MỤC LỤC 1 LỜI CẢM ƠN 3 PHẦN 1 4 LỜI MỞ ĐẦU 4 1.1. Tính cấp thiết của đề tài 4 1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 5 1.2.1. Mục đích 5 1.2.2. Yêu cầu cần đạt 5 1.3. Ý nghĩa khoa học – ý nghĩa thực tiễn 5 1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học 5 1.3.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn 5 PHẦN 2 6 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6 2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 6 2.2. Đặc điểm sinh lý của cây lúa 6 2.3. Những nghiên cứu về bón phân đạm cho cây lúa 8 2.3.1. Vai trò của đạm với đời sống cây lúa 8 2.3.2. Quá trình chuyển hoá đạm trong đất lúa và cân bằng đạm 10 2.3.3. Các kết quả nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa 11 2.3.4. Các loại và dạng phân bón sử dụng cho lúa 15 2.3.5. Lượng phân bón cho lúa ở các vùng trồng lúa chính 16 2.3.6. Phương pháp bón phân cho lúa 16 2.3.7. Một số nguy cơ từ phân đạm 19 PHẦN 3 21 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 21 3.2. Nội dung nghiên cứu. 21 3.3. Phương pháp nghiên cứu 21 3.3.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu 21 3.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 21 3.3.3. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu: 23 PHẦN 4 27 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27 4.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến thời gian sinh trưởng của giống Nhị ưu 838 27 4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến động thái tăng trưởng chiều cao cây 28 4.3. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến động thái đẻ nhánh của giống Nhị ưu 838 29 4.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến động thái ra lá của giống Nhị ưu 838 30 4.5. Ảnh hưởng của liều lượng bón Đạm đến mức độ phát sinh, phát triển sâu bệnh hại chính trên giống Nhị ưu 838 vụ mùa năm 2016 31 4.6. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống Nhị ưu 838 34 PHẦN 5 37 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37 5.1. Kết luận 37 5.2. Đề nghị. 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 3
PHẦN 1 4
LỜI MỞ ĐẦU 4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 4
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 5
1.2.1 Mục đích 5
1.2.2 Yêu cầu cần đạt 5
1.3 Ý nghĩa khoa học – ý nghĩa thực tiễn 5
1.3.1 Ý nghĩa về mặt khoa học 5
1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 5
PHẦN 2 6
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 6
2.2 Đặc điểm sinh lý của cây lúa 6
2.3 Những nghiên cứu về bón phân đạm cho cây lúa 8
2.3.1 Vai trò của đạm với đời sống cây lúa 8
2.3.2 Quá trình chuyển hoá đạm trong đất lúa và cân bằng đạm 10
2.3.3 Các kết quả nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa 11
2.3.4 Các loại và dạng phân bón sử dụng cho lúa 15
2.3.5 Lượng phân bón cho lúa ở các vùng trồng lúa chính 16
2.3.6 Phương pháp bón phân cho lúa 16
2.3.7 Một số nguy cơ từ phân đạm 19
PHẦN 3 21
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
Trang 23.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 21
3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.3.3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu: 23
PHẦN 4 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến thời gian sinh trưởng của giống Nhị ưu 838 27
4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến động thái tăng trưởng chiều cao cây28 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến động thái đẻ nhánh của giống Nhị ưu 838 29
4.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến động thái ra lá của giống Nhị ưu 838 .30
4.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón Đạm đến mức độ phát sinh, phát triển sâu bệnh hại chính trên giống Nhị ưu 838 vụ mùa năm 2016 31
4.6 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống Nhị ưu 838 34
PHẦN 5 37
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Đề nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bảnthân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy côgiáo, bạn bè, người thân và các cơ quan đơn vị
Qua thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học đã giúp tôi không những bổ sungkinh nghiệm mà còn cho tôi làm quen dần với thực tế sản xuất Có được thành công
đó, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo, ThS Lê Hữu Cơ, với
tư cách là người trực tiếp hướng dẫn, thầy đã giành nhiều thời gian quý báu, tậntình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại HọcHồng Đức, Ban chủ nhiệm Khoa Nông Lâm Ngư Nghiệp, cùng các thầy giáo côgiáo trong khoa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứucủa mình
Tuy nhiên do thời gian không có nhiều, với kinh nghiệm và tầm nhìn còn hạnchế nên báo cáo thực tập không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được
sự góp ý chân thành của giáo viên hướng dẫn và các thầy cô giáo trong khoa, cùngtoàn thể các bạn trong lớp ĐH Nông học Thiệu Hóa - Trường Đại Học Hồng Đức
để tôi khắc phục được những hạn chế của mình, đúc kết thêm kinh nghiệm tronghọc tập, cũng như sau này ra trường công tác
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hoá, tháng 06 năm 2016
Sinh viên
Lê Viết Hương
