ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BÙI MINH HÀO HOẠT ĐỘNG KINH TẾ HÀNG HÓA CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA MIỀN NÚI TRƯỜNG HỢP Ở THÔN SẢ XÉNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÙI MINH HÀO
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ HÀNG HÓA CỦA NGƯỜI DAO
ĐỎ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA MIỀN NÚI (TRƯỜNG HỢP Ở THÔN SẢ XÉNG, XÃ TẢ PHÌN, HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Dân tộc học
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÙI MINH HÀO
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ HÀNG HÓA CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA MIỀN
Trang 3MỤC LỤC
DẪN LUẬN 3
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề 4
3 Câu hỏi nghiên cứu và quá trình thực hiện 6
4 Bố cục của luận văn 8
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VÀ CÁC TIẾN ĐỀ LÝ THUYẾT 9
1.1 Tổng quan về địa bàn và đối tượng nghiên cứu 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và quá trình đô thị hóa ở Sa Pa 9
1.1.2 Quá trình đô thị hóa ở Sa Pa 12
1.1.3 Tác động của đô thị hóa đến người Dao ở Sa Pa 17
1.2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 23
1.3 Các tiền đề lý thuyết và phương pháp tiếp cận vấn đề 30
1.3.1 Các tiền đề về lý thuyết nghiên cứu 30
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 33
Chương 2 QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ KINH TẾ TRUYỀN THỐNG SANG NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ 35
2.1 Hoạt động kinh tế truyền thống của người Dao Đỏ 35
2.1.1 Kinh tế chiếm đoạt tự nhiên 35
2.1.2 Hoạt động kinh tế nông nghiệp 37
2.1.3 Hoạt động thủ công nghiệp 43
2.1.4 Hoạt động trao đổi sản phẩm 45
2.2 Sự biến đổi trong nền kinh tế truyền thống của người Dao Đỏ theo hướng kinh tế hàng hóa 47
2.3 Tiểu kết 49
Trang 4Chương 3: CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ HÀNG HÓA CỦA NGƯỜI
DAO ĐỎ 51
3.1 Kinh tế hàng hóa ở khu vực miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số 51
3.2 Các hoạt động sản xuất hàng hóa 55
3.2.1 Sản xuất hàng hóa nông phẩm 55
3.2.2 Sản xuất hàng hóa thủ công nghiệp 61
3.2.3 Hoạt động buôn bán, kinh doanh nhỏ và dịch vụ du lịch 70
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ 80
3.4 Tiểu kết 83
Chương 4: HỆ QUẢ VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA Ở NGƯỜI DAO ĐỎ 84
4.1 Hệ quả của các hoạt động kinh tế hàng hóa đối với người Dao Đỏ 84
4.1.1 Thay đổi tư duy kinh tế 84
4.1.2 Nâng cao đời sống kinh tế - xã hội 86
4.1.3 Đẩy mạnh sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa 88
4.2 Các vấn đề khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa ở miền núi 90
4.3 Các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa ở người Dao Đỏ 92
4.3.1 Nguồn nhân lực, vốn đầu tư và thị trường tiêu thụ 92
4.3.2 Sự phân hóa xã hội và công tác xóa đói giảm nghèo 95
4.3.3 Bảo tồn văn hóa dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội 97
4.3.4 Sự di dân và biến động dân số 98
4.3.5 Phát triển kinh tế thị trường và hạn chế các mặt trái của nó 99
4.4 Tiểu kết 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 116
Trang 5DẪN LUẬN
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng và nhân dân ta đã thu được những thành tựu to lớn về mọi mặt: “Đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt” [19, Tr 67] Nhìn chung, tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị đều có những bước tiến dài so với các thời kỳ trước Đất nước ngày càng phát triển nhanh, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, đời sống người dân được nâng cao lên nhiều
Nhưng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế Một trong những hạn chế lớn là sự phát triển không đồng bộ giữa các khu vực, các vùng lãnh thổ, mà cơ bản và quan trọng là sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa khu vực đồng bằng và khu vực miền núi Trong khi khu vực đồng bằng với các dải đô thị rộng lớn đã qua quá trình
đô thị hóa, với tốc độ phát triển nhanh chóng, hiện đại và ngày càng sầm uất, thì khu vực miền núi dù có những bước phát triển nhanh nhưng không thể theo kịp được tốc độ phát triển của vùng đồng bằng Sự chênh lệch này ngày càng gia tăng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Điều này gây ra nhiều khó khăn cho việc thực hiện các đường lối, chính sách phát triển đất nước
Miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, là địa bàn quan trọng mang tính chiến lược của đất nước Sau khi đất nước thống nhất, để hạn chế sự phát triển chênh lệch giữa đồng bằng và miền núi, cũng như để củng
cố nền an ninh quốc phòng, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi Vấn đề này càng
Trang 6được đẩy mạnh từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Các chính sách của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm qua đã có những tác động toàn diện và sâu sắc tới đời sống của các dân tộc thiểu số Nền kinh tế - xã hội và văn hóa đã và đang có những bước dịch chuyển đột phá với nhiều yếu tố mới xuất hiện Các bước chuyển dịch này làm cho bức tranh dân tộc sáng sủa hơn nhưng cũng thêm phần đa dạng và phức tạp
Công cuộc đổi mới đang đưa nước ta phát triển nhanh chóng Không những tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh mà cơ cấu kinh tế đang
có những chuyển đổi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thị trường hóa Điều này thể hiện ở chỗ cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ và
cơ cấu kinh tế theo các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh đang ngày càng hoàn thiện dần Các vùng lãnh thổ phát huy được các lợi thế vốn có của mình trong phát triển kinh tế - xã hội Tỷ trọng các ngành nông nghiệp và lâm nghiệp đang giảm, tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đang tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là tỷ trọng của các ngành dịch vụ Nhưng trong sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của đất nước cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Trong khi cơ cấu kinh tế ở khu vực đồng bằng đang trong quá trình hoàn thiện dần thì ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số lại mới bắt đầu bước vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội hai khu vực này khác nhau nên không thể áp dụng các chính sách, biện pháp ở vùng đồng bằng lên vùng miền núi Nó đòi hỏi phải có những nghiên cứu khoa học nghiêm túc để hiểu rõ quá trình chuyển đổi kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng cụ thể
Trong quá trình phát triển, vùng miền núi xuất hiện nhiều địa điểm
có điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhanh chóng được đầu tư phát triển thành các đô thị vừa và nhỏ Một không gian đô thị miền núi đã, đang hình thành và ngày càng mở ra theo chiều rộng, phát triển theo chiều sâu Thực chất đây là biểu hiện của quá trình đô thị hóa ở miền núi Nhìn chung, quá trình đô thị hóa miền núi đã tác động mạnh mẽ
Trang 7và sâu sắc tới đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số Một trong những hệ quả của nó là tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế hàng hóa ở miền núi Kinh tế hàng hóa xâm nhập vào đời sống kinh tế - xã hội và có xu hướng phá vỡ nền kinh tế tự cung, tự cấp của đồng bào dân tộc thiểu số Kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển làm cho đời sống của đồng bào thay đổi nhanh chóng và toàn diện Sự thay đổi diễn ra trên nhiều phương diện từ kinh tế - xã hội đến văn hóa; từ suy nghĩ đến hành động; từ tư duy kinh tế đến hoạt động kinh tế Kinh tế hàng hóa đã tạo điều kiện cho đồng bào phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, tiếp cận nhanh hơn với cuộc sống hiện đại Nhưng đứng trước một nền sản xuất có tính chất, đặc điểm hoàn toàn mới mẻ, các cá nhân và cộng đồng đã có những ứng xử khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố tác động Điều này đặt ra nhiều vấn
đề cấp thiết trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát triển nền văn hóa truyền thống các dân tộc, xóa đói giảm nghèo và hạn chế bất bình bẳng trong xã hội Vậy nên nghiên cứu quá trình chuyển đổi kinh tế và sự phát triển của kinh tế hàng hóa ở các dân tộc thiểu số có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Trước những yêu cầu đòi hỏi phải có những nhận thức đúng đắn về quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội miền núi, đặc biệt là tìm hiểu về sự phát triển của kinh tế hàng hóa ở các dân tộc thiểu số, tôi quyết định lựa
chọn đề tài nghiên cứu “Hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ
trong quá trình đô thị hóa miền núi (Trường hợp ở thôn Sả Xéng, xã
Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai)” làm luận văn Thạc sĩ Dân tộc học
Lào Cai nói chung và Sa Pa nói riêng đang là khu vực điển hình cho quá trình đô thị hóa vùng miền núi Trong vài thập niên qua, đô thị hóa ở
