ,
f f
1
2
)(
Trang 2720
Nếu χn2 ≤ χ052 tra bảng với k = (a – 1)( b – 1) bậc tự do thì giả thuyết H0 được tạm thời chấp nhận, Ngược lại nếu χn2 > χ052 tra bảng với k = (a - 1)(b - 1) bậc tự do thì giả thuyết H0 bị bác bỏ, các mẫu về chất là không thuần nhất với nhau
Nếu giả thuyết bị bác bỏ, nhân tố thí nghiệm có ảnh hưởng rõ rệt đến tỉ lệ ra chồi, hoặc ra rễ, hoặc ra mô sẹo hoặc tỉ lệ sống của hom thì có thể tìm công thức có ảnh hưởng tốt nhất bằng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu chuẩn:
- Chọn 2 công thức có tỷ lệ tốt nhất, tính được tỉ lệ hom sống hoặc tỉ lệ hom ra chồi hoặc tỉ lệ hom ra rễ hoặc tỉ lệ hom ra mô sẹo tương ứng là Pm1; Pm2
- Đặt giả thuyết Ho: Pt1 = Pt2
b) So sánh đồng thời ảnh hưởng của nồng độ thuốc và giời gian ngâm thuốc đến chiều dài chồi, chiều dài hom ra rễ của hom giâm bằng phân tích phương sai 2 nhân tố
- Do đây là những đại lượng đứt quãng, để so sánh bằng phân tích phương sai 2 nhân tố cần đảm bảo điều kiện: Tổng thể có phân bố chuẩn, phương sai của 2 tổng thể bằng nhau Điều kiện này được thỏa mãn bằng việc đổi biến thông qua logarit đại lượng quan sát Gọi X là chiều dài trung bình chồi hoặc chiều dài trung bình hom ra rễ
Trang 2821
Tiến hành log(X) để chuyển về đại lượng liên tục và thỏa mãn điều kiện phân tích phương sai
Gọi A là nhân tố nồng độ, vậy a = 3
Gọi B là thời gian ngâm hom, vậy b = 3
Đặt giả thuyết:
Với nhân tố A
H0A: Nhân tố A tác động đồng đều kết quả thí nghiệm
H1A: Nhân tố A tác động không đồng đều kết quả thí nghiệm
Với nhân tố B
H0B: Nhân tố B tác động đồng đều kết quả thí nghiệm
H1B: Nhân tố B tác động không đồng đều kết quả thí nghiệm
Với tổ hợp 2 nhân tố AB
H0AB: Nhân tố AB không có tác động qua lại
H1AB: Hai nhân tố A và B có tác động qua lại
Quá trình phân tích được thực hiện trên exel:
Bước 1: Click Tools trên thanh thực đơn
Bước 2: Trong hộp thoại Tools chon Data Analysis
Bước 3: Trong hộp thoại Data analysis chon ANOVA; Two-Factor Without Replication, Click OK
Bước 4: Trong hộp thoại ANOVA: Two-Factor Without Replication khai báo những thông tin đầu vào (Input), bằng cách khai cả khối số liệu (có thể khai cả số thứ tự cấp của A và B nhưng phải đánh dấu vào ô Label)
Bước 5: Khai xuất kết quả (Output Options), thường chọn 1 ô phía dưới khối
số liệu đầu vào
Bước 6: Click Ok
Để tìm nồng độ thuốc kích thích cho chiều dài trung bình chồi và chiều dài trung bình rễ của hom giâm cao nhất
Trang 29n n S
x x
t
1 1
Trang 3023
PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.Vị trí địa lý
Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam:
Phía Bắc giáp hai tỉnh Yên Bái, Lào Cai
Phía Đông giáp Hòa Bình, Phú Thọ
Phía Tây giáp Lai Châu, Điện Biên
Phía Nam giáp Thanh Hóa
Sơn La có 250km đường biên giới với nước bạn Lào
Thành phố Sơn La là tỉnh lỵ của tỉnh Sơn La, có diện tích tự nhiên là 32,493 km2 Khu vực nằm trong tọa độ địa lý:
21015' - 21031' Vĩ độ Bắc
103045' - 104000' Kinh độ Đông
Thành phố Sơn La là trung tâm chính trị, kinh tế- văn hoá của tỉnh Sơn La, cách
Hà Nội khoảng 302 km về phía Tây Bắc, Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn, Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình
3.1.2 Địa hình
Thành phố Sơn La nằm trong vùng phân hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 chiếm tỷ lệ thấp Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh, Độ cao bình quân từ 700-800m so với mực nước biển
Trang 3124
3.1.3 Khí hậu
Khí hậu thành phố chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng
ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô lạnh, ít mưa
- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7,
8, 9 Do địa hình nghiêng dốc, nên vào các tháng này thường có lũ lụt, đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh
- Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô nóng gây thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế đặc biệt sản xuất nông - lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn
- Nhiệt độ không khí: Trung bình 220C, cao nhất 370C, thấp nhất 20C
- Độ ẩm không khí: Trung bình: 81%, thấp nhất: 25%
- Nắng: Tổng số giờ nắng là 1885 giờ
- Lượng bốc hơi bình quân 800 mm/năm
- Mưa: Lượng mưa bình quân: 1,299 mm/năm, số ngày mưa: 137 ngày
- Gió gồm 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; gió Tây Nam từ tháng 3 đến tháng 9 Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu ảnh hưởng của gió Tây (nóng và khô) Một số khu vực của thành phố còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau
3.1.4 Thủy văn
Trên địa bàn thành phố có sông Nậm La chảy qua Chủ yếu là hệ thống ke dẫn nước từ các khe núi chảy qua khu dân cư và những cánh đồng lúa, thêm vào đó địa hình dốc khả năng lưu giữ nước thấp nên lượng dòng chảy biến động theo mùa, Mùa mưa lượng nước có tốc độ dòng chảy lớn, mùa khô lượng nước giảm gây khó khăn cho sản xuất của người dân
3.1.5 Đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 1.417.444ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 888.412ha, đất lâm nghiệp là 624.381ha, đất nuôi trồng thủy sản là 2.452 ha, đất ở là 7.252 ha, đất chuyên dùng là 18.432ha, Trong đó diện tích đất tự nhiên của
Trang 32b) Giáo dục
Hiện trên địa bàn thành phố Sơn La có 1 trường đại học, 3 trường cao đẳng (trong đó có 1 trường cao đẳng nghề), 3 trường trung cấp chuyên nghiệp có thể thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung, đào tạo nguồn cán
bộ các chuyên ngành cho các tỉnh Bắc Lào nói riêng, Đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chuyên nghiệp của tỉnh đủ về số lượng, tương đối đồng bộ về cơ cấu, trình độ
và năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu mở rộng về quy mô, đảm bảo chất
Trang 3326
lượng đào tạo Nhiều cán bộ, giảng viên của các trường chuyên nghiệp thuộc tỉnh Sơn
La đã được UBND tỉnh Sơn La, Ủy ban chính quyền của các tỉnh Bắc Lào khen thưởng
c) Y tế
Trong thành phố có nhiều trạm y tế, có bệnh viện tỉnh với đầy đủ trang thiết bị khám chữa chăm sóc sức khỏe cho nhân dân với 500 giường Cơ sở trang thiết bị y tế được đầu tư quan tâm nâng cấp, phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, Tuy nhiên, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, y tế còn nghèo nàn và việc thực hiện công tác khám chữa bệnh còn nhiều khó khăn, chất lượng còn hạn chế
d) An ninh - quốc phòng
Trong những năm qua, công tác phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội đã được các cấp, các ngành trong thành phố Sơn La tổ chức triển khai và thực hiện Song hiện nay các tệ nạn xã hội chưa giảm, đặc biệt là tình hình buôn bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy, tranh chấp đất đai, mâu thuẫn nội bộ, di cư tự do, học và truyền đạo trái pháp luật, đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh ở địa phương
3.2.3 Kinh tế
- Trồng trọt: Vụ chiêm xuân năm 2013 thành phố gieo cấy được 359 ha, trong
đó lúa lai 245 ha, đạt 91,1% So với kế hoạch chủ yếu là các giống lúa lai: IR 64, nhị
ưu 63, bao thai, nếp 87, 97 và một số giống nếp địa phương
- Chăn nuôi: Vài năm gần đây chăn nuôi của Sơn La đã có bước chuyển dần theo hướng đầu tư chiều sâu, nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm, tăng quy mô hàng hóa trong cơ cấu phát triển Năm 2010 toàn thành phố có 2340 con trâu, 6990 con bò,
190 con Ngựa con, 31.420 con lợn, Dê con 2440 con, Gia cầm 384250
- Công nghiệp và dịch vụ:
Tính đến tháng 10 năm 2013, trên địa bàn thành phố có 565 doanh nghiệp, trong
đó có 144 doanh nghiệp tư nhân; 221 công ty trách nhiệm hữu hạn; 200 công ty cổ phần; 5 HTX với tổng số vốn đăng ký trên 4,100 tỷ đồng Hầu hết các doanh nghiệp