Trang 4PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây trồng thân thiết, lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân tộc kháctrên thế giới, đặc biệt là các dân tộc ở Châu Á Lúa gạo là lương thực chính củangười dân Châu Á, giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặclúa mì của Châu Âu và Bắc Mỹ Tuy nhiên có thể nói, trên khắp thế giới ở đâu cũngdùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo Khoảng 40% dân số thế giới lấy lúagạo làm nguồn lương thực chính Trên thế giới có hơn 110 quốc gia có sản xuất vàtiêu thụ gạo với các mức độ khác nhau [13]
Việt Nam là nước có truyền thống canh tác lúa nước từ lâu đời, với diện tíchlúa khá lớn, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nghề trồng lúa của nước
ta có nhiều thay đổi tích cực Từ một nước thiếu đói lương thực thường xuyên, đếnnay sản lượng lúa gạo của chúng ta không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực ởtrong nước mà còn dư để xuất khẩu Tuy nhiên, trong điều kiện canh tác hiện nay,nghề trồng lúa vẫn chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Nôngdân vẫn sử dụng nhiều phân bón để tăng năng suất Nhưng hiệu quả của nó lạikhông cao, mặt khác còn làm tăng mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, đạm có vai trò rất quan trọng trong việcphát huy hiệu quả của việc sử dụng phân bón cho cây trồng Các loại phân khác chỉphát huy tác dụng khi có đủ đạm hay bón cân đối đạm theo nhu cầu của cây Vì vậykhi xác định các loại phân bón khác cần trên cơ sở lượng đạm bón Nếu chưa tăngđược lượng phân đạm bón thì chưa lên tăng các loại phân bón khác [18]
Ở Thanh Hóa, nghề trồng lúa vẫn là nghề chính của nông dân Hiện nay,trong cơ cấu giống lúa có hai xu hướng chủ yếu Nông dân trồng cả lúa lai và lúachất lượng Mặt khác, mỗi giống lúa trên mỗi vùng sinh thái yêu cầu từng loại phânbón khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu lượng đạm bón phù hợp sẽ có ý nghĩa quan
Trang 5trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân bón, tăng năng suất, chất lượng và manglại hiệu quả kinh tế cho người dân Với mục đích đó, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón đạm đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa Nhị ưu 838 vụ xuân 2016 tại xã Cán Khê, huyện Như Thanh, Tỉnh Thanh Hóa”.
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng bón đạm khác nhau đến các yếu
tố tạo thành năng suất và năng suất của giống Nhị ưu 838
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc bón phân đạm cho giống Nhị ưu838
1.3 Ý nghĩa khoa học – ý nghĩa thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa về mặt khoa học
Đánh giá và xây dựng cơ sở khoa học cho việc bón đạm trong sản xuất lúa.Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần khẳng định và làm rõ thêm lý luận về vaitrò quan trọng của đạm và góp phần hoàn thiện quy trình bón phân cho lúa
Trang 6PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và ở Việt
Nam
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao Hiện nay, trênthế giới có khoảng trên 100 nước trồng lúa
Diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng rõ rệt từ năm 1955 đến 1980 Từ năm
2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảmdần, đến năm 2005 còn ở mức 152,9 triệu ha Diện tích trồng lúa tập trung ở Châu
Á (khoảng 90%) Việt Nam đứng thứ 6 trước Myanmar
Năng suất bình quân lúa trên thế giới cũng tăng khoảng 1,3 tấn/ha trong vòng
30 năm từ năm 1955 đến năm 1985, đặc biệt là sau cuộc cách mạng xanh của thếgiới vào những năm 1965 - 1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắnngày, không cảm quang, mà tiêu biểu là các giống lúa IR5,IR8
Các quốc gia dẫn đầu về sản lượng lúa theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ,Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar, tất cả đều nằm ở Châu Á Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam cũng có thế là cái nôi hình thànhcây lúa nước Đã từ lâu, cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩađáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta Với địa bàn trài dài trên 15 vĩ độBắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng châu thổ trồng lúaphì nhiêu, không những cung cấp đủ nguồn lương thực cho gần 90 triệu dân mà cònxuất khẩu đứng thứ hai sau Thái Lan
2.2 Đặc điểm sinh lý của cây lúa
Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm cho đến khi lúa chín có thể chialàm ba giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạnsinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa phân hoáđòng Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi
Trang 7mới Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng tăng giúp cây lúa nhậnnhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nởbụi và chuẩn bị các giai đoạn sau
Giai đoạn sinh sản từ phân hoá đòng đến lúa trổ bông Trong giai đoạn này,nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh vàthời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kíchthước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng khối lượng hạt sau này
Giai đoạn chín từ lúc lúa trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này cây lúatrải qua các thời kỳ chín sữa, thời kỳ chín sáp, thời kỳ chín vàng, thời kỳ chín hoàntoàn
Yêu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa.
