1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

54 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN THÀNH CHUNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÁC DOANH NGHIỆ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THÀNH CHUNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM

PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG

TIN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG LÂM

NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Thái Nguyên, năm 2007

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THÀNH CHUNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

T.S Nguyễn Thị Minh Thọ

Thái Nguyên, năm 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là

hoàn toàn trung thực, và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cám ơn Các

thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thành Chung

Lời cảm ơn

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ quý báu của tập thể và các cá nhân Trước hết tôi xin chân thành cám

ơn các giảng viên khoa Kinh tế, khoa Sau Đại học trường Đại học Kinh tế

và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, đặc biệt là sự hướng dẫn của Tiến sỹ Bùi Đình Hòa và Tiến sỹ Nguyễn Thị Minh Thọ trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; sở

Kế hoạch và Đầu tư; Phòng Tài chính – Kế hoạch 9 huyện, thành tỉnh Thái Nguyên

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên; Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Thái Nguyên; Hội Doanh nghiệp trẻ tỉnh Thái Nguyên, các quý Ông, Bà lãnh đạo các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện, góp ý và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo sở Tài chính, lãnh đạo các phòng, ban trong sở cùng các đồng nghiệp, bạn bè đã cổ vũ động viên

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện Luận văn này

T¸c gi¶ luËn v¨n

Nguyễn Thành Chung

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình vẽ, đồ thị viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp mới của Luận văn 4

5 Bố cục của Luận văn 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 1.1 Doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 5

1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp nông lâm nghiệp 6

1.1.3 Vai trò của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trong nền kinh tế của tỉnh 7

1.1.4 Phân loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp 10

1.2 Công nghệ thông tin - vai trò và các ứng dụng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp 13

1.2.1 Khái niệm công nghệ thông tin 13

1.2.2 Vị trí, vai trò của công nghệ thông tin 14

1.2.3 Các ứng dụng của công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 16

1.2.4 Những lợi ích của công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 19

1.3.1 Hiện trạng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trên thế giới 22

1.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ 22

1.3.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 25

1.3.4 Kinh nghiệm của Sinhgapore 25

1.3.5 Kinh nghiệm của Trung Quốc 27

1.4 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở Việt Nam 28

1.4.1 Thực trạng 28 1.4.2 Hiệu quả ứng dụng CNTT của các doanh nghiệp 30 1.5 Phương pháp nghiên cứu 33

1.5.1 Câu hỏi nghiên cứu 33

1.5.2 Các phương pháp nghiên cứu 33

1.5.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá và phương pháp phân tích 34

Chương 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG LÂM NGHIỆP TỈNH THÁI NGUYÊN 37 2.1 Đặc điểm Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội của tỉnh Thái Nguyên 37

2.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh 38

2.2.1 Tình hình lao động và trình độ lao động 38

2.2.2 Tình hình thu nhập bình quân của người lao động 41

2.2.3 Đánh giá về hiệu quả kinh tế các loại hình doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 42

2.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 47

2.3.1 Cơ sở vật chất về công nghệ thông tin 47

2.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp 50

Trang 4

2.3.4 Internet và ứng dụng trong thương mại 53

2.3.5 Đánh giá chung việc ứng dụng công nghệ thông tin trong

các doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên 54

2.3.6 Thực trạng về các chính sách của Nhà nước ảnh hưởng

đến ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp nông

lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

57

2.3.7 Đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong

hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp

tỉnh Thái Nguyên

58 2.3.8 Nguyên nhân của việc ứng dụng công nghệ thông tin còn

hạn chế trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái

Nguyên

60

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT

TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG

CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

62 3.1 Bối cảnh hiện nay của các doanh nghiệp 62

3.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển ứng dụng công nghệ thông

tin trong doanh nghiệp

3.2.1 Quan điểm phát triển công nghệ thông tin 64

3.2.2 Mục tiêu tổng quát phát triển công nghệ thông tin 65

3.3 Các giải pháp nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông

tin trong các doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh 66

3.3.1 Các giải pháp của tỉnh 67

3.3.2 Các giải pháp đối với các doanh nghiệp nông lâm nghiệp

tỉnh Thái Nguyên 70

3.3.3 Các giải pháp đối với các doanh nghiệp công nghiệp

công nghệ thông tin 79

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

truyền thông

Systems

Hệ thống thông tin quản lý

quyết định

ứng

trình

TPS Transaction Processing Systems Hệ thống xử lý giao dịch

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Trang Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp theo ngành

nghề sản xuất kinh doanh năm 2006 11

Bảng 1.2: Phân loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái

Nguyên năm 2006 theo hình thức sở hữu vốn 13

Bảng 2.1: Thực trạng trình độ người lao động trong các doanh

nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2006 39

Bảng 2.2: Số lượng lao động tại các doanh nghiệp nông lâm

nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2006 40

Bảng 2.3: Thực trạng thu nhập bình quân của người lao động tại

doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên 41

Bảng 2.4: Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp sản xuất sản

phẩm nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên 42

Bảng 2.5: Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp chế biến nông

sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 43

Bảng 2.6: Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp kinh doanh

thương mại, dịch vụ trong lĩnh vực nông lâm nghiệp 45

Bảng 2.7: Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp nông lâm

nghiệp khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 46

Bảng 2.8: Cơ sở vật chất cho công nghệ thông tin của các doanh

nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2006 48

Bảng 2.9: Tình hình đầu tư hạ tầng CNTT trong các doanh

Bảng 2.10: Tình hình sử dụng các loại phần mềm ở các doanh

nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2006 50

Bảng 2.11: Các khó khăn lớn nhất trong việc đầu tư và ứng dụng

công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm

nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2006

55 Bảng 2.12: Một số ứng dụng công nghệ thông tin có nhu cầu lớn

trong thời gian tới của các doanh nghiệp nông lâm

nghiệp tỉnh Thái Nguyên

56 Bảng 2.13: Đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT tại các doanh

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN

Trang Biểu đồ 1.1: Phân loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp theo ngành

nghề sản xuất kinh doanh năm 2006 12 Biểu đồ 1.2: Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp nông lâm nghiệp

tỉnh Thái Nguyên đến 31/12/2006 12 Biểu đồ 2.1: Doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên

đánh giá hiệu quả mà Internet mang lại 55 Biểu đồ 2.2: Doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên

đánh giá lợi ích do công nghệ thông tin mang lại 59

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong bối cảnh công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão trên

toàn thế giới; từng ngày làm thay đổi và tác động mạnh vào mọi lĩnh vực

đời sống, kinh tế - xã hội của con người và đang giữ một vai trò hết sức

quan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu thì các doanh

nghiệp, cơ quan, tổ chức của Việt Nam mới chỉ đứng ở ngưỡng cửa của

công nghệ thông tin Nói thế có nghĩa phần lớn các doanh nghiệp, cơ quan,

tổ chức của ta chưa sử dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả trừ

những khu vực kinh tế có yêu cầu hội nhập và cạnh tranh cao như ngân

hàng, viễn thông, hàng không v.v… việc ứng dụng công nghệ thông tin đã

trở thành yếu tố sống còn

Trong nhiều năm qua các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn

tỉnh Thái Nguyên đã cơ bản thực hiện tốt vai trò nhiệm vụ của mình, song

cũng bộc lộ nhiều tồn tại khó khăn như: năng lực quản lý kinh doanh yếu

kém, công nghệ máy móc lạc hậu, chất lượng sản phẩm hạn chế, sức cạnh

tranh chưa cao, dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp Điều đó là

tất yếu và tự nhiên đối các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh

Thái Nguyên trong điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa

vào quy trình sản xuất thủ công truyền thống nên đã chi phối hầu hết các

quy trình, tác nghiệp quản lý Các quy trình sản xuất kinh doanh được thực

hiện thủ công và vì vậy đã làm ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng

sản phẩm Các thông tin quản lý được lưu trữ tách biệt, không thể chia sẻ,

khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả Các mối quan hệ (bao gồm cả

quan hệ ngang và dọc) trong quá trình quản lý sản xuất đều chưa được liên

kết, liên thông một cách chặt chẽ để trao đổi, chia sẻ thông tin nhằm phục

vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Quy trình sản xuất kinh doanh thủ công là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh như: Doanh thu đạt thấp, chi phí kinh doanh không tương ứng với doanh thu, đặc biệt lãng phí chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh còn thấp…

Để phát triển, hội nhập, nâng cao vị thế của mình, các doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở cải thiện các bất cập nêu trên Điều đó có nghĩa phải thay đổi phương thức quản lý sản xuất kinh doanh từ thủ công sang phương thức quản lý hiện đại, chuyên nghiệp hơn Và ứng dụng công nghệ thông tin là lựa chọn tất yếu để xây dựng quy trình sản xuất kinh doanhhiện đại, chuyên nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp

chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên"

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu:

2.1 Mục đích chung:

Đánh giá thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình ứng

dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp Thông

qua phân tích thấy được những tồn tại, nguyên nhân Từ đó tìm ra những

giải pháp khả thi nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các

doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh

2.2 Mục đích cụ thể:

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc ứng dụng công

nghệ thông tin trong các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay;

- Đánh giá thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh

nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động

kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái

Nguyên

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu tăng cường ứng dụng công nghệ thông

tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt

động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp, đang

hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, bao gồm:

- Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông lâm nghiệp

- Doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ nông lâm nghiệp

- Doanh nghiệp chế biến nông lâm sản

- Doanh nghiệp khác (xây dựng trong nông lâm nghiệp)

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Bao gồm 29 doanh nghiệp

- Về thời gian: Phần tổng quan được thu thập từ các tài liệu đã công

bố trong khoảng thời gian từ năm 2004-2006

4 Đóng góp mới của Luận văn

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp;

- Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp;

- Đề xuất các giải pháp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

- Khẳng định được vai trò quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh;

- Thông qua thu thập và phân tích số liệu, luận văn đã đánh giá được thực trạng tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp Từ đó có thể giúp cho các cấp chính quyền địa phương xây dựng cơ chế, giải pháp khoa học nhằm phát triển doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển

5 Bố cục:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2:Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh

nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái nguyên

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ

thông tin trong các doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 8

Chương I:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp, nhưng có thể

nhận định doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, được thành lập để thực hiện các

hoạt động kinh doanh với mục tiêu thu lợi nhuận Doanh nghiệp được coi là

chủ thể kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế thị trường bởi một số lý do sau

đây [13], [17]:

- Doanh nghiệp là một tổ chức được đăng ký thành lập theo quy định của pháp

luật, vì thế cơ sở pháp lý và ràng buộc của doanh nghiệp là chặt chẽ và ổn định;

- Doanh nghiệp có mức vốn đầu tư và quy mô hoạt động đủ lớn, vượt ra

khỏi quy mô của cá nhân và hộ gia đình kinh doanh, vì vậy có thể phát huy ưu

thế về quy mô trong hoạt động sản xuất kinh doanh;

- Doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ khá chặt chẽ và bền

vững, vì vậy có nhiều điều kiện để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh;

- Doanh nghiệp lấy việc kinh doanh thu lợi nhuận làm mục tiêu cơ bản

nhất, vì vậy có thể coi doanh nghiệp là một chủ thể chủ lực, đi đầu trong việc tổ

chức các hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận của toàn bộ nền kinh tế

Để thống nhất, Doanh nghiệp được định nghĩa như sau [13]:

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích

thực hiện các hoạt động kinh doanh

Trên thực tế các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, chỉ trừ các Tổng Công ty 90, 91 nên đối tượng nghiên cứu của đề tài là

những doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thực chất là

các doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình năm không quá 300 người [12]

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhìn chung có những đặc điểm chủ yếu sau đây [4], [12]:

Thứ nhất: bộ máy quản lý gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao, đáp ứng nhanh với tình hình biến đổi của thị trường trong và ngoài nước, có thể thay đổi kịp thời số lượng và chất lượng theo yêu cầu của khách hàng trên cơ sở quan hệ trực tiếp giữa người cung ứng và khách hàng

Thứ hai: vốn ít nên dễ chuyển đổi ngành nghề kinh doanh, ít khi bị tổn thất lớn khi thị trường biến động mạnh

Thứ ba: vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh thiếu, nhất là giai đoạn đầu tư

ban đầu nên ít có điều kiện đầu tư vào công nghệ, nếu có, chỉ dừng lại ở mức cải tiến kỹ thuật giản đơn

Thứ tư: do tiềm lực về tài chính yếu nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có

xu hướng sử dụng nhiều lao động Thứ năm: các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế, tuy nhiên chủ yếu trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, gia công may mặc, da giầy, công nghiệp nhẹ, cơ khí

1 1.2 Khái niệm Doanh nghiệp nông lâm nghiệp:

Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp tuỳ thuộc vào cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu, nhưng nhìn chung đều đồng nhất với ý kiến cho rằng [17]:

Doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp là đơn vị kinh doanh cơ sở của nền sản xuất xã hội trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, được Nhà nước bảo hộ, không phân biệt hình thức sở hữu vốn

Trang 9

Ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng có thể tách bạch khái niệm doanh

nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp lâm nghiệp khi thực hiện mục đích nghiên

cứu riêng, do vậy ta có khái niệm sau [17]:

Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất kinh

doanh chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, với các hoạt động khai thác vận

chuyển, chế biến các loại nông sản, xây dựng cơ bản và thực hiện dịch vụ trong

lĩnh vực nông nghiệp

Doanh nghiệp lâm nghiệp là tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất kinh

doanh chủ yếu trong lĩnh vực lâm nghiệp, với các hoạt động xây dựng rừng,

khai thác vận chuyển và chế biến các loại lâm sản, thực hiện dịch vụ trong lĩnh

vực lâm nghiệp, đáp ứng nhu cầu về lâm sản đối với toàn bộ nền kinh tế

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều thành phần kinh tế,

tất yếu có nhiều loại hình doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh ở nhiều

lĩnh vực khác nhau, có những doanh nghiệp đa ngành nghề như: Sản xuất vật

liệu xây dựng - Xây dựng cơ bản; Kinh doanh thươngmại - Du lịch; Nông Lâm

nghiệp hoặc cũng có những doanh nghiệp chỉ tổ chức sản xuất kinh doanh

trong một lĩnh vực như: Xây dựng; Sản xuất vật liệu xây dựng; Nông nghiệp

hay Lâm nghiệp Do vậy việc định nghĩa loại hình doanh nghiệp theo ngành

nghề kinh doanh phục vụ công tác nghiên cứu là điều cần thiết

1.1.3 Vai trò của các doanh nghiệp Nông lâm nghiệp trong nền kinh

tế của tỉnh

1.1.3.1 Tăng thu cho Ngân sách:

Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là

động lực thúc đẩy hình thành các trung tâm kinh tế, văn hoá khoa học kỹ thuật,

đổi mới cho toàn bộ nền kinh tế, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công nhân lành

nghề và tạo thêm điều kiện hạ tầng cho quá trình phát triển, là lực lượng thường

xuyên và lâu dài của công cuộc phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Hiện nay, trên thế giới đặc biệt là các

nước đang phát triển đều thấy rõ vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế của đất nước Đối với Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trình độ công nghệ còn lạc hậu, công tác quản lý điều hành còn nhiều yếu kém, năng suất và trình độ lao động chưa cao Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang đóng góp đáng kể là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, đã tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng triệu người lao động [4]

Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực Nông Lâm nghiệp, đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế ở nước ta như tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội, thúc đẩy đổi mới công nghệ sản xuất, khai thác nguồn tài nguyên và thế mạnh tiềm tàng trong lĩnh vực Nông Lâm nghiệp, kích thích và

mở mang giao lưu thương mại quốc tế Doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp phát triển làm tăng khả năng cung ứng sản phẩm cho xã hội, và tăng thu cho ngân sách Nhà nước Doanh nghiệp nóichung và doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp nói riêng đã và đang có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của nước ta

1.1.3.2 Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn:

Doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp tạo việc làm và thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn, ngoài việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế -

xã hội miền núi còn phải thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp là mắt xích quan trọng trong việc triển khai một số chương trình có mục tiêu để hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhân dân các dân tộc hoà cùng vào tiến trình phát triển của cả nước như chương trình xoá đói giảm nghèo, có thể nói chương trình này đã giúp cho đại bộ phận nhân dân và

bộ mặt nông thôn miền núi nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng, biên giới hải đảo, vùng an toàn khu đã được cải thiện một cách rõ rệt, góp phần

Trang 10

ổn định kinh tế chính trị, văn hoá xã hội, thực hiện công bằng văn minh cùng

với các thành phần kinh tế khác giải quyết các vấn đề về việc làm, thu nhập cho

người lao động, xoá đói giảm nghèo, phát triển văn hoá y tế giáo dục, làm cơ sở

và nền tảng cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đảm bảo

an ninh quốc phòng

1.1.3.3 Vai trò trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào khu

vực nông thôn [30]:

Doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp có vai trò tích cực trong việc triển khai

ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào khu vực nông nghiệp nông thôn, góp

phần nâng cao năng suất chất lượng của sản phẩm Trong quá trình phát triển

kinh tế - xã hội, nhất là thực hiện các chương trình có mục tiêu đối với khu vực

nông thôn miền núi, việc áp dụng công nghệ chế biến hàng nông lâm sản là cơ

sở nâng cao giá trị sản phẩm sau thu hoạch, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của

người tiêu dùng Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật góp phần chuyển dịch

cơ cấu cây trồng hợp lý với tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, từng địa

phương Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để thực hiện công nghiệp hoá,

hiện đại hoá ở nông thôn

1.1.3.4 Vai trò trong việc bảo vệ môi trường sinh thái

Doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp góp phần bảo vệ môi trường sinh thái,

đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp

sang nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của Việt

Nam, việc giải phóng sức sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cũng như việc

phát triển nền kinh tế dịch vụ, mở cửa đầu tư nước ngoài và tham gia vào nền

thương mại khu vực và Quốc tế đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế - xã hội to

lớn, nền kinh tế phát triển tương đối nhanh nhưng cũng phải đương đầu với một

số vấn đề gay cấn như bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên, đây là vấn đề

khó giải quyết bởi tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường thường mâu thuẫn

trực tiếp với nhau ở nước ta, đồi núi chiếm khoảng 3/4 diện tích, miền núi là

vùng hiện còn trên 90% diện tích rừng cả nước, là nơi cung cấp nguồn động thực vật và nhiều tài nguyên khoáng sản quan trọng cho cả nước, nhưng hiện nay hệ sinh thái đang bị suy giảm nghiêm trọng, cuộc sống của cư dân miền núi gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp đã và đang là cầu nối giúp Nhà nước thực hiện các chính sách nhằm gìn giữ và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ môi trường, chống lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, bảo tồn thảm thực vật xanh chống lại sự biến đổi khí hậu, bảo tồn nguồn nước mặt

và nước ngầm, giảm mức độ ô nhiễm không khí và nước, tạo điều kiện cho loại hình du lịch sinh thái phát triển [12],[30]

1.1.4 Phân loại doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp

1.1.4.1 Phân loại theo ngành nghề kinh doanh

Phân loại doanh nghiệp theo lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ và chế biến nông lâm sản trong giai đoạn hiện nay chỉ mang tính tương đối, việc tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi một khâu hoặc một công đoạn nào đó từ sảnxuất đến tiêu dùng Trong giai đoạn hiện nay nhiều doanh nghiệp thực hiện theo mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp, đa ngành đa nghề Các ngành nghề hỗ trợ cho nhau cùng phát triển và giảm tính rủi ro cho doanh nghiệp Việc phân loại doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp theo ngành nghề kinh doanh phục vụ nghiên cứu là cần thiết và tập trung cơ bản các loại sau [4]:

- Đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông lâm nghiệp: Là doanh nghiệp được Nhà nước giao đất, thuê đất, đảm bảo thực hiện quy trình khép kín từ tổ chức trồng và chăm sóc, thu hoạch chế biến và đưa sản phẩm tiêu thụ ra thị trường

- Doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ trong lĩnh vực nông lâm nghiệp: Là doanh nghiệp thực hiện một công đoạn mua sản phẩm nông lâm nghiệp của doanh nghiệp này và bán cho doanh nghiệp khác nhằm thu được lợi nhuận Hoặc thực hiện dịch vụ môi giới mua bán hàng hoá, thực hiện xuất nhập

Trang 11

khẩu uỷ thác hưởng hoa hồng, thực hiện dịch vụ đối với nhà nước trong lĩnh

vực nông lâm nghiệp thông qua các dự án ví dụ như trồng rừng

- Doanh nghiệp chế biến nông lâm sản: Là doanh nghiệp thực hiện một

công đoạn thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp hoặc của nhân dân, sau đó tổ

chức chế biến thành sản phẩm và bán ra thị trường

- Doanh nghiệp khác: Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng

các công trình cơ bản phục vụ nông lâm nghiệp

(Xem Bảng 1.1, 1.2, 1.3 và Hình 1.1, 1.2)

Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp

theo ngành nghề sản xuất kinh doanh năm 2006

Đơn vị tính: Doanh nghiệp

TT Huyện, thành, thị Số DN Sản xuất

sản phẩm NLN

Thương mại, dịch vụ NLN

Chế biến nông lâm sản

Khác (XDCB) NLN

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Nguyên, 2006

Đối với loại hình doanh nghiệp sản xuất sản phẩm Nông Lâm nghiệp có

4 doanh nghiệp chiếm 13,33% tổng số doanh nghiệp, nhưng chiếm 59,48% trên

tổng số vốn đăng ký, bình quân 32.200 triệu đồng/doanh nghiệp (trong đó công

ty Ván dăm là doanh nghiệp Trung ương có mức vốn đăng ký 117.600 triệu

đồng, còn lại doanh nghiệp sản xuất Địa phương mức vốn đăng ký bình quân khoảng 3.700 triệu đồng/doanh nghiệp)