Sa Pa đã phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu, nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh hơn so với các vùng miền núi khác Người Dao
Đỏ là một bộ phận quan trọng và có phần nhạy bén với kinh tế hàng hóa ở
Sa Pa Họ cũng là một chủ thể quan trọng của nền kinh tế truyền thống ở
Trang 8đây và họ đang góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, nhất là những hoạt động kinh tế hàng hóa trên địa bàn huyện Đây cũng là vấn đề tôi đã nghiên cứu và sưu tầm tư liệu từ ngày còn là sinh viên đại học Năm 2008 tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học liên quan đến vấn đề này Trong 7 năm qua, tôi vẫn tiếp tục tìm hiểu, bổ sung tư liệu
và nghiên cứu thực địa Vậy nên lựa chọn đề tài này là một việc đi sâu hơn nghiên cứu một vấn đề mà tôi đã có nhiều năm theo đuổi
2 Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề
Xuất phát từ một vấn đề lý luận rất lớn: các dân tộc ở các trình độ phát triển khác nhau đã tiếp cận nền kinh tế hàng hóa như thế nào? tôi muốn tìm hiểu về kinh tế hàng hóa của người Dao như là một ví dụ để tiếp cận vấn đề lớn đó Muốn vậy, phải hiểu rõ về lịch sử, văn hóa và quá trình tộc người của nhóm Dao Đỏ ở Sả Xéng mà tôi lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu
Với những tài liệu hiện có còn nhiều hạn chế, tôi mong muốn trình bày các hoạt động kinh tế hàng hóa chính của người Dao Đỏ ở địa bàn nghiên cứu từ sản xuất hàng hóa, trao đổi, buôn bán và kinh doanh các dịch
vụ nhỏ Hy vọng với những trình bày này có thể lột tả được về quá trình chuyển đổi kinh tế của người Dao Đỏ ở địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu này cũng đặt mục tiêu phân tích và lý giải một số thay đổi trong đời sống của người Dao ở Sả Xéng để xem xét sự tác động của kinh tế hàng hóa đến một cộng đồng dân tộc Ở đây muốn nhấn mạnh sự thay đổi về văn hóa, bắt đầu từ thay đổi về con người, về suy nghĩ và hành động của họ khi tham gia vào các hoạt động kinh tế hàng hóa Nó là một ví
dụ về mối quan hệ giữa thị trường với văn hóa dân tộc Mục đích chung của cả quá trình thực hiện đề tài nhằm đưa ra một số ý kiến để bổ sung vào những nhận thức trong sự chuyển đổi kinh tế của người Dao Đỏ ở địa bàn
Trang 9nghiên cứu, hy vọng sẽ gợi mở được những ý kiến hợp lý hơn của người quan tâm
Về mặt lý luận, việc tìm hiểu về kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ
để tìm thêm một lời giải đáp về việc các dân tộc thiểu ở các trình độ phát triển khác nhau đã tiếp cận kinh tế thị trường như thế nào? Khi tiếp cận nền kinh tế hàng hóa, họ lựa chọn cho mình sự an toàn hay lấy mục đích lợi nhuận/lợi ích kinh tế làm đầu Họ phát triển kinh tế theo các quy luật phát triển kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, mà sự hình thành phát triển của nền kinh tế hàng hóa là một mốc quan trọng cho quá trình phát triển đó Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, do có các đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa mà xuất hiện nhiều biểu hiện đặc trưng khác nhau giữa các cộng đồng, các dân tộc
Về mặt thực tiễn, đề tài tập trung phân tích sự phát triển của kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ ở xã Tả Phìn dưới góc độ nhân học kinh tế Những phân tích như vậy có ý nghĩa cho việc xác định xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc Nó cũng tạo điều kiện để giảm thiểu các tác động tiêu cực của kinh tế hàng hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu
số và giúp họ ổn định phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của mình
Một đóng góp nhỏ nữa mà chúng tôi hướng đến là cung cấp thêm những nguồn tài liệu thu thập được trong quá trình thực hiện đề tài, bao gồm cả những tài liệu thành văn sưu tầm được và tài liệu tạo ra trong quá trình nghiên cứu điền dã sẽ giúp ích cho những người quan tâm tìm hiểu thêm về vấn đề này Góp phần tạo thêm tư liệu cho các nghiên cứu về sự hình thành thị trường ở miền núi và tác động của nó đến đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số
Trang 103 Câu hỏi nghiên cứu và quá trình thực hiện
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Hiện nay, dưới tác động của quá trình đô thị hóa ở miền núi, kinh tế -
xã hội của người Dao Đỏ ở Tả Phìn đang diễn ra sự biến đổi mang tính chất bước ngoặt từ nền kinh tế truyền thống tự cung, tự cấp, khép kín sang nền
kinh tế hàng hóa có yếu tố thị trường chi phối Vậy, quá trình chuyển đổi
này diễn ra như thế nào?
Hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ ở Tả Phìn diễn ra trên các phương diện: sản xuất hàng hóa, trao đổi và buôn bán hàng hóa, kinh doanh các dịch vụ nhỏ và dịch vụ du lịch Giả thiết này đặt ra các câu hỏi:
Hoạt động kinh tế hàng hóa ở đây diễn ra như thế nào? Mức độ và tính chất của nó ra sao? Những yếu tố nào tác động tới các hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ?
Hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ đã tác động toàn diện
và sâu sắc đến đời sống của họ, tạo điều kiện để đồng bào phát triển kinh tế
- xã hội và nâng cao đời sống con người, nhưng nó cũng làm phát sinh
nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết đúng đắn và hợp lý Vậy, đó là
Đỏ ở Sả Xéng Từ giữa năm 2009, khi tôi về làm cộng tác viên cho Sở Văn
Trang 11hóa, thể thao và du lịch Lào Cai, tôi có nhiều điều kiện để sưu tầm tài liệu thực địa và theo dõi sự biến đổi kinh tế, văn hóa của người Dao ở địa bàn nghiên cứu Lúc đó, đã xác định sẽ tiếp tục tìm hiểu vấn đề này để hiểu sâu hơn và làm luận văn, luận án cho quá trình học tập sau này Từ đó đến nay, gần như mỗi năm, ở các thời gian khác nhau, tôi đều cố gắng để đi thực địa được ít nhất một lần Trải qua một thời gian khá dài theo dõi quá trình chuyển đổi kinh tế của người Dao Đỏ ở Sả Xéng đã cho tôi nhiều suy nghĩ thú vị Nhiều vấn đề, khi mới tiếp xúc ban đầu tôi đã trình bày một cách đơn giản Nhưng sau nhiều năm quan sát, tôi suy nghĩ lại và thấy những nhận thức lúc đầu của mình đã không còn phù hợp với sự biến đổi này và không thể diễn giải đúng với hiện thực thay đổi đó Tháng 5-2013 và tháng 8-2014, với hai lần đi thực địa dài ngày để lấy tài liệu và kiểm chứng một
số vấn đề cần thiết cho viết luận văn này Đầu năm 2015, trước khi hoàn thành bản luận văn, một lần nữa tôi quay lại địa bàn nhằm nghiên cứu, trao đổi thêm với một số người, củng cố lại một số tài liệu mà trước đó cơ sở khoa học chưa hoàn toàn chắc chắn Có lẽ, những nhận thức hiện tại cần tiếp tục theo dõi và bổ sung thêm tài liệu, dẫn chứng khác để hiểu sâu hơn vấn đề quan trọng này
Thuận lợi nhất của tôi khi thực hiện đề tài là quá trình được theo dõi
và sưu tầm tài liệu trong nhiều năm Sau nhiều chuyến về địa bàn nghiên cứu điền dã, đã tạo được mối quan hệ khá thân thiết với nhân dân địa phương cũng như cán bộ quản lý các cấp Điều này tạo điều kiện để tôi dễ dàng tiếp cận đối tượng và dễ nhận được sự chia sẻ từ chính các chủ thể vấn đề ở đây
Trong nhiều năm qua, sự chuyển đổi kinh tế miền núi ở Tây Bắc cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu công phu đã được công bố Đó là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để tôi tìm hiểu và lựa chọn hướng nghiên cứu của mình Địa bàn nghiên cứu
có trình độ phát triển khá cao so với các vùng núi khác nên cơ sở hạ tầng,
Trang 12giao thông đi lại cũng dễ dàng hơn, người dân giao tiếp tốt hơn cũng là một thuận lợi đáng kể trong quá trình nghiên cứu Bên cạnh đó là các trang thiết
bị hiện đại như máy ảnh, máy quay phim, máy ghi âm tạo điều kiện để tôi ghi lại và có thể tham khảo nhiều lần đối với các vấn đề quan trọng
Khó khăn cơ bản trong quá trình thực hiện nghiên cứu là do khoảng cách giữa địa bàn nghiên cứu và Hà Nội khá xa nên quá trình đi lại sưu tầm
tư liệu và nghiên cứu thực địa gặp nhiều khó khăn, tốn kém, Sa Pa lại là địa điểm du lịch, người dân địa phương đã quen với các dịch vụ du lịch,họkinh doanh nhiều mặt hàng và tính tiền các dịch vụ đối với người nghiên cứu giống như du khách nên người nghiên cứu gặp không ít khó khăn về kinh
tế
4 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn luận và phần kết luận thì luận văn được chia làm 4 chương gồm:
Chương 1: Tổng quan về đối tượng nghiên cứu, lịch sử nghiên
cứu vấn đề và các tiền đề lý thuyết
Chương 2: Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế truyền thống
sang nền kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ
Chương 3: Các hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ ở
thôn Sả Xéng, xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Chương 4: Hệ quả và các vấn đề đặt ra trong quá trình phát
triển kinh tế hàng hóa ở người Dao Đỏ
Phần cuối trong luận văn gồm các phụ lục có liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm: các bản đồ, tranh ảnh và một số tài liệu khác
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, LỊCH SỬ
NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VÀ CÁC TIẾN ĐỀ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan về địa bàn và đối tượng nghiên cứu