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng và pháttriển của cây trồng đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của cây trồng, làthành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trong thành phần chấtkhô của cây có chứa từ 0,5 - 6% đạm tổng số Hàm lượng đạm trong lá liên quanchặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối đối với cây lúa thìđạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ; thúc đẩynhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng năng suấtlúa Do vậy, đạm góp phần thúc đẩy sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăngkích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt chắc và tăng hàm lượng protein trong hạt đạm ảnhhưởng đến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất lúa
Đạm ảnh lớn đến hình thành đòng và bông lúa sau này, sự hình thành số hạttrên bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng nghìn hạt
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Nếu giai đoạn đẻ nhánh màthiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số bông ít Nếu bónkhông đủ đạm sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá có thể biến thànhmàu vàng, bông đòng nhỏ, từ đó làm cho năng suất lúa giảm Nhưng nếu bón thừa
Trang 8đạm làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh; ngoài ra chiều caophát triển mạnh, dễ bị đổ, nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm Khi câylúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kaliđều tăng Theo Bùi Huy Đáp [11], đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suấtlúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy tác dụng.
Lúa lai có đặc tính đẻ nhiều và đẻ tập trung hơn lúa thuần Do đó yêu cầudinh dưỡng đạm của lúa lai nhiều hơn lúa thuần Khả năng hút đạm của lúa lai ởcác giai đoạn khác nhau là khác nhau Theo Phạm Văn Cường , 2003, 2005 [6],trong giai đoạn từ đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ, hàm lượng đạm trong thân lá luôn caosau đó giảm dần Như vậy, cần bón đạm tập trung vào giai đoạn này Tuy nhiênthời kỳ hút đạm mạnh nhất của lúa lai là từ đẻ nhánh rộ đến làm đòng Mồi ngàylúa lai hút 3,52 kgN/ha chiếm 34,69% tổng lượng hút Tiếp đến là từ giai đoạn đẻnhánh đến đẻ nhánh rộ, mỗi ngày hút 2,74 kgN/ha chiếm 26,82% tổng lượng hút
Do đó bón lót và bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh là rất cần thiết
2.3 Những nghiên cứu về bón phân đạm cho cây lúa
2.3.1 Vai trò của đạm với đời sống cây lúa
Không dùng hoặc ít dùng phân hoá học cho cây trồng chúng ta sẽ bị đói.Trung Quốc so sánh năm 1993 với năm 1965 năng suất ngũ cốc tăng 2,58 lần, sảnlượng tăng 2,3 lần Một trong những nguyên nhân làm biến đổi năng suất là nhờlượng phân hoá học (NPK) tăng nhanh, tăng 21,8 lần so với năm 1965 (Xie, 1995).Với cây lúa, bất kỳ lúa nước hay lúa trồng trên cạn, muốn só năng suất caocần có nguồn dinh dưỡng rất lớn Theo GS - TS Mai Văn Quyền tổng kết kinhnghiệm trên 60 thí nghiệm khác nhau được tiến hành trên 40 nước có khí hậu khácnhau cho thấy: Nếu đạt 3 tấn thóc/ha, lúa lấy đi hết 50 kg N, 26kg P2O5, 80kgK2O, 10kg Ca, 6kg Mg, 5kg S Và nếu ruộng lúa đạt năng suất 6 tấn/ha thì lượngdinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100kg N, 50kg P2O5, 160kg K2O, 19kg Ca, 12kg
Mg, 10kg S (Nguồn FIAC, do FAO Rome dẫn trongFertilizes and Their use lầnthứ 5
Trang 9Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử dụng phân bón vô cơ trongnông nghiệp Đặc biệt trong những năm gần đây, có rất nhiều giống lúa lai được đưavào sử dụng, có khả năng chịu phân rất tốt, là tiền đề cho việc thâm canh cao, nhằmkhông ngừng tăng năng suất lúa Đối với cây lúa, đạm là yếu tố dinh dưỡng quantrọng nhất, nó giữ vai trò quan trọng trong tăng năng suất.
Theo Nguyễn Như Hà, 2005 [16], nhu cầu về đạm của cây lúa có tính chấtliên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây Hàm lượng đạm trong cây và sựtích luỹ đạm qua các giai đoạn phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liềulượng đạm bón Nhưng nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồng phát triển mạnh, lá to,dài, phiến lá mỏng, tăng số nhánh đẻ vô hiệu, trỗ muộn, đồng thời dễ bị lốp đổ vànhiễm sâu bệnh, làm giảm năng suất Ngược lại thiếu đạm cây lúa còi cọc, đẻnhánh kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm Hiệu lực của đạm còn phụ thuộc vào các yếu tốdinh dưỡng khác Thông thường các giống lúa có tiềm năng năng suất cao bao giờcũng cần lượng đạm cao; dinh dưỡng càng đầy đủ thì càng phát huy được tiềmnăng năng suất
Theo De Datta S.K cho rằng, đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa có tưới.Như vậy, để tăng năng suất lúa nước, cần tạo điều kiện cho cây lúa hút được nhiềuđạm Sự hút đạm của cây lúa không phụ thuộc vào nồng độ đạm xung quanh rễ màđược quyết định bởi nhu cầu đạm của cây
Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quan trọng.Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất đạm tới50% do nhiều con đường khác nhau do rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay do phảnđạm hoá [7], [9], [19]
Theo Bùi Huy Đáp, 1980 [11], khi bón vãi đạm trên mặt ruộng lúa ở đất nhẹ, sau
15 ngày mất 50% lượng đạm, còn đất thịt sau một tháng mất 40% lượng đạm
Theo Nguyễn Như Hà, 1999 [15], khi bón đạm ta nên bón sớm, bón tập trungtoàn bộ hoặc 5/6 tổng lượng đạm cần bón, bón lót sâu vừa có tác dụng tránh mấtđạm, lại vừa tăng tính chống lốp đổ cho lúa do bộ rễ cây phát triển mạnh Cũngtheo Nguyễn Như Hà, nên bón kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ mà cụ thể
Trang 10là phân chuồng [15], [16].