Biểu đồ 1.1 Phân loại doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp toàn tỉnh theo ngành nghề sản xuất kinh doanh năm 2006

Hình 1.2: Biểu đồ cơ cấu các loại hình doanh nghiệp nông lâm nghiệp

tỉnh Thái Nguyên đến 31/12/2006

0246810121416

18

Sản xuất sản phẩm NLN

Thương mại, dịch

vụ lĩnh vực NLNChế biến nông lâmsản

Khác (XDCB) NLN

DN Sản xuất sản phẩm NLN

DN KD thương mại, dịch vụ NLN

DN Chế biến nông lâm sản

DN khác (XDCB) ngành NLN

13,33%

53,33 0%

3,33

%

30%

Trang 12

Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ chủ yếu là đầu tư

vốn lưu động, mức vốn không đòi hỏi lớn, thời gian quay vòng vốn và thu hồi

vốn nhanh nên cũng thu hút được các nhà đầu tư vào lĩnh vực này

1.1.4.2 Phân loại theo hình thức sở hữu vốn:

Phân loại doanh nghiệp theo hình thức sở hữu vốn được chia làm 4 loại

là doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty

trách nhiệm hữu hạn

Bảng 1.2: Phân loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp

tỉnh Thái Nguyên năm 2006 theo hình thức sở hữu vốn

Đơn vị tính: Doanh nghiệp

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Nguyên, 2006

1.2 Công nghệ thông tin - vai trò và các ứng dụng trong hoạt

động kinh doanh của các doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm công nghệ thông tin

Bắt đầu từ giữa thập kỷ 70, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông

tin đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cuộc cách mạng công nghiệp hoá,

hiện đại hoá của các nước Chỉ trong vòng 20 năm qua, nền công nghiệp của

thế giới đã có mức tăng trưởng hơn cả thời gian 70 năm trước đó Việc ứng

dụng rộng rãi của công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực đã góp phần quyết định cho sự tăng trưởng trên

Công nghệ thông tin thực chất là sự hoà nhập của công nghệ máy tính với công nghệ liên lạc viễn thông được thực hiện nhờ công nghệ vi điện tử Công nghệ thông tin bao gồm cả phần cứng, phần mềm và dịchvụ [2]

Công nghệ thông tin có thể được định nghĩa như sau: Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội [2] Ứng dụng CNTT là việc sử dụng các phương tiện CNTT và truyền thông phục vụ các hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh thương mại, khoa học, giáo dục, văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng Trong đó CNTT và truyền thông bao gồm: công nghệ máy tính, công nghệ truyền thông, công nghệ nội dung được chứa đựng trong các sản phẩm và dịch vụ sau: Các hệ thống thiết bị thông tin và truyền thông; các dịch vụ thông tin; các dịch vụ truyền thông; các sản phẩm phần mềm ứng dụng; sản xuất và xây dựng các nội dung thông tin [2]

1.2.2 Ví trí, vai trò của công nghệ thông tin:

1.2.2.1 Về Kinh tế

Công nghệ thông tin đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội Công nghệ thông tin góp phần tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện đại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp truyền thống thông quan một hệ thống hỗ trợ như viễn thông, Internet, thương mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phương tiện Nhiều nước đang phát triển, trong đó có không ít quốc gia tuy nghèo

và đi sau, song biết tận dụng cơ hội ứng dụng và phát triển công nghệ thông

Trang 13

tin nên đã tạo được những bước phát triển vượt bậc Tiêu biểu trong nhóm

nước này phải kể tới là ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc

Nắm bắt được tiềm năng của CNTT, cho phép vượt qua các rào cản lạc

hậu về phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ để nâng cao hiệu quả trong việc thực

hiện các mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện y tế, chăm sóc sức

khoẻ, giáo dục đào tạo, cũng như thương mại Để làm được điều đó các nước

đang phát triển phải xây dựng các chiến lược quốc gia, xây dựng một môi

trường pháp lý và chính sách khuyến khích phát triển và khai thác CNTT để

thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực CNTT,

khuyến khích sáng kiến cộng đồng và hợp tác trong nước [1]

1.2.2.2 Về Văn hoá Xã hội

Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT trong những thập niên cuối của thế

kỷ XX đã tạo ra những điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển của kinh tế

xã hội trên phạm vi toàn cầu Công nghệ thông tin đã được ứng dụng trong

mọi lĩnh vực trong đó có văn hoá, xã hội ứng dụng của CNTT đã không

ngừng nâng cao, cải thiện đời sống văn hoá, chất lượng cuộc sống cho

người dân Nhờ có kết nối Internet toàn cầu, sự giao lưu văn hoá giữa các

quốc gia trở nên dễ dàng Đồng thời con người dễ dàng tìm hiểu được các

vấn đề xã hội trên Internet

1.2.2.3 Về Quốc phòng – An ninh

CNTT đã trở thành phương tiện được ứng dụng rộng rãi và có chiều

sâu trong Quốc phòng, an ninh CNTT đã góp phần to lớn trong công tác

quản lý, điều hành và giải pháp hữu hiệu trong việc đảm bảo quốc phòng,

an ninh [12]

Khi xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các

thế lực chính trị phát triển không ngừng, vấn đề đảm bảo quốc phòng, an

ninh quốc gia luôn được đặt lên hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát

xử lý, truyền đạt thông tin trong một tập các ràng buộc gọi là môi trường [1]

Hệ thống thông tin được chia làm hai loại là hệ thống thông tin tác nghiệp và

hệ thống thông tin quản lý

1.2.3.1 Hệ thống thông tin tác nghiệp :

Hệ thống thông tin tác nghiệp (OIS-Operations Information Systems) gắn liền với việc xử lý các hoạt động tác nghiệp của một chức năng nghiệp vụ xác định Nó nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động có tính thường xuyên trong một doanh nghiệp [19]

Hệ thống thông tin tác nghiệp chịu trách nhiệm xử lý các hoạt động giao dịch, công việc điều khiển các quá trình hoặc các hệ thống tự động hoá văn phòng

Hệ thống xử lý tác nghiệp có các đặc trưng sau: Khối lượng công việc giao dịch nhiều; các quy trình để xử lý giao dịch là rõ ràng, chặt chẽ, có thể mô tả một cách chi tiết; ít có trường hợp ngoại lệ [19]

Hệ thống xử lý giao dịch (TPS Transaction Processing Systems) là ví dụ tiêu biểu về hệ thống xử lý tác nghiệp [12] Đó là hệ thống thông tin xử lý các dữ liệu thu được từ các việc xảy ra hàng ngày trong các hoạt động giao dịch của một doanh nghiệp như các hoạt động: mua vào, bán ra, gửi tiền ở ngân hàng, rút tiền ra, trả tiền, thanh toán Có thể kể một vài hệ thống loại này như: Hệ thống thanh toán tài vụ, hệ thống quản lý khách hàng, hệ thống bán hàng tự động, hệ thống quản lý

Trang 14

nhân sự, hệ thống gửi tiền qua bưu điện, hệ thống thanh toán ngân hàng, hệ thống

xử lý hoạt động giao dịch bán hàng, các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ vận tải hàng

hoá Phần lớn các hệ thống này đều hợp tác chặt chẽ với các mạng lưới thông tin

viễn thông

Hệ thống điều khiển các quá trình (PCS Process Control Systems) là hệ thống

sử dụng máy tính điện tử để ra các quyết định điều chỉnh các quá trình sản xuất một

cách tự động [19] Ví dụ: các hệ thống lọc dầu; các dây chuyền lắp ráp tự động ô tô,

xe máy và các máy móc khác; các dây chuyền in hoa, phun màu và dệt tự động tại

các nhà máy dệt và các dây chuyền tự động khác tại các nhà máy sản xuất ở đây hệ

thống kiểm tra các quá trình vật lý, thu thập và xử lý các dữ liệu được phát hiện bởi

các biến cảm và thực hiện các điều chỉnh cần thiết đối với quá trình

Hoạt động văn phòng tin học hoá (OAS Office Automation Systems) cũng

là một hệ thống xử lý tác nghiệp [12] Ở đây máy tính được sử dụng để thực hiện

các chức năng của hoạt động văn phòng như:

- Xử lý văn bản: Người quản lý sử dụng các phần mềm soạn thảo, xử lý văn

bản để biên soạn, in ấn các tài liệu văn bản như thư từ, công văn, báo cáo, bảng

biểu Đó là ứng dụng phổ biến nhất của tin học văn phòng

- Giao dịch: Ngày nay, nhờ việc ứng dụng CNTT mà doanh nghiệp có thể

tìm kiếm thông tin, khảo sát thị trường, liên lạc với khắp nơi trên trái đất nhanh và

rẻ hơn rất nhiều so với bưu điện Nhờ sự phát triển mang tính chất bùng nổ của

mạng thông tin toàn cầu Internet, các doanh nghiệp có thể: sử dụng nguồn thông

tin vô tận trên thế giới, toàn cầu hoá hoạt động của tổ chức, thực hiện việc điều

hành từ xa, thực hiện việc tiếp thị từ xa, thực hiện các dịch vụ thương mại điện tử

- Bảng tính điện tử: Sử dụng các bảng tính điện tử để lập các bảng biểu thống

kê, tính toán và quản trị cơ sở dữ liệu Các dữ liệu được thể hiện không chỉ trong

các bản dữ liệu mà còn dưới dạng biểu đồ, bảng biểu liên quan đến dữ liệu đó

1.2.3.2 Hệ thống thông tin quản lý :

Hệ thống thông tin quản lý (MIS Management Information Systems) có mục đích cung cấp thông tin trợ giúp các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý trong việc ra quyết định và quản lý công việc trong tổ chức, cung cấp thông tin và hỗ trợ cho việc ra quyết định ở tất cả các cấp độ quản lý, từ quản lý chiến lược, quản lý chiến thuật đến quản lý tác nghiệp Hệ thống thông tin quản lý bao gồm các cơ sở dữ liệu, các luồng thông tin và được quy định các chức năng để thực hiện mục tiêu chung Hệ thống này hỗ trợ nhiều chức năng xử lý dữ liệu trong giao dịch và lưu trữ, thích ứng được với những thay đổi của quy trình xử lý thông tin, cung cấp đầy

đủ thông tin để các nhà quản lý sử dụng trong quá trình ra quyết định và điều hành hoạt động của doanh nghiệp [19]