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và quá trình đô thị hóa ở Sa Pa 1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Sa Pa là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lào Cai, thuộc vùng núi Tây Bắc của Việt Nam Từ thành phố Lào Cai, theo đường Quốc lộ 4D đi lên khoảng gần 40km là đến thị trấn Sa Pa - trung tâm của huyện Sa Pa Từ lâu nay, Sa Pa nổi tiếng là một điểm du lịch hấp dẫn với thắng cảnh thiên nhiên thơ mộng, huyền ảo và bản sắc văn hóa tộc người độc đáo Chính những nét đẹp này đã thu hút một lượng khách du lịch lớn trong và ngoài nước đến Sa Pa hàng năm, nó tạo cho địa phương một nguồn thu nhập khá lớn từ du lịch và nhiều cơ hội để phát triển kinh tế
Về địa - hành chính: Sa Pa thuộc vùng núi triền Đông của dãy Hoàng Liên Sơn với toạ độ địa lí khoảng 22o
20’ vĩ độ Bắc và 103o52’ kinh độ Đông Giới hạn hành chính của huyện Sa Pa như sau: phía Bắc giáp huyện Bát Xát, phía Nam giáp huyện Văn Bàn, phía Đông giáp huyện Bảo Thắng
và thị xã Cam Đường, phía Tây giáp huyện Than Uyên và huyện Phong Thổ (Lai Châu) Sa Pa có vị trí địa lý thuận lợi cho hoạt động giao lưu với các khu vực xung quanh, là nơi tiếp xúc của nhiều luồng di cư trong lịch
sử Điều đó tạo cho địa phương những đặc thù về cảnh quan và văn hóa.1
Địa hình Sa Pa chủ yếu là các đồi núi và các thung lũng nhỏ hẹp Có nhiều núi cao thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, trong đó có đỉnh Phan Xi Păng (cao 3.143m) được coi là nóc nhà của Đông Dương Các dãy núi liên kết tạo nên địa hình đồi núi cắt xẻ và các thung lũng nhỏ hẹp đặc trưng cho điều kiện tự nhiên của vùng Đồi núi trùng điệp, bao quanh các thung lũng
1 Xem thêm các tập bản đồ hành chính Lào Cai, Xem cuốn Lịch sử đảng bộ Sa Pa, tập I của Đảng bộ
huyện Sa Pa (1995) Nxb CTQG, Hà Nội
Trang 14bị cắt xẻ mạnh đã cản trở hoạt động giao thông và nhiều điều kiện phát triển khác của địa phương Nhưng bù lại, với đặc điểm địa hình đặc trưng
đã tạo ra cảnh quan hùng vĩ của Sa Pa Ở các sườn đồi thấp nhiều đất Feralit vàng đỏ, đất đá Branit và đất mùn Alít… rất thích hợp để trồng các cây công nghiệp, cây ăn quả và các loài cây dược liệu khác Ở các thung lũng chủ yếu là đất thịt trung tính, ít chua, lượng mùn tuy thấp, độ dinh dưỡng không cao nhưng có thể trồng được các vựa lúa để nuôi sống đồng bào các dân tộc trong huyện Các thung lũng thường là nơi tập trung khá đông các dân tộc thiểu số
Về khí hậu: Sa Pa nằm trong vành đai khí hậu cận nhiệt đới, á ôn đới của Bắc bán cầu, có mùa hè mát mẻ với nhiệt độ không quá 20oC, mùa đông và xuân thì lạnh giá, nhiều khi nhiệt độ xuống dưới 0oC nên có hiện tượng tuyết rơi Đó là một điều diệu kỳ ở vùng khí hậu cận nhiệt đới như nước ta Độ cao trung bình của Sa Pa so với mặt nước biển là khoảng 1.700m, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 15-16oC, lượng mưa trung bình năm khoảng 2.860mm, độ ẩm trung bình khoảng 88% Khí hậu Sa Pa phân hóa và thay đổi thường xuyên Trong một ngày ta cũng có thể cảm nhận được khí hậu của các mùa khác nhau Đặc biệt, ở Sa Pa rất nhiều sương
mù, số ngày có sương mù trung bình trong năm lên đến gần 140 ngày2
Điều này tạo cho Sa Pa một không khí huyền ảo làm say lòng nhiều khách
du lịch Khí hậu Sa Pa thích hợp để trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả (đào, mận, nho…) cây dược liệu và các cây nông nghiệp quan trọng như lúa, ngô, rau… Nó cho phép phát triển một nền nông nghiệp với cơ cấu cây trồng đa dạng
2 Các số liệu về khí hậu Sa Pa xin xem thêm Trần Thị Huệ (2004): Tác động của du lịch đối với đời sống một số dân tộc ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai LV-TS Dân tộc học, Khoa Lịch Sử, ĐH KHXH&NV Hà
Nội
Trang 151.1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội và cơ cấu dân tộc ở Sa Pa
Cơ cấu kinh tế chủ yếu của Sa Pa là nông - lâm nghiệp, dịch vụ du lịch, thương mại, công nghiệp Nền nông nghiệp truyền thống khép kín, tự cấp tự túc và mang tính đặc trưng của các dân tộc Nông nghiệp cũng là ngành kinh tế chính của đồng bào các dân tộc trên địa bàn Dịch vụ du lịch
và thương mại phát triển tương đối mạnh, nhất là trong vài thập niên qua, trở thành nguồn thu quan trọng và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế Công nghiệp trên địa bàn phát triển chậm, chủ yếu là công nghiệp xây dựng cơ bản, tỷ trọng công nghiệp đang ngày càng thu hẹp lại cùng nông - lâm nghiệp Nhưng trong tương lai, một số ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến sẽ được chú trọng phát triển để đáp ứng nhu cầu của nhân dân
Về cơ cấu dân tộc: Huyện Sa Pa là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống Theo các vết tích lịch sử thì từ hàng nghìn năm trước đã có người sinh sống ở nơi đây (những dấu vết ở bãi đá cổ chứng minh điều này,
dù rằng đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa đọc được ý nghĩa của các ký hiệu trên bãi đá cổ) Hiện nay, trên địa bàn Sa Pa có 6 dân tộc cùng sinh sống Trong đó, người Hmông, Dao và Kinh là chủ yếu, còn các dân tộc như Giáy, Tày, Xá Phó thì số lượng ít hơn Các dân tộc hiện nay chủ yếu sống định canh định cư, tình trạng du canh du cư gần như được giải quyết Đời sống của đồng bào tương đối ổn định và ngày càng được nâng cao
Bảng 1.1 Cơ cấu dân tộc ở huyện Sa Pa năm 2014
Dân tộc
Tổng Hmông Dao Kinh Tày Giáy Xá Phó
Dân tộc khác Dân số
Trang 16Với cơ cấu dân tộc đa dạng đã tạo cho Sa Pa một một bức tranh văn hóa phong phú, đây là điều kiện thuận lợi nếu biết cách khai thác hợp lý về phương diện du lịch văn hóa tộc người Mặt khác, sự đa dạng tộc người cũng làm cho tình hình xã hội thêm phần phức tạp, dễ xảy ra xung đột tộc người và khó khăn trong việc quản lý
Nói chung, tình hình kinh tế - xã hội huyện Sa Pa có nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác trong quá trình phát triển kinh tế Sự ổn định về xã hội là một yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng Tuy rằng đa dạng tộc người là một thuận lợi trong phát triển, nhưng cũng cần nhận thức được sự phức tạp của tình hình, phải có hiểu biết
về văn hóa của các dân tộc để giải quyết các vấn đề phát sinh
1.1.2 Quá trình đô thị hóa ở Sa Pa
1.1.2.1 Đô thị hóa miền núi
Đô thị hóa (Urbanization) là một quy luật phổ biến trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Đặc điểm và tốc độ của quá trình đô thị hóa ở mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, tùy thuộc vào các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa Và những nhận thức về quá trình đô thị hóa cũng không giống nhau Vậy, quá trình đô thị hóa là gì?
Các nhà xã hội học xem quá trình đô thị hóa là một khái niệm được dùng với ba nghĩa khác nhau: 1) Chỉ sự tăng trưởng nhanh chóng và quá mức trung bình số những người sống ở đô thị so với toàn bộ dân cư của một nước hay một lục địa 2) Chỉ sự tăng trưởng về dân cư và/hoặc diện tích của các thành phố 3) Chỉ sự mở rộng văn hóa và lối sống đô thị [30,
Tr 151-152]
Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị thành đô thị Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát
Trang 17triển của công nghiệp, thương mại, dịch vụ… thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống, làm việc, làm cho tỷ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh” [83, Tr 836-837] Định nghĩa này có vẻ hợp lý với trường hợp Việt Nam hơn Nhưng vẫn chưa đầy đủ vì như ngoài sức hút và sự phát triển của đô thị (mà định nghĩa đã nêu) thì sự lan toả, mở rộng của lối sống
đô thị, văn hóa đô thị tới các vùng không phải đô thị có phải là đô thị hóa không? Để hiểu rõ vấn đề này ta xem xét hai khái niệm quan trọng khác là
đô thị hóa nông thôn và đô thị hóa ngoại vi:
Đô thị hóa nông thôn “là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành thị cho nông thôn, như xây dựng nhà ở, tạo các tiện nghi sinh hoạt, lập các hệ thống dịch vụ công cộng, tạo các ngành nghề mới, kể
cả công nghiệp, tổ chức các sinh hoạt văn hóa, giáo dục” [83, Tr 837]
Đô thị hóa ngoại vi “là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của các thành phố lớn do kết quả của sự phát triển công nghiệp, cơ sở hạ tầng sản xuất và đời sống, hệ thống nhà ở, công trình công cộng, dịch vụ Quá trình đô thị hóa ngoại vi các thành phố lớn sẽ hình thành những vùng đô thị rộng lớn, tạo ra các cụm đô thị, các liên đô thị Đô thị hóa ngoại vi góp phần thúc đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn và phổ biến lối sống thành thị” [83, Tr 837]
Như vậy, ta có thể hiểu đô thị hóa là một quá trình chuyển đổi mà:
Về kinh tế: Kinh tế tự cung, tự cấp truyền thống bị phá vỡ, nền kinh
tế thị trường phát triển ngày càng nhanh chóng, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tỷ trọng nông nghệp giảm xuống và tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng lên Năng suất lao động tăng nhanh
Về xã hội: Xã hội nông thôn truyền thống bị biến đổi, các yếu tố đô thị xâm nhập và phát triển, số nông dân thuần nông nghiệp ngày càng giảm,