Như vậy, những thông tin cho thấy cây lúa rất cần dinh dưỡng mới tạo đượcnăng suất cao Do vậy, bón phân cho lúa để tăng năng suất, phẩm chất là một nhucầu tất yếu
2.3.2 Quá trình chuyển hoá đạm trong đất lúa và cân bằng đạm
Đất lúa nước phân hoá lớp đế cày thành hai bộ phận có ranh giới rõ ràng:tầng oxy hoá là lớp đất trên cùng của tầng canh tác dày từ vài mm đến 1cm, mà ở
đó vi sinh vật tồn tại trong điều kiện hảo khí, do lớp nước ở mặt ruộng lúa đượcgiàu oxy nhờ quang hợp của những thực vật thuỷ sinh sống trong ruộng lúa và nhờtiếp xúc với không khí, còn dưới đó là tầng khử nơi vi sinh vật tồn tại ở điều kiệnyếm khí
Bón đạm hợp lý nhất là bón vùi ở độ sâu 5-10 cm vào tầng khử của đất lúa, ởđây đạm được các keo đất giữ và cung cấp dần cho cây lúa mà không bị nitrat hoánên làm giảm mất đạm rất nhiều, nâng cao được hiệu quả sử dụng phân bón Tuynhiên biện pháp này chỉ thích hợp với lần bón lót trước khi cày bừa lần cuối.Không nên bón lót trước khi cày lần đầu ví đất chưa đủ mức độ khử để ngăn chặnquá trình nitrat hoá Ruộng sau khi bón phân phải được giữ ngập nước 3-5 cm đểgiảm sự mất đạm và ức chế cỏ dại Sau khi cấy lúa cũng có thể bón phân sâu, bằngcách dúi phân giữa các khóm lúa, nhưng sẽ phải tốn thêm công
Mất đạm khi bón vãi trên mặt ruộng lúa, do đạm amon (nếu bón ure cũngchuyển hoá thành amon) được bón vào tầng oxy hoá bị các vi khuẩn nitrat hoáthành NO3 Nitrat không bị keo đất giữ lại, bị rửa trôi xuống tầng khử oxy ở dướirồi tham gia vào quá trình phản đạm hoá do các vi sinh vật sống trong điều kiệnyếm khí, có đủ chất khử, chúng khử NO3 → NO2 → NO → N2O → N2 Phản ứng
có thể dừng ở bất kỳ giai đoạn nào và dẫn đến việc mất đạm bay vào không khí
* Quá trình cân bằng đạm trong đất lúa
2.3.2.1 Nguồn thu:
Trang 11+ Do nước mưa: Theo Bùi Huy Đáp [12], ruộng lúa nước nhiệt đới trong
mùa mưa còn nhận được từ những trận mưa giông có sấm sét một lượng đạm đáng
kể do nước mưa đưa xuống Đo mưa và phân tích nước mưa ở Việt Nam cho thấy,một năm một hecta ruộng lúa nước có thể thu thêm được 15 - 20 kg N do sấm séttạo ra và nước mưa đưa xuống Ngoài ra một số loại tảo xanh lam sinh sống tựnhiên ở ruộng lúa nước cũng có khả năng cố định đạm tự do của khí trời đất ruộnglúa cũng có nhiều loại vi sinh vật azotobacter cố định đạm Lại còn các loại vi sinhvật sống ở vùng rễ lúa, làm cho hiệu quả cố định đạm tự do của rễ khá mạnh
+ Do tưới nước+ Trong đất+ Do bón phân
- Nguồn tiêu thụ đạm+ Cây lúa hút đạm để tạo năng suất hạt+ Mất đạm do bị phản đạm hoá, rửa trôi
2.3.3 Các kết quả nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa
Đạm là yếu tố quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng.Nhu cầu về đạm của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiêncứu và có nhận xét chung là: nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên tục từ đầuthời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Trong suốt quá trình sinh trưởng, pháttriển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa cao nhất làthời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng Ở thời kỳ đẻ nhánh rộ cây hút nhiều đạmnhất [6] Theo Yoshida (1985), lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới74% năng suất Bón nhiều đạm làm cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tập trung, tăng số bông/m2, số hạt/bông, nhưng khối lượng nghìn hạt ít thay đổi (P1000)
Theo tác giả Đinh Văn Lữ (1978); Bùi Huy đáp (1980), Đào Thế Tuấn (1980)
và Nguyễn Hữu Tề (1997): thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng đạm là tronggiai đoạn đẻ nhánh, đây là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn đến năng suất, 10-
Trang 1215% là hút ở giai đoạn làm đòng, còn lại là từ giai đoạn làm đòng đến chín.