So với hệ thống thông tin tác nghiệp, hệ thống thông tin quản lý mềm dẻo hơn, có nhiều chức năng xử lý dữ liệu hơn Có hai các loại hệ thống thông tin quản

lý sau [19]:

Hệ thống thông tin tổng hợp thông báo (IRS Information Reporting Systems) là dạng chung nhất của hệ thống thông tin quản lý, nó cung cấp cho nhà quản lý các sản phẩm thông tin hỗ trợ việc ra quyết định hàng ngày của họ Các hệ thống thông tin này tìm các thông tin về các hoạt động nội bộ từ các cơ sở dữ liệu được cập nhật bởi hệ thống xử lý các hoạt động giao dịch Chúng cũng có thể nhận

dữ liệu về môi trường xung quanh từ các nguồn bên ngoài Hệ thống phải cung cấp cho nhà quản lý những thông tin theo yêu cầu, những thông tin mang tính định

kỳ hoặc theo một danh mục đã xác định từ trước Ngoài ra còn cung cấp những thông tin đặc biệt mang tính ngoại lệ, những bản báo cáo theo yêu cầu và những câu trả lời tức thì cho những câu hỏi Ví dụ, người quản lý bán hàng có thể nhận được câu trả lời tức thời về tình hình bán một sản phẩm nào đó, các báo cáo hàng tuần đánh giá các kết quả bán được của một nhân viên hay một cửa hàng Các chương trình ứng dụng và các phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu của IRS sẽ cho phép nhà quản lý tiếp cận tới các cơ sở dữ liệu hợp thành của tổ chức và cả những

cơ sở dữ liệu bên ngoài khi cần thiết

Trang 15

Hệ thống thông tin hỗ trợ quyết định (DSS.Decision Support Systems): Hệ

thống này thường được xây dựng dựa trên hệ thống thông tin tác nghiệp và hệ

thống thông tin thông báo tồn tại trong tổ chức Hệ thống này cung cấp cho các

nhà quản lý các mô hình phân tích để mô phỏng các vấn đề trong thực tiễn, cách

tìm kiếm dữ liệu, các khả năng biểu diễn thông tin và thường nhấn mạnh việc kết

xuất thông tin bằng hình ảnh DSS không tự làm quyết định cụ thể giúp con người

trong công tác quản lý mà chỉ hỗ trợ việc tính toán các phương án để nhà quản lý

lựa chọn và đưa ra quyết định cuối cùng

1.2.4 Những lợi ích của công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh

của các doanh nghiệp

Việc ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp đem đến một sự tác

động rất lớn đối với sự phát triển kinh tế và xã hội Tác động của việc ứng

dụng CNTT trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và quản lý có thể tóm

lược như sau [2]:

Đối với công nghiệp, CNTT được ứng dụng trong các quá trình sản

xuất và trong tổ chức của các ngành công nghiệp vốn có thể tăng năng suất

và chất lượng sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới với nhiều tính năng hiện đại,

tự động hoá các hoạt động thiết kế và chế tạo sản phẩm, tin học hoá các

hoạt động tiếp thị, kinh doanh CNTT không chỉ tác động đến các ngành

công nghiệp công nghệ cao, mà còn tác động tới các ngành thủ công nghiệp

hoặc công nghiệp với công nghệ thấp như dệt, may mặc, thêu ren bằng

việc ứng dụng CNTT trong việc tự động hoá thiết kế, chế tạo sản phẩm

Đối với ngành dịch vụ, CNTT làm thay đổi một cách sâu sắc nội dung

và cách thức hoạt động của nhiều loại hình dịch vụ như thương mại, quảng

cáo và tiếp thị, giao thông vận tải, bảo hiểm, thông tin liên lạc và đặc biệt

quan trọng là các dịch vụ tài chính và ngân hàng CNTT tạo điều kiện cho

các hoạt động dịch vụ biến đổi theo hướng tăng hàm lượng trí tuệ, vì vậy

trong nhiều trường hợp làm chuyển đổi vai trò của các dịch vụ đó từ chỗ phục vụ thụ động sang trợ giúp quyết định đối với khách hàng

Năng suất và tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất lớn vào việc ứng dụng CNTT trong sản xuất Việc ứng dụng CNTT trong sản xuất kinh doanh đã làm nổi bật vai trò năng động của các doanh nghiệp, xí nghiệp có quy mô vừa và nhỏ so với các tập đoàn lớn mang nặng tính chất quan liêu

Nhờ các ứng dụng CNTT, một nền kinh tế mới mang tính chất toàn cầu

đã xuất hiện Điều này mang lại lợi thế to lớn cho các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia do chúng có nhiều ưu thế về các nguồn lực và các tri thức, thông tin cần thiết đối với việc sản xuất và tiêu thụ các hàng hoá và dịch vụ trên quy mô quốc tế Nhờ các thành tựu của tin học - viễn thông, các công ty xuyên và đa quốc gia đều tiến hành phân bố sản xuất theo hướng phân tán: tiến hành nghiên cứu, thiết kế sản phẩm ở một nước, sản xuất các yếu tố cấu thành ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ sản phẩm ở nước thứ tư

và gửi lợi nhuận để đầu tư vào nước thứ năm Lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp được thể hiện như sau [12]:

Thứ nhất, giúp các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú, nhanh chóng, kịp thời: Việc ứng dụng CNTT, đặc biệt là khi sử dụng Internet/Web sẽ giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nắm được thông tin phong phú về thị trường trong nước và quốc tế Nhờ đó các doanh nghiệp

có thể xây dựng được chiến lược sản xuất kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế

Thứ hai, giảm các chi phí: chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, tiếp thị

và chi phí giao dịch: Việc ứng dụng CNTT cho phép các doanh nghiệp giảm được chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng không giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm, chuyển giao tài liệu cũng giảm nhiều lần Theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt tới 30% Thêm vào đó, các nhân viên

Trang 16

có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ, có thể tập trung

vào nghiên cứu phát triển Hơn nữa, việc ứng dụng các dây truyền sản xuất

tự động có tác dụng tăng năng suất lao động lên rất nhiều lần, hạn chế tới

mức tối đa sản phẩm hỏng, dư thừa sản phẩm do lạc hậu với thị hiếu, thị

trường Tất cả những điểm trên đưa đến kết quả là chi phí sản xuất giảm đi

rất nhiều lần

Thứ ba, giúp thiết lập và củng cố quan hệ với đối tác: Thông qua

mạng, người tiêu thụ, doanh nghiệp, cơ quan Chính phủ có thể giao tiếp

trực tiếp và liên tục với nhau gần như không còn khoảng cách địa lý và thời

gian Nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng

và liên tục Các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện

nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới và có

nhiều cơ hội để lựa chọn hơn

Thứ tư, tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số: Công nghệ thông tin

phát triển kéo theo sự ra đời của mạng máy tính, từ các mạng cục bộ, mạng

diện rộng cho tới mạng toàn cầu Internet và xa lộ thông tin Trong nền kinh

tế số, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ưu thế về tính linh hoạt, chủ quyền

và mềm dẻo, không bị đè nặng bởi các bất lợi mà các công ty lớn phải chịu

là quan liêu, trật tự ngột ngạt và ít có khả năng thay đổi, có thể dựa vào lợi

thế của Internet để vượt qua được các ưu thế chính của các công ty lớn, tiết

kiệm nhờ mở rộng quy mô và có khả năng tiếp cận với các nguồn tài

nguyên Nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số thì sau khoảng

một thập kỷ nữa, nước đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn Khía cạnh

lợi ích này mang tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và tính chính

sách phát triển mà các nước chưa công nghiệp hoá cần lưu ý vì có luận

điểm cho rằng sớm chuyển sang nền kinh tế số thì một nước đang phát triển

có thể tạo ra một bước nhảy vọt, tiếp kịp các nước đi trước trong một thời

gian ngắn hơn [9]

1.3 Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trên thế giới

1.3.1 Hiện trạng phát triển và ứng dụng CNTT trên thế giới

CNTT đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội CNTT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện đại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp truyền thống, thông qua một hệ thống hỗ trợ như viễn thông, thương mại điện tử, dịch vụ tryền thông đa phương tiện Nhiều nước đang phát triển, trong đó có không ít quốc gia tuy nghèo và đi sau, song biết tận dụng cơ hội ứng dụng và phát triển CNTT, nên đã tạo được những bước phát triển vượt bậc Tiêu biểu trong nhóm nước này phải kể tới là Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc [24]

Các tổ chức quốc tế đã đánh giá cao vai trò của CNTT đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các nước, do đó đã tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị, hội thảo để tuyền truyền, quảng bá, tổng kết kinh nghiệm, nêu bài học, khuyến cáo chương trình hành động, hướng dẫn và hỗ trợ các nước hoạch định chiến lược ứng dụng và phát triển CNTT [24] Dưới đây sẽ xem xét những kinh nghiệm thành công trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh của một số nước mà Việt Nam có thể học tập

1.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ

Theo kết quả thăm dò của Viện nghiên cứu quốc phòng RAND (Mỹ), siêu cường quốc này vẫn sẽ bám chắc vị trí dẫn đầu thế giới của mình trong tiến trình phát triển CNTT nhiều năm tới, bất chấp sự nổi lên của một số nước ở Châu Á

Nguyên nhân chính là các nhà chức trách tại Mỹ đã tạo ra một môi trường cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển của CNTT [18]

Trang 17

Mỹ là nước đầu tiên trên thế giới khởi xướng việc xây dựng hạ tầng cơ sở

thông tin quốc gia (NII) và toàn cầu (GII) nhằm xây dựng tiềm lực thông tin để

tăng trưởng kinh tế và chuẩn bị cho toàn nước Mỹ bước vào xã hội thông tin

Ngay từ năm 1993 Mỹ đã quyết định đầu tư 200 tỷ USD để triển khai Siêu lộ

cao thông tin với dự kiến hoàn thành trong 10-15 năm Kế hoạch xây dựng hạ

tầng cơ sở thông tin quốc gia Mỹ được thực hiện từ tháng 9/1993 để đảm bảo

mọi công dân Mỹ có quyền truy nhập thông tin một cách bình đẳng và giám sát

môi trường hiệu quả với các thành tố chủ yếu sau đây [24]:

1 Một loạt lớn các thiết bị tin học và viễn thông đang được triển khai trên

quy mô lớn ở Mỹ

2 Thông tin dưới các dạng thức như chương trình Video, các cơ sở dữ liệu

khoa học hay kinh doanh, các hình ảnh, các băng ghi âm, các tài liệu lưu trữ ở

thư viện

3 Các ứng dụng và các phần mềm cho phép người dùng truy cập, thao tác,

tổ chức và lĩnh hội khối lượng thông tin phổ biến trên mạng

4 Các tiêu chuẩn và các giao thức của mạng thông tin tạo điều kiện thuận

lợi cho việc kết nối và vận hành liên mạng và đảm bảo tính chất riêng tư của

các cá nhân, sự an toàn của thông tin đưa vào mạng cũng như sự an ninh và khả

năng thực hiện của mạng lưới

5 Các đơn vị, cơ quan sản xuất thông tin, phát triển các ứng dụng và các

dịch vụ, tạo ra các phương tiện hỗ trợ và đào tạo nguồn nhân lực thông tin

Để thực hiện các mục tiêu đã vạch ra, Tổng thống Bin Clintơn đã đưa ra

các chương trình cụ thể sau [24]:

1 Thực hiện chương trình Máy Tính và Truyền thông tính năng cao

(HPCC High Performance Computing and Communicating Program) Công tác

nghiên cứu triển khai do chương trình này tài trợ nhằm tạo ra: các siêu máy tính

mạnh hơn; các mạng máy tính nhanh hơn và mạng tốc độ cao quốc gia đầu tiên

của Mỹ; phần mềm tinh vi hơn, mạng lưới này dokhu vực tư nhân xây dựng,

nhưng được khuyến khích bởi chính sách Liên bang và các chính sách phát triển công nghệ

2 Thành lập một lực lượng đặc nhiệm về hạ tầng cơ sở thông tin nằm trong Hội đồng kinh tế quốc gia, làm việc cùng với Quốc Hội Mỹ và khu vực tư nhân để tìm ra tiếng nói chung và thực hiện những thay đổi chính sách cần thiết nhằm thúc đẩy sự triển khai một hạ tầng cơ sở thông tin quốc gia

3 Tạo ra một chương trình công nghệ hạ tầng cơ sở thông tin để hỗ trợ nền công nghiệp trong việc phát triển phần cứng và phần mềm cần thiết cho việc ứng dụng đầy đủ công nghệ mạng và máy tính tiên tiến vào các ngành chế tạo, y tế, học tập và thư viện

4 Cung cấp vốn cho các đề án thử nghiệm mạng: Thông qua Cục quản lý thông tin viễn thông quốc gia Mỹ (NTIA) thộc Bộ Thương mại Mỹ, NTIA cấp vốn cần thiết cho các bang, trường học, thư viện và các tổ chức phi lợi nhuận khác để họ có thể mua sắm máy tính nối mạng cần thiết cho việc học tập từ xa

và kết nối vào mạng cần thiết cho việc học tập từ xa và kết nối vào mạng Internet Những đề án thử nghiệm này sẽ mang lại lợi ích của mạng tới cho các cộng đồng giáo dục và thư viện trên toàn nước Mỹ

5 Thúc đẩy phổ biến thông tin khoa học công nghệ trong toàn liên bang Nhà nước Mỹ cam kết sử dụng công nghệ mạng và máy tính mới để thu thập

và xử lý hàng năm những thông tin khoa học công nghệ (các dữ liệu kinh tế, dữ liệu môi trường và thông tin công nghệ ) với chi phí hàng tỷ USD của chính phủ liên bang nhằm làm cho chúng trở nên luôn được sẵn sàng tiếp cận và phục

vụ ngày càng nhiều hơn cho những người đã đóng thuế và những người đã trả tiền dịch vụ này Bởi vậy, chính phủ Mỹ sẽ phải đề ra các chính sách thông tin liên bang phù hợp nhằm đảm bảo luôn luôn có sẵn thông tin với giá cả hợp lý đối với càng nhiều người dùng càng tốt, đồng thời khuyến khích sự phát triển của ngành thông tin

Trang 18

1.3.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản :

Chính phủ Nhật Bản đã có ý thức rất sớm về việc phát triển CNTT Tháng

3/1993, Bộ Bưu chính viễn thông Nhật Bản đã thành lập một tổ chức có tên là

Uỷ ban viễn thông để hoạch định chính sách hành động của Nhật Bản từ đầu

thập kỷ 90 tới đầu thế kỷ sau, với nội dung thực hiện chương trình triển khai

một hạ tầng thông tin và truyền thông mới, đặc biệt là xây dựng một mạng cáp

quang cũng như chính sách tạo điều kiện phát triển các ứng dụng vào khu vực

tư nhân Mục tiêu cuối cùng là triển khai hàng loạt và nhanh chóng các siêu lộ

cao tốc thông tin để đến năm 2010, tất cả các gia đình và các xí nghiệp thuộc

lãnh thổ Nhật Bản đều có thể truy nhập các siêu lộ này Để thực hiện mục tiêu

này, Nhật Bản đã đề xướng xây dựng môt hạ tầng thông tin quốc gia và các

siêu lộ cao tốc thông tin với tổng chi phí lên tới gần 400 tỷ USD Cụ thể là

Chính phủ đảm bảo cung cấp các máy tính có chức năng cung cấp thông tin và

truyền thông cho tất cả các cán bộ nghiên cứu của Nhà nước làm việc trong các

lĩnh vực nghiên cứu vào năm 2000; đảm bảo cung cấp cho tất cả các viện của

Nhà nước các mạng cục bộ (LAN), đồng thời nối kết với tất cả các máy tính

của các cán bộ nghiên cứu lại; triển khai các cơ sở dữ liệu về thông tin nghiên

cứu; triển khai các mạng thông tin điện tử trong các viện Nhật Bản cho rằng

việc thúc đẩy duy trì và sử dụng một cơ sở thông tin nghiên cứu như vậy sẽ

chắc chắn tạo ra một hệ thống thông tin cho toàn xã hội Nhật cũng như trong

từng lĩnh vực công nghiệp, giáo dục - đào tạo, y tế … nói riêng và cuối cùng sẽ

đưa đến một xã hội thông tin tiên tiến [24]

1.3.4 Kinh nghiệm của Singapore

Singapore tách ra khỏi thuộc địa Anh và được Anh thừa nhận độc lập từ

năm 1959 Singapore có diện tích khoảng 623 km2 và là một trong những nước

có mật độ dân số cao nhất [12]

Hệ thống viễn thông tiên tiến của Singapore có lẽ là hạ tầng cơ sở lớn nhất

với những tuyến cáp dưới biển trực tiếp, nối với 4 vệ tinh và 2 trạm mặt đất bao

phủ 2/3 trái đất Một trong những khác biệt thực tế của Singapore là việc không xây dựng quá nhiều hạ tầng cơ sở công nghệ mà tập trung xây dựng những ứng dụng để sử dụng hạ tầng cơ sở thông tin này Hội đồng điện toán quốc gia được thành lập năm 1980 với nhiệm vụ chính là tập trung vào phát triển và tiếp cận những ứng dụng về CNTT tầm cỡ quốc tế Hội đồng này đã lập kế hoạch CNTT quốc gia (NITP) một cách toàn diện Kế hoạch này có 5 vấn đề trọng tâm [12], [24]

1) Nguồn lực CNTT: Mặc dù Singapore gần như đã có đủ lao động CNTT cho hơn 20 năm, song Chính phủ đã xác định là phải tạo đủ số lao động được đào tạo kỹ càng về chuyên môn CNTT, và phải chuẩn bị nhập khẩu số còn thiếu 2) Đào tạo CNTT: bằng việc sử dụng các chương trình giáo dục và khuyến khích duy trì thường xuyên, chính phủ đã thành công trong việc tạo ra môi trường giáo dục không chỉ đảm nhận mà còn sử dụng CNTT

3) Hạ tầng cơ sở truyền thông tin: Với nhiệm vụ cập nhật hạ tầng cơ sở viễn thông của Singapore

4) Ứng dụng CNTT: Có chương trình hỗ trợ và khuyến khích cụ thể ứng dụng CNTT trong nhiều lĩnh vực khác nhau

5) Phát triển ngành công nghiệp CNTT nhằm tạo ra phần mềm, phần cứng trong nước và phát triển các công ty dịch vụ máy tính

Singapore là một trong số các nước đầu tiên trên thế giới có mạng phổ cập liên kết ảo các máy tính trong từng ngôi nhà, trường học và văn phòng Dự án Mạng Singapore One được triển khai có mục đích thoả mãn nhu cầu trong tương lai của Singapore đối với các kết nối dải rộng toàn quốc Khi được triển khai đầy đủ, nó sẽ là mạng dải rộng toàn quốc đầu tiên trên thế giới có khả năng phân phát các ứng dụng đa phương tiện, các ứng dụng trực tuyến và các dịch vụ đến từng nhà, trường học và các vănphòng ở Singapore

Trang 19

1.3.5 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới, cũng là nước có tốc độ

tăng trưởng GDP cao nhất thế giới, được mệnh danh là một quốc gia có đất

rộng, tài nguyên phong phú Theo dự đoán của các nhà nghiên cứu kinh tế thế

giới, Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc buôn bán thế giới trong thế kỷ XXI

Hiện nay Trung Quốc đang nổi lên như một đối thủ lớn tại Châu Á cũng như

trên thế giới, đứng đầu trong lĩnh vực sản xuất phần cứng, chiếm từ 70% đến

80% tổng sản lượng toàn cầu về vật liệu, linh kiện và sản phẩm CNTT [24]

Từ những năm 1980, Trung Quốc đã có những quan tâm lớn đến việc tin

học hoá quốc gia ý tưởng thiết lập nên một mạng lưới thông tin hiện đại và tăng

tốc quy trình tin học hoá nền kinh tế quốc gia được nêu ra trong quyết định của

Hội đồng Nhà nước về việc tăng tốc độ phát triển khoa học và công nghệ công

bố ngày 6/5/1995 Trong kế hoạch lần thứ 9 và kế hoạch dài hạn đến năm 2010

về phát triển xã hội và kinh tế quốc gia được ban hành vào ngày 17/3/1996, mục

tiêu tin học hoá quốc gia đến năm 2010 là Cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia (NII)

được xây dựng trên cơ sở mạng số dịch vụ tích hợp (ISDN) dải tần rộng có thể

cải thiện to lớnmức độ tin học hoá nền kinh tế quốc gia [25]

Trung Quốc đã xây dựng mạng lưới điện thoại công cộng truyền số hoá

lớn hàng thứ hai trên thế giới với cáp quang làm phương tiện chính và các vệ

tinh, sóng viba số hoá làm phương tiện bổ trợ Trên cơ sở đó thành lập nên

mạng lưới điện thoại công cộng quốc gia chuyển theo bó (PSTN), mạng lưới

viễn thông số hoá và mạng lưới viễn thông di động công cộng Mạng thông

minh và mạng số dịch vụ tích hợp (ISDN) cũng đang được xây dựng [20]

1.4 Thực trạng và đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở Việt Nam

1.4.1 Về thực trạng :

CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành nghề công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại [2]

Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [6] Tuy nhiên, công nghệ thông tin Việt Nam hiện nay vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm, có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trên thế giới và khu vực Việc ứng dụng CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu về hội nhập khu vực

và quốc tế, vai trò động lực và tiềm năng to lớn của CNTT chưa được phát huy mạnh mẽ Việc phát triển nguồn nhân lực CNTT chưa được chuẩn bị kịp thời cả về số lượng và chất lượng, về chuyên môn cũng như về ngoại ngữ, viễn thông và Internet chưa thuận lợi, chưa đáp ứng các yêu cầu về tốc độ, chất lượng và giá cước cho ứng dụng và phát triểnCNTT Đầu tư cho CNTT chưa đủ mức cần thiết, quản lý Nhà nước về lĩnh vực này vẫn phân tán và chưa hiệu quả, ứng dụng CNTT ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực

và còn lãng phí

Hiện nay Việt Nam có khoảng 272.000 doanh nghiệp hoạt động trên thương trường [12] Trong đó có 18 Tổng công ty 91, 78 Tổng công ty 90, hơn 4.800 doanh nghiệp Nhà nước Theo tiêu chí của Việt Nam hiện nay về

Trang 20

doanh nghiệp vừa và nhỏ (có quy mô dưới 300 lao động và số vốn dưới 10 tỷ

VND) thì khoảng 95% doanh nghiệp Việt Nam nói trên thuộc loại vừa và

nhỏ với các hình thức: doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công

ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh Thực tế trong những năm qua

các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đã có những đóng góp tích cực cho

nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền

kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam còn có những hạn chế là: khả

năng thâm nhập thị trường kém; thiếu nguồn vốn và cơ cấu vốn không hợp

lý; khả năng tiếp cận công nghệ hạn chế; yếu kém trong công tác quản lý và

tổ chức; yếu kém trong quan hệ kinh doanh và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm

Theo kết quả điều tra mới đây của Phòng Thương mại công nghiệp

Việt Nam về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin, khoảng 70% doanh

nghiệp có ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, sản xuất và kinh doanh ở

các mức độ khác nhau

Trong 2.233 doanh nghiệp thuộc 5 thành phố lớn là Hà Nội, Hải

Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh, các thiết bị phục vụ

CNTT được sử dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là

máy tính để bàn và máy in, các thiết bị khác như máy scan, máy tính xách tay

vẫn chiếm tỷ lệ thấp Trong quá trình ứng dụng CNTT, có tới 24% doanh

nghiệp không sử dụng bất kỳ dịch vụ hỗ trợ nào khác như tư vấn, bảo trì, sửa

chữa, thiết kế web … Phần lớn các doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng

các dịch vụ bên ngoài, đặc biệt có tới 96,4% không sử dụng dịch vụ tư vấn,

và 97% không ứng dụng thương mại điện tử Thêm vào đó, tỷ trọng đầu tư

của doanh nghiệp vào CNTT có sự mất cân đối nghiêm trọng, 59,9% quỹ đầu

tư dành cho phần cứng, 10,9% dành cho phần mềm và chỉ có 4,8% cho đào

tạo nhân lực trong khi đây là yếu tố rất quan trọng để ứng dụng CNTT có

hiệu quả

1.4.2 Đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở Việt Nam

Tại hội thảo quốc gia về ứng dụng CNTT-TT trong doanh nghiệp năm

2006 tại Đà Nẵng, nhiều doanh nghiệp đã khẳng định CNTT đang trở thành yếu tố không thể thiếu trong sự thành công của họ Nổi bật trong đó là Tổng công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng [31]

Với Vinatex, ứng dụng mang lại hiệu quả nhất là hệ thống CAD/CAM,

đã giúp doanh thu của Tổng công ty tăng 16-17%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng 18-19%/năm Đây là hệ thống phục vụ cho việc thiết kế và sản xuất bằng máy tính, được ứng dụng rộng rãi ở tất cả các khâu; đối với ngành may là thiết

kế thời trang, thiết kế mẫu rập, nhảy cỡ, giác sơ đồ, trải vải, cắt, lắp ráp thành phẩm, còn đối với ngành dệt là dệt nhãn, dệt vải thêu

Trong các doanh nghiệp may, khâu cắt được quan tâm nhất vì mang lợi nhiều nhất Giả sử một sản phẩm may cần trung bình 1,5m2 và mỗi năm cần sản xuất một triệu sản phẩm thì lượng vải tiêu thụ ít nhất là 1.500.000m2 Nếu tiết kiệm 1% lượng vải sử dụng trong năm thì đã tiết kiệm được 15.000m2 Nếu giá vải khoảng 10.000 đồng/m2 thì doanh nghiệp đã lãi khoảng 150 triệu đồng/năm Việc ứng dụng hệ thống CAD/CAM tại Vinatex chính là đã đem lại

sự tiết kiệm như vậy!

Trong khi đó, với phương châm "đi tắt đón đầu" áp dụng các giải pháp công nghệ tiến tiến của thế giới ngay từ những năm đầu thập kỷ 1990, Vietcombank đã nhanh chóng vươn lên trở thành ngân hàng hàng đầu ở Việt Nam Với lợi thế đi trước về mặt công nghệ trong việc đầu tư hệ thống hạ tầng CNTT bao gồm hệ thống bán lẻ, hệ thống mạng diện rộng và các chuẩn mực

về hệ thống, tuy dịch vụ thẻ ghi nợ Connect-24 của Vietcombank chỉ mới đưa

ra cho khách hàng sử dụng trong vòng chưa đầy hai năm nhưng đã nhận được

sự đón nhận tích cực ngoài mức dự kiến Đến nay, Vietcombank đã đạt

Trang 21

200.000 thẻ trong khi kế hoạch cho hai năm 2002–2003 chỉ khoảng trên

50.000 thẻ!

Trên thực tế, nguyên nhân của việc tăng số lượng thẻ một cách đột biến

như vậy không phải chỉ do Vietcombank có mạng lưới máy ATM rộng hơn các

ngân hàng khác, cũng không đơn thuần do việc dịch vụ này chưa chịu phí (dù

phí phát hành vẫn là 100.000đ/thẻ) mà điều quan trọng là mức độ ổn định cao,

tiện lợi cho khách hàng cả về không gian và thời gian giao dịch (24x7x365) tại

160 điểm đặt máy - tính đến hết tháng 2/2004 Ngoài ra, thông qua việc thiết

lập nền tảng kỹ thuật vững chắc cho hệ thống Connect-24, Vietcombank đã và

đang tiếp tục đưa ra hàng loạt sản phẩm và tiện ích cho khách hàng mở tài

khoản cá nhân (có kỳ hạn và không kỳ hạn) có thể sử dụng tiền trên các tài

khoản của mình một cách tiện lợi nhất

Kể cả với một doanh nghiệp địa phương như Công ty Hữu Nghị Đà

Nẵng, việc ứng dụng CNTT-TT cũng đã mang lại những lợi ích thiết thực và

lớn lao Hiện Công ty đã xây dựng được mạng LAN với 124 máy trạm nối

mạng vào một máy chủ kết nối internet cùng hệ thống tổng đài nội bộ 120 số

nối với tất cả các bộ phận đầu mối quản lý Bên cạnh đó, Công ty đã cũng ứng

dụng phần mềm phát triển thiết kế chi tiết giày từ năm 1996, phần mềm quản

lý đối với trên 1.000 loại vật tư, phần mềm quản lý tiến độ sản xuất và phần

mềm quản lý nhân sự Chính nhờ hệ thống ICT này mà chất lượng công tác

quản lý mọi mặt của đơn vị đã tăng lên đáng kể, góp phần đưa doanh thu trong

bốn năm qua tăng từ 181,4 tỷ đồng năm 2001 lên 270 tỷ đồng năm 2004; kim

ngạch xuất khẩu cũng tăng từ 12 triệu USD lên 18 triệu USD Chỉ riêng việc sử

dụng hệ thống mạng điện thoại nội bộ đã giúp Công ty tiết kiệm được mỗi năm

gần 500 triệu đồng tiền cước phí điện thoại so với chi phí lắp đặt ban đầu chỉ

43 triệu đồng!

Nhờ những lợi ích thiết thực như vậy mà qua khảo sát tại 217 doanh

nghiệp trong cả nước, đã có 77% doanh nghiệp cho rằng CNTT giúp tăng năng

suất lao động; 43% cho rằng CNTT làm tăng chất lượng sản phẩm dịch vụ;

59% đánh giá CNTT làm tăng khả năng cạnh tranh và 6% ghi nhận CNTT còn mang lại các hiệu quả khác

Một trong những doanh nghiệp thành công trong ứng dụng CNTT là công ty dệt Phong Phú Công ty dệt Phong Phú đã thắng lợi lớn nhờ ứng dụng CNTT Công ty đã sử dụng thông tin trên mạng Internet về thị trường bông quốc tế, phân tích dự báo tình hình cung cầu của Mỹ, Trung Quốc, Châu Phi trên Internet, phán đoán khả năng tiêu thụ thị trường trong nước và đã quyết định ký những hợp đồng nhập khẩu số lượng lớn bông Ngay sau ký hợp đồng, giá bông thế giới và trong nước tăng vọt, Phong Phú đã thu lợi hàng tỷ đồng Hiện nay, Công ty đã trang bị hơn 180 máy vi tính nối mạng, tự viết các phần mềm quản lý kho, tài chính, kỹ thuật, vật tư và phần mềm thiết kế mặt hàng Đặc biệt phần mềm thiết kế mặt hàng đảm bảo thiết kế các loại hoa văn trên vải theo yêu cầu khách hàng Chương trình quản lý vật tư đã giúp công ty luôn chủ động quản lý vật tư, tiết kiệm thời gian và chi phí Nhờ đó có kế hoạch dự trữ vật tư, nguyên liệu hợp lý, không để thừa hoặc thiếu như trước đây

Năm 2006, Công ty Dệt Phong Phú vừa sản xuất vừa tiến hành đầu tư

mở rộng với quy mô lớn Hơn 450 tỷ đồng đã được đầu tư nhập thiết bị và công nghệ hiện đại, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động Nhờ đó, công suất sợi từ 2.000 tấn tăng lên 10.000 tấn/năm; công suất vải từ 5 triệu mét tăng lên 15 triệu mét/năm; từ chỗ chưa có mặt hàng khăn, đến nay mỗi năm xuất trên 3.500 tấn khăn sang Nhật và các nước EU; nộp ngân sách tăng 44 lần

Nhìn chung, việc ứng dụng CNTT ở Việt Nam những năm qua đã có khởi sắc Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: chưa tạo được nền tảng CNTT vững chắc cho quốc gia; thiếu cơ chế, chính sách và sự phối hợp

có hiệu quả giữa các bộ, ban, ngành có liên quan; hệ thống quản lý còn bất cập; đặc biệt là nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế

Trang 22

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Câu hỏi nghiên cứu:

- Thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa

bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay như thế nào? có hiệu quả không?

- Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông

lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay như thế nào?

- Hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp nông lâm

nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên?