số công nhân, viên chức ngày càng tăng
Về văn hóa: Lối sống nông thôn, văn minh nông nghiệp ngày càng thu hẹp lại cùng với sự bành trướng của lối sống đô thị, văn hóa thành thị
Trang 18và văn minh công nghiệp (hay sau đó là văn minh trí tuệ) ngày càng sâu rộng Nó làm cho nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị thay đổi
Đô thị hóa miền núi là một trường hợp đặc biệt của đô thị hóa nông thôn Do vậy, ta có thể hiểu đô thị hóa miền núi là quá trình đô thị hóa với đầy đủ các nội dung của nó và diễn ra trong bối cảnh kinh tế - xã hội của vùng miền núi Trong điều kiện nước ta, đô thị hóa miền núi diễn ra đa dạng và mang tính đặc trưng của từng khu vực Nếu đô thị hóa ở đồng bằng
đi cùng với sự công nghiệp hóa nhanh chóng và sự tham gia của người Kinh là chủ yếu, thì đô thị hóa miền núi, công nghiệp tham gia không phải với vai trò chủ đạo mà vai trò đó lại thuộc về thương mại và dịch vụ, tham gia quá trình đô thị hóa miền núi bao gồm nhiều tộc người, trong đó có nhiều dân tộc thiểu số bên cạnh người Kinh
Đô thị hóa miền núi xuất hiện trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi Đặc điểm của nó là sự tham gia của nhiều dân tộc cả đa số lẫn thiểu số, với sự phát triển của nhiều ngành nghề mà quan trọng là vai trò của thương mại và dịch vụ, công nghiệp và có phần của nông nghiệp Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa miền núi chỉ đang ở giai đoạn đầu và xu hướng sẽ mở rộng và phát triển nhanh trong tương lai
1.1.2.2 Đô thị hóa ở Sa Pa
Lịch sử phát triển của đô thị Sa Pa: Theo Nguyễn Văn Vãn (2005)
thì Sa Pa là một thị trấn nhỏ có lịch sử phát triển hơn trăm năm nay Chính các nhà địa lí Pháp đã đặt chân lên cùng này vào cuối thế kỷ XIX và phát hiện ra vẻ đẹp tự nhiên huyền ảo và khí hậu mát mẻ của Sa Pa Sau khi chiếm được Lào Cai (1886), Thực dân Pháp gấp rút tiến hành đánh chiếm khu vực Sa Pa, lúc đó có tên là Hồng Hồ (suối nước đỏ) Đầu năm 1887, người Pháp đặt chân lên Sa Pa và quyết định lấy vùng Hồng Hồ làm trung tâm lập châu Sa Pa, mở chiến dịch dồn dân vùng Hồng Hồ (chủ yếu là người Hmông) xuống chân núi Hoàng Liên lập nên làng Sín Chải (trong tiếng Hmông, “sín chải” có nghĩa là “làng mới”), chuyển chợ từ Sa Pả ở
Trang 19phía Đông Hồng Hồ lên vùng trung tâm và giữ nguyên tên gọi Sa Pả (mà tiếng Pháp đọc là Chapa (hay Sa Pa) và sau đó vùng Hồng Hồ gọi là Sa Pa cho đến ngày nay Từ đó Pháp bắt đầu xây dựng các cơ sở hạ tầng từ các đường giao thông đến công trình kiến trúc tôn giáo như nhà thờ, thánh đường và các nhà nghỉ, khách sạn phục vụ cho khách nghỉ dưỡng3 Thời Pháp, khu du lịch nghỉ dưỡng Sa Pa gồm hai khu vực phân tách rõ ràng là khu dân sự và khu quân sự Khu dân sự do các nhà đầu tư xây dựng và quản lý Họ hầu hết là các nhà tư sản người Pháp, bỏ tiền xây dựng nhà nghỉ, khách sạn và các dịch vụ khác để cho khách du lịch thuê Khách du lịch chủ yếu là tầng lớp thượng lưu trong xã hội lúc đó Còn khu quân sự
do quân đội Pháp quản lý Họ xây dựng để cho các sỹ quan cao cấp lên đây nghỉ dưỡng trong thời gian nghỉ phép định kỳ Trong khu quân sự có quân khố đỏ phục vụ kiêm bảo vệ Vào thời đó, Sa Pa đã thành một thị trấn khá sầm uất với hàng trăm nhà nghỉ, khách sạn của Pháp xây dựng4
(có một số nhà đầu tư là người Việt tham gia kinh doanh)
Sau khi giải phóng miền Bắc (1954), thị trấn Sa Pa lại tiếp tục bước vào giai đoạn phát triển mới Người Kinh từ dưới xuôi bắt đầu di dân lên xây dựng và phát triển kinh tế ở đây Nhưng thời gian này, do tập trung toàn bộ sức lực của cả nước vào chiến tranh giải phóng miền Nam nên việc xây dựng các công trình cũng bị hạn chế Sau khi đất nước thống nhất (1975) thì khu vực miền núi cũng được quan tâm đầu tư Đặc biệt, trong gần ba thập niên qua, với sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch và
sự mở rộng của quá trình đô thị hóa, hàng trăm nhà nghỉ, khách sạn và nhà hàng mọc lên; đường sá được xây dựng và sửa sang, không chỉ các tuyến
3 Trong cuốn Một số vấn đề về lịch sử - văn hóa Lào Cai Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội - 2005, Tác giả
Nguyễn Văn Vãn đã nói về việc xây dựng Sa Pa của người Pháp qua các công trình xây dưng như: Năm
1909 đến 1912 đã xây dựng tuyến đường Sa Pa đi Lào Cai, năm 1924 mở rộng đường xe ô tô từ Lào Cai lên Sa Pa, năm 1925 xây dựng xong thủy điện Cát Cát công suất 100kw Năm 1930 xây dựng cao trạm Sa
Pa, rải nhựa đường nội thị và đường ô tô Lào Cai - Sa Pa, xây dựng hệ thống dẫn nước sinh hoạt
4 Theo Lịch sử Đảng bộ Lào Cai Tập I, II Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội – 1994, thì đến năm 1943, ở
Sa Pa có hơn 200 biệt thự do Pháp xây dựng để phục vụ cho việc nghỉ dưỡng
Trang 20đường chính, đường nội thị mà cả các tuyến đường đi sang các làng bản của các dân tộc ở xung quanh có cảnh đẹp và văn hóa độc đáo để phục vụ khách du lịch đi tham quan cảnh quan thiên nhiên và du lịch văn hóa tộc người Các tuyến đường đi San Sả Hồ, Tả Van, Bản Hồ, Tả Phìn… và các khách sạn lớn như khách sạn Công Đoàn, khách sạn Victoria, khách sạn Châu Long… được xây dựng để phục vụ khách du lịch Cùng với đó, dân
số ở thị trấn cũng không ngừng tăng lên Mặc dù tỷ lệ dân số thành thị so với nông thôn vẫn còn thấp (ở mức 14-15%)
Bảng 1.2: Cơ cấu dân cư thành thị - nông thôn huyện Sa Pa giai đoạn
Trang 21sống thành thị đang lan tỏa các vùng xung quanh thị trấn Đô thị hóa đang phát triển và mở rộng ở Sa Pa
Tính chất và đặc điểm của đô thị hóa ở Sa Pa: Quá trình đô thị hóa ở
Sa Pa là một điển hình cho đô thị hóa miền núi: Đô thị hóa đi lên với tốc độ chậm, theo chiều rộng là chủ yếu Sự phát triển của đô thị đang ở giai đoạn
mở rộng quy mô và lối sống đô thị Chất lượng cuộc sống trong nội thị chưa được chú trọng nâng cao (đô thị hóa theo chiều sâu) nên cuộc sống của thị dân ở đây vẫn còn bấp bênh Hơn nữa, đô thị hóa ở Sa Pa không đi cùng với quá trình công nghiệp hóa, mà chịu tác động mạnh của thương mại và du lịch Sự hưng khởi của du lịch và sự phát triển thương mại là động lực cho quá trình đô thị hóa Công nghiệp không đóng vai trò nhiều trong đô thị hóa Thương mại là một ngành quan trọng, nhưng nó chỉ phát triển khi lực lượng sản xuất đạt trình độ nhất định, dựa vào sự chuyên môn hóa và phân công lao động Có như vậy mới phát triển ổn định Còn du lịch chủ yếu dựa vào tự nhiên và phụ thuộc vào điều kiện thời tiết Đô thị hóa dựa vào hai lĩnh vực này sẽ rất khó dự đoán chiều hướng và quy hoạch đô thị cũng khó khăn
1.1.3 Tác động của đô thị hóa đến người Dao ở Sa Pa
1.1.3.1 Người Dao ở Sa Pa
Người Dao ở Sa Pa với dân số 15.326 người (2014), chiếm 25% dân
số toàn huyện, là dân tộc có dân số đứng thứ hai trong huyện (sau người Hmông) Người Dao ở Sa Pa chủ yếu thuộc ngành Dao Đỏ (Miền Xí), là một bộ phận quan trọng của người Dao ở Việt Nam (Tên Dao Đỏ là tên gọi theo màu sắc y phục của người phụ nữ)
Về địa bàn cư trú: người Dao có mặt ở hầu hết huyện Sa Pa Họ tập trung thành các làng bản và sinh sống bên cạnh các làng bản người Hmông, Giáy và các dân tộc khác Do đặc điểm sống quần cư nên họ sống tập trung
ở một số xã chủ yếu Nếu nhìn trên quy mô tổng thể từ cấp xã trở lên thì lối
Trang 22sống xen kẽ cài răng lược giữa các dân tộc là phổ biến Nhưng trên phương diện cấp thôn bản thì tính đơn tộc là chủ yếu, mặc dù không phải là tất cả (vì có một số người Kinh và dân tộc khác sống trong các thôn bản đó)
Về hoạt động kinh tế: Trong xã hội truyền thống, người Dao chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp, trong đó trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu Trồng trọt gồm hai hình thức là canh tác nương rẫy và canh tác ruộng nước (ruộng bậc thang) Trên nương trồng ngô là chủ yếu, bên cạnh còn có khoai, rau xanh, đỗ tương và các cây thực phẩm khác Ruộng bậc thang trồng chủ yếu là lúa nước Trình độ sản xuất trên ruộng bậc thang của người Dao phát triển với năng suất tương đối cao Chăn nuôi cũng có một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Người Dao chủ yếu chăn nuôi các loài như trâu, bò, dê, ngựa, lợn, gà, vịt… Bên cạnh nông nghiệp là các ngành thủ công nghiệp tương đối phát triển, chủ yếu hướng vào sản xuất các đồ dùng thiết yếu cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cũng như phục vụ nhu cầu sản xuất Trong đó có một số nghề quan trọng của người Dao như dệt thổ cẩm, làm đồ bạc, đan lát… Riêng công nghiệp và thương mại là hai ngành mới xuất hiện trong mấy năm gần đây
Về văn hóa - xã hội: Người Dao ở Sa Pa cũng như các cộng đồng người Dao ở các nơi khác, đến nay vẫn còn lưu giữ được nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc mình Từ trang phục đến lối sống của họ hiện nay vẫn còn giữ được nhiều nét truyền thống Đặc biệt, trong đời sống sinh hoạt văn hóa, người Dao ở Sa Pa còn giữ được nhiều sinh hoạt văn hóa đặc sắc như tục cấp sắc, tết nhảy (lễ Pút Tòng), lễ cúng tổ tiên và thờ Bàn Vương… Hiện nay, dù các hoạt động văn hóa này có nhiều biến đổi nhưng
nó vẫn giữ được sức sống trong đời sống văn hóa Các hoạt động văn hóa
là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của người Dao ở Sa Pa trong quá trình đô thị hóa Nhưng nó đặt ra vấn đề
là làm sao để phát triển nhanh chóng mà vẫn giữ được các bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 231.1.3.2 Người Dao ở thôn Sả Xéng, xã Tả Phìn, huyện Sa Pa
Tả Phìn là một xã vùng cao nằm ở phía Bắc của huyện Sa Pa, cách thị trấn Sa Pa khoảng 12 km Từ Sa Pa theo quốc lộ 4D về Lào Cai, đi hơn 4km thì rẽ trái có đường đi lên Tả Phìn Đường đi lên Tả Phìn rất dốc và rất khó đi Trong mấy năm nay con đường du lịch từ Sa Pa lên Tả Phìn được
mở rộng và đổ nhựa nên việc đi lại cũng dễ dàng hơn Qua nhiều đồi cao và dốc là một thung lũng tương đối lớn Đó là thung lũng Tả Phìn Hai chữ
“Tả Phìn” trong tiếng Dao có nghĩa là một vùng rộng lớn và bằng phẳng (“Tả” là vùng rộng lớn, “Phìn” là phẳng Ở đây, ta có thể hiểu đó là một thung lũng lớn) Thực ra đó là một vùng núi thấp gần nhau được bao quanh bởi các núi cao Với diện tích tự nhiên 2.718,3ha, Tả Phìn là một xã tương đối nhỏ trong huyện Sa Pa (chiếm hơn 4% diện tích toàn huyện) Dân số của xã là 2.847 người (2007) chiếm 5,2% dân số toàn huyện Chúng ta có thể xem một vài chỉ số so sánh giữa xã Tả Phìn và huyện Sa Pa qua bảng số liệu sau:
Bảng 1.3 Một số chỉ số nông nghiệp của huyện Sa Pa và xã Tả Phìn năm 2013
Nguồn: - Niên giám thống kê của UBND huyện Sa Pa năm 2013
- Báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của NBND xã Tả Phìn năm 2013
Trang 24Mặc dù là một xã nhỏ trong huyện, bình quân đất tự nhiên không bằng toàn huyện, nhưng ngược lại, là xã có diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn, chiếm 7,26% đất nông nghiệp toàn huyện Điều này làm cho bình quân đất nông nghiệp của xã lớn hơn mức chung của toàn huyện Đây là một điều kiện quan trọng để Tả Phìn phát triển nông nghiệp và trở thành một vựa lúa lớn của huyện Sa Pa
Dân cư ở Tả Phìn bao gồm 4 dân tộc là Hmông, Dao, Kinh và người Giáy Hmông là dân tộc chiếm tỷ lệ dân số cao nhất, tiếp đó đến Dao và Kinh Người Giáy trước đây không có hộ nào sinh sống ở xã Tả Phìn, hiện tại có 1 hộ mới chuyển đến sinh sống tại đây Người Hmông và người Dao
ở Tả Phìn là các cộng đồng còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống Người Hmông và người Dao sinh sống trong các thôn khác nhau trong xã Riêng người Kinh, năm 2007, chỉ có 23 hộ người Kinh nhưng đến nay đã có 47 hộ, sống chủ yếu ở khu vực trung tâm xã và chủ yếu làm nghề buôn bán tạp hóa, quán ăn…
Bảng 1.4: Cơ cấu dân tộc xã Tả Phìn năm 2014
Nguồn: Số liệu thống kê của UBND xã Tả Phìn năm 2014
Người Hmông và người Dao ở xã Tả Phìn sống chủ yếu bằng nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi Họ trồng ngô và các loại hoa màu trên nương, trồng lúa ở ruộng bậc thang Cả thung lũng Tả Phìn là một hệ thống ruộng bậc thang Nếu đúng mùa lúa chín thì các ruộng bậc thang tạo nên
Trang 25một cảnh quan đẹp mắt Chăn nuôi chủ yếu là các loài gia súc như trâu, bò,
dê, ngựa, lợn và gia cầm (chủ yếu là gà) Bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng khá phát triển để đáp ứng nhu cầu của đồng bào
Sả Xéng là thôn trung tâm của xã Tả Phìn Hầu hết dân cư trong thôn đều là người Dao và người Kinh Bức tranh cư trú của người Dao trong thôn bị chia cắt ra thành nhiều mảng, trong đó có bốn nhóm tập trung Nhóm thứ nhất ở ngoài cùng gần trường trung học cơ sở xã, nhóm thứ hai ở phía Đông của xã, nhóm thứ ba ở trung tâm của xã và nhóm cuối cùng ở phía Bắc, nơi có hang động du lịch Tả Phìn Cả bốn nhóm này tập trung gần trục đường du lịch Sa Pa lên Tả Phìn Trong đó, hai nhóm ở trung tâm
xã và ở gần hang động tập trung đông dân cư hơn Đây cũng là hai trung tâm phát triển nhất của xã
Người Dao ở Sả Xéng (và cả Tả Phìn) tự gọi mình là người Miền, Chằn Miền có nghĩa là người Dao Họ thuộc ngành Dao Đỏ (Miền Xí) Trong công trình của Nguyễn Khắc Tụng (2004) đã phân chia nhóm người Dao ở Việt Nam, theo đó người Dao Đỏ thuộc nhóm Đại Bản, phương ngữ gọi chữ “người” là “miền”5
Người Dao gọi những người láng giềng Hmông của họ là Chằn Miều (Người Mông) và gọi người Kinh là Chăn Chay Đặc biệt, người Dao Đỏ ở Sả Xéng có nghề thủ công rất phát triển, nhất là thêu thổ cẩm, nghề rèn, nghề làm đồ bạc Những công việc này không chỉ để phục vụ cuộc sống của mình mà còn đem ra trao đổi Họ sống hòa đồng với các dân tộc cận cư, có quan hệ đoàn kết với các dân tộc khác
Tóm lại, người Dao ở Sa Pa nói chung, ở Sả Xéng nói riêng là một cộng đồng cư dân nông nghiệp Họ sống định canh định cư trong các thôn bản nhất định, đời sống kinh tế - xã hội của họ đang ngày càng được ổn định Về mặt văn hóa, bên cạnh các yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc, họ
Trang 26đang tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa của các dân tộc khác để làm phong phú thêm nền văn hóa của mình Người Dao là một cộng đồng chịu nhiều ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, thương mại, du lịch và sự phát triển của kinh tế hàng hóa
1.1.3.3 Tác động của đô thị hóa đối với người Dao ở Sa Pa
Đô thị hóa ở Sa Pa đã và đang tác động mạnh mẽ trên nhiều phương diện với nhiều mức độ khác nhau đến đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của các dân tộc thiểu số sinh sống trong huyện
Trước hết, nó làm biến đổi tính chất nền kinh tế truyền thống của các dân tộc thiểu số Đô thị hóa là động lực, là tiền đề quan trọng để phá vỡ nền kinh tế truyền thống khép kín, tự cấp, tự túc của đồng bào và mở đường cho nền kinh tế hàng hóa phát triển Đây có thể coi là một bước ngoặt quan trọng, tạo điều kiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho đồng bào
Đô thị hóa cũng tác động mạnh đến xã hội truyền thống của các dân tộc thiểu số Trong khi những người nắm giữ nhiều lợi thế trong các thiết chế xã hội truyền thống như già làng, trưởng bản, trưởng họ và gia đình vẫn còn có vai trò, vị trí đáng kể thì có sự vươn lên của một số thế lực mới
do sự nhanh nhạy trong việc làm ăn kinh tế Những quyền lực mang tính thế tập, cha truyền con nối đang ngày càng bị hạn chế Còn những quyền lực do sự cố gắng của bản thân, do năng lực thực sự mang lại đang ngày càng được khẳng định Hơn nữa là sự thay đổi vai trò, vị trí của một bộ phận trong xã hội, nhất là người phụ nữ Khi vai trò làm kinh tế của họ tăng lên thì vị thế xã hội của họ cũng được cải thiện, tiếng nói của họ trong gia đình ngày càng được tôn trọng Đây là điều kiện tốt để thực hiện bình đẳng giới trong các dân tộc thiểu số
Đô thị hóa đẩy mạnh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, làm cho nền văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số biến đổi theo xu hướng truyền bá các yếu tố văn hóa của mình ra ngoài và tiếp thu các yếu tố văn
Trang 27hóa từ ngoài vào Nền văn hóa của các dân tộc ngày càng đa dạng hơn, nhưng cũng đẩy họ vào nguy cơ dễ bị đồng hóa về văn hóa, phai nhạt bản sắc văn hóa tộc người Vậy nên, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người cần được cân nhắc, phân tích trong quá trình phát triển
Người Dao Đỏ là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu dân cư cũng như cơ cấu kinh tế của huyện Sa Pa, họ đã chịu nhiều tác động to lớn của quá trình đô thị hóa Với sự nhanh nhạy của mình, người Dao Đỏ đã chủ động hội nhập để phát triển kinh tế - xã hội, vươn ra nền kinh tế thị trường
Họ vươn ra tìm kiếm cơ hội phát triển để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mình, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc Nhưng cũng chính các quá trình đó đã đặt ra cho họ nhiều vấn đề cấp thiết cần phải giải
quyết kịp thời và hợp lý
1.2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ ở thôn
Sả Xéng, xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đặt trong một quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội miền núi rộng lớn hơn Để tiếp cận đề tài này, cần khảo sát các nguồn tư liệu liên quan đến 3 vấn đề chính: Quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội ở miền núi Tây Bắc; quá trình đô thị hóa miền núi và đô thị hóa ở Sa Pa và cuối cùng là các nguồn tài liệu nghiên cứu về
dân tộc Dao ở Việt Nam
Nghiên cứu về miền núi Tây Bắc qua các thời kỳ có nhiều sự thay đổi khác nhau cả về mục đích và phương pháp nghiên cứu Có những giai đoạn nhiều người tập trung vào nghiên cứu các chính sách về miền núi trong lịch sử Từ sau khi hòa bình lặp lại thì các nghiên cứu lại tập trung vào việc tìm hiểu về tộc người như quá trình hình thành, đặc trưng văn hóa
và đóng góp của các dân tộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Từ sau Đổi mới 1986, các nghiên cứu về miền núi trở nên đa dạng hơn, tập
Trang 28trung vào quá trình chuyển đổi kinh tế của các cộng đồng và sự biến đổi văn hóa, xã hội các cộng đồng dân tộc
Trong nghiên cứu chính sách dân tộc thời phong kiến, hai tác giả Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam trong công trình “Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam X-XIX” (2001), bằng phương pháp lịch sử đã khái quát lại các chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam và đánh giá các tác động của các chính sách đó tới tình hình dân tộc, tới sự phát triển của các dân tộc thiểu số Cuốn sách này cho ta hình dung về vấn đề dân tộc, miền núi dưới thời phong kiến vốn
ít được nhắc đến do không có nhiều nguồn tài liệu
Trong giai đoạn từ 1945 đến 1986, các nghiên cứu về dân tộc học tập trung nhiều vào tìm hiểu quá trình hình thành tộc người, truyền thống văn hóa, kinh tế, xã hội và những đóng góp của các dân tộc trong quá trình chống giặc ngoại xâm Mục tiêu chủ yếu trong giai đoạn này là tìm hiểu đặc trưng văn hóa của các tộc người để thành lập danh mục các dân tộc Việt Nam Tiêu biểu phải kể đến các công trình như: “Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam á ở Tây Bắc Việt Nam” của các giả Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Trúc Bình, Nguyễn Văn Huy (1972); “Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” của Nguyễn Khánh Toàn, Chu Văn Tấn, Bế Viết Đẳng (1975); “Các dân tộc ít người ở Việt Nam: Các tỉnh phía Bắc” của Bế Viết Đẳng, Đặng Nghiêm Vạn, Lê Bá Thảo (1978); “Văn hóa và nếp sống các dân tộc nhóm ngôn ngữ Hà Nhì - Lôlô” của Nguyễn Văn Huy (1985) Những nghiên cứu này không chỉ quan trọng trong việc làm tư liệu phục vụ chính sách thời bấy giờ mà còn là những đóng góp về các phương pháp nghiên cứu và sưu tầm tài liệu của các nhà dân tộc học lúc đó Những người thực hiện cũng góp phần đặt nền móng cho nền Dân tộc học Việt Nam sau này
Các công trình nghiên cứu dân tộc ở miền núi Tây Bắc từ sau 1986 lại chú trọng phân tích các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình
Trang 29công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống cho đồng bào Tình hình nghiên cứu trong giai đoạn này đã được Nguyễn Văn Chính và Hoàng Lương (2003) phân tích khá chi tiết trong bài viết “Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển miền núi
và đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số” Theo phân tích của hai tác giả này thì các học giả nước ngoài như Gerald Hickey (Mỹ), Futura Moto (Nhật Bản), Orcar Salemink (Hà Lan) hay Patricia Pelly (Mỹ) thường “tập trung vào việc phân tích thực trạng và các chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với các dân tộc cũng như tác động của các chính sách ấy lên tình hình phát triển vùng dân tộc” [12, Tr 20] Trong khi các nhà khoa học Việt Nam lại tập trung vào ba vấn đề chính: Thực trạng kinh tế - xã hội ở miền núi; Chính sách của Nhà nước đối với vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số; Đề xuất giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho vùng miền núi Tuy nhiên, cách phân chia các vấn đề này chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, còn trên thực tế có nhiều công trình nghiên cứu thường bao gồm cả ba vấn đề
đó
Trong nghiên cứu dân tộc và miền núi thì nghiên cứu nghèo đói là một vấn đề quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn Các báo cáo tổng kết hàng năm của Ngân hàng Thế giới (World Bank) (WB) (1999) và (2000)
về xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) (2004) Các nghiên cứu này chủ yếu đánh giá kết quả của các chính sách hỗ trợ phát triển miền núi Những nghiên cứu về kinh tế - xã hội miền núi của các tổ chức, cơ quan như Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển (1999),Viện Nghiên cứu Kinh tế (2001), Viện Nghiên cứu chính sách Dân tộc và Miền núi (2002)… cũng tập trung vào đánh giá kết quả của các chính sách từ các cách tiếp cận qua các nguồn tài liệu thứ cấp, các báo cáo của các cơ quan Bên cạnh đó, các nghiên cứu của các nhóm tác giả và cá nhân có vai trò quan trọng như của Phạm Văn Linh (2001); Trần Bình (2005); Nguyễn Trần Trọng, Đồng
Trang 30Xuân Ninh, Lưu Đức Hồng, Đào Xuân Cần (1998); Hoàng Hữu Bình (2004) Các tác giả này đi sâu phân tích các hình thức sản xuất kinh tế và
sự biến đổi kinh tế ở miền núi và đã có những đóng góp nhất định vào việc phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Trong khoảng một thập niên gần đây, vấn đề sinh kế và sự chuyển đổi kinh tế ở miền núi được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu Nhiều chương trình nghiên cứu về phát triển miền núi Tây Bắc được đặt ra và thực hiện Đặc biệt gần đây nhất là chương trình khoa học công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc với nhiều cụm đề tài và nhiều hướng tiếp cận khác nhau nhằm giải quyết những vấn
đề phát triển trọng yếu của vùng Ngoài các nhà khoa học trong nước thì các nhà khoa học nước ngoài có vai trò quan trọng trong nghiên cứu về sinh kế và chuyển đổi kinh tế ở vùng Tây Bắc trong khoảng hơn thập niên qua Trong đó phải kể đến những nhà Việt Nam học như Oscar Salemink (2008), Neefies, Koos (2008), Jean Michaud (2010)
Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng và góp phần to lớn vào việc thực hiện chính phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số trong nhiều năm qua Không những vậy, đó còn là những đóng góp to lớn về phương pháp nghiên cứu dân tộc học - nhân học, cách chọn mẫu nghiên cứu và phân tích điểm trong nghiên cứu miền núi Nhưng các nghiên cứu này chưa chú trọng đúng mức đến việc phân tích các chuyển đổi mang tính bước ngặt của nền kinh tế - xã hội miền núi, nhất là những bước chuyển đổi trong các hình thức sản xuất và tính chất nền sản xuất
Đô thị hóa trên thế giới không phải là một vấn đề mới trong các công trình nghiên cứu khoa học Nhưng ở Việt Nam, nó mới được chú ý trong vài thập niên gần đây Đặc biệt, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, nó trở thành một thách thức cho các nhà khoa học Việt Nam Tham gia
Trang 31nghiên cứu về đô thị hóa có rất nhiều lĩnh vực như xã hội học, kinh tế học, tâm lí học, khoa học quản lí… và nhân học Công trình nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là “Đô thị hóa và vấn đề giảm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh” do sự hợp tác của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ với Trung tâm Khoa học Xã hội Hoa Kỳ tiến hành (2005) Đây là một tập chuyên khảo đánh giá về nhiều vấn đề quan trọng trong đô thị hóa, được các nhà nghiên cứu có uy tín cả trong và ngoài nước tham gia, là một đóng góp quan trọng cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn của ngành nhân học đô thị Việt Nam Các nghiên cứu của Viện Xã hội học cũng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu đô thị hóa Bên cạnh đó cũng phải kể đến các nghiên cứu mang tính cá nhân của một số học giả như Mạc Đường, Trịnh Duy Luân, Nguyễn Thanh Tuấn (2006); Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử (1998); Lê
Du Phong, Nguyễn Văn Áng, Hoàng Văn Hoa (2002), Mai Quỳnh Nam (2006)… Các nghiên cứu trên thường tập trung vào các nội dung: 1) Kiến trúc xây dựng và quản lí đô thị; 2) Văn hóa và lối sống đô thị; 3) Di dân,
sự nghèo đói và biến đổi xã hội đô thị; 4) Tác động của quá trình đô thị hóa đến vùng ven đô Trong khi Xã hội học tập trung vào nghiên cứu sự thay đổi của cấu trúc xã hội đô thị và vùng ven đô; Kinh tế học tập trung nghiên cứu các biến đổi về mặt kinh tế trong đô thị hóa; Tâm lí học lại đi phân tích tâm lí của thị dân và người dân vùng ven đô bị đô thị hóa Nhân học là một ngành khoa học đang trên bước đường hình thành ở Việt Nam,
đi tập trung nghiên cứu từ góc độ con người, đưa con người vào vị trí trung tâm của nghiên cứu với tư cách vừa là chủ thể - người quản lí, điều hành và hoạch định quá trình đô thị hóa, vừa là khách thể - người bị tác động của quá trình đô thị hóa
Phương pháp nghiên cứu trong nghiên cứu đô thị hóa cũng rất đa dạng Từ các nghiên cứu tổng quát mang tính lý luận với cách nhìn lịch sử -
hệ thống đến các nghiên cứu chuyên sâu, tập trung vào một đối tượng với phạm vi nghiên cứu vừa phải để phân tích sâu Từ nghiên cứu lý thuyết đến
Trang 32nghiên cứu điền dã, tạo ra nhiều phương pháp nghiên cứu và hướng nghiên cứu mới, đồng thời chứng minh thêm cho các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cũ
Tuy nhiên, đô thị hóa ngày hôm nay không còn giới hạn ở khu vực nông thôn ven đô ở đồng bằng mà một bộ phận miền núi cũng đang diễn ra quá trình đô thị hóa Không chỉ người Kinh dưới xuôi mà các dân tộc thiểu
số cũng đang chuyển mình dưới tác động của đô thị hóa Mà vấn đề này chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều, có chăng chỉ là một số nghiên cứu ban đầu của Mạc Đường (2006) Trong khi đó, thực tế diễn biến của vấn đề này lại vô cùng phức tạp Bởi cùng với ảnh hưởng của đô thị hóa, là sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hàng hóa bên cạnh nền kinh tế truyền thống của các dân tộc thiểu số Điều gì xảy ra khi tồn tại cùng một lúc hai nền kinh tế khác nhau về tính chất như vậy? Và bản thân người dân tộc thiểu số, họ sẽ ứng xử ra sao với một nền kinh tế mới mà trong lịch sử của họ chưa từng tồn tại?
Các nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam còn khiêm tốn, chưa tương xứng với vai trò và vị trí của họ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước, mặc dù so với nhiều dân tộc thiểu số khác, người Dao đã được nhiều nhà khoa học biết đến và đã có nhiều công tình nghiên cứu về
họ được xuất bản
Các nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam không nhiều Một số nghiên cứu tiêu biểu của Trương Hữu Tuấn6
, Jacques Lemoine7 Tác giả Trương Hữu Tuấn trong “Mấy vấn đề về người Dao di
cư sang Việt Nam” (In trong Sự phát triển văn hóa - xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc Gia,
Hà Nội, 1998) đã sử dụng các nguồn tư liệu ở Trung Quốc phân tích nguồn
Trang 33gốc di cư của người Dao từ Trung Quốc sang Việt Nam đã gợi mở cho chúng ta những nguồn tài liệu mới về nghiên cứu nguồn gốc của người Dao
ở nước ta Nhà nghiên cứu người Pháp Jacques Lemoine trong “Khái quát
về di sản văn hóa Dao và hiện đại hóa” (trong Sự phát triển văn hóa - xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai Trung tâm Khoa học Xã hội và
Nhân văn Quốc Gia, Hà Nội 1998) lại khái quát về bản sắc văn hóa người Dao ở Việt Nam và sự biến đổi của nó trong quá trình hiện đại hóa đất nước Đây là những nhìn nhận bên ngoài về người Dao mà chúng ta cần quan tâm
Trong nước, có các công trình nghiên cứu chung về dân tộc Dao của các tác giả như: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Nam Tiến, Nông Trung (1971), Chu Thái Sơn và Võ Mai Phương (2004) Đây là các công trình nghiên cứu khái quát về các hoạt động kinh tế - xã hội và văn hóa của dân tộc Dao ở Việt Nam Và các công trình này cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các nét đặc sắc nhất của dân tộc Dao Các nghiên cứu điểm có vai trò quan trọng phải kể đến nghiên cứu về trang phục của người Dao của Nguyễn Khắc Tụng (2004), đây là một công trình nghiên cứu chi tiết về đặc điểm và sự biến đổi của trang phục của các nhóm Dao ở Việt Nam Bên cạnh đó còn
có nhiều luận văn, luận án và các bài viết trên các tạp chí Các nghiên cứu loại này thường nghiên cứu về một nhóm Dao ở một địa phương nhất định Một sự kiện quan trọng trong nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam là Hội thảo Quốc tế về người Dao ở Việt Nam ở Thái Nguyên, tháng 12 năm
1995, mà kết quả của nó là công trình “Sự phát triển văn hóa - xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai” (Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc Gia,1998) Đây là tập kỷ yếu tập hợp những báo cáo của các đại biểu tham dự hội thảo, trong đó có nhiều nghiên đã đề cập đến sự biến đổi kinh tế - xã hội của người Dao trong giai đoạn hiện nay Những nghiên cứu
về người Dao mà chúng tôi trình bày trên, chưa có nghiên cứu sâu sắc về
sự chuyển đổi kinh tế, nhất là sự phát triển của kinh tế hàng hóa của người
Trang 34Dao trong những năm qua Nhưng các nguồn tài liệu đã cho ta những kiến thức cơ bản về kinh tế - xã hội và văn hóa dân tộc Dao ở Việt Nam.Tóm lược lịch sử nghiên cứu các quá trình kinh tế - xã hội đã đặt ra, có thể thấy: Trong nghiên cứu về kinh tế - xã hội miền núi còn nhiều vấn đề chưa được chú ý đúng mức, trong đó có sự chuyển đổi về cơ cấu kinh tế Trong nghiên cứu đô thị hóa, khoa học chưa quan tâm đến vấn đề đô thị hóa ở miền núi
và tác động của nó đến đời sống đồng bào dân tộc thiểu số Còn trong nghiên cứu về người Dao thì vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa chưa được
nhìn nhận thích đáng Với đề tài “Hoạt động kinh tế hàng hóa của người
Dao Đỏ ở thôn Sả Xéng, xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”, tôi
mong rằng sẽ gợi mở ra được một số ý kiến mới nhằm bàn luận thêm vào những vấn đề đang cần quan tâm nói trên
1.3 Các tiền đề lý thuyết và phương pháp tiếp cận vấn đề
1.3.1 Các tiền đề về lý thuyết nghiên cứu
Từ nguồn cảm hứng về học thuật trong nghiên cứu về người nông dân ở châu Á đã và đang thịnh hành trong giới học thuật trên thế giới, tiêu biểu như cuộc tranh luận giữa quan điểm của J.Scott và S.Popkin về người nông dân châu Á J.Scott cho rằng người nông dân ở châu Á luôn tránh rủi
ro, lựa chọn an toàn là trên hết trong việc đầu tư cuộc sống, đầu tư kinh tế (J.Scott, 1976) Còn S.Popkin lại cho rằng người nông dân châu Á là người nông dân hợp lý, luôn có những tính toán trong việc đầu tư để thu lợi ích, lợi nhuận cao nhất (S.Popkin, 1979) Cuộc tranh luận này châm ngòi cho một công cuộc đa dạng hóa quan điểm trong nghiên cứu nhân học ở châu Á (và Việt Nam) F.Ellis với quan điểm kinh tế học nông nghiệp, mở rộng thêm quan điểm kinh tế đạo đức của J.Scott về người nông dân châu Á (Ellis, Frank, 1993) Tiếp theo đó, Jennifer Sowerwine, từ một nghiên cứu
cụ thể hơn về người Dao ở vùng núi Ba Vì (Hà Nội) tiếp tục củng cố quan điểm kinh tế trọng tình mà J.Scott đặt ra (Jennifer Sowerwine, 2008)
Trang 35McElwee khi nghiên cứu về quá trình phát triển của cộng đồng người Kinh
ở huyện Cẩm Xuyên (tỉnh Hà Tĩnh) đã xem sự đa dạng hóa sinh kế như là một lựa chọn để giảm thiểu rủi ro trong quá trình phát triển kinh tế (McElwee, 2007) Trong khi đó, Oscar Salemink lại đặt ra vấn đề quan hệ kinh tế giữa các vùng lãnh thổ như là một lịch sử của sự phát triển kinh tế
và qua đó người dân đã giải quyết các vấn đề phát triển quan trọng của mình Ông đặt ra quan điểm nghiên cứu lịch sử kinh tế và quan hệ kinh tế ở Việt Nam nhìn từ hướng núi (Oscar Salemink, 2008) Quan điểm này tiếp tục được Alexandra Winkels chia sẻ khi xem mối liên hệ giữa các khu vực kinh tế như là một sự mở rộng sinh kế từ phân tích mối liên hệ kinh tế giữa vùng đồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên (Alexandra Winkels, 2008)
Với các nhà nghiên cứu trong nước, sinh kế tộc người cũng được quan tâm trong hơn một thập kỷ qua Vương Xuân Tình và các đồng nghiệp tại Viện Dân tộc học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã
có những đề tài nghiên cứu về sinh kế bền vững, kết quả được công bố trên tạp chí Dân tộc học của Viện năm 2006, 2008 Tô Duy Hợp và các cộng sự khi nghiên cứu về xã hội học nông thôn đã đi sâu phân tích động lực và sự lựa chọn các mô hình sinh kế để phát triển trên cơ sở lý thuyết Khinh - Trọng Quan điểm này nhấn mạnh đến sự lựa chọn mô hình sinh kế của chủ thể và các yếu tố tác động đến sự lựa chọn đó Chẳng hạn như, đặc điểm truyền thống lựa chọn khinh - trọng của tam nông Việt Nam là không duy tình mà cũng không duy lý, vì thường ưa chuộng hỗn dung văn hóa và văn minh; có thể đó là hỗn hợp trọng tình hơn lý hoặc là ngược lại, hỗn hợp trọng lý hơn tình; tuy dòng chủ lưu có vẻ như đang chuyển đổi từ trọng tình sang trọng lý, do tác động của quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhưng vẫn để ngỏ sự lựa chọn bất phân khinh - trọng: lý và tình đều như nhau (Tô Duy Hợp 2006, 2007 và 2012) Võ Tòng Xuân và các cộng sự dành mối quan tâm đến vấn đề sinh kế khi đặt nó trong mối quan hệ với vấn đề đất đai (Võ Tòng Xuân, Trần Thị Phương, Lê Cảnh
Trang 36Tùng, 2008) Gần đây, nghiên cứu sinh kế tập trung nhiều vào các cộng đồng đang có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Nghiên cứu của Ngô Phương Lan về sự chuyển dịch kinh tế từ trồng lúa sang nuôi tôm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã phân tích động cơ, mục tiêu của con người khi chuyển đổi sinh kế, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của vốn xã hội trong việc lựa chọn sinh kế (Ngô Phương Lan, 2014) Hay các nghiên cứu về sinh kế của người dân ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa đã được nhiều người quan tâm như Nguyễn Văn Sửu (2014), Nguyễn Duy Thắng (2007) Các nghiên cứu này nhấn mạnh đến vai trò của đất đai và các quan hệ liên quan trong phát triển kinh tế của người nông dân ven đô
Nghiên cứu này thuộc về lĩnh vực nhân học kinh tế nên việc tham khảo và vận dụng các lý thuyết nhân học kinh tế là vấn đề quan trọng Trong đó, việc phân tích quá trình trao đổi sản phẩm là một bước quan trọng trong quá trình tìm hiểu về sự thay đổi tính chất trong hoạt động kinh
tế của người Dao Bên cạnh đó là phân tích quá trình sản xuất hàng hóa và quan hệ sản xuất trong các hoạt động kinh tế của người Dao Những phân tích này làm cơ sở để lý giải đặc trưng kinh tế của người Dao ở Tả Phìn hiện nay Cùng với các phân tích đó, việc tiếp cận các chuỗi hàng hóa để lý giải về sự thay đổi trong nền kinh tế cũng là một hướng đi thú vị Mỗi một nguồn hàng hóa đều có một đường đi khác biệt trong vòng đời và sự phát triển hay tàn lụi của các chuỗi hàng hóa này thể hiện sự thay đổi của nền kinh tế của cộng đồng sản xuất hay tiêu thụ nó
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung các phân tích dựa trên lý thuyết lựa chọn con đường phát triển của chủ thể nền kinh tế Dù nhiều quan điểm trong cuộc tranh luận giữa quan điểm về người nông dân duy lý
và nền kinh tế đạo đức có những giá trị để phân tích Nhưng ở góc độ khác, không thể nhìn một cách rạch ròi như vậy khi sự lựa chọn của người Dao mềm dẻo hơn, linh động hơn và thay đổi theo điều kiện chứ không nhất định là duy tình hay duy lý Sự đa dạng hóa hoạt động kinh tế để giảm thiểu
Trang 37rủi ro trong sự phát triển cũng rất đáng để xem xét trong trường hợp người Dao Đỏ tiếp cận kinh tế thị trường
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập định lượng: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã chú ý
đến việc thu thập tài liệu định lượng từ các cơ quan quản lý ở địa phương Tuy nhiên, khi lựa chọn những số liệu từ nguồn này để sử dụng cũng cần phải chú ý đến tính chính xác của nó vì nhiều tác động khác nhau Chúng tôi đã cố gắng lựa chọn số liệu cần thiết và có độ chính xác nhất để sử dụng Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu điền dã, chúng tôi đã thiết lập các công cụ để lấy thông tin, số liệu thống kê như bảng hỏi, bảng điều tra đời sống nhằm có những số liệu mới trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt các số liệu liên quan đến thu nhập không chính thức, khó thống kê Dù việc thực hiện điều tra định lượng còn hạn chế nhưng những số liệu thu thập được cũng có giá trị trong quá trình phân tích sự biến đổi kinh tế của người Dao ở xã Tả Phìn
Phân tích định tính: Quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
này, chúng tôi rất coi trọng nghiên cứu định tính Quá trình điền dã tập trung nhiều cho việc phỏng vấn, trò chuyện với những người dân ở các độ tuổi khác nhau, các nghề nghiệp khác nhau để phân tích Ngoài những phỏng vấn dài, chúng tôi chú trọng cả những cuộc trò chuyện ngắn về một món hàng, một cuộc trao đổi khi đi bán hàng rong hay một hành động nào
đó liên quan đến hoạt động kinh tế của họ Chúng tôi tập trung các phỏng vấn, trao đổi vào sự thay đổi trong lựa chọn hoạt động kinh tế của họ, làm sao họ lại quyết định như vậy và yếu tố gì tác động đến quyết định của họ Tìm những lời lý giải các hoạt động đó theo các logic cần thiết Tôi nhấn mạnh phương pháp phỏng vấn sâu các đối tượng tham gia hoạt động kinh
tế hàng hóa và các thành viên trong gia đình để xem xét sự biến đổi trong đời sống của họ Cố gắng tìm hiểu về các câu chuyện, các suy tư trong sự
Trang 38thay đổi về đời sống của các gia đình Phỏng vấn nhóm để cho nhiều người cùng lên tiếng chia sẻ ý kiến của mình là một cách tiếp cận vấn đề hiệu quả
Trao đổi và phân tích các bên liên quan, theo dõi các chuỗi hàng hóa
và vòng đời của hàng hóa cũng là một trong những phương pháp tôi vận dụng Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã trao đổi những thông tin, những suy nghĩ của mình với nhiều nhà nghiên cứu khác để nhận được những tư vấn và gợi ý thêm Cùng với trao đổi là phân tích các bên liên quan đến các hoạt động kinh tế để hiểu rộng hơn về những vấn đề còn đang vận động Các nguồn hàng hóa người dân trao đổi cũng có những vòng di chuyển của
nó ở nhiều địa điểm khác nhau nên tôi đã thực hiện những bước theo dõi một số chuỗi hàng hóa chủ yếu để xem sự thay đổi Và những phương pháp này đã cho chúng tôi những nhận thức khá bất ngờ so với những suy nghĩ ban đầu khi thực hiện nghiên cứu
Trang 39Chương 2 QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ KINH TẾ TRUYỀN THỐNG SANG NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ 2.1 Hoạt động kinh tế truyền thống của người Dao Đỏ
Người Dao đã sinh sống ở nước ta hàng trăm năm nay, dựa vào kinh nghiệm và trí tuệ của mình, họ đã tạo dựng một nền kinh tế hợp lý để nuôi sống bản thân trong quá trình lịch sử Trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù thì nền kinh tế của họ có thể xem là một nền kinh tế hợp lý và phát triển
Trong quá trình tồn tại và phát triển, người Dao đã tạo cho mình một
cơ cấu kinh tế tương đối hợp lý với quá trình lịch sử tộc người và phù hợp với điều kiện tự nhiên, bao gồm nông nghiệp, thủ công nghiệp và trao đổi sản phẩm Người Dao Đỏ ở Tả Phìn có thể coi là một cộng đồng tiêu biểu cho các hoạt động kinh tế của người Dao
2.1.1 Kinh tế chiếm đoạt tự nhiên
Hái lượm - săn bắt/bắn có vai trò quan trọng đối với cuộc sống con người và càng trở về quá khứ thì vai trò của nó càng rõ nét hơn Để tiến hành hái lượm và săn bắt/bắn thì trước hết là trong địa bàn cộng đồng sinh sống phải có các nguồn lương thực, thực phẩm có thể hái lượm và các con thú có thể săn bắt/bắn được Thứ hai là do điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội hạn chế nên nền kinh tế sản xuất chưa phát triển, chưa đủ sức nuôi sống con người Nói vậy nhưng ngay cả khi kinh tế sản xuất phát triển thì hoạt động hái lượm, săn bắt/bắn vẫn tồn dưới dạng các hoạt động kinh tế bổ trợ và không có nhiều vai trò trong cuộc sống
Người Dao Đỏ ở Tả Phìn có nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động kinh tế hái lượm - săn bắt/bắn Họ nắm vững các quy luật sinh trưởng của các sản phẩm tự nhiên và biết có thể tìm được các sản phẩm đó ở đâu và vào lúc nào Sản phẩm chính của người Dao ở đây thường là nấm hương,
Trang 40sa nhân, măng rừng, mộc nhĩ, củ mài, rau xanh, mật ong… Các sản phẩm này, đến ngày nay chủ yếu vẫn do hái lượm mang về (trừ rau xanh trồng được) Bên cạnh hái lượm, săn bắn (mà trước đó là săn bắt) cũng giữ một vai trò nhất định Khi chăn nuôi chưa phát triển thì săn bắn bổ sung nguồn thịt quan trọng cho con người Trước đây, người Dao săn bắn được nhiều loại thú lớn như hươu, nai, hoẵng và cả hổ Họ vừa đi săn tập thể vừa đi cá nhân Ngày nay, săn bắn không còn phổ biến vì bị Nhà nước cấm, do vậy
mà săn bắn chỉ gắn liền với việc bảo vệ mùa màng, đối tượng chủ yếu là các loài thú nhỏ như chồn, cáo, sóc, lợn rừng…
Trên một góc độ nào đó, nghề lấy thuốc nam của người Dao ở Sả Xéng cũng thuộc loại hình kinh tế chiếm đoạt tự nhiên Lấy thuốc nam có ý nghĩa giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ con người khỏi bệnh tật trong điều kiện y học chưa phát triển Lấy thuốc nam thể hiện được vốn kiến thức y học cổ truyền đa dạng và phong phú của đồng bào Các bài thuốc quý được gia truyền cẩn thận nên chỉ có một số người biết lấy Còn các bài thuốc đơn giản thì rất nhiều người biết dùng, nhưng họ không biết hết các vị thuốc nên hiệu quả không cao Người Dao Đỏ rất nổi tiếng về thuốc tắm, là phương thuốc dùng để tắm và có hiệu quả hồi phục sức khỏe và chống lại bệnh tật Hiện nay đã có trạm y tế, nhưng bà con vẫn thích dùng thuốc nam
để chữa bệnh, khi nào nặng quá thì mới đưa đi viện
“Tôi biết lấy thuốc là do bố tôi dạy tôi Trước đây bố tôi giỏi lắm, ông đã chữa cho nhiều người khỏi bệnh Nay tôi chỉ biết một ít thôi Tôi lấy thuốc vừa để bán cho khách nếu họ cần, vừa để chứữa bệnh Thuốc càng ngày càng ít đi, phải vào sâu trong rừng mới tìm thấy Và thanh niên giờ
họ không dùng thuốc nam mấy mà họ đến nơi bán thuốc họ lấy Tôi đang dạy cho con tôi cách lấy thuốc vì sợ sau này nó không biết” (Phụ nữ người
Dao, 53 tuổi, thôn Sả Xéng)
Nhưng ngày nay, lấy thuốc nam đang trở thành một nghề thủ công vì
nó được sử dụng để chiết xuất thành các lọ thuốc đem bán cho khách hàng