Theo tác giả Bùi đình Dinh [10], cây lúa cũng cần nhiều đạm trong thời kỳphân hoá đòng và phát triển đòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản Thời kỳnày quyết định cơ cấu sản lượng: số hạt/bông, khối lượng nghìn hạt (P1000) [16].Yoshida (1985) cho rằng: ở các nước nhiệt đới lượng các chất dinh dưỡng (N,
P, K) cần để tạo ra một tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N; 5,1 kg P2O5 và 44 kgK2O Trên nền phối hợp 90 P2O5 - 60 K2O hiệu suất phân đạm và năng suất lúatăng nhanh ở các mức bón từ 40 - 120 kg N/ha [30]
Kết quả nghiên cứu của đinh Văn Cự tại xã Gia Xuyên - Tứ Lộc - Hải Dươngcho thấy: lượng đạm cần bón để đạt một tấn thóc phải từ 26-28 kg N Kết quả này caohơn nhiều so với dự tính của đào Thế Tuấn năm 1969, muốn đạt được một tấn thóc cần22,3 kg N trong vụ chiêm và 22,6 kg N trong vụ mùa
Theo tổng kết của Mai Văn Quyền (2002), trên 60 thí nghiệm thực tiễn khácnhau ở 40 nước có khí hậu khác nhau cho thấy: nếu đạt năng lúa 3 tấn thóc/ha, thìlúa lấy đi hết 50 kg N, 26kg P2O5, 80kg K2O, 10kg Ca, 6kg Mg, 5kg S Và nếuruộng lúa đạt năng suất 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100kg N,50kg P2O5, 160kg K2O, 19kg Ca, 12kg Mg, 10kg S (Nguồn FIAC, do FAO Romedẫn trong Fertilizes and Their use lần thứ 5 Lấy trung bình cứ tạo một thóc cây lúalấy đi hết 17kg N, 27kg K2O, 8kg P2O5, 3kg CaO, 2kg Mg và 1,7kg S
Theo S Yoshida (1985), đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất đốivới cây lúa trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
Sau khi tăng lượng đạm thì cường độ quang hợp, cường độ hô hấp và hàmlượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp độ quang hợp, hô hấp không khác nhaunhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấp gấp 10 lần chonên vai trò của đạm làm tăng tích luỹ chất khô (Nguyễn Thị Lẫm, 1994)
Nếu bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúa đẻ
Trang 13nhánh và sau đó giảm dần Với liều lượng bón đạm thấp thì bón vào lúc lúa đẻ vàtrước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao (Yoshida, 1985).
Năm 1973, Xiniura và Chiba có kết quả thí nghiệm bón đạm theo 9 cáchtương ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển Mỗi lần bón với 7 mức đạmkhác nhau, hai tác giả trên đã có những kết luận sau:
+ Hiệu suất của đạm (kể cả rơm rạ và thóc) cao khi lượng đạm bón ở mứcthấp
+ Có hai đỉnh về hiệu suất, đỉnh đầu tiên là xuất hiện ở thời kỳ đẻ nhánh,đỉnh thứ hai xuất hiện từ 19 đến 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không
có đỉnh thứ hai Nếu bón liều lượng đạm thấp thì bón vào lúc 20 ngày trước trỗ, nếubón liều lượng đạm cao thì bón vào lúc cây lúa đẻ nhánh [14]
Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất,mùa vụ và liều lượng phân đạm bón đến tỷ lệ đạm cây hút Không phải do bónnhiều đạm thì tỷ lệ đạm của cây lúa sử dụng nhiều Ở mức đạm 80 kg N/ha, tỷ lệ sửdụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có sử dụng phân chuồng tỷ lệ đạm hútđược là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160N và 240N có phânchuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống Trên đất bạc màu so vớiđất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liềulượng đạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng đạmtuyệt đối do lúa sử dụng vẫn tăng lên
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón đạm trên đất phù sa sông Hồng củaViện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm 4 mức đạm từnăm 1992 đến 1994, kết quả cho thấy: phản ứng của phân đạm đối với lúa phụthuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa
Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thí nghiệm về
"Ảnh hưởng của liều lượng đạm khác nhau đến năng suất lúa vụ đông xuân và Hèthu trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long" Kết quả nghiên cứu trung bìnhnhiều năm, từ năm 1985 - 1994 của Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, đã chứng
Trang 14minh rằng: trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60 kg P2O5 và 30 kg K2Olàm nền thì khi bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ 15 - 48,5% trong vụ đôngXuân và vụ hè thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của 2 vụ đều bón đến mức 90