- Các giải pháp nào góp phần tăng cường phát triển ứng dụng công

nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái

Nguyên?

1.5.2 Các phương pháp nghiên cứu

1.5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp được chọn lọc và tổng

hợp từ các tài liệu đã được các cơ quan chức năng thu thập, công bố Các tài

liệu này được thu thập từ các Bộ, cơ quan ngang bộ thuộc trung ương và các

Sở, ban, ngành ở địa phương

* Thu thập thông tin sơ cấp: Trong điều kiện số lượng các doanh

nghiệp nông lâm nghiệp của tỉnh không nhiều, chúng tôi quyết định lựa chọn

phương thức điều tra tổng thể 29 doanh nghiệp nông lâm nghiệp có trên địa

bàn tỉnh đến thời điểm nghiên cứu

- Phương pháp điều tra trực tiếp: Được tổng hợp và hệ thống hoá từ

phiếu điều tra thực tế tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của 29 doanh

nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

1.5.2.2 Phương pháp sử lý số liệu:

- Dùng chương trình Excel trong phần mềm Microsoft office

1.5.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá và phương pháp phân tích:

- Chỉ tiêu ứng dụng CNTT trong quản lý, sản xuất: Khảo sát tình hình

sử dụng các loại phần mềm, qua đó đánh giá nhu cầu ứng dụng phần mềm trong quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp tỉnh

- Phân tích một số chỉ tiêu về tình hình tài chính: Tổng vốn kinh doanh, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, số nộp ngân sách đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh;

- Các chỉ tiêu phản ánh những khó khăn của doanh nghiệp trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh (tiêu thụ, quảng cáo, tài chính, quản lý, xuất khẩu, nhập khẩu ) đặc biệt là vấn đề tiêu thụ sản phẩm

- Các chỉ tiêu về kỹ thuật sử dụng soạn thảo văn bản, khai thác mạng Internet, sử dụng các chương trình phần mềm trong doanh nghiệp và các hiệu quả sử dụng thực tế trong quản lý doanh nghiệp, quảng cáo sản phẩm, thương hiệu, Marketting, phân tích dữ liệu, công tác kế toán, tiêu thụ sản phẩm …

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp: Giảm được nhân lực; Tiếp cận thị trường nhanh; Giảm thời gian lao động; Quan hệ chi tiết với khách hàng; Mang lại hiệu quả công việc;

Tra cứu thông tin nhanh; hoặc không có tác dụng rõ rệt

- Các chỉ tiêu ứng dụng công nghệ thông tin khác trong doanh nghiệp

1.5.3.2 Phương pháp phân tích đánh giá:

* Phương pháp duy vật biện chứng:

Phương pháp chung và tổng quát cho toàn bộ đề tài, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các lý luận kinh tế học Với các phương pháp phân tích tổng hợp, suy diễn và quy nạp sẽ giúp xem xét, đánh

Trang 23

giá các sự việc hiện tượng trong mối quan hệ hệ thống, có liên quan, có tác

động ảnh hưởng với nhau chuyển biến và phát triển, từ đó rút ra những kết

luận có tính chất quy luật, thực chất và bản chất của vấn đề nghiên cứu

* Phương pháp so sánh:

So sánh theo thời gian, theo loại hình doanh nghiệp, theo mức độ đầu

tư … để xác định xu hướng mức biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản

ánh chân thực, khoa học, chính xác hiện tượng nghiên cứu

* Phương pháp thống kê:

Được coi là chủ đạo để nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố

đầu vào như: quy mô lao động, loại hình doanh nghiệp, đầu tư cho công nghệ

thông tin … thông qua đó đánh giá so sánh và rút ra những kết luận nhằm đưa

ra các giải pháp có tính khoa học cũng như trong thực tế trong việc ứng dụng

CNTT nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp

trên địa bàn tỉnh

* Phương pháp chuyên gia:

Dùng để nghiên cứu, tham khảo ý kiến của các chuyên gia nông, lâm

nghiệp, các cán bộ khuyến nông, các thày, cô giáo đã và đang giảng dạy tại

các trường đại học Phương pháp chuyên gia giúp thu thập, chọn lọc những

thông tin, ý kiến trao đổi của các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính doanh

nghiệp, ứng dụng công nghệ thông tin

TÓM TẮT CHƯƠNG I

Trong chương này đã trình một cách vắn tắt về doanh nghiệp, công nghệ thông tin đồng thời trình bày được các ứng dụng và ích lợi của CNTT trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Đặc biệt, trong chương này tác giả đã trình bày kinh nghiệm phong phú của các nước trong việc triển khai ứng dụng CNTT bao gồm các nước: Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc Mỗi nước này có một chiến lược, bước đi khác nhau trong việc ứng dụng CNTT nhưng đều thành công và đều để lại những bài học quý báu cho cả doanh nghiệp và Chính phủ Việt Nam học tập Tuy mỗi nước có một bước đi khác nhau, nhưng tất cả các nước này đều có chung điểm giống nhau là: Nhà nước là người dẫn dắt, đi đầu đầu, cổ vũ, tạo mọi thuận lợi, tạo ra môi trường, tạo ra hành lang pháp lý, tạo ra con đường cho việc triển khai ứng dụng CNTT và các doanh nghiệp của họ rất nhanh nhạy, nhận thấy ngay những thuận lợi, những ích lợi và sự cần thiết phải ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và nhanh chóng chớp ngay lấy cơ hội này, đi ngay trên con đường CNTT mà Nhà nước vừa tạo dựng nên

Trong những năm 90, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đua nhau trang bị máy tính đắt tiền, nhưng chỉ sử dụng chủ yếu vào soạn thảo văn bản, chưa phát huy được công suất của máy tính thì máy tính đó đã trở nên lạc hậu, do đó chi phí đầu tư bị khấu hao vô hình hết mà không đem lại kết quả là bao nhiêu Bước sang thế kỷ XXI, việc đầu tư cho CNTT trong các doanh nghiệp có định hướng tốt hơn nhưng vẫn còn lúng túng, hiệu quả chưa cao, trình độ ứng dụng CNTT hiện nay của chúng ta còn thấp, kém xa các nước trong khu vực Ứng dụng Công nghệ thông tin cho doanh nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt

là các doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề đang được mọi người, mọi ngành rất quan tâm

Trang 24

Chương II THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG LÂM NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên nằm ở phía Bắc tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, phía

Tây tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Tuyên Quang Tỉnh Thái Nguyên có

diện tích tự nhiên 3.541 km2 và dân số hơn 1 triệu người, với 8 dân tộc anh em

chủ yếu sinh sống đó là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Mông, Sán Chay, Hoa và

Dao Tỉnh Thái Nguyên cú 9 đơn vị hành chính gồm Thành phố Thái Nguyên,

thị xã Sông Công và 7 huyện (Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ,

Định Hoá, Phú Lương)

Trước đây và hiện nay, tỉnh Thái Nguyên vẫn được Chính phủ coi là

Trung tâm văn hoá và kinh tế của các dân tộc các tỉnh phía Bắc Trong 5 năm

gần đây Thái Nguyên luôn giữ tốc độ phát triển kinh tế (GDP) bình quân 7 -

9% Thái Nguyên là trung tâm đào tạo lớn thứ 3 trong cả nước với 5 trường Đại

học, 16 trường Cao đẳng, Trung học và dạy nghề, có bệnh viện đa khoa khu

vực Thái Nguyên là nơi hội tụ nền văn hoá của các tỉnh miền núi phía Bắc Việt

Nam Tỉnh Thái Nguyên có di tích lịch sử An toàn khu (ATK) ở huyện Định

Hoá, có di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đá cũ ở huyện Võ Nhai, có các di tích

kiến trúc nghệ thuật chùa chiền, đình, đền tại nhiều địa phương trong tỉnh Tỉnh

Thái Nguyên có nhiều khu thiên nhiên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình như khu

du lịch Hồ Núi Cốc, Hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà…

Các cơ sở hạ tầng của tỉnh Thái Nguyên đã được hoàn thiện dần, hệ

thống đường giao thông quốc lộ đã được nâng cấp tốt hơn Hiện nay dự án

đường tránh qua thành phố Thái Nguyên đang được triển khai, cầu Quán Triều

và đoạn nối quốc lộ 1B với quốc lộ 3 đã được khởi công xây dựng, đường cao

tốc tuyến Thái Nguyên - Hà Nội dự kiến xây dựng vào năm 2006 sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội khu vực phía Bắc

Thành phố Thái Nguyên đã được Chính quyết định nâng lên thành phố loại II theo tiêu chuẩn của Việt Nam Hệ thống cấp nước của trung tâm thành phố Thái Nguyên đó được đầu tư hoàn chỉnh Nhà máy nước đang được nâng cấp tại thị xã Sông Công và các thị trấn, thị tứ Hiện nay thành phố Thái Nguyên đang thực hiện dự án thoát nước và xử lý nước thải bằng nguồn vốn vay của Chính phủ Pháp Hệ thống bưu chính viễn thông đã được phủ kín gần hết toàn tỉnh

Tỉnh Thái Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế và xã hội Nhiều tiềm năng đã và đang trở thành nguồn sống của con người, song có nhiều tiềm năng hiện vẫn còn là những cơ hội đang chờ đón các nhà đầu tư khai thác

2.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Để đưa ra được giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát triển doanh nghiệp nông lâm nghiệp, cần phải đánh giá được thực trạng hiện tại của các doanh nghiệp trên nhiều góc độ như về lao động, thu nhập và trình độ người lao động, phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, tình hình đóng góp nghĩa vụ với ngân sách nhà nước từ đó mới có thể đưa ra giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin phát triển doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp phù hợp và có

cơ sở

2.2.1 Tình hình lao động và trình độ người lao động

Thực trạng lao động và trình độ của người lao động tại các doanh nghiệp

Nông Lâm nghiệp thể hiện qua bảng 2.1

Ta thấy số lao động có trình độ sau đại học rất thấp, có 07 người trên tổng số 3.342 lao động chiếm 0,2%, và chủ yếu ở loại hình doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ và chế biến nông lâm sản

Trang 25

Trình độ đào tạo Sau đại học Đại học Cao đẳng,

Trung cấp

Lao động phổ thông Tổng

số

Tỷ lệ (%)

Tổng

số

Tỷ lệ (%)

Tổng

số

Tỷ lệ (%)

Tổng

số

Tỷ lệ (%)