kg N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90 kg N này năng suất đều không tăngđáng kể
Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994), khi nghiên cứu về bón phân đạm cho lúa cạn
đã kết luận rằng: liều lượng đạm thích hợp bón cho các giống có nguồn gốc địaphương là 60 kg N/ha Đối với các giống thâm canh cao như CK136 thì lượng đạmthích hợp từ 90 kg - 120 kg N/ha
Theo Nguyễn Như Hà [15], ảnh hưởng của mật độ cấy và ảnh hưởng của liềulượng đạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy: tăng liềulượng đạm bón ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ nhánh hữu hiệu
Dinh dưỡng đạm đối với lúa lai cũng là vấn đề rất quan trọng được các nhànghiên cứu quan tâm Lúa lai có bộ rễ khá phát triển, khả năng huy động từ đất rấtlớn nên ngay trường hợp không bón phân, năng suất lúa lai vẫn cao hơn lúa thuần.Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã kết luận: cùng một mức năng suất, lúa lai hấpthu lượng đạm và lân thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp thu P2O5 cao hơn 18,2% nhưnghấp thu K2O cao hơn 30% Với ruộng lúa cao sản thì lúa lai hấp thu đạm cao hơnlúa thuần 10%, hấp thu K2O cao hơn 45% cón hấp thu lân thì bằng lúa thuần [6]
Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy: trên đất phù sa sông Hồng, bón đạmđơn độc làm tăng năng suất lúa lai 48,7%, trong khi đó các giống lúa CR203 chỉtăng 23,1% Với thí nghiệm đồng ruộng, bón đạm, lân cho lúa lai có kết quả rõ rệt.Nhiều thí nghiệm trong phòng cũng như ngoài đồng ruộng cho thấy, 1 kg N bóncho lúa lai làm tăng năng suất 9-18 kg thóc, so với lúa thuần thì tăng 2-13 kg thóc.Như vậy, trên các loại đất có vấn đề như đất bạc màu, đất gley, khi các yếu tố khácchưa được khắc phục về độ chua, lân, kali, thì vai trò của phân đạm không phát huyđược, nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên đất bạc màu và 11,5% trên đất gley[6]
Trang 15Với đất phù sa sông Hồng, bón đạm với mức 180 kgN/ha trong vụ Xuân và
150 kgN/ha trong vụ Mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suất lúa Tuynhiên, ở mức bón 120 kgN/ha làm cho hiệu quả cao hơn các mức khác
Thời kỳ bón đạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực củaphân để làm tăng năng suất lúa Với phương pháp bón đạm (bón tập trung vào giaiđoạn đầu và bón nhẹ vào giai đoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng suất lúa cao,năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha [5]
Liều lượng bón cho 1ha: 8 tấn phân chuồng + 120 kgN + 90 kg P2O5 + 60
kg K2O Kết quả thời kỳ bón cho thấy rất rõ hiệu quả của phân đạm trên đất phù xasông Hồng đạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50 - 75% tổng lượng đạm, lượngđạm bón nuôi đòng chỉ từ 12,5-25% [3]
Như vậy, có thể nói, các nghiên cứu về phân đạm cho cây lúa vẫn cần đượctiếp tục nghiên cứu cho từng giống lúa, từng chất đất và từng vùng cụ thể Trongtương lai, người ta hy vọng tạo ra các giống siêu lúa sử dụng phân đạm có hiệu quảhơn và sử dụng các nguồn đạm khác trong đất do vi sinh vật cố định đạm tạo ra hay
do các hoạt động vi sinh vật khác ở đất lúa Siêu lúa với những giống lúa cạn, lưuniên có thể có nốt sần có vi sinh vật cộng sinh để tự tạo ra đạm Siêu lúa do sử dụngchất đạm hoá học hiệu quả hơn, không những tiết kiệm được đạm mà còn có chế độdinh dưỡng đạm khác các giống lúa cũ, nên không gây ô nhiễm môi trường, ônhiễm nước mặt và nước ngầm, hạn chế hiện tượng phân đạm bón làm phát sinhnhiều NO trong không khí ruộng lúa [12]
2.3.4 Các loại và dạng phân bón sử dụng cho lúa
Lúa là cây trồng có phản ứng tốt với phân hoá học nên bón phân hoá học cholúa có hiệu quả cao Trong thâm canh lúa, bón phân hữu cơ chủ yếu ổn định hàmlượng mùn cho đất, tạo nền thâm canh có thể sử dụng cac loại phân hữu cơ khácnhau, kể cả rơm rạ lúa sau khi thu hoạch
Các loại phân đạm thích hợp cho lúa là phân đạm ure, amon Ure đang trởthành loại phân đạm phổ biến đối với lúa nước vì có tỷ lệ đạm cao, lại rất thích hợp
Trang 16để bón trên các loại đất lúa thoái hoá Phân đạm nitrat có thể bón thúc ở thời kỳđòng, đặc biệt hiệu quả khi bón trên đất chua mặn.
2.3.5.Lượng phân bón cho lúa ở các vùng trồng lúa chính
Do hệ số sử dụng phân đạm của cây lúa không cao nên lượng đạm cần bónphải cao hơn nhiều so với nhu cầu Lượng đạm bón dao động từ 60-160 kg/ha Vớitrình độ thâm canh như hiện tại để đạt năng suất 5 tấn/ha thường bón 80-120 kg/ha.Tuy nhiên, trên đất có độ phì trung bình, để đạt năng suất 6 tấn thóc/ha cần bón 160kgN/ha Trên đất phù sa sông Hồng để đạt năng suất trên 7 tấn/ha cần bón 180-200kgN/ha Các nước có năng suất bình quân cao trên thế giới (5-7 tấn thóc/ha) thườngbón 150-200 KgN/ha
2.3.6.Phương pháp bón phân cho lúa
Cơ sở cho việc xác định phương pháp bón phân cho lúa
Thời kỳ bón đạm có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và năng suất lúa
Thời kỳ bón đạm phụ thuộc vào đặc điểm của giống lúa, mùa vụ, thành phần
cơ giới đất và trình độ tham canh Không thể có một hướng dẫn chung về thời kỳbón đạm cho tất cả các giống, mùa vụ và đất trồng Bón đạm sớm tạo nhiều bông,bón đạm muộn tăng hạt là chủ yếu, bón đạm vào giai đoạn đòng làm tăng tỷ lệprotein trong hạt Thời kỳ bón phân đạm cho lúa trường gồm: bón lót, bón thúc đẻnhánh, thúc đòng, ngoài ra có thể bón nuôi hạt
* Bón phân lót cho lúa
Trong bón phân cho lúa trường bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân, mộtphần phân đạm và kali Thường bón lót phân chuồng trong quá trình làm đất, phânlân, phân kali cùng với đạm bón trước khi bừa lần cuối
Cây hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu và giai đoạn câycon, lúa bị khủng hoảng lân, do vậy phân lân cần được bón lót toàn bộ hoặc bón lóthoặc thúc sớm Phân lân nên bón rải đều trên mặt ruộng trước khi bừa lần cuối đểgieo cấy
Nên bón lót nhiều phân kali trong các trường hợp sau: trồng giống đẻ nhánh
Trang 17nhiều hay ngắn ngày, lúa có hiện tượng bị ngộ độc sắt, đất có khả năng hấp thu caohay thiếu kali, mưa nhiều, ngập nước sâu, khí hậu lạnh Trong thực tiễn còn chiaphân kali ra bón thúc làm nhiều lần, do lúa là cây có nhu cầu cung cấp kali vào giaiđoạn rễ lúa ăn nổi trên mặt đất, cuối đẻ nhánh đến đầu làm đòng, kali cung cấp từđất và nước tưới thường giảm đi ở giai đoạn đẻ nhánh của cây lúa.
Thường dành 1/3 - 2/3 tổng lượng N để bón lót cho cây lúa, tỷ lệ phân dùng
để bón lót tuỳ thuộc vào tính chất đất, độ sâu cày bừa, điều kiện khí hậu, thời giansinh trưởng của lúa Cần bón lót nhiều đạm hơn khi cấy bằng mạ già, các giống lúangắn ngày, lúa chét (lúa mọc từ gốc rạ)
* Phân bón thúc đẻ nhánh
Bón thúc đẻ nhánh cho lúa thường bón bằng phân đạm hay phối hợp thêmvới một phần phân lân (nếu còn chưa bón lót hết) Thời gian bón thúc đẻ nhánh vàokhoảng 18-20 ngày sau gieo hoặc sau khi lúa bén rễ hồi xanh, vào khoảng 10-20ngày sau cấy (tuỳ thuộc mùa vụ khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh)
Trên đất phèn và đất quá chua, khả năng cố định lân của đất khá mạnh thìbón thúc lân cho lúa là cần thiết vì vừa nhằm hạ phèn và độc tố trong đất, vừa cungcấp dinh dưỡng lân cho lúa Việc kết hợp bón lót và thúc một phần phân lân hoà tantrong nước cho lúa làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón Khi bón thúc nên dùng cácloại lân hạt để tránh bám dính gây cháy lá
Thường dành 1/3 - 2/3 lượng N còn lại để bón thúc đẻ nhánh nhằm làm cholúa đẻ nhánh nhanh, tập trung và cũng để gảm lượng phân lót, tránh mất đạm Cầnbón thúc đẻ nhánh nhiều đạm cho lúa trong các trường hợp: cấy giống dài ngày hay
đẻ nhánh nhiều, mật độ gieo hoặc cấy cao, nhiệt độ khi gieo cấy cao
Đối với những giống lúa cực ngắn, lúa mùa cần phải bón thúc đẻ nhánh sớmhơn, còn đối với các giống dài ngày, lúa xuân có thể bón thúc muộn hơn, do thời kỳsinh tưởng đầu của cây lúa bị kéo dài
Bón thúc đạm cho lúa tốt nhất là sau khi rút nước ruộng do có thể làm tănggấp đôi hiệu lực của phân bón so với ruộng có nhiều nước Không nên rút nước quá
Trang 18một ngày trước khi bón thúc vì việc bón thúc trong một thời gian dài thúc đẩy cỏdại phát triển và làm mất đạm, đồng thời ruộng sau khi bón phân phải được đưanước vào ngay sau một ngày bón đạm Dùng máy trừ cỏ có trục quay để trộn lẫnphân đạm vào đất cũng tăng được hiệu lực của phân đạm, đặc biệt là khi bón thúcsớm và cấy sâu [18].
* Phân bón thúc đòng
Bón thúc đòng cho lúa thường sử dụng phối hợp phần phân đạm và kali cònlại nhằm tiếp tục cung cấp đạm cho lúa để tạo được bông lúa to, có nhiều hạt chắc,nâng cao hệ số kinh tế cho cây lúa, đạt năng suất cao Bón dòng tốt nhất là bón saukhi phân hoá đòng vào khoảng 40-45 ngày sau khi gieo, cấy
Khi bón ít đạm, thì bón thúc đòng là một kỹ thuật quan trọng để nâng caohiệu suất phân đạm và là thời kỳ bón đạm có hiệu quả nhất Những giống đẻ nhánh
ít, bông to, năng suất dựa vào số hạt trên bông thì cần phải chú trọng vào đợt bónđón đòng và nuôi hạt để tạo được bông to, nhiều hạt chắc, đạt năng suất cao
Bón lót càng nhiều, lúa sinh trưởng tốt, thì thời gian bón đòng càng muộn và
ít đối với các giống lúa mùa có thời gian sinh trưởng dài (150-180 ngày), cần bónthúc đòng muộn hơn Cần dùng mắt đánh giá tình hình sinh trưởng và màu lá trongthời kỳ đẻ rộ để phán đoán nhu cầu bón thúc đòng Khi đã bón lót được nhiều cũng
có thể không cần bón thúc đẻ, mà chỉ cần bón ở thời kỳ đòng Bón đủ phân lót vàthúc đẻ nhánh có thể không bón phân đón đòng Hiện nay trong chiến lược "bagiảm, ba tăng" người ta căn cứ vào màu lá lúa để quyết định việc bón phân đạmcho lúa Ngoài ra cũng có thể dựa vào việc chuẩn đoán lá để xác định nhu cầu phânbón cho lúa
Nên dùng phân kali bón thúc đòng cho lúa trong các trường hợp: giống đẻnhánh từ trung bình đến ít hay giống dài ngày, gieo cấy thưa; đất có điện thế oxyhoá khử rất cao, thành phần cơ giới nhẹ, hay trên đất phèn (thiếu lân và ngộ độcsắt), đất kiềm (thiếu kẽm), lân bị đất cố định hay mưa nhiều
* Phân bón nuôi hạt
Trang 19Sau khi lúa trỗ hoàn toàn có thể bón nuôi hạt bằng cách phun phân bón lá 1-2lần nhằm tăng số hạt chắc, tăng năng suất đây là thời kỳ bón phân có hiệu quả rõkhi trồng lúa trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, có khả năng cung cấp dinh dưỡng
và giữ phân kém
2.3.7 Một số nguy cơ từ phân đạm
Trước sức ép của việc tăng dân số và nhu cầu cao của người nông dân đòi hỏinhiều lương thực, thực phẩm và sản xuất nông nghiệp thâm canh Muốn đáp ứngđược nhu cầu trên, hoạt động nông nghiệp lại đòi hỏi sử dụng nhiều phân bón đặcbiệt là phân đạm có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất
Bón quá nhiều đạm không những không làm tăng năng suất lúa mà còn làmgia tăng sự xuất hiện sâu bệnh hại, có khi còn làm mất trắng
Ngoài ra, bón phân đạm quá nhiều hoặc bón phân không cân đối có thể ảnhhưởng xấu tới môi trường Đã có nhiều khẳng định về ảnh hưởng của phân bón tới
sự ô nhiễm nitrat của nước ngầm do sử dụng quá nhiều phân đạm hay bón quánhiều chất thải động vật dưới dạng phân hoặc nước thải
Hiện tượng phản đạm hoá dẫn đến mất đạm gây ô nhiễm không khí thể hiệnđầy đủ khi gặp các điều kiện sau đây: có đủ đạm nitrat hay nitrit; thiếu oxy, đủ chấtkhử Ngoài quá trình phản đạm còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố: pH và nhiệt độ,phản đạm xảy ra mạnh trong đất chua, nhiệt độ 60 - 650C
Vì vậy mà quá trình phản đạm hoá ở đất trồng cây trồng cạn, thoát nước kém,bón nhiều phân amoon và phân ure thì việc mất đạm đạt 20 - 40% Còn ở đất ngậpnước như đất lúa quá trình phản đạm có thể mất nhiều đạm nếu bón không đúngcách Bón phân đạm amon và ure vào tầng oxy hoá đất lúa có thể mất 60 - 70%đạm dưới cả ba dạng NH3, N2O, N2
Nhiễm bẩn môi trường từ phân bón do tích đọng nitrat là một vấn đề rất
nguy hại Nguồn nitrat trong đất, nước có thể là từ bản thân NO3 hay do chuyểnhoá NH4 mà thành Liều lượng phân đạm quá cao hay không cân đối với các chất