Nguồn: Tổng hợp từ Phiếu điều tra về doanh nghiệp nông lâm nghiệp của tác giả

Số lao động có trình độ đại học có 429 người, chiếm 12,8%, có tỷ lệ cao

ở doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ và doanh nghiệp khác

Số lao động có trình độ cao đẳng và trung cấp có 594 người, chiếm

17,77%, chủ yếu ở doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ và doanh

nghiệp khác

Số lao động là lao động phổ thông lớn nhất có 2.312 người, chiếm

69,1%, chủ yếu ở doanh nghiệp sản xuất sản phẩm và doanh nghiệp chế biến

nông lâm sản

Đánh giá chung ta thấy lao động ở doanh nghiệp kinh doanh thương mại

và doanh nghiệp khác (XDCB) có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao hơn Các

doanh nghiệp sản xuất sản phẩm và doanh nghiệp chế biến Nông Lâm nghiệp

chủ yếu sử dụng là lao động chưa qua đào tạo, hoặc ở trình độ thấp

Bảng 2.2: Số lƣợng lao động tại các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2006

1 Nông trường Phú Lương 35 12

2 Công ty Chè Sông Cầu 375 33

17 Cty CP Lương thực Hà Tuyên Thái 83 9

18 Cty Giấy Hoàng Văn Thụ 515 41

19 Cty CP Giấy xuất khẩu TN 321 29

20 Cty TNHH XNK Trung Nguyên 84 8

21 Công ty Lâm nghiệp Đại Từ 85 12

22 Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai 51 53

23 DNTN Bảo quản NLS Hà Bắc 14 4

24 Cty TNHH Quản lý k.thác c.trình t.lợi 155 15

25 Cty CP Vật t nông nghiệp TN 245 21

29 Cty CP Vật tư bảo vệ thực vật TN 17 4

Trang 26

2.2.2 Tình hình thu nhập bình quân của người lao động

Con người là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành bại của doanh

nghiệp, ngoài vấn đề về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, việc trả công lao

động là một sẽ là động lực để thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất và chất

lượng của sản phẩm Ta thấy thu nhập bình quân của lao động trong các doanh

nghiệp Nông Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay là thấp, đối

với doanh nghiệp kinh doanh thương mại và dịch vụ và doanh nghiệp xây dựng

cơ bản trong nông nghiệp có khá hơn so với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm

và doanh nghiệp chế biến nông lâm sản, thu nhập bình quân người lao động

năm 2004 khoảng 740 ngàn đồng/người/tháng, năm 2005 khoảng 840 ngàn

đồng/người/tháng, năm 2006 khoảng 1.000 ngàn đồng đồng/người/tháng, tốc

độ tăng về thu nhập bình quân hàng năm từ 12% đến 19%

Bảng 2.3 Thực trạng thu nhập bình quân của

người lao động tại doanh nghiệp nông lâm nghiệp

ĐVT: 1.000đ/người/tháng

Stt Loại hình Năm So sánh

doanh nghiệp 2004 2005 2006 2005 /2004 2006 /2005

Tăng (+) Giảm (-)

Tỷ lệ (%) Tăng (+) Giảm (-)

Tỷ lệ (%)

quân

742 836 999 94 112,67 163 119,50

Nguồn: Tổng hợp từ Phiếu điều tra về doanh nghiệp nông lâm nghiệp của tác giả

2.2.3 Đánh giá về hiệu quả kinh tế các loại hình doanh nghiệp

Thu được lợi nhuận được coi là mục tiêu chính của các doanh nghiệp, nếu không thu được lợi nhuận doanh nghiệp sẽ bị phá sản Lợi nhuận là điều kiện

để đáp ứng lợi ích của chủ đầu tư vốn vào doanh nghiệp Có lợi nhuận doanh nghiệp có thể thu hút vốn để tổ chức và mở rộng quá trình kinh doanh, tái sản xuất mở rộng nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động

2.2.3.1 Loại hình doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông lâm nghiệp:

Có 04 doanh nghiệp, gồm 03 doanh nghiệp nhà nước, và 01 doanh nghiệp

tư nhân sản xuất phân bón phục vụ ngành nông nghiệp trên địa bàn, trong đó Nông trường Phú Lương là địa phương quản lý

Bảng 2.4 Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh

ĐVT: Triệu đồng

TT

Chỉ tiêu

Tăng (+) Giảm (-)

Tỷ lệ (%)

Tăng (+) Giảm (-)

Tỷ lệ (%)

1 Vốn đăng ký kinh doanh 128.973 128.840 128.840 76 100,06 0 100

2 Tổng doanh thu 46.266 40.221 41.576 - 6.045 86,93 1.355 103,36

3 Tổng chi phí 46.999 41.984 42.738 - 5.015 89,33 754 102

4 Tổng lợi nhuận trước thuế -733 -1.763 -1.162 -1030 -240 601 65

5 Tổng số nộp ngân sách 2.584 2.458 2.497 -126 95,12 39 101,58

Nguồn: Tổng hợp từ Phiếu điều tra về doanh nghiệp nông lâm nghiệp của tác giả

Trang 27

Từ bảng 2.4 có thể đánh giá chung là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm

Nông Lâm nghiệp không có hiệu quả, năm 2004, 2005 và 2006 sản xuất kinh

doanh thua lỗ Tổng doanh thu giảm dần qua các năm, năm 2005 bằng 96,73%

so với năm 2004, đến năm 2006 chỉ bằng 86,93% so với năm 2005 Các khoản

nộp ngân sách hàng năm cũng giảm, năm 2005 bằng 90% so với năm 2004,

đến năm 2006 bằng 95,12% so với năm 2005

2.2.3.2 Doanh nghiệp chế biến nông lâm sản:

Gồm có 16 doanh nghiệp; Năm 2006 có 01 doanh nghiệp lỗ và 15 doanh

nghiệp lãi, trong đó có 01 doanh nghiệp lỗ 03 năm liên tục là công ty Giấy

Hoàng Văn Thụ

Bảng 2.5 Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp

chế biến nông lâm sản

1 Vốn đăng ký kinh doanh 49.914 56.850 55.730 6.936 113,90 -1120 -1.97

2 Tổng doanh thu 580.481 680.903 611.120 100.422 117,30 -69.783 -10,2

3 Tổng chi phí 589.340 679.564 608.248 90.224 115,31 -71.316 -10,5

4 Tổng lợi nhuận tr-ước thuế -8 859 1 339 2 872 10.198 -15,11 1533 215

5 Thuế thu nhập doanh nghiệp 374,9 804,16 375 429 215

6 Lợi nhuận sau thuế 964,1 2067,84 964 1104 214,5

7 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn ĐKKD 0,66 3,71 0,66 3,05

9 Tổng số nộp ngân sách 6.375 12.108 15.215 5.733 189,93 3.107 125,66

Nguồn: Tổng hợp từ Phiếu điều tra về doanh nghiệp nông lâm nghiệp của tác giả

Doanh nghiệp chế biến nông lâm sản trong năm 2004, 2005 sản xuất kinh doanh lỗ, năm 2006 sản xuất kinh doanh lãi Nguyên nhân chính dẫn đến kinh doanh lỗ

+ Công ty Giấy Hoàng Văn Thụ năm 2002 được ngân sách nhà nước cải tạo nâng cấp dây chuyền sản xuất nên những năm đầu sản xuất kinh doanh bị lỗ

do chi phí lãi vay, chi phí khấu hao tài sản cố định lớn, đến năm 2006 công ty sản xuất kinh doanh hoà vốn, dự kiến năm 2007 sẽ có lãi

Còn lại là các doanh nghiệp các thành phần kinh tế khác, có quy mô nhỏ, lao động ít, chủ yếu là thuê lao động ngắn hạn khi vào mùa vụ sản xuất Do bộ máy quản lý gọn nhẹ nên các doanh nghiệp này năng động trong sản xuất, hàng năm đều kinh doanh có lãi, tuy nhiên mức lãi thấp

2.2.3.3 Doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ trong lĩnh vực nông lâm nghiệp: gồm có 08 doanh nghiệp, hàng năm đều có 03 doanh nghiệp

lỗ và 05 doanh nghiệp lãi; trong đó Công ty L âm Nghiệp Võ Nhai lỗ 03 năm liên tục, C ông ty Lâm nghiệp Đại Từ lỗ 02 năm liên tục

Hiện nay ngoài các hoạt động trồng rừng sản xuất, liên doanh trồng rừng với các hộ nông dân, các lâm trường là nơi tiếp nhận và làm dịch vụ triển khai các dự án trồng rừng 327 và 661

Các Công ty lâm nghiệp được chuyển đổi từ các lâm trường Quốc doanh trước đây Trong giai đoạn phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, mặc

dù các doanh nghiệp này đã trăn trở tìm lối ra, Nhà nước đã có cơ chế chính sách để tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp quốc doanh phát triển Đến nay tuy đã có nhiều đổi mới phương thức quản lý, phương thức kinh doanh nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn chưa được cải thiện, hầu hết các doanh nghiệp đều thua lỗ mất vốn, thu nhập của người lao động thấp

Ngày đăng: 05/08/2016, 09:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Biểu đồ cơ cấu các loại hình doanh nghiệp nông lâm nghiệp - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 1.2 Biểu đồ cơ cấu các loại hình doanh nghiệp nông lâm nghiệp (Trang 11)
Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp (Trang 11)
Bảng 1.2: Phân loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.2 Phân loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp (Trang 12)
Bảng số 2.1 Thực trạng trình độ người lao động - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng s ố 2.1 Thực trạng trình độ người lao động (Trang 25)
Bảng 2.2: Số lƣợng lao động tại các doanh nghiệp   nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2006 - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.2 Số lƣợng lao động tại các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2006 (Trang 25)
Bảng 2.4 Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp   sản xuất sản phẩm nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.4 Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh (Trang 26)
Bảng 2.3 Thực trạng thu nhập bình quân của - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.3 Thực trạng thu nhập bình quân của (Trang 26)
Bảng 2.5 Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.5 Hiệu quả kinh tế loại hình doanh nghiệp (Trang 27)
Bảng 2.7 Hiệu quả kinh tế loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp khác - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.7 Hiệu quả kinh tế loại doanh nghiệp nông lâm nghiệp khác (Trang 28)
Bảng 2.8 Cơ sở vật chất cho công nghệ thông tin của các doanh - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.8 Cơ sở vật chất cho công nghệ thông tin của các doanh (Trang 29)
Bảng 2.9  Tình hình đầu tƣ hạ tầng CNTT trong các doanh nghiệp   nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2006 - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.9 Tình hình đầu tƣ hạ tầng CNTT trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2006 (Trang 30)
Bảng 2.10 Tình hình sử dụng các loại phần mềm ở các doanh  nghiệp nông lâm nghiệp (tính đến 30/6/2007) - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.10 Tình hình sử dụng các loại phần mềm ở các doanh nghiệp nông lâm nghiệp (tính đến 30/6/2007) (Trang 30)
Bảng 2.11: Các khó khăn lớn nhất trong việc đầu tƣ và ứng dụng CNTT - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.11 Các khó khăn lớn nhất trong việc đầu tƣ và ứng dụng CNTT (Trang 33)
Bảng 2.13: Đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT tại các doanh - Luận văn thạc sĩ kinh tế Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.13 Đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT tại các doanh